1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kltnđh nhu cầu làm thêm của sinh viên tp hà nội hiện nay

84 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kltnđh nhu cầu làm thêm của sinh viên tp hà nội hiện nay
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Nhu cầu làm thêm của sinh viên tp hà nội hiện nay
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 236,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

81 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14 1 1 Thao tác hóa khái niệm 14 1 2 Cơ sở lý thuyết định hướng nghiên cứu 18 1 3 Bối cảnh kinh tế xã hội và chính sách của đảng nhà[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 Thao tác hóa khái niệm 14

1.2 Cơ sở lý thuyết định hướng nghiên cứu 18

1.3 Bối cảnh kinh tế xã hội và chính sách của đảng nhà nước về việc làm cho sinh viên 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN 27

2.1 Thực trạng về thời gian làm thêm của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền 27

2.2 Thực trạng về loại hình công việc làm thêm của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền 28

2.3 Thực trạng về mức thu nhập 34

CHƯƠNG 3 NHU CẦU LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN 37

3.1 Nhu cầu của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền về thời gian làm việc 37

3.2 Nhu cầu của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền về loại hình công việc 40

3.3 Nhu cầu của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền về mức độ và tính chất công việc 41

3.4 Nhu cầu của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền về mức thu nhập 46

3.5 Nhu cầu của sinh viên về chính sách của nhà trường và sự đãi ngộ của nhà tuyển dụng 47

CHƯƠNG 4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN Error! Bookmark not defined. 4.1 Ảnh hưởng từ đặc điểm và điều kiện của sinh viên 53

4.2 Ảnh hưởng từ đặc điểm và điều kiện kinh tế của gia đình 58

KẾT LUẬN 64

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 68

DANH MỤC TÀI LIÊU THAM KHẢO 70

Trang 2

Bảng 1: Yêu cầu của công việc làm thêm 33

Bảng 2: Mức độ yêu thích các công việc 43

Bảng 3: So sánh giữa giới tính và nhu cầu làm thêm của sinh viên 54

Bảng 4: Nhu cầu về tính chất công việc xét theo giới tính 54

Bảng 5: Nhu cầu về thời gian làm việc trung bình một tuần xét theo giới tính 55

Bảng 6: Nhu cầu trả lương xét theo tuổi của sinh viên 55

Bảng 7: Nhu cầu thời gian làm việc xét theo tuổi sinh viên 56

Bảng 8: Nhu cầu làm thêm theo mức độ chi tiêu 57

Bảng 9: Nhu cầu làm thêm xét theo nơi ở hiện tại 58

Bảng 10: Nhu cầu làm thêm xét theo điều kiện kinh tế gia đình xuất thân 59

Trang 3

Biểu 1: Tính chất công việc 28

Biểu 2: Số lượng công việc làm thêm 29

Biểu 3: Công việc làm thêm hiện tại của sinh viên 31

Biểu 4: Thời gian đi làm trong tuần 38

Biểu 5: Số giờ làm việc trung bình một tuần 39

Biểu 6: Nhu cầu về loại hình công việc 41

Biểu 7: Tính chất công việc mong muốn của sinh viên 42

Biểu 8: Yếu tố quan tâm nhất khi lựa chọn công việc làm thêm 44

Biểu 9: Hình thức trả lương 45

Biểu 10: Nhu cầu về sự đãi ngộ của nhà tuyển dụng 47

Biểu 11: Nhu cầu về thời gian làm thêm theo nơi ở 61

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo Phát triển Thế giới năm 2013, tại các nước đang pháttriển thì việc làm trở thành “nền tảng căn bản cho sự phát triển”, việc làm đemlại nhiều lợi ích to lớn hơn nhiều so với thu nhập đơn thuần, việc làm có vaitrò quan tròn trong quá trình giảm nghèo, giúp các thành phố vận hành vàgiúp lớp trẻ tránh được bạo lực, báo cáo mới của Ngân Hàng Thế giới nhậnđịnh Tuy nhiên, thực trạng việc làm ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ thất nghiệpcòn tương đối cao Ước tính tới cuối tháng 12/ 2014, tỷ lệ thất nghiệp của laođộng trong độ tuổi năm 2014 là 2.08% Như vậy, so với nhiều nước trên thếgiới thì tỉ lệ này còn tương đối cao Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15đến 24 tuổi) năm 2014 là 6.3%, cao hơn so với năm 2013 Tỉ lệ thất nghiệp ởthanh niên có xu hướng tăng, khu vực thành thị là 11, 49% cao hơn mức11.12% của năm trước, khu vực nông thôn là 4.63%, xấp xỉ năm 2013 Mặc

dù việc làm có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, nhưng ởnước ta vẫn còn một bộ phận không nhỏ chưa có việc làm, và lại chủ yếu tậptrung ở lớp thanh niên do đây là giai đoạn chuyển giao từ giai đoạn học sinhsang giai đoạn bắt đầu trưởng thành, ở giai đoạn này thường có những biếnđộng chính vì thế mà thanh niên chưa tìm được cho mình một công việc ổnđinh cho nên tỉ lệ thất nghiệp khá cao Sinh viên cũng nằm trong độ tuổi thanhniên, bên cạnh việc tham gia học tập và các hoạt động thì sinh viên cũngmuốn tìm cho mình một công việc để có thể tiết kiệm thời gian rảnh rỗi

Giá cả các mặt hàng tăng lên khiến đời sống của sinh viên đặc biệt làsinh viên ở nông thôn trở nên khó khăn hơn Để vẫn có thể học tập được vàduy trì những thói quen sinh hoạt hằng ngày thì sinh viên đã đi làm thêm đểkiếm thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống của mình

Trang 5

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích học sinh, sinh viên phải kếthợp giữa việc học với việc thực hành Vì vậy ngoài học tập lý thuyết thìngành nghề nào cũng cần phải có sự thực hành, ngoài việc được dạy chuyênmôn, nghiệp vụ trong nhà trường thì việc sinh viên tích lũy kinh nghiệm quathực tiễn trải nghiệm cuộc sống cũng ngày càng được chú trọng hơn Hơnnữa, đi làm thêm ít nhiều còn thể hiện sự tự lập của sinh viên Ở nhiều nướctrên thế giới, sinh viên khi đã vào đại học là sống hoàn toàn tự lập, sinh viên

ra ở riêng với gia đình và tự lập về mọi mặt, điều này giúp cho sinh viên dễthích nghi với cuộc sống hơn Sinh viên tự lo cho cuộc sống của bản thân màkhông làm phiền đến cha mẹ Sự tự lập của sinh viên ở những nước này giúpsinh viên trưởng thành hơn trong cuộc sống Tuy nhiên điều này chỉ có thểxảy ra phổ biến ở những nước phát triển như Mỹ, Anh… Còn ở Việt Nam,sinh viên cũng có nhu cầu sống tự lập, cũng muốn đi làm thêm nhưng rào cảnkinh tế nói chung khiến sinh viên không có điều kiện thực hiện Không chỉsinh viên mà còn rất nhiều người lao động chưa có việc làm Nhà nước chưa

có nhiều những chính sách hỗ trợ việc làm nói chung đến từng đối tượng

Hơn nữa, ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật thì đòihỏi một lực lượng lao động phải có thay nghề cao, người sử dụng lao độngngày càng đòi hỏi lao động có trình độ cao, vì vậy sinh viên muốn có đượccông việc như ý muốn của mình với một mức lương phù hợp thì phải đápứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng Nhưng thực tế lại cho thấy, đa số sinhviên chưa có nhiều kinh nghiệm để đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng

Vì vậy nhu cầu vẫn chỉ dừng lại ở nhu cầu mà chưa thể đi vào thực hiện

Xuất phát từ những lý do trên, nhằm cung cấp dữ liệu cho nhữngnghiên cứu để bổ sung các chính sách về việc làm, tác giả đã quyết định lực

chọn đề tài: “Nhu cầu làm thêm của sinh viên Thành phố Hà Nội hiện nay”

(Qua khảo sát tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu làm thêm của sinh viênThành phố Hà Nội hiện nay”, tác giả tiến hành tổng quan các công trìnhnghiên cứu trước đây về việc làm thêm nói chung và việc làm thêm cho sinhviên để tìm ra hướng tiếp cận mới khác với những đề tài trước đó mà các tácgiả khác đã tiến hành nghiên cứu Đồng thời, trong quá trình tổng quan tàiliệu, tác giả cũng học tập, kế thừa một số kết quả nghiên cứu để phân tích,làm nổi bật nghiên cứu mà tác giả thực hiện Một số tài liệu mà tác giả đã tiếnhành đọc, tham khảo như: Tạp chí xã hội học, báo Lao động thủ đô, các khóaluận, bài viết trên các trang web có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.1.Tình hình nghiên cứu việc làm thêm

Trong một xã hội đang hướng đến một nền công nghiệp nói chung thìviệc tiết kiệm tối đa vốn cá nhân đang ngày được phát huy Không chỉ dừnglại ở thời gian làm giờ hành chính mà còn tận dụng các khoảng thời gian rảnhrỗi khác để tạo ra thu nhập cho bản thân

Theo báo cáo của Công đoàn bộ khoa học và công nghệ với tiêu đề

“Kéo dài giờ làm thêm – bước lùi khi sửa luật lao động” cho biết có 95% số

lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước chobiết họ có làm thêm giờ, số giờ làm việc trung bình mỗi ngày 1.5 lần, có doanhnghiệp làm thêm tới 600h/1 năm, vượt mức quy định tới 3 lần Chủ yếu lý dokhiến người lao động phải làm thêm giờ là do lương thấp, không đủ chi tiêucho cuộc sống hàng ngày Chính vì vậy mà người lao động phải làm thêm giờ

Năm 2010, số liệu do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản công bốcho thấy, có 56% người lao động Nhật trong độ tuổi từ 15 đến 34 tuổi cầnmột dạng thu nhập khác ngoài mức lương chính để trang trải cho cuộc sống

Có tới gần 90% cho biết lý do họ chấp nhận đi làm thêm giờ là muốn có thêmthu nhập

Trang 7

Bài viết “Những công việc làm thêm nói tiếng Việt ở nước ngoài” của

Trang Ami đăng tải năm 2013 đề cấp đến những công việc làm thêm ở nướcngoài sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt như gia sư tiếng Việt cho người nướcngoài, thông dịch viên, hay những “công việc không tên” như đưa đón du họcsinh ở sân bay, làm hướng dẫn viên du lịch cho các du học sinh… Tóm lại bàiviết nói tới việc làm thêm sử dụng tiếng Việt ở nước ngoài đem lại thu nhậptương đối ổn định, người có thể làm những công việc này phải là những ngườinăng động và có trình độ ngoại ngữ ở mức khá trở lên [29]

2.2.Tình hình nghiên cứu việc làm thêm của sinh viên

Đề tài khóa luận “Thực trạng làm thêm của sinh viên trên địa bàn Hà

Nội hiện nay” của Nguyễn Thị Tâm Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã

mô phỏng thực trạng làm thêm của sinh viên và những yếu tố tác động đếnviện làm thêm của sinh viên, từ đó đề tài đề xuất một số khuyến nghị đối vớinhà trường và đối với sinh viên và đối với cả xã hội nhằm đem lại hiệu quảcao nhất cho sinh viên khi đi làm thêm [16]

Đề tài khảo sát “Thực trạng làm thêm của sinh viên Đại học Tây

Nguyên” của nhóm sinh viên trường Đại học Tây Nguyên đã chỉ ra rằng có

hai lý do chính khiến sinh viên làm thêm là để kiếm tiền và để rèn luyện bảnthân Số liệu điều tra của khảo sát cho thấy có tới 78.4% số sinh viên muốnlàm thêm để kiếm tiền tự trang trải cuộc sống, vừa để rèn luyện bản thân,trong đó thì gia sư là công việc được nhiều bạn sinh viên chọn nhất Nghiêncứu cũng chỉ rõ rằng sinh viên tìm việc chủ yếu thông qua sự giới thiệu củabạn bè (chiếm 44%), thông qua nhà trường chỉ có 8% [36]

Đề tài “Nhu cầu làm thêm của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ

-Đại học quốc gia Hà Nội: Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Xuân Long

chỉ ra rằng có tới 35.4% sinh viên cho rằng làm thêm là rất cần thiết, có tới64.2% cho rằng làm thêm là cần thiết.Đề tài cũng chỉ rõ lý do sinh viên đi làmthêm, lý do chiếm tỉ lệ cao nhất là để rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ chiếm

Trang 8

33.3%, tiếp theo là lý do tăng thêm thu nhập chiếm 31.3% Đồng thời, đề tàicũng chỉ ra công việc mà sinh viên đang làm nhiều nhất đó là gia sư, côngviêc này chiếm tới 65.1% [15]

Bên cạnh đó đề tài “Nữ sinh với việc làm thêm” của Trần Thu Hương,

trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn cho thấy nữ sinh đi làm thêmchiếm tới 61.3%, cao hơn hẳn so với nam sinh Trong đó công việc chủ yếu

mà nữ sinh làm cũng là gia sư Sinh viên nữ chọn công việc gia sư bởi vì côngviệc này nhàn hạ, nhẹ nhàng, ngoài ra sinh viên làm việc này còn có thể chủđộng sắp xếp thời gian cá nhân cho phù hợp [10]

Bài viết “Du học Nhật có rất nhiều việc làm thêm kiếm tiền” của tác

giả Nguyễn Hoàng Tuấn Anh đăng tải trên trang web vnexpress.net có nói tớicác công việc làm thêm của một du học sinh Nhật đó là làm phụ việc trongnhà hàng, sau đó là dạy ngoại ngữ, dọn vệ sinh, bán hàng, đưa báo, làm côngnhân nhà máy… Đồng thời tác giả đề cập đến những khó khăn và những mặttích cực mà một du học sinh Nhật có thể gặp phải [30]

Bài viết “Những công việc làm thêm nào hấp dẫn sinh viên nhất” của

tác giả Ngọc Lan được đăng tải năm 2014 trên trang web news.zing.vn có nóiđến nhu cầu của sinh viên về một số công việc làm thêm như: Phục vụ bàn,bảo vệ trông xe quán cà phê, lễ tân, bán hàng theo giờ… là những công việc

là sinh viên yêu thích Đối với mỗi công việc làm thêm như chạy bàn, làm bảo

vệ được trả lương từ 2 đến 3 triệu đồng một tháng Trong khi những công việcnhư chuyên viên tư vấn khách hàng, lái xe, phỏng vấn viên, giám sát viên…mỗi dự án làm 17 ngày nhưng thu nhập có thể đến hơn 5 triệu đồng mộttháng, nhưng lượng sinh viên ứng tuyển rất ít Bài viết còn đề cập tới việcsinh viên thích đi làm những công việc chân tay hơn những công việc suynghĩ đầu óc, lý giải cho điều này, tác giả nói rõ việc sinh viên thích lao độngchân tay hơn lao động trí óc là do những công việc này giải quyết nhanh vấn

Trang 9

đề thu nhập và không đòi hỏi nhiều kĩ năng nên đa số sinh viên đều có thểtham gia được [31]

Bài viết “Làm thêm thời sinh viên, tôi tài giỏi, bạn cũng thế” của

chuyên gia đào tạo của TGM HCM Vũ Đức Trí Thế đăng tải trên trang webtoitaigioibancungthe.vn, tác giả cho biết thông qua việc trải nghiệm nhữngcông việc như giao dịch cho ngân hàng ACB, đi giao hàng, và trông xe, tácgiả nhận được một số bài học như dù là ai, cũng hãy lịch sự ngay cả với ngườithấp hơn mình và đừng bao giờ khoe thân thế, đó là cái khoe có giá trị thấpnhất Theo chuyên gia, dù làm việc gì đi nữa thì mỗi công việc sẽ đem lại chobạn những giá trị nhất định, những bài học cuộc sống và cách sống để chochúng ta học hỏi [33]

Tiểu luận “Sinh viên với việc làm thêm” đăng tải năm 2013 trên trang

doc.edu.vn đề cập tới những nguyên nhân sinh viên phải đi làm thêm, nhữngthuận lợi và khó khăn mà sinh viên gặp phải khi đi làm thêm, những ảnhhưởng tới kết quả học tập và một số giải pháp giành cho sinh viên Tiểu luận

có đề cập tới một giải pháp không mới nhưng có ảnh hưởng tích cực tới kếtquả học tập của sinh viên đó là sinh viên cố gắng học tập tốt để được họcbổng nhà trường trao tặng Theo quan điểm của tác giả thì đây có thể được coinhư một công việc làm thêm, công việc này vừa không ảnh hưởng đến kết quảhọc tập mà còn đem lại cả thu nhập cho sinh viên [32]

Bài viết “Sinh viên và vấn đề làm thêm” của Phạm Thị Thùy Miên

được đăng tải ở chuyên mục góc học tập của website trường Đại học DuyTân, trong bài viết này tác giả bàn về vấn đề làm thêm của sinh viên, những lý

do sinh viên đi làm thêm, những công việc sinh viên có thể làm thêm ngoàigiờ học Tác giả còn đưa ra lời khuyên cho sinh viên, mối sinh viên cần “tỉnhtáo” để có thể tìm kiếm những công việc phù hợp cho riêng mình, dù có làmthêm công việc nào thì cũng phải nhớ rõ rằng đối với sinh viên, việc học mới

là việc quan trong nhất [35]

Trang 10

Bài viết “Thiết kế việc làm thêm từ chính ngành học của mình” của

Đinh Nha Trang đăng tải trên trang web snvn.vn năm 2013 có nói tới việcsinh viên có thể thiết kế việc làm thêm cho mình từ chính chuyên ngành mìnhđược học Cụ thể, trong bài viết tác giá nói tới Lê Mai Anh, sinh viên nămcuối khoa Hội họa, trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam đã tự tạo việc làmthêm cho mình bằng năng khiếu vẽ, Mai Anh vẽ minh họa cho các câuchuyện trên báo Hoa Học Trò, chính công việc vẽ này đem lại cho Mai Anhmột khoản thu nhập không nhỏ và chính công việc đó đã biến ước mơ củaMai Anh thành sự thật [36]

Bài viết này bổ sung vào các cách thức để sinh viên có thể làm thêm đó

là tự tạo cho mình một công việc làm thêm từ chính chuyên ngành của mình,sinh viên vừa có thể sử dụng kiến thức đang học vào thực tế, vừa đem lại chosinh viên một khoản thu nhập Hạn chế của cách thức này là không phải sinhviên nào cũng có thể thực hiện được

Tóm lại, sinh viên làm thêm được quan tâm từ nhiều khía cạnh khácnhau, được nghiên cứu, được quan tâm từ thực trạng cho tới nhu cầu, đượcxem xét dưới góc độ giới… Các nghiên cứu trước chủ yếu nhằm vào thựctrạng làm thêm của sinh viên, cũng đã có nghiên cứu về nhu cầu làm thêm củasinh viên nhưng vẫn còn chưa khai thác được hết nhu cầu của sinh viên.Trong nghiên cứu này, ngoài việc tìm hiểu đầy đủ hơn nhu cầu của sinh viênthì tác giả còn tập trung phân tích những yếu tố tác động đến nhu cầu làmthêm của sinh viên Trong nghiên cứu, kết quả được phân tích qua khảo sát tạiHọc viện Báo chí và Tuyên truyền

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và nhu cầu làm thêm của sinh viên Học viện Báochí và Tuyên truyền Từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứngnhu cầu làm thêm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1)Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, đồng thời làm rõ một

số khái niệm có liên quan

(2) Tìm hiểu thực trạng đi làm thêm của sinh viên Học viện Báo chí vàTuyên truyền hiện nay

(3) Tìm hiểu nhu cầu và những yếu tố ảnh hưởng đến việc đi làm thêmcủa sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(4)Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp đối với sinh viên và nhàtrường để phù hợp với nhu cầu làm thêm của sinh viên

4 Đối tượng, khách thể, phạm vị nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu làm thêm của sinh viên học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay

5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

5.1 Giả thuyết nghiên cứu.

- Sinh viên nữ có nhu cầu đi làm thêm cao hơn sinh viên nam

- Năm học của sinh viên có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu làm thêm củasinh viên, sinh viên năm thứ tư có nhu cầu đi làm thêm cao hơn sinh viên cácnăm thứ nhất, thứ 2, thứ 3

- Sinh viên thích được trả lương theo kết quả làm việc hơn là theothời gian làm việc

- Đa số sinh viên mong muốn được đi làm thêm những công việc phùhợp với ngành học mà mình đang theo học

- Điều kiện kinh tế của gia đình có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu làmthêm của sinh viên, những sinh viên xuất thân trong gia đình có điều kiện

Trang 12

kinh tế khá giả có nhu cầu đi làm thêm thấp hơn những sinh viên xuất thântrong gia đình có điều kiện kinh tế trung bình, nghèo.

- Sinh viên năm thứ tư có khả năng tìm được những công việc phùhợp với chuyên môn hơn những sinh viên năm nhất, năm hai, năm ba

- Sinh viên sống ở nông thôn có nhu cầu làm thêm cao hơn sinh viên

Nhóm 1: Đặc điểm và điều kiện của sinh viên: Giới tính, Ngành học,

năm học, chi tiêu cá nhân

Vai trò của nhà trường về việc làm thêm cho sinh viên.

Môi trường kinh tế - xã hội, chính sách của Nhà nước về việc làm

Hiện trạng làm thêm của sinh viên HVBCTT + Loại hình công việc

+Thời gian làm việc

+ Mức độ, tính chất công việc.

+Chính sách đãi ngộ

Đặc điểm và điều

kiện của gia đình:

Nơi ở của gia đình,

điều kiện kinh tế của

gia đình

Đăc điểm và điệu

kiện của SV: Giới

tính, ngành học, năm

học, chi tiêu cá nhân.

Trang 13

Nhóm 2: Đặc điểm và điều kiện của gia đình: Nơi ở của gia đình, thành

phần gia đình, thu nhập của gia đình

Biến phụ thuộc: Nhu cầu làm thêm của sinh viên Học viện Báo chí và

● Nhu cầu về mức thu nhập: Thu nhập bình quân một tháng nhận được

● Nhu cầu về chế độ đãi ngộ của các nhà tuyển dụng đối với sinh viên:những cam kết của nhà tuyển dụng

Biến trung gian: gồm các biến số chính sau:

● Thực trạng về loại hình công việc: Công việc có liên quan đến ngànhhọc hay không

●Thực trạng thời gian làm việc: Thời gian làm việc phân theo ngàythường, hoặc ngày nghỉ

● Thực trạng mức độ, tính chất công việc: Đang làm bao nhiêu côngviệc; đó là những công việc gì; những công việc đó yêu cầu kĩ năng gì

● Thực trạng về mức thu nhập: Thu nhập từ việc đi làm thêm là bao nhiêu

Biến can thiệp gồm 3 nhóm biến số chính:

 Môi trường kinh tế - xã hội

 Chính sách của Nhà nước về việc làm

 Vai trò của nhà trường về việc làm thêm cho sinh viên

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận.

Trang 14

Đề tài sử dụng ba lý thuyết xã hội học: Lý thuyết về Nhu cầu, lý thuyếtHành động xã hội, Lý thuyết Vốn xã hội để tiếp cận và định hướng cho đề tàinghiên cứu.

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Đề tài sử dụng mô hình nghiên cứu xã hội học: định tính – định lượng,trong đó phương pháp định lượng (Sử dụng bảng hỏi Anket) được sử dụng làphương pháp nghiên cứu chính, phương pháp nghiên cứu định tính (Phươngpháp phỏng vấn sâu, phương pháp phân tích tài liệu) là phương pháp bổ sungcho phương pháp định lượng

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính.

- Phương pháp phân tích tài liệu

● Mục đích: Nhằm tìm hiểu khái quát những vấn đề liên quan đến việc

làm thêm của sinh viên, đồng thời phát hiện vấn đề mới mà những nhà nghiêncứu trước đó chưa đề cập tới hoặc là đã đề cập tới nhưng nghiên cứu chưa sâu

● Cách thực hiện: Người nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin tại

các trung tâm thư viện như Thư viện Quốc gia, Thư viện Học viện Báo chí vàTuyên truyền về vấn đề làm thêm nói chung và việc làm thêm của sinh viên.Đồng thời, tác giả sử dụng một số kết quả nghiên cứu tại các khóa luận vàmột số khái niệm, lý thuyết trong các quấn từ điển và sách xã hội học có liênquan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp Phỏng vấn sâu.

● Mục đích: Nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng, nhu cầu, các yếu tố

ảnh hưởng đến việc làm thêm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền,đồng thời phương pháp này cũng cung cấp thông tin về các chính sách đãi ngộcủa nhà tuyển dụng đối với sinh viên để phù hợp với nhu cầu của sinh viên

● Cách thực hiện Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu đối với

10 sinh viên trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền, phương pháp chọnmẫu đối với 10 trường hợp này là sử dụng phương pháp chọn mẫu trongnghiên cứu định tính đó là phương pháp chọn mẫu thuận tiện

Trang 15

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

- Mục đích: Nhằm thu thập thông tin về thực trạng và nhu cầu đi làm

thêm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Cách thực hiện: Nghiên cứu sẽ chọn 200 mẫu tại Học viện Báo chí

và Tuyên truyền Tiến hành lập dang sách các lớp thuộc khối lý luận và các

lớp thuộc khối nghiệp vụ, lập dang các các lớp theo từng năm học khác nhau.

Như vậy, có 4 danh sách chọn mẫu chia theo năm học của sinh viên theo khối

lý luận, có 4 danh sách chọn mẫu chia theo năm học của sinh viên theo khốinghiệp vụ Mối danh sách đã lập được sẽ được chọn ra hai lớp để nghiên cứutheo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản Như vậy, sẽ có 16 lớp thamgia tiến hành nghiên cứu

Bước tiếp theo, lập danh sách sinh viên của từng lớp đã được chọnmẫu ở giai đoạn trên, tiến hành chọn sinh viên để nghiên cứu dựa theophương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo công thức k = N/n Nhưvậy, mỗi lớp có khoảng 50 sinh viên, số sinh viên được chọn mỗi lớp sẽkhoảng 13 sinh viên được chọn làm mẫu nghiên cứu

Do trong một số trường hợp sinh viên không thể tham gia nghiêncứu, nhà nghiên cứu phải lập danh sách mẫu dự bị để bổ dung khi cần thiết

Trang 16

- Đề tài cung cấp những luận giải khoa học cho việc đánh giá về nhucầu loại hình công việc, mức độ, tính chất công việc, chính sách đãingộ đối với sinh viên

8 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, danh mục bảng biểu, bộ công cụ thu thập thông tin, phần nội dụng củakhóa luận gồm 3 chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng làm thêm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền.Chương 3: Nhu cầu làm thêm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền vàcác yếu tố tác động đến nhu cầu làm thêm của sinh viên

Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm thêm của sinh viên Họcviện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Thao tác hóa khái niệm

Để thực hiện đề tài: “Nhu cầu làm thêm của sinh viên Thành phố HàNội hiện nay”, tác giả tiến hành làm rõ một số khái niệm có liên quan đến đềtài sau đây: Khái niệm nhu cầu; khái niệm việc làm và người có việc làm;khái niệm việc làm thêm, khái niệm sinh viên và khái niệm việc làm thêmsinh viên để định hướng nghiên cứu cho đề tài

1.1.1 Nhu cầu.

Theo từ điển xã hội học oxford: “nhu cầu” là cái gì đó được coi là cầnthiết, đặc biệt khi nó được coi là thiết yếu cho sự tồn tại của mỗi con người,một tổ chức hay bất cứ thứ gì khác Khái niệm này được sử dụng rộng rãitrong các khoa học xã hội, với sự chú ý đặc biệt dành cho cái gọi là nhữngnhu cầu con người Nhu cầu thường đối lập với muốn, nhu cầu nói đến nhữngthứ cần thiết, còn muốn thì nói đến những thứ người ta ao ước có Vì kháiniệm này tự nó giả định rằng nhu cầu cần phải được thỏa mãn nên nó thườngđược dẫn ra trong những phát biểu hùng hồn tạo các cuộc tranh luận về chínhtrị và chính sách đặc biệt là để hậu thuẫn cho những tuyên bố về sự cần thiếtphải hành động hay can thiệp [19, tr.385]

Tuy nhiên, không có gì ngạc nhiên là người ta tranh cãi gay gắt về việcxác định nhu cầu cơ bản để tồn tại như những nhu cầu sinh lý và vật chất về

ăn, ngủ và ở

- Theo từ điển xã hôi học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên [20,tr.211,212]: mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầunào đó Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của một cơ thể sống vào môi trường bênngoài, thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện

để tồn tại và phát triển Từ đầu thế kỉ này, Mario Luis Small (Mỹ) đã thấy

Trang 18

những hoạt động tâm lý của các cá nhân bắt nguồn từ những nhu cầu của nó(về của cải, quyền lực, về sự tán thành của người khác…)

- Thỏa mãn được nhu cầu, con người cảm thấy thích thú và hài lòng.Không thỏa mãn được con người bị hẫng hụt và có thể đi tới những hành vichống lại những trở ngại (có thật hay giả định) trong việc tìm kiếm sự thỏamãn nhu cầu Không ít nhà tư tưởng cho rằng một xã hội hạnh phúc chỉ có thểđạt tới khi nhu cầu của con người được thỏa mãn

- Về đại thể, người ta chia những nhu cầu của con người thành hai loại

cơ bản: nhu cầu sinh học, nhu cầu văn hóa (cũng được gọi là nhu cầu vật chất

và nhu cầu tinh thần) thật ra ở con người rất khó phân biệt hai loại nhu cầu đó

- Mỗi người có nhu cầu riêng, đồng thời toàn xã hội còn có nhu cầuchung Nhu cầu xã hội không chỉ là tổng của những nhu cầu cá nhân mà cònbao gồm những nhu cầu để duy trì và phát triển xã hội với tư cách tổng thể

Sự kết hợp giữa nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội đặt ra những vấn đề khókhăn, có khi gay gắt, nhất là trong tình trạng năng suất lao động, sản phấm xãhội trình trình độ lao động còn thấp kém Không thể hi sinh nhu cầu cá nhâncho nhu cầu xã hội, hoặc ngược lại Vì như vậy cả hai loại nhu cầu đều khôngđược đáp ứng đến mức cần thiết

1.1.2 Việc làm và người có việc làm

- Dưới góc độ xã hội học thì việc làm là sự biểu thị thực tế các thànhviên có khả năng lao động một mình hay liên kết với thành viên khác của một

xã hội tiến hành một loại lao động xã hội có ích bằng cách đó thỏa mãn nhữngnhu cầu của mình và đáp ứng nhu cầu nhất định của xã hội Lao động xã hội

có ích để xác định thế nào là việc làm, thế nào là nghề nghiệp Vì hiện nay cóviệc làm ở quốc gia này bị cấm hoặc chưa được công nhận hoặc thừa nhận thì

ở quốc gia khác lại coi đó là một nghề và có đăng kí sổ lao động Để có việclàm ổn định con người phải sử dụng công cụ lao động, người lao động phải cókhả năng thực tế Điều này đảm bảo cho sản phẩm của người lao động tạo ratrong quá trình làm việc đáp ứng yêu cầu của xã hội

Trang 19

- Có thể thấy, người có việc làm là người làm việc được trả tiền công,lợi nhuận, hay được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vàocác hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập(Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung về cơ sở giải quyết việc làm ở ViệtNam, nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997) [6]

- Dựa vào khái niệm việc làm và người có việc làm Nguyễn Hữu Dũng

và Trần Hữu Trung còn chia việc làm thành việc làm chính và việc làm phụ

- Việc làm chính: là những công việc mà người thực hiện dành nhiềuthời gian hơn so với công việc khác

- Việc làm phụ: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời giansau việc làm chính

Mang tính khái quát hơn, tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa vềngười có việc làm là: người đang làm một việc gì đó được trả tiền công hoặcnhững người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tìm lợi ích haythay thế thu nhập gia đình Tuy nhiên cũng cần xem xét người lao động cóviệc làm thường xuyên hay không thường xuyên để từ đó đánh giá thu nhập

1.1.3 Việc làm thêm

Trong thời đại nền kinh tế thị trường như ngày nay thì việc tận dụngtriệt để tài sản của cá nhân bao gồm công sức, kinh nghiệm, tri thức và cả thờigian… là điều rất cần thiết Hơn nữa sinh viên ngoài thời gian học trên cácgiảng đường ra thì sinh viên được coi là nhóm có nhiều thời gian rảnh rỗinhất Chính vì vậy, việc sinh viên tận dụng thời gian rảnh rỗi của mình đểtham gia các hoạt động khác trở nên phổ biến

Trong nghiên cứu này, việc làm thêm được hiểu là ngoài thời gian làmviệc chính, người lao động (bao gồm cả sinh viên Học viện Báo chí và Tuyêntruyền) đi làm một công việc nữa khác với công việc chính thì được gọi làviệc làm thêm Đối với sinh viên trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền,công việc chính của sinh viên là học tập, những công việc tạo ra thu nhập chosinh viên được gọi là việc làm thêm

Trang 20

Hơn nữa sự gia tăng của giá cả khiến cho đời sống của một bộ phậnsinh viên mà chủ yếu là sinh viên đến từ nông thôn trở nên khó khăn hơn, để

bù đắp vào đó thì sinh viên đã chọn cho mình những công việc làm ngoài giờhọc để có thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống cũng như tích lũy kinhnghiệm cho cá nhân

“Việc làm thêm” cũng thường có ở những thành phố lớn, những nhàtuyển dụng thường tuyển nhân viên dưới nhiều hình thức khác nhau từ tínhchất công việc, đặc điểm công việc, nơi làm việc hay cả thời gian làm việc…Những người ứng tuyển vào đó hoàn toàn có quyền chọn cho bản thân nhữngcông việc phù hợp với một mức lương phù hợp Như vây, “việc làm thêm” làmột định nghĩa mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyênbên cạnh một công việc ổn định khác, đối với sinh viên thì công việc chínhthức là tham gia học tập, công việc không chính thức là đi làm thêm, đi thựctập hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác

1.1.4 Sinh viên.

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm sinh viên, đứng ở mỗi khíacạnh khác nhau thì các nhà nghiên cứu lại có những khái niệm khác nhau vềsinh viên

Theo từ điển Tiếng Việt thì sinh viên (sinh viên Việt Nam) là công dânViệt Nam đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng hay Trung cấpchuyên nghiệp, ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghềchuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua nhữngbằng cấp mà họ đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theophương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học

Họ là một nhóm dân số khá lớn với các đặc điểm được xác định rõ vai trò, vịtrí của hệ thống tái sản xuất và phát triển xã hội [21]

Đối với các nhà nghiên cứu xã hội học, sinh viên có những đặc điểm sau:

Có đặc điểm riêng trong sự phân tầng và khả năng di động xã hội cao

Do tính chất hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, họ là những người có

Trang 21

nhiều cơ hội thuận lợi hơn để chiếm những địa vị cao trong xã hội nhất làtrong nền kinh tế tri thức.

- Là nhóm có khả năng thích ứng cao, tiếp thu nhanh các giá trị mới

- Là nhóm xã hội đặc thù về lứa tuổi mà ở lứa tuổi này quá trình xã hộihóa diễn ra mạnh mẽ so với nhóm thiếu nhi, tiếp thu nhanh các giá trị mới

1.1.5 Việc làm thêm sinh viên

Đặc điểm của sinh viên cho thấy sinh viên là nhóm có khả năng thíchứng, nhanh nhạy, luôn năng động trong nhiều hoạt động như việc tham gia cáchoạt động do trường, địa phương, các tổ chức khác tổ chức… Ngoài ra sinhviên còn tham gia các hoạt động tạo thu nhập cho chính bản thân mình Việcsinh viên ngoài giờ lên lớp còn tham gia các hoạt động tạo ra thu nhập cho cánhân thì đó được gọi là việc làm thêm của sinh viên Khái niệm “việc làm thêmcủa sinh viên” trong nghiên cứu này được hiểu là sinh viên ngoài giờ học trênlớp còn tranh thủ làm những công việc khác để tạo ra thu nhập

1.2 Cơ sở lý thuyết định hướng nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số lý thuyết xã hội học nhằm định hướng nghiêncứu cho đề tài, đồng thời sử dụng các lý thuyết xã hội học để giải thích cáckết quả nghiên cứu thu thập được Một số lý thuyết được sử dụng trong đề tàinhư: Lý thuyết nhu cầu, lý thuyết hành động xã hội và lý thuyết vốn xã hội

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Lý thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Maslow (1908 – 1970) là lýthuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của conngười nói chung Nhu cầu là đòi hỏi thường xuyên của mỗi cá nhân, là trạngthái thấy thiếu thốn ở trong con người Các nhu cầu của con người một mặtđược tạo ra do những đòi hỏi bên trong cơ thể, mặt khác được tạo ra từ trongnhững điều kiện nhất định của xã hội Theo lý thuyết này, nhu cầu tự nhiêncủa con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ “đáy” lên tới

Trang 22

“đỉnh”, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển củacon người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội [9]

Cấu trúc của Tháp nhu cầu gồm có 5 tầng, trong đó những nhu cầu củacon người được liệt kê theo hình kim tự tháp Những nhu cầu cơ bản phía đáyphải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậccao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cảcác nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ

5 tầng của thang nhu cầu của Maslow như sau:

Tầng thứ nhất: các nhu cầu về căn bản nhất thuộc về “thể lý”: thức ăn,

nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi…

Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn: cần có cảm giác yên tâm về an toàn

thân thể, an toàn việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc:

muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn

bè thân hữu tin cậy

Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến: cần có cảm giác

được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng

Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân: muốn được sáng tạo,

được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và đượccông nhận là thành đạt

Trong cuộc sống, mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau không aigiống ai, sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng vậy, mỗi sinh viên

TỰ THỂ HIỆN TÔN TRỌNG

XÃ HỘI

AN TOÀN SINH LÝ

Trang 23

cũng có những nhu cầu khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh củatừng người, tuy nhiên nhu cầu nào cũng đều rất quan trọng và cần được đápứng Khi nhu cầu thấp đã đạt được thì lại có nhu cầu cao hơn Mỗi sinh viênluôn tồn tại những nhu cầu khác nhau, đối với một số sinh viên có thể nhu cầu

là được đáp ứng các yêu cầu ở tầng tháp nhu cầu sinh lý, nhưng cũng cónhững sinh viên thì nhu cầu lại chính là sự tự thể hiện Nhưng dù ở tầng nhucầu nào đi nữa thì chỉ khi nhu cầu được đáp ứng con người mới cảm thấy hàilòng Như vậy, đối với việc sinh viên làm thêm, đối với một số người thì đó

là nhu cầu sinh lý, nhưng đối với một số sinh viên khác thì việc đi làm thêmlại là sự tự thể hiện bản thân, sinh viên muốn được công nhận họ là nhữngngười tự lập, họ mong muốn được cho rằng bản thân mình là những ngườithành đạt, không nương tựa vào ai

1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội.

Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội có nguồn gốc từ nhiều nhànghiên cứu khác nhau, Weber là một trong những nhà nghiên cứu có công đầuxây dựng lý thuyết xã hội học về hành động xã hội Quan niệm của Webercho thấy hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học Ông đã chỉ

ra sự khác nhau giữa hành động xã hội và và những hành vi và những hoạtđộng khác của con người Hành động xã hội được ông tổng quát định nghĩa làhành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hànhđộng có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tớingười khác trong đường lối và quá trình của nó Theo Weber, ông phân loạithành 4 loại hành động sau đây: [9]

Hành động duy lý – công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân

nhắc, tính toán, lực chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiểu quảnhất

Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân

hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào

Trang 24

những mục đích phi lý nhưng lạ được thực hiện bằng những công cụ, phươngtiện duy lý.

Hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc

tình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mốiquan hệ giữa công cụ phương tiện và mục đích hành động

Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói

quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền lại từ đời này qua đời khác

Xã hội học nghiên cứu hành động xã hội thực chất là tập trung vàonghiên cứu loại hành động duy lý – công cụ Weber lập luận rằng: đặc trưngquan trọng nhất của xã hội học hiện đại là hành động xã hội của con ngườingày càng trở nên duy lý, hợp lý với tính toán chi ly, tỉ mỉ, chính xác về mốiquan hệ giữa công cụ/phương tiện và mục đích/kết quả

Do vậy việc sinh viên quyết định có đi làm thêm hay không và làmnhững công việc như thế nào đều được tính toán chi li, cẩn thận Làm thêmđem lại cho sinh viên những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, ảnh hưởng tíchcực là sinh viên có thêm thu nhập, có thêm kinh nghiệm, kỹ năng nhưng bù lại

có thể sinh viên sẽ không thực hiện tốt được nhiệm vụ học tập của mình, làmảnh hưởng đến kết quả học tập như sinh viên bị thi lại, học lại Việc bị thi lại,học lại hay kết quả học tập không cao sẽ khiến sinh viên phải mất một khoảntiền để trả môn, hoặc là kết quả không cao sẽ dẫn đến việc sau này ra trườngsinh viên khó xin được việc làm Vì thế sinh viên phải cân nhắc thật kĩ để quyếtđịnh có đi làm thêm hay không và làm thêm những công việc gì, thời gian làmviệc như nào để có thể vừa làm thêm và không ảnh hưởng nhiều đến kết quảhọc tập Vừa giải quyết được vấn đề khó khăn về thu nhập trước mắt nhưngđồng thời vừa không làm ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm trongtương lại Tuy nhiên, sinh viên quyết định chọn công việc như thế nào còn tùythuộc vào nhiều yếu tố khác nhau và đều được tính toán, lựa chọn phương pháp

để đạt được năng suất, chất lượng, và hiệu quả cao nhất có thể

1.2.3 Lý thuyết vốn xã hội

Trang 25

Lý thuyết vốn xã hội xuất hiện chủ yếu vào những năm 90 Đây là mộtkhái niệm mới và có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về vốn xã hội nhưngtựu trung lại các quan điểm đều quy vốn xã hội về các mạng lưới xã hội vàđều cho rằng giống như vốn con người, tuy thuộc về vốn vật chất nhưng vốn

xã hội cũng có khả năng sinh lợi [28]

Trong cuộc sống, để duy trì và tồn tại thì không một ai mà sống độclập, tách biệt hoàn toàn với xã hội, mỗi người đều tham gia vào những mạnglưới xã hội nhất định, có người tham gia nhiều, có người tham gia ít, có người

có mạng lưới xã hội dày đặc nhưng cũng có người tham gia vào những mạnglưới xã hội lỏng lẻo

Đó có thể là các mạng lưới không chính thức như họ hàng, gia đình,bạn bè, người thân, hoặc có thể là các mạng lưới chính thức như các tổ chứcdân sự chính thức, các hiệp hội, các nhóm nghề nghiệp… Trong quá trình cánhân tham gia vào các nhóm xã hội sẽ giúp cá nhân khai thác và sử dụngđược thông tin, ý tưởng, nguồn lực và và sự hợp tác từ các thành viên kháctrong mạng lưới Vốn xã hội có thể được hiểu như là nguồn lực được tăng lênkhi các cá nhân tham gia vào các mạng lưới xã hội

Đối với sinh viên trong vấn đề tìm kiếm việc làm, vốn xã hội chính làviệc sinh viên tận dụng các mối quan hệ, mạng lưới của mình để tìm cho mìnhnhững công việc phù hợp với bản thân, vai trò của vốn xã hội trong việc sinhviên làm thêm được thể hiện ở việc gắn kết hay kết nối giữa những ngườiđang tìm việc với những người đang nắm giữ nguồn lực Do nắm giữ quyềnlực mà một số cá nhân có khả năng chi phối nhất định đối với những ngườikhác Trong trường hợp này, nhà trường có vai trò nhất định kết nối giữa nhàtuyển dụng với sinh viên để sinh viên tìm được những công việc phù hợp vớikhả năng và trình độ của mình, bù lại các nhà tuyển dụng, những ông chủ, bà

Trang 26

chủ dựa vào mạng lưới liên kết với nhà trường mà tìm được cho mình nhữnglao động phù hợp

1.3 Bối cảnh kinh tế xã hội và chính sách của đảng nhà nước về việc làm cho sinh viên.

1.3.1 Bối cảnh kinh tế xã hội về việc làm

Sau 25 năm tiến hành mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật ở tất cả các lĩnh vực của cuộcsống… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu tích cực, nước ta cũng phải đốimặt với những hệ lụy tiêu cực từ quá trình mở cửa hội nhập, tăng trưởngnhanh chưa bền vững

Theo báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2014, Kinh tế - xã hội nước

ta năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm sau suythoái toàn cầu Các nền kinh tế lớn phát triển theo hướng đẩy nhanh tăngtrưởng nhưng có nhiều yếu tố rủi ro trong việc điều chỉnh chính sách tiền

tệ. Trong khi đó, nhiều nền kinh tế mới nổi gặp trở ngại từ việc thực hiệnchính sách thắt chặt để giảm áp lực tiền tệ Bên cạnh đó, khu vực đồng EURO

bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nước trongkhu vực do tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia, nhất là khu vực châu

Âu Dự báo tăng trưởng năm 2014 và 2015 của hầu hết các nền kinh tế ĐôngNam Á cũng được điều chỉnh giảm. Điểm nổi bật trong những tháng cuối năm

là giá dầu mỏ trên thị trường thế giới giảm sâu và vẫn đang tiếp tục giảm Đốivới các quốc gia nhập khẩu dầu, giá dầu giảm giúp thúc đẩy tiêu dùng và đầu

tư tư nhân cũng như cải thiện cán cân thanh toán Tuy nhiên, đối với các nướcsản xuất dầu, thực trạng thị trường giá dầu mỏ giảm sẽ tác động mạnh đếnkinh tế theo chiều hướng thuận lợi và khó khăn đan xen

Ở trong nước, sản xuất kinh doanh chịu áp lực từ những bất ổn về kinh tế

và chính trị của thị trường thế giới, cùng với những khó khăn từ những nămtrước chưa được giải quyết triệt để như áp lực về khả năng hấp thụ vốn của nềnkinh tế chưa cao; sức ép nợ xấu còn nặng nề; hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm;

Trang 27

năng lực quản lý và cạnh tranh của doanh nghiệp thấp Trước bối cảnh đó,Chính phủ, Thủ tướng chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết địnhnhằm tiếp tục ổn định vĩ mô, tháo gỡ khó khăn và cải thiện môi trường kinhdoanh, tạo đà tăng trưởng, bảo đảm công tác an sinh xã hội cho toàn dân Trọngtâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ vềnhững nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014; Nghị quyết số19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủyếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/8/2014 của Chính phủ về một số giải pháp vềthuế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanhnghiệp; Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chínhphủ về việc đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước; Chỉ thị số 25/CT-TTg

ngày 13/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều hành thực hiện nhiệm vụ

tài chính - ngân sách Nhà nước những tháng cuối năm 2014

Vấn đề việc làm ngày càng trở nên được quan tâm hơn, dân số nước tatính đến năm 2014 đạt hơn 90 triệu dân, mỗi năm nước ta có thêm hơn 1triệu dân, nguồn lao động dồi dào (50% dân số trong độ tuổi lao động) Điềunày đem lại nhiều tích cực nhưng cũng gây sức ép không hề nhỏ về vấn đềviệc làm Nền kinh tế nước ta hiện nay có nhiều chuyển biến tích cực nhưngcòn chậm phát triển, chưa tạo ra đủ việc làm cho số lao động tăng thêm Hơnnữa trình độ lao động nước ta còn hạn chế, sinh viên mới tốt nghiệp cònthiếu nhiều kĩ năng nên tình trạng thất nghiệp của sinh viên nói riêng và của

cả nước nói chung còn tương đối cao

1.3.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về việc làm thêm.

Bộ luật lao động nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định

về làm thêm giờ như sau:

Trang 28

Điều 106 Làm thêm giờ

1 Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việcbình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặctheo nội quy lao động

2 Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờkhi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờlàm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việctheo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá

12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá

200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy địnhthì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

c) Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sửdụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đãkhông được nghỉ

Điều 107 Làm thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt

Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêmgiờ vào bất kỳ ngày nào và người lao động không được từ chối trong cáctrường hợp sau đây:

1 Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng,

an ninh trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh theo quy định củapháp luật;

2 Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sảncủa cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiêntai, hỏa hoạn, dịch bệnh và thảm họa [26]

Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc làm thêm của sinh viên.Cho đến ngày nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam chưa có văn bản chính

Trang 29

thức nào về thời gian cũng số lượng công việc làm thêm cho sinh viên Chính

vì vậy, sinh viên thoải mái lựa chọn những công việc mà mình yêu thích

Căn cứ theo Bộ luật lao động, mỗi người lao động làm việc khoảng 8hmột ngày Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền học trung bình khoảng4h một ngày, sinh viên phải học tập và tra cứu tài liệu khoảng 4h một ngày.Như vậy, tổng thời gian sinh viên phải học là 8h một ngày, tương đương vớithời gian của một người đi làm Nếu coi sinh viên là một người lao động thìngoài giờ học trên lớp và thời gian tự học thì mỗi sinh viên được quyền làmtối đa 4h một ngày, vượt qua thời gian trên, sinh viên được coi là vi phạm luậtlao động

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

2.1 Thực trạng về thời gian làm thêm của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền

Qua khảo sát 200 trường hợp tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thìhiện tại tỉ lệ sinh viên trả lời trước đây đã từng đi làm thêm chiếm khá cao, cótới 126 sinh viên trả lời đã từng đi làm thêm, tỉ lệ này cho thấy việc sinh viên

đi làm thêm trở nên khá quan trọng và phổ biến Tuy nhiên tỉ lệ sinh viên hiệntại đang đi làm thêm lại chỉ có 76 trường hợp, chiếm 47.5% Khi được hỏi tạisao trước đây một số sinh viên đã từng đi làm thêm còn hiện tại lại không đilàm thêm thì sinh viên cho rằng thời điểm khảo sát là thời điểm mà sinh viênHọc viện Báo chí và Tuyên truyền đang thi học phần nên nhiều bạn đã tạmdừng việc làm thêm lại để có thời gian tập trung học tập nhiều hơn

“Cách đây mấy tuần mình có đi làm thêm, mình làm phục vụ cho nhà hàng nhưng hiện tại mình đang phải thi hết môn nên mình đã xin tạm nghỉ để

có nhiều thời gian hơn ôn thi, mình đã bị thi lại một lần rồi nên mình không dám dơ là chuyện học hành nữa”

(Nữ, sinh viên năm 2, khối lý luận)Kết quả khảo sát cho thấy: đa số sinh viên Học viện Báo chí và Tuyêntruyền làm thêm vào tất cả các ngày trong tuần, tỉ lệ chiểm tới 63.1% tổng sinhviên đang đi làm thêm, còn lại 36.9% sinh viên đang làm vào các ngày từ thứ 2đến thứ 7 hoặc là thứ 7, chủ nhật Lý giải cho điều này, sinh viên cho rằng:

“Bọn em đi làm chỉ một buổi thôi nên cũng không cần phải có ngày như những người đi làm cả ngày, với lại vì đi làm thêm để kiếm thêm thu nhập thì bọn em trang thủ những ngày rảnh để đi làm chứ một tuần làm nửa buổi và nghỉ cả chủ nhật nữa thì lương cũng không cao mà những người chủ cũng không chấp nhận ạ”

(Nữ, sinh viên năm 2, khối lý luận)

Trang 31

2.2 Thực trạng về loại hình công việc làm thêm của sinh viên học viện báo chí và tuyên truyền

Theo kết quả nghiên cứu, tỉ lệ sinh viên hiện đang đi làm mà công việc

có liên quan đến ngành học của mình còn chưa cao Trong số những sinh viênđang làm thêm chỉ có 36.5% sinh viên trả lời đang đi làm những công việc cóliên quan đến ngành học của mình Tỉ lệ này còn chưa cao cho thấy một thựctrạng là sinh viên chưa tìm được một nơi để thực hành nghề nghiệp cho mình.Đối với sinh viên, việc vừa học vừa tìm công việc để bản thân có thể thực hànhnghề nghiệp là tương đối khó, vì vậy tỉ lệ này còn thấp Do đó, nhà trường cầnphải có một số biện pháp kết nối sinh viên với những cơ sở để sinh viên có thể

áp dụng kiến thức đã học vào cuộc sống và công việc sau khi ra trường

Biểu 1: Tính chất công việc (Đơn vị: %)

Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 85 sinh viên có đi làm thêm và trảlời câu hỏi này thì tỉ lệ sinh viên đang làm công việc lao động chân tay nhiềuhơn tỉ lệ sinh viên làm công viêc lao động trí óc Điều này phù hợp với những

lý giải ở bên trên rằng sinh viên cho rằng mặc dù muốn làm công việc đúngvới chuyên ngành của mình nhưng lại không tìm được những công việc đó, và

để lấp kín thời gian thì sinh viên vẫn phải làm những công việc lao động chântay để thay thế Khó khăn của sinh viên ở đây là chưa có nguồn cung cấpthông tin đa dạng và phong phú để sinh viên tìm việc Vì vậy Nhà trường – cơquan trực tiếp đào tạo sinh viên phải có những biện pháp, chính sách cung cấp

Trang 32

nguồn cho sinh viên tìm việc, đặc biệt là giới thiệu sinh viên với nhà tuyểndụng để sinh viên thử sức trải nhiệm.

Theo lý thuyết sự lựa chọn hợp lý thì trước khi đưa đến quyết định thìsinh viên luôn luôn có sự so sánh việc nào sẽ phù hợp với bản thân rồi mớiquyết định chọn một công việc phù hợp với bản thân và lợi ích tìm từ côngviệc đó mang lại Tuy nhiên có những sinh viên lại không tìm cho mình đượcviệc làm làm phù hợp với bản thân và chấp nhận làm một công việc khác

Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber cho rằng đặc trưng quantrọng nhất của xã hội hiện đại là hành động xã hội của con người ngày càngtrở nên duy lý, hợp lý với tính toán chi li, tỉ mỉ chính xác về mối quan hệ giữacông cụ/ phương tiện và mục đích/kết quả Do đó, việc sinh viên lựa chọncông việc làm thêm phải phù hợp với khả năng của bản thân và lợi ích màcông việc đó mang lại

Đối với những sinh viên trả lời hiện tại có đi làm thêm, có nhiều sinhviên không chỉ làm thêm một công việc mà có những sinh viên còn làm nhiềucông việc khác nhau trong cùng một lúc

- Số lượng công việc làm thêm:

Làm thêm 1 công

việc; Series1; 64.7

Làm thêm 2 công việc; Series1; 22.4

Làm thêm 3 công việc; Series1; 5.9

Làm thêm nhiều hơn 3 công việc;

Series1; 7.1

Biểu 2: Số lượng công việc làm thêm (Đơn vị: %)

Trang 33

Biều đồ cho thấy số lượng các công việc mà sinh viên đang làm thêmhiện nay khá đa dạng, sinh viên không chỉ làm thêm một công việc mà cónhững sinh viên làm hai công việc, ba công việc và thậm chí còn nhiều hơn cả

ba công việc nhưng chủ yếu sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đanglàm thêm một công việc, tỉ lệ này chiếm tới 64.7% tổng số sinh viên hiện có

đi làm thêm, tỉ lệ sinh viên đang đi làm 2 công việc cũng tương đối cao, có tớigần ¼ sinh viên trả lời họ đang đi làm 2 công việc Tỉ lệ sinh viên đi làmthêm từ 3 công việc và nhiều hơn 3 công việc trở nên chiếm tỉ lệ không caonhưng điều nay cho thấy sinh viên đã tiết kiệm hết thời gian của mình để cóthể đi làm thêm, tuy nhiên đối với những sinh viên hiện tại đang đi làm nhiềucông việc cùng một lúc thì chủ yếu tính chất những công việc đó thường làmtheo thời vụ, hoặc việc làm đó chiếm ít thời gian thì sinh viên mới có thểtranh thủ làm nhiều công việc khác nhau ngoài thời gian học tập tại giảngđường Đối với một số sinh viên trả lời đang làm nhiều công việc, tác giả tiếnhành phỏng vấn sâu đối với một vài trường hợp, sinh viên cho rằng:

“Hiện tại mình đang làm 3 công việc, mình vừa đi gia sư, vừa tham gia làm cộng tác viên cho tòa soạn, thỉnh thoảng bạn mình còn gọi mình đi làm tiệc đám cưới nữa Những công việc hiện tại mình đang làm thường chiếm ít thời gian và mình có thể chủ động sắp xếp được các công việc khác kể cả việc học”.

(Nữ, sinh viên năm 3, khối nghiệp vụ)

“Hiện tại thì tớ đang làm một công việc, tớ đang đi làm nhà hàng, thời gian cũng khá dài và đang mùa thi nên tớ không tranh thủ làm thêm được những công việc khác chứ lúc trước tớ đã từng làm mấy công việc cùng một lúc, tớ vẫn đi làm nhà hàng, có khi tớ còn nhập phiếu cho các dự án, vì việc nhập phiếu được mang về nhà làm nên mỗi lúc rảnh tớ tranh thủ nhập, hoặc

có khi tớ còn đi phát tờ rơi nữa”

(Nữ, sinh viên năm 4, khối nghiệp vụ)

Trang 34

Biểu 3: Công việc làm thêm hiện tại của sinh viên (Đơn vị: %)

Trong số những sinh viên đang đi làm thêm, những công việc mà sinhviên lựa chọn nhiều nhất đó là: phục vụ bán hàng chiếm tỉ lệ cao nhất, có gần

½ sinh viên hiện tại đang làm công việc, này tiếp đến là gia sư chiếm 21.7%,sau nữa là cộng tác viên viết báo Những công việc mà ít sinh viên lựa chọnlàm thêm đó là tham gia nghiên cứu khoa học Trường Học viện Báo chí vàTuyên truyền là ngôi trường đào tạo sinh viên ra trường chủ yếu làm nhữngnhà báo, nhà nghiên cứu nhưng tỉ lệ sinh viên hiện đang làm thêm nhữngcông việc này lại chiếm tỉ lệ chưa cao Chủ yếu sinh viên làm những việcchân tay như phục vụ, bán hàng Ngoài ra sinh viên còn làm một số công việckhác như làm MC cho các sự kiện, đi chụp ảnh, làm trợ giảng cho các trungtâm dạy học…

Việc học và kết hợp với thực hành là điều đặc biệt quan trong đối vớisinh viên, thể nhưng kết quả khảo sát lại cho thấy đa số những sinh viên đilàm thêm lại chủ yếu không trả lời rằng những công việc làm thêm đó khôngliên quan đến ngành học của mình, có tới 54 trường hợp (chiếm 63.5%) sinhviên nói rằng những công việc đó không liên quan đến ngành học của mình

Có thể nói rằng sinh viên chưa tìm được cho bản thân những công việc phùhợp để có thể thực hành, áp dụng kiến thức bản thân đang học vào thực tế

“Em là sinh viên năm nhất nên việc tìm kiếm việc làm hết sức khó khăn, việc tìm việc đùng với chuyên ngành em đang học càng khó khăn hơn vì em

Trang 35

chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm Vì mong muốn đi làm nên em đã chọn một công việc không liên quan gì đến chuyên ngành em học đó là làm phục vụ nhà hàng”

(Nam, sinh viên năm 1, khối lý luận)

“Em đang đi làm ở quán ăn khá gần trường mình, em cũng muốn làm những công việc có liên quan đến ngành học của mình nhưng em không tìm được công việc phù hợp vì em học khoa Triết nên rất khó có thể tìm được việc làm đúng với chuyên ngành em đang học”

(Nữ sinh viên năm 3, khối lý luận)

- Tính chât công việc làm thêm: Tùy vào thời gian rảnh rỗi của mỗi

sinh viên mà sinh viên có những lựa chọn khác nhau về tính chất công việclàm thêm Có những sinh viên đang làm những công việc mang tính chất ổnđịnh như làm nhà hàng, gia sư,… nhưng cũng có những sinh viên làm nhữngcông việc có tính chất linh hoạt như tham gia các dự án kinh tế - xã hội, làmcộng tác viên viết báo, viết tin bài cho các tòa soan, trang web… Theo kết quảkhảo sát 85 sinh viên hiện đang đi làm thêm thì tỉ lệ sinh viên đang làm nhữngcông việc tạm thời chiểm tỉ lệ cao nhất (chiếm 40%), sinh viên đang làmnhững công việc linh hoạt và thời vụ chiểm tỉ lệ thấp hơn đáng kể (công việc

ổn định: 27.1%, công việc linh hoạt: 32.9%) Những sinh viên làm công việctạm thời hoặc công việc linh hoạt thì thường làm được nhiều công việc cùngmột lúc vì thời gian làm việc không cố định

“Em chọn công việc có tính chất minh hoạt vì em không muốn bị gò bó nhiều thời gian và em cũng muốn tranh thủ làm các công việc khác để lấy kinh nghiệm”.

(Nam, sinh viên năm 1, khối nghiệp vụ)

Đa số những sinh viên chọn công việc cố định với lý do là không thíchthay đổi nhiều hoặc là môi trường làm việc tốt nên không tìm công việc cótính chất khác

Trang 36

“Mình làm thêm ở đây đã được 2 năm rồi, tuy thời gian làm việc dài (từ 17h – 23h30) nhưng mình vẫn muốn làm ở đây vì mọi người làm việc khá thân thiện, hòa đồng, công việc cũng vất vả nhưng bù lại bọn mình rất hay được thưởng vào cuối tháng”

(Nam, sinh viên năm 3, khối nghiệp vụ)

“Bạn em có giới thiệu em đi làm những công việc có mức lương cao hơn nhưng đó là công việc không cố định nên em không thích, làm xong việc

đó rồi thì em sẽ lại phải tìm một công việc mới, chính vì vậy mà em thích nhưng công việc cố định hơn, cứ đến giờ thì đi làm không phải mất công tìm việc khác.

(Nữ, sinh viên năm 3, khối nghiệp vụ)

- Yêu cầu công việc:

Bảng 1: Yêu cầu của công việc làm thêm

về kinh nghiệm cũng khá cao (43.7%)

Trang 37

“Công việc nào cũng yêu cầu kinh nghiệm, làm gì đi nữa thì cũng cần phải có kinh nghiệm thì càng tốt chứ, nếu mình đi xin việc mà nói đã có kinh nghiệm làm việc này việc kia thì sẽ dễ được nhân vào làm hơn, còn bằng cấp thì sinh viên đã đi làm thêm rồi nên tớ nghĩ cũng không cần thiết, nếu đã có bẳng rồi mình đi làm những việc khác chứ lại không đi làm công việc như hiện tại mình đang làm”

(Nam, năm nhất, khối lý luận)Thực tế cho thấy mỗi công việc và mỗi người làm chủ lại có những yêucầu khác nhau khi tuyển dụng, tùy thuộc vào tính chất công việc và môitrường làm việc lại có những yêu cầu khác nhau Nhìn chung các yêu cầu như

sự chăm chỉ, sự chịu khó, và có sức khỏe tốt thì công việc nào cũng cần thiếtphải có những yêu cầu đó

2.3 Thực trạng về mức thu nhập

Một trong những lý do quan trọng đầu tiên khiến sinh viên đi làm thêm

đó là thu nhập Thu nhập chiếm một phần quan trọng không thể thiếu đối vớiviệc sinh viên làm thêm Làm thêm sẽ tạo ra cho sinh viên một khoản thunhập để sinh viên tự trang chải cho cuộc sống Hơn nữa, giá cả ngày càngtăng, nếu chỉ sử dụng khoản tiền do gia đình cũng cấp thì đời sống sinh hoạtcủa sinh viên trở nên chật vật do mọi thứ ở Hà Nội đều đắt đỏ Vì thế, một sốsinh viên phải đi làm thêm để có thêm thu nhập Theo lý thuyết nhu cầu thìmỗi người để duy trì cuộc sống thì phải đảm bảo được các nhu cầu căn bảnnhất thuộc về “thể lý”: thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở,nghỉ ngơi… Còn đối với những sinh viên đã đáp ứng được các yếu tố trênnhưng vẫn muốn đi làm thêm là vì những sinh viên đó muốn đạt đến tầng caohơn của thang nhu cầu Sinh viên muốn tự thế hiện bản thân, muốn được tôntrọng và làm những gì mình thích Cho nên tỉ lệ sinh viên đi làm thêm làtương đối lớn

Trang 38

Thu nhập là một phần không thể thiếu trong những lý do đi làm thêmcủa sinh viên Trong số 47.5% những sinh viên đang đi làm, trung bình mỗisinh viên nhận được khoảng 1.5 triệu đồng từ việc làm thêm Khoảng tiềnlương sinh viên nhận được khi đi làm thêm phổ biến dạo động từ 1 triệu đến1.8 triệu đồng Số tiền lương mà sinh viên nhận được khi làm thêm trong mộttháng, mặc dù chưa cao nhưng cũng góp một phần không nhỏ giúp sinh viêncải thiện cuộc sống

“Lúc chưa đi làm thêm, tháng nào em cũng xin bố mẹ 2 triệu, thế nhưng nhiều khi vẫn không đủ do nhiều khoản phát sinh khác nhưng em ngại xin thêm bố mẹ, từ lúc đi làm thêm, mỗi tháng em nhận được 2 triệu bao gồm

cả tiền lương và tiền thưởng cho nên mọi thứ sinh hoạt cũng được dư giả hơn, bây giờ em cũng chỉ xin thêm bố mẹ em 1.5 triệu một tháng”

(Nam, sinh viên năm 3 khối nghiệp vụ)

“Mức lương cơ bản của mình bây giờ là 1.5 triệu đồng/1 ca/1h, ngoài

ra mình còn tiền doanh số nữa, mỗi tháng cũng được khoảng gần 2 triệu, vì mình đã ăn tối ở đó nên chi phí bớt đi, mình chỉ ăn ở nhà một bữa cơm cho nên hầu như mình không xin tiền của bố mẹ nữa”

(Nữ, sinh viên năm 3, khối lý luận)Mặc dù so với những người đi làm chính thức, mức lương của sinh viênnhận được khi làm thêm là không cao Thế nhưng, tiền lương đó có ý nghĩakhông nhỏ đối với sinh viên đặc biệt là sinh viên có hoàn cảnh khó khăn Tuynhiên tỉ lệ sinh viên hiện đang đi làm thêm chưa cao Vì thế, tác giả đi tìmhiểu sâu hơn nhu cầu làm thêm của sinh viên và những lý giải của sinh viên

về nhu cầu của mình Kết quả được làm rõ ở chương III dưới đây

Tóm lại, hiện nay, sinh viên đi làm thêm ở Học viện Báo chí và Tuyêntruyền chưa cao Có chứa đến 50% sinh viên đang đi làm thêm Đa số sinhviên học viện Báo chí và Tuyên truyền mong muốn đi làm vào tất cả các ngàytrong tuần Chỉ có 36.5% sinh viên đang làm những công việc có liên quan

Trang 39

đến ngành học, tỉ lệ này tương đối thấp Đối với môi trường học tập năngđộng như Học viện Báo chí và Tuyên truyền, tỉ lệ sinh viên làm việc có liênquan đến ngành học lại rất thấp là do nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn kháchquan Sinh viên muốn đi làm thêm những công việc liên quan đến ngành họcmình đang theo học nhưng môi trường kinh tế xã hội chưa đáp ứng đủ chonhu cầu của sinh viên

Kết quả khảo sát cho thấy, sinh viên chủ yếu làm thêm một công việc

đó là phục vụ và bán hàng, những công việc này không đòi hỏi cao về kỹnăng mà đòi hỏi về sức khỏe, sự kiên trì chịu khó và sự năng động

Trang 40

CHƯƠNG 3 NHU CẦU LÀM THÊM VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU

CẦU LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Kết quả khảo sát cho thấy, đa số sinh viên Học viện Báo chí và Tuyêntruyền có mong muốn đi làm thêm, tỉ lệ sinh viên không muốn làm thêm rấtthấp, chỉ có 16.5 % sinh viên không muốn làm thêm, còn lại 83.5 % sinh viênmuốn làm thêm Tỉ lệ sinh viên hiện tại đang đi làm thêm đã được trình bày ởchương II chỉ có 47.5% Như vậy, nhu cầu của sinh viên cao gần gấp đôi sovới thực trạng sinh viên đang đi làm thêm Sinh viên có nhu cầu làm thêm caonhưng thực trạng sinh viên đang đi làm thấp là do khi đi làm thêm sinh viên

sẽ mất một khoản thời gian khá lớn, khoảng thời gian đó sẽ làm sinh viên mất

đi thời gian để tham gia các hoạt động ngoại khóa của nhà trường và thời giannghỉ ngơi, vui chơi giải trí Hơn nữa, nhu cầu làm thêm cao nhưng thực trạngsinh viên đi làm thêm thấp còn do sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việctìm kiếm được việc làm Những phân tích dưới đây nhằm hướng tới nhữngsinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền có nhu cầu đi làm thêm

3.1 Nhu cầu của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền về thời gian làm việc

3.1.1 Nhu cầu của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền về

thời gian làm việc.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền là một trong số ít các trường Đại họccòn giữ lại hình thức đào tạo theo Niên chế, cho đến năm 2014 – 2015 nhàtrường mới bắt đầu chuyển sang hình thức đào tạo tín chỉ nên lịch học và nghỉcủa sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền tương đối ổn định Chính vìvậy mà sinh viên có điều kiện đi làm thêm hơn một số sinh viên của cáctrường khác do lịch học không cố định

Ngày đăng: 06/03/2023, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (2003), Công việc và việc làm của thanh niên Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc và việc làm của thanh niên Việt Nam
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2003
2. Chung Á, Nguyễn Đình Tấn (chủ biên) (1997), Nghiên cứu xã hội học, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Chung Á, Nguyễn Đình Tấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
3. Phet Sa Mone Boudda (2010), Nhu cầu làm việc của thanh niên nông thôn Lào hiện nay (Qua khảo sát tại xã Na Bông, huyện Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn, nước CHDCND Lào), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu làm việc của thanh niên nông thôn Lào hiện nay (Qua khảo sát tại xã Na Bông, huyện Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn, nước CHDCND Lào)
Tác giả: Phet Sa Mone Boudda
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
4. Trần Thế Cường (2005), Thanh niên sinh viên với vấn đề việc làm hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên sinh viên với vấn đề việc làm hiện nay
Tác giả: Trần Thế Cường
Năm: 2005
5. Bùi Quang Dũng, Lê Ngọc Hùng (2005), Lịch sử xã hội học, NXB lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử xã hội học
Tác giả: Bùi Quang Dũng, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB lý luận chính trị, Hà Nội
Năm: 2005
6. Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung (1997), Cơ sở giải quyết việc làm ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
7. A Nu Sắc Thạ Si Ni Phon (2008), Thực trạng việc làm của thanh niên hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng việc làm của thanh niên hiện nay
Tác giả: A Nu Sắc Thạ Si Ni Phon
Năm: 2008
8. Lê Thúy Hằng (2013), Cơ động nghề nghiệp của thanh niên Hà Nội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ động nghề nghiệp của thanh niên Hà Nội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Tác giả: Lê Thúy Hằng
Năm: 2013
9. Lê Ngọc Hùng (2002), Lịch sử lý thuyết xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
10. Trần Thu Hương (2011), Nữ sinh với việc làm thêm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ sinh với việc làm thêm
Tác giả: Trần Thu Hương
Năm: 2011
11. Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (1995), Nghiên cứu xã hội học, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
12. Nguyễn Viết Lập (2006), Ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập
Tác giả: Nguyễn Viết Lập
Năm: 2006
13. Nguyễn Xuân Long, Nhu cầu làm thêm của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội: Thực trạng và giải pháp , Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu làm thêm của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Xuân Long
Nhà XB: Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
14. TS Lưu Hồng Minh, PGS TS Vũ Hào Quang (2014), Giáo trình nhập môn xã hội học, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn xã hội học
Tác giả: Lưu Hồng Minh, Vũ Hào Quang
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2014
15. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Qúy Thanh (đồng chủ biên) (2012), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết, Nguyễn Qúy Thanh (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Tâm (2012), Thực trạng làm thêm của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay (Qua khảo sát tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền)”, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng làm thêm của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay (Qua khảo sát tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền)
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2012
17. Nguyễn Thị Thanh Thúy (2012), Thực trạng giúp việc trong gia đình ở Quận Cầu Giấy – Hà Nội hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giúp việc trong gia đình ở Quận Cầu Giấy – Hà Nội hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thúy
Năm: 2012
18. Từ Mạnh Thuận (chủ nhiệm đề tài khoa học) (2013), Việc làm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Tác giả: Từ Mạnh Thuận
Năm: 2013
19. Từ điển Xã hội học Oxford (Oxford dictionary of sociology), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Dictionary of Sociology
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
33. www.toitaigioibancungthe.vn/miennam/lam-them-thoi-sinh-vien-phan-1/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w