71 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 5 Chương 1 TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 5 1 1 Thời kỳ Ân Thương Tây Chu 5 1 2 Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc 10 Chương 2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ B[.]
Trang 1MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 5 Chương 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI KỲ CỔ ĐẠI 5
1.1.Thời kỳ Ân Thương - Tây Chu 51.2 Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc 10
Chương 2: NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 14
2.1 Quan điểm về con người thời Ân Thương - Tây Chu 142.2 Quan điểm về con người thời Xuân Thu - Chiến Quốc 152.3 Ý nghĩa của các quan điểm cơ bản về con người trong triết học TrungQuốc cổ đại trong việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay 52
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 2MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Trong lịch sử phát triển tư tưởng, văn hóa nhân loại, vấn đề con người luôngiữ vị trí trung tâm và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội,đặc biệt là khoa học xã hội nhân văn Tuy nhiên mỗi ngành khoa học lại nghiên cứucon người dưới một góc độ khác nhau Triết học nhìn nhận, nghiên cứu con ngườidưới một góc độ hoàn toàn khác những ngành khoa học xã hội còn lại, đó là nhậnthức con người một cách toàn diện trong tính chỉnh thể của nó
Con người từ đâu sinh ra? Ý nghĩa cuộc sống con người là gì? Trong mỗithời đại lịch sử, con người quan hệ với tự nhiên và đồng loại như thế nào? Vaitrò của con người trong sự phát triển của nhân loại được thể hiện như thế nào?
Đó là những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất mà các học thuyết triết học từ cổ đạiđến nay đã đặt ra và giải đáp bằng nhiều cách khác nhau Như vậy có thể thấyrằng vấn đề con người chưa bao giờ cũ, nó dù ở thời đại nào cũng luôn đượcquan tâm với nhiều cách tiếp cận mới mẻ
Cùng với Ấn Độ, Trung Quốc (Trung Hoa) cũng là cái nôi của nền vănminh phương Đông nói riêng và của nhân loại nói chung Không chỉ đạt đượcnhững thành công rực rỡ trên lĩnh vực khoa học tự nhiên với nhiều phát minh vĩđại, Trung Quốc cổ đại cũng là cái nôi sinh ra một hệ thống triết học đồ sộ Trảiqua hàng nghìn năm phát triển, có thể thấy rằng triết học Trung Quốc có nộidung cực kì phong phú, sâu sắc Trong đó vấn đề con người trong triết họcTrung Quốc cổ đại nói riêng và con người trong lịch sử Trung Quốc nói chung làmột vấn đề cốt lõi, nổi bật của lịch sử tư tưởng Trung Quốc Tuy nhiên, conngười trong Triết học Trung Quốc cổ đại do chịu sự quy định của điều kiện lịch
sử lúc bấy giờ cho nên chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện mà mới chỉ chútrọng trên một số khía cạnh như đạo đức, luân lý Rất nhiều những tư tưởng củatriết học Trung Quốc cổ đại về vấn đề con người như Tam Cương, Ngũ Thường,
Trang 3Kinh Lễ, Gia Lễ…cho đến ngày nay vẫn còn mang những giá trị hết sức to lớn,
và có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều các nước khác trong khu vực Châu Á, trong
đó có Việt Nam
Lịch sử nhân loại, xét đến cùng, là lịch sử giải quyết vấn đề con người,từng bước thoát khỏi thần quyền và bạo quyền đển đi đến mục tiêu cuối cùng làphát triển toàn diện cá nhân trong xã hội văn minh Không một dân tộc nào tồntại và phát triển lại không chú ý đến vấn đề con người, nếu có sự khác biệt thì là
ở mục đích và phương pháp giải quyết Việt Nam cũng không ngoại lệ, hiện naynước ta đang thực hiện chiến lược phát triển con người toàn diện Đại hội lần thứ
IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ chương phát triển nguồn lựccon người với yêu cầu ngày càng cao, đòi hỏi không chỉ kế thừa các giá trịtruyền thống của dân tộc, mà còn phải kế thừa những tinh hoa văn hóa của tưtưởng nhân loại về con người Đặc biêt, với một nghìn năm Bắc thuộc, rất khó đểViệt Nam không chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng của Trung Quốc Nhưngvấn đề đặt ra là, chúng ta có thể và cần kế thừa những gì, loại bỏ những gì từnhững di sản đó Do đó, khai thác và phát huy những yếu tố tích cực và khắcphục, xóa bỏ những hạn chế của những quan niệm về đạo đức, con người trongtriết học Trung Quốc(Trung hoa) cổ đại từ đó góp phần xây dựng và hoàn thiệncon người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đang là một vấn đề có ýnghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
Xuất phát từ vấn đề nêu trên, em chọn đề tài: “Vấn đề con người trong
triết học Trung Quốc cổ đại” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình nhằm tìm
hiểu những quan niệm về con người của các triết gia tiêu biểu thời Trung Quốc
cổ đại, để từ đó có được những tri thức góp phần vào công cuộc xây dựng conngười mới ở nước ta hiện nay
2.Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài nghiên cứu của em, ở Việt Nam có các tác giả sau:
- Nguyễn Văn Hiền: “Thuyết kiêm ái: nội dung, giá trị và ý nghĩa đối với việc xây dựng đạo đức ở nước ta”, Tạp chí Triết học, số 232, 9-2010.
Trang 4- Triệu quang Minh, Trần Thị Lan Hương: “Vấn đề con người trong quan niệm pháp trị của Hàn Phi”, tạp chí Triết học, số 219, 8-2010.
- Nguyễn Thị Thu Thủy: “Một số nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo
và vai trò, ý nghĩa của nó với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay”, Báo cáo NCKH năm 2010.
- Vũ Minh Tâm (chủ biên): “Tư tưởng triết học về con người”, NXB Giáo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: Trình bày một cách hệ thống quan niệm về con người trong
lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những tư tưởng triết học cơ bản của các triết gia,các trường phái triết học về vấn đề con người trong triết học Trung Quốc cổ đại
- Phạm vi nghiên cứu: Những tài liệu liên quan đến đạo đức, con ngườicủa các triết gia, các trường phái triết học giới hạn trong phạm vi thời TrungQuốc cổ đại Không nghiên cứu vấn đề này ở những giai đoạn thời, kì khác tronglịch sử triết học Trung Quốc
Trang 55 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin: Chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra còn kết hợp một
số phương pháp như: phân tích tổng hợp… Những phương pháp chủ yếu được
sử dụng trong nghiên cứu đề tài: phương pháp logic và lịch sử, khái quát hóa, hệthống hóa
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận vănchia làm 2 chương, 5 tiết
1.1.2 Triều Tây Chu
1.2 Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc
Chương 2: NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI TRONGTRIẾT HỌC TRUNG QUÔC CỔ ĐẠI (3 tiết)
2.1 Quan điểm về con người thời Ân Thương - Tây Chu
2.2 Quan điểm về con người thời Xuân Thu - Chiến Quốc
2.2.1 Quan điểm của Nho gia về vấn đề con người
2.2.2 Quan điểm của Đạo gia về vấn đề con người
2.2.3 Quan điểm của Pháp gia về vấn đề con người
2.3 Ý nghĩa của các quan điểm cơ bản về con người trong triết học TrungQuốc cổ đại trong việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC
THỜI KỲ CỔ ĐẠI
1.1.Thời kỳ Ân Thương - Tây Chu
1.1.1 Thời kỳ Ân Thương (khoảng thế kỷ XVII - XI TCN)
Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XI tr.CN, trên dải hoàng thổ phì nhiêu của consông Hoàng Hà ở phía Bắc Trung Quốc đã xuất hiện một liên minh thị tộc lớn,với một nền nông nghiệp định cư khá phát triển, chữ viết bắt đầu được sử dụng
và những hình thức nhà nước phôi thai đã bắt đầu xuất hiện Đó là thời đại Ân Thương buổi bình minh của nền văn minh Trung Quốc
-Dựa vào nguồn tài liệu Bốc từ - loại văn tự xuất hiện sớm nhất ở TrungQuốc khắc trên mai rùa hay xương thú, các nhà nghiên cứu giáp cốt Trung Quốccho chúng ta biết sơ qua về tình hình kinh tế - xã hội của thời đại Ân Thương.Tương truyền rằng thủy tổ của tộc Thương là Khế, người đồng thời với Hạ Vũ,nhưng đến cháu thứ 14 của Khế là Thang, tộc Thương mới bắt đầu bước sang xãhội có giai cấp Trong khi nước Thương ở vùng hạ lưu Hoàng Hà không ngừnglớn mạnh thì nước Hạ ở trung lưu Hoàng Hà đang nhanh chóng suy yếu, nhândân đang căm ghét vua Kiệt, nhân đó, Thang đã đem quân đánh Hạ, Kiệt thuachạy đến đất Nam Sào, nhà Hạ bị tiêu diệt nhà Thương được hình thành Khimới thành lập, nhà Thương đóng đô ở Bạc ở phía nam Hoàng Hà, nhưng từ đótrong nội bộ giai cấp thống trị thường xảy ra những cuộc đấu tranh Để làm yếuthế lực của tầng lớp quý tộc, đồng thời để tránh nước lụt,vua Thương đã dời đônhiều lần và đến cháu 10 đời của Thang là Bàn Canh thì dời đô đến Ân ở phíaBắc Hoàng Hà Cho đến khi nhà Thương diệt vong, chỉ trừ vua cuối cùng là Trụđóng đô ở Triều-ca, còn đều lấy Ân làm kinh đô, vì vậy triều Thương còn gọi làtriều Ân
Trang 7Về kinh tế - xã hội, mặc dù trình độ phát triển của công cụ sản xuất còn ởmức độ thấp, đồ sắt chưa phổ biến, mới chỉ phổ biến đồ thau nhưng nhờ vào điềukiện tự nhiên thiên nhiên thuận lợi, cả một vùng đất phì nhiêu của lưu vực cáccon sông Hoàng Hà, Hắc Thủy, Nhược Thủy, Lạc Thủy của vùng Hoàng Hà LụcTỉnh, các bộ lạc người Ân đã định cư ở đây và có một nền kinh tế sản xuất ổnđịnh Sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, chăn nuôi và săn bắn phát triển ở trình độcao Hình thức quan hệ sản xuất thời Ân là chế độ nô lệ gia trưởng kiểu phươngĐông ở trình độ thấp, chưa có sự phân biệt rõ rệt về khái niệm “sở hữu” đối với
tư liệu sản xuất và sức lao động Cũng nhiều tài liệu cho thấy rằng vào thời Ân,
xã hội cũng đã có sự phân tách, đối lập giữa thành thị và nông hôn, có sự phânđịnh, xác lập bờ cõi, nhưng còn ở trình độ thấp; chỉ mới ở thời kỳ manh nha của
sự thành lập nhà nước Ngày nay đã phát hiện được hàng vạn đồ dùng bằng đồngthau đời Ân Thương như đồ tế lễ, đồ uống rượu,vũ khí, công cụ thủ côngnghiệp…Nghề làm đồ gốm thời Thương cũng có những tiến bộ mới Ngoài cácloại gốm đỏ, đen, xám còn làm được đồ sành, đồ gốm trắng và gốm tráng men.Ngoài hai nghề quan trọng nói trên, các nghề khác như nghề làm đồ đá, ngọc,xương, đồ gỗ, đồ da cũng tương đối phát triển Việc trao đổi buôn bán cũng kháphát triển Tại các di chỉ đời Thương đã phát hiện được nhiều vỏ ốc biển là thứrất hiếm ở vùng đó mà người thời Ân Thương dùng để làm tiền gọi là bối Ngoàibối bằng vỏ ốc người ta còn phát hiện bối bằng đồng Các di chỉ khảo cổ và cáctài liệu giáp cốt cũng cho biết rằng đời Thương đã có sự phân hóa giai cấp Cácloại đồ đồng bằng đồng thau, bằng ngà, bằng ngọc cũng như xe ngựa và nhữngthứ quý báu và hàng chục, hàng trăm người hầu được chôn theo các quý tộc saukhi chết
Về văn hóa, đời Ân Thương đã có chữ viết tượng hình được khắc trên mairùa hay xương thú (giáp cốt) Một thành tựu quan trọng khác của người ÂnThương đó là phát minh ra lịch mùa Nó có quan hệ khăng khít với việc phátminh ra chữ viết, là vũ khí quan trọng trong việc lợi dụng và chinh phục thiên
Trang 8nhiên của cư dân làm nông nghiệp định cư ở lưu vực các con sông lớn Họ quansát sự vận hành của Mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kì của nước sông dânglên, quy luật sinh trưởng của các cây trồng mà làm ra Âm lịch Việc làm ra lịch
là một phát minh khoa học sớm nhất của Trung Quốc, nó phản ánh tri thức khoahọc tự nhiên của người Ân - Thương đã phát triển tương đối toàn diện Tuynhiên, khoa học thời cổ đại không thể không thoát khỏi những ảnh hưởng củanhững quan niệm tôn giáo thần bí, những tư tưởng thần thoại về sự vận hành củacác thiên thể, quan niệm ghi mùa gắn liền với việc tế tự tổ tiên
1.1.2 Thời kỳ Tây Chu (Khoảng thế kỉ XI đến thế kỷ VIII TCN)
Chu là một bộ lạc cư trú ở thượng lưu Hoàng Hà Tương truyền rằng thủy
tổ của tộc Chu là Khí, vì trồng lúa giỏi nên được gọi là Hậu Tắc và được tôn làmthần nông nghiệp Đến đời cháu 12 đời của Khí là Cổ Công Đản Phụ, sự phânhóa giàu nghèo trong bộ lạc Chu đã biểu hiện rất rõ rệt Vì bị người Nhung lấnchiếm nên Cổ Công Đản Phụ đã phải dời bộ lạc từ đất Mân đến đất Kỳ và định
cư ở cánh đồng Chu Tại đây bộ tộc Chu làm nhà cửa, xây thành quách, đặt
“quan lại” Những cuộc chiến tranh với bộ tộc xung quanh đem lại cho Chunhiều chiến lợi phẩm và nô lệ càng đẩy nhanh quá trình phân hóa trong bộ tộcChu Vào khoảng thế kỷ XITCN, tộc Chu từ phía Tây Bắc, me theo sông Hoàng
Hà, tiến vào đất Ân Thương và cuối cùng tiêu diệt hoàn toàn nhà Ân Thương lậpnên nhà Chu Giai đoạn đầu của nhà Chu, sử gọi là Tây Chu bởi từ Vũ Vươngđến U Vương đóng đô ở Cảo Kinh, phái Tây của Lạc Ấp ở Tây Bắc nên gọi làTây Chu Sau U Vương đến Bình Vương, do các bộ tộc du mục ở Tây Bắc luônquấy phá nên phải dời đô về Lạc Ấp, nên gọi là Đông Chu
Căn cứ vào nguồn tài liệu kim văn và tài liệu gián tiếp của người đời saughi chép lại, chúng ta biết được được rằng thời kỳ này mặc dù đồ sắt chưa xuấthiện phổ biến, nhưng do biết tiếp thu được những thành tựu của nguời Ân để lại,điều kiện thiên nhiên thuận lợi, có nguồn lao động dồi dào là các đơn vị thị tộc bịchinh phục, kết hợp với cách thức tổ chức quản lý vó tính kỷ luật cao của cư dân
Trang 9du mục, người Chu đã tiến xa hơn người Ân trên con đường “dựng nước”, chínhthức bước vào xã hội văn minh Do “dựng nước”, bước vào văn minh trong điềukiện trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém cho nên tình hình kinh tế - xã hộithời Tây Chu có những đặc điểm cần lưu ý sau đây:
Thứ nhất, nhà Chu thực hiện chế độ quốc hữu về tư liệu sản xuất (ruộngđât) và sức lao động (các đơn vị công xã và thị tộc bị chinh phục trong chiếntranh) rất nghiêm nhặt Về nguyên tắc, ruộng đất, mọi thành viên đều thuộcquyền quản lý của vua nhà Chu Do quyền sở hữu thuộc về nhà nước nên ruộngđất không được mua bán Ngoài vùng xung quanh kinh đô mà vua Chu giữ lạicho mình, gọi là vương kì, đất đai trong cả nước đươc phân phong cho anh em
và các công thần của nhà vua Tùy theo bà con thân hay sơ, công lao lớn nhỏ màđược phân phong ruộng đất rộng hay hẹp, gần hay xa và tước cao hay tước thấp,tốt hay xấu Những người được phong tước và đất trở thành các vua chư hầu củanhà Chu.Vua chư hầu tuy không có quyền sở hữu hoàn toàn về đất được phongnhưng được truyền lại cho con cháu Đối với vua Chu, vua chư hầu có nhiệm vụhàng năm phải đến chầu, nộp cống, ngoài ra con phải đem quân đội đến giúpmỗi khi có chiến sự xảy ra Nếu không thi hành đúng những nghĩa vụ đó tùy theomức độ mà bị giáng chức tước, bị thu hồi đất phân phong hoặc bị đem quân đếntiêu diệt Ruộng đất trong vương kì và trong nước chư hầu đem phong cho cácquý tộc quan lại triều đình nhà Chu và triều đình các nước chư hầu gọi là khanh,đại phu Khanh, đại phu lại chia thái ấp cho những người giúp việc của mình gọi
là sĩ Cuối cùng trong các làng xã, ruộng đất được chia cho nông dân để cày Mỗi
hộ nông dân được chia một mảnh ruộng rộng 100 mẫu gọi là một điền Để chiaruộng đất thành từng phần như vậy và để dẫn nước vào ruộng, người ta đắp bờvùng bờ thửa và đào những con mương ngang dọc do đó tạo thành những hìnhnhư chữ “tỉnh” ở trên cánh đồng nên gọi là “tỉnh điền” Như vậy, tỉnh điền là chế
độ phân phối ruộng công ở Trung Quốc cổ đại Chế độ ấy tồn tại đến thời ChiếnQuốc khi ruộng tư xuất hiện thì dần dần tan rã
Trang 10Thứ hai, nhà Chu thành lập thành thị đại quy mô, đã có sự phân biệt, đốilập thành thị (Đô, Quốc) với nông thôn (Bỉ, Dã) Trong xã hội có sự phân chiagiai cấp: quý tộc, nông dân, nô lệ Thành thị là nơi ở của tầng lớp quý tộc thị tộc,của kẻ thống trị, còn nông thông là nơi ở của người thị tộc bị nô dịch Ở đây nhàChu đã phải giữ lại hình thức tổ chức của thị tộc cũ, chế độ thị tộc thành thị vàchế độ thị tộc nông thôn Hệ quả là trong phân tầng xã hội có sự phân biệt giữaquý tộc và nô lệ, kẻ hèn Đứng đầu giai cấp quý tộc là vua, bắt đầu từ đời Chugọi là Vương, là Thiên tử là người có quyền về hành chính và tư pháp Ý chí củavua là pháp lệnh Trong xã hội lúc bấy giờ đã nảy sinh đối kháng giai cấp, đốikháng giữa thành thị và nông thôn.
Thứ ba, nền kinh tế của nhà Chu chủ yếu vẫn là dựa vào nền sản xuấtnông nghiệp, tuy nhiên bên cạnh đó còn có một số các nghề phụ khác như chăntằm, dệt lụa, kéo sợi, dệt vải, mặc dù nông dân được coi là “dân của vua” tức làdân tự do nhưng bị áp bức bóc lột nặng nề Nhận 100 mẫu ruộng công nằm tronglãnh địa của quý tộc,nông dânphải nộp thuế bằng khoảng1/10 thu hoạch.Ngoài ra
họ còn nộp các khoản thuế phụ khác như lụa, da, thú săn…và phải làm tạp dịchnhư xây dựng dinh thự, thành quách, cầu cống…Đời sống của họ rất cực khổ.Giai cấp có địa vị thấp kém là nô lệ Cũng như đời Thương, nguồn nô lệ chính là
tù binh, ngoài ra còn có một số người đồng tộc bị biến thành nô lệ vì phá sảnhoặc vì phạm tội Công việc chủ yếu của nô lệ là hầu hạ và làm các công việctrong gia đình Có một số được làm trong các xưởng thủ công và tổ chức buônbán của nhà nước Nô lệ thường bị thích chữ vào mặt và bị coi như hàng hóa đểbuôn bán, trao đổi, ban tặng Thời Tây Chu, 5 nô lệ mới đổi được một con ngựa
và một cuộn tơ Lúc bấy giờ tục dùng người tuẫn táng vẫn thịnh hành Trong sốnhững người được chôn theo ấy, chắc chắn phần lớn là nô lệ
Thứ tư, về văn hóa cũng như đời Ân, nhà Chu cũng có chữ viết người ta
đã tìm thấy nhiều tài liệu kim văn (chữ khắc trên đồng) vào thời kỳ này Nhà chucũng tiếp thu những thành tựu đạt được từ thời Ân Thương và có những điểm
Trang 11phát triển hơn Ở thời kỳ này nhà Chu đã xuất hiện một thứ học thức “học ở quanphủ” của riêng bọn quý tộc, không có ở nông thôn Đảm nhiệm quan chức vănhóa chủ yếu là những người làm Chúc, Tông, Bốc, Sử.
1.2 Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc
Thời Xuân Thu là giai đoạn đầu của thời Đông Chu bắt đầu từ năm 770 TCN cho đến thế kỷ V TCN trước sau gồm khoảng 3 thế kỷ Sở dĩ thời kỳnày gọi là Xuân Thu vì nó tương đương với giai đoạn lịch sử được chép trongsách Xuân Thu của Khổng Tử Sách Xuân Thu là quyển sử nước Lỗ trong đó ghichép những sự kiện xảy ra từ 722 TCN đến năm 481 TCN Thời Xuân Thu làthời kỳ xã hội Trung Quốc có nhiều chuyển biến quan trọng về kinh tế, chính trị
và xã hội Năm 770 TCN, Chu Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp, ở phía Đông,giai đoạn Đông Chu bắt đầu Đến năm 256 TCN, Chu bị nước Tần thôn tính, nhàChu diệt vong Sau khi Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp không lâu, trong cungđình xảy ra việc cha con tranh nhau ngôi vua làm cho thế lực của nhà Chu ngàycàng suy yếu Đã thế vương kì của Đông Chu vốn là một vùng nhỏ hẹp, nhưngphần thì phải phân phong cho các công thần, phần thì bị một số nước chư hầu lấnchiếm, nên đất đai còn lại càng hẹp Mặt khác do uy thế chính trị của nhà Chungày càng bị giảm sút, nhiều nước chư hầu không chịu triều cống cho nhà Chunữa Bị suy yếu về chính trị và gặp nhiều khó khăn về kinh tế như vậy nên vềdanh nghĩa tuy vẫn là vua chung của cả nước nhưng thực tế là không đủ sức điềukhiển các nước chư hầu Do dó tình hình kinh tế xã hội thời kì này cũng có nhiều
sự thay đổi so với thời kì trước Cụ thể:
Thời kỳ Xuân Thu, người Trung Quốc đã biết dùng đồ sắt và cùng với đó
là biết dùng súc vật làm sức kéo, vấn đề thủy lợi thời kỳ này cũng được coitrọng Do đó, nền nông nghiệp thời kỳ này cũng phát triển hơn trước Ngành thủcông nghiệp, đến thời Xuân Thu cũng được phát triển và thu được nhiều thànhquả Đây cũng là thời kỳ khởi sắc của nề kinh tế thương nghiệp Vào thế kỷ VI -
V TCN, xuất hiện những thành thị thương nghiệp buôn bán xuất nhập nhộn nhịp
Trang 12ở các nước Hàn - Tề - Tần - Sở Trong số đó, theo Chiến Quốc sách, thành phốLâm Tri có đến 7 vạn hộ Qua đó có thể thấy số dân trong các thành thị TrungQuốc lúc bấy giờ không phải là ít
Về quan hệ ruộng đất thì đến thờ Xuân Thu đã có sự thay đổi về quyền sởhữu ruộng đất Trong giai đoạn trước, toàn bộ ruộng đất ở Trung Quốc đều thuộcquyền sở hữu của nhà nước, nhưng bắt đầu từ thời Xuân Thu, chế độ ruộng đấtcủa nhà nước dần dần tan rã, ruộng tư xuất hiện ngày càng một nhiều Thời TâyChu, trên cơ sở “Khắp dưới gầm trời, đâu cũng đất vua”, Thiên tử nhà Chu đãphong đất cho các chư hầu Khi mới phân phong, sự ràng buộc của nhà Chu đốivới chư hầu, một mặt dựa vào quan hệ họ hàng, mặt khác dựa vào quan hệ giữatôn chủ (người phong đất) với bồi thần (người được phong) Nhưng đến thờiXuân Thu, cái quan hệ họ hàng đó đã trở nên xa xôi và quan trọng hơn, nhà Chuvới tư cách là tôn chủ không còn đủ thế lực để bắt những người được kế thừa đấtphong phải thực hiện nghĩa vụ của họ Vì vậy, trên thực tế, các nước chư hầu đềucoi lãnh địa được phong là quyền sở hữu của họ Ngoài lãnh địa được phong, cácnước lớn còn thôn tính nhiều nước nhỏ và xâm chiếm đất đai của các nước khác
Bộ phận đất đai này lại càng là sở hữu của họ Trong các nước chư hầu, do sựsuy yếu của nhà vua, do tranh giành đất đai của nhau, thái ấp của Khanh đại phucũng biến dần thành ruộng đất tư của họ Trong quá trình ấy, chế độ tỉnh điềncũng dần dần tan rã Do công cụ sản xuất tiến bộ và số dân lao động tăng lên,người ta có khả năng khai khẩn thêm nhiều đất hoang Vì vậy, một số nông dân
đã khai phá thêm một ít ruộng đất ngoài phần đất được chia, do đó sự chênh lệch
về tài sản trong hàng ngũ nông dân cũng ngày càng rõ rệt Hơn nữa, do kỹ thuậtsản xuất tiến bộ, việc đầu tư công sức vào ruộng đất cũng khác nhau, vì vậy,nhiều nông dân không muốn thực hiện việc định kỳ chia lại ruộng đất như trướcnữa Cho nên đến thời kỳ này một số nông dân cũng có ruộng đất riêng Trướckia, ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước nên không được mua bán,nhưng đến thời Xuân Thu, hiện tượng mua bán ruộng đất đã xuất hiện
Trang 13Về quan hệ giai cấp: Trước hết, sự xuất hiện chế độ ruộng tư đã dẫn đến
sự phân hóa trong giai cấp thống trị Do có ruộng đất riêng, một số Khanh, đạiphu, sĩ đã biến thành những địa chủ mới Sự tan rã của chế độ tỉnh điền đã làmcho giai cấp nông dân bị phân hóa Bắt đầu từ thời Xuân Thu, trong xã hội mớixuất hiện một số thợ thủ công và người buôn bán tự do Do có thế lực lớn vềkinh tế, các nhà buôn lớn cũng có ảnh hưởng đáng kể về chính trị Giai cấp quýtộc Chu bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút và đương nhiên vaitrò chính trị, ngôi Thiên Tửu của nhà Chu chỉ con là hình thức Sự phân biệt sanghèn dựa trên tiêu chuẩn huyết thống của chế độ thị tộc tỏ ra không còn phù hợpnữa mà đòi hỏi phải dựa trên cơ sở tài sản Các nước chư hầu không chịu phụctùng vương mệnh nữa, không chịu cống nạp, mang quân thôn tính nhau, tự xưng
là Bá vương
Như vậy, kết quả của những biến động kinh tế đẫ dẫn đến sự đa dạngtrong kết cấu giai tầng xã hội Nhiều giai tầng mới xuất hiện, mới cũ đan xen vàmâu thuẫn ngày càng gay gắt Đó là mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có tư hữ tàisản, có đại vị kinh tế trong xã hội(Hiển tộc) mà không được tham gia chínhquyền với giai cấp quý tộc thị tộc cũ của nhà Chu đang nắm quyền Mâu thuẫngiữa tần lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với giai cấp quý tộc thị tộcChu Tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc, một mặt họ đang bị tầng lớp mới lên tấn công
về mặt chính trị và kinh tế, mặt khác họ cũng có mâu thuẫn với tầng lớp đại quýtộc thị tộc đang nắm quyền Ngay trong bản thân giai cấp quý tộc thị tộc Chucũng có những sự không bằng lòng với trật tự cũ Đó là bộ phận quý tộc thị tộcChu chuyển hóa lên giai tầng mới, họ muốn cải biến trật tự xã hội bằng conđường cải lương, cải cách Và không thể không nhắc đến mâu thuẫn của nôngdân công xã thuộc các tộc bị người Chu nô dịch với nhà Chu và tầng lớp đanglên đang ra sức bóc lột, tận dụng sức lao động của họ Chính những mâu thuẫncủa thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc, tiến nhập vào xã hộiphong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chộ độ gia trưởng (Tông pháp), xây
Trang 14dựng nhà nước của giai cấp quốc dân, giải phóng lực lượng sản xuất, mở đồngcho xã hội phát triển.
Chính những điều kiện lịch sử kể trên đã khiến Trung Quốc cổ đại bướcvào thời kỳ Chiến Quốc, thời kỳ nổ bật với những cuộc chiến tranh thôn tínhnhau Người chấm dứt tình trạng này, thông nhất Trung Quốc mở ra một thời kỳmới cho Trung Quốc không ai khác chính là Tần Thủy Hoàng
Kinh tế - xã hội đang chuyển mình dữ dội tất yếu kéo những thay đổi lớntrong lĩnh vực văn hóa Thời kì này trên lĩnh vực khoa học tự nhiên (nhất là thiênvăn học và y học) đã đạt được những thành tựu nhất định, trở thành nguồn độnglực quan trọng cho sự phát triển có tính chất đột biến của tư tưởng được nảy sinh
từ điều kiện kinh tế - xã hội trong suốt giai đoạn Xuân Thu - Chiến Quốc
Trang 15Chương 2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI TRONG
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
2.1 Quan điểm về con người thời Ân Thương - Tây Chu
Đây là giai đoạn hình thành và phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ ởTrung Quốc cổ đại, thế giới quan thần thoại mê tín và tôn giáo duy tâm với cácbiểu tượng về “Thiên mệnh”, về “Thượng đế” và quỷ thần - những lực lượngtinh thần tối cao, chi phối và quyết định sự tiến hóa của vũ trụ và đời sống xãhội, đã trở thành hình thái ý thức chiếm địa vị thống trị lúc bấy giờ Về tư tưởngđạo đức chính trị, thời Ân Thương chưa hề có ý thức về ý nghĩa đạo đức, tức làgiữa các thành viên trong thị tộc chưa có quan hệ thứ bậc được xác lập dựa trênquan hệ quyền lợi nghĩa - vụ của xã hội văn minh sau này; trong sinh hoạt cộngđồng họ rất tôn sùng người cầm đầu thị tộc Điều này đã không còn nữa ở thời
kỳ Tây Chu Nếu tộc trưởng ở thời Ân Thương có vị trí chủ yếu ở mặt tinh thần,quyền lực cá nhân chưa vượt qua chức năng công cộng, thì ở thời Chu, tộctrưởng đã thành Thiên tử, là chủ của muôn dân, do vậy trong quan hệ xã hội đã
đẻ ra mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ Đó cũng chính là cơ sở nền tảng
để hình thành nên quy tắc đạo đức nhà Chu Không những thế người đờiThương, Chu còn mê tín “bói toán” tin rằng con người có thể thông đạt vớithượng đế và quỷ thần, đồng thời họ nhân cách hóa, thiêng liêng hóa hiện tượng
tự nhiên, coi hiện tượng tự nhiên là một thứ thần bí có thể quyết định vận mệnhloài người, là đối tượng để họ sùng bái và cũng tế Con người chỉ có tuyệt đốiphục tùng mệnh lệnh của các vua chúa - người chịu mệnh lệnh của trời cai trịdân trên mặt đất, nếu không thì thượng đế sẽ trừng phạt cực kì tàn khốc, gieoxuống cho nhân dân những tai họa nặng nề Sự mê tín tôn giáo ấy bị bọn quý tộcchủ nô dựa theo và lợi dụng để củng cố nền thống trị của chúng đối với nhândân Đối lập với những quan điểm duy tâm tôn giáo ấy, cuối thời Tây Chu đã
Trang 16xuất hiện tư tưởng triết học duy vật và những quan niệm có tính chất vô thần tiến
bộ từ chỗ hoài nghi, tín ngưỡng tôn giáo, phê phán các thứ tín ngưỡng nguyênthủy, sùng bái linh thiêng, cũng tế, thuật chiêm tinh, bói toán, lên án sự giả dối,tàn ác của bọn thống trị, họ đã chuyển qua phê phán chính “thượng đế” - một lựclượng tối cao,anh minh mà họ vốn tôn sùng Qua đó những tư tưởng tiến bộ đãkhẳng định và nâng cao và có tác dụng đối với hoạt động của con người trong tựnhiên cũng như trong xã hội Họ tin rằng con người có thể quyết định vận mạngcủa mình, không cần phải cầu khẩn quỷ thần giúp đỡ Tạng Văn Trọng cho rằngchỉ cần con người ra sức sản xuất nông nghiệp và tiết kiệm tiền của thì có thể đềphòng thiên tai, cũng tế đồng bóng đều không có lợi ích gì cả Sỹ Bái cho rằng,dựa vào quỷ thần để giải thích hành vi của mình là tội ác Từ Sản đưa ra danhngôn “Đạo trời xưa, đạo người gân” Họ còn ý thức được rằng quần chúng nhândân quan trọng hơn quỷ thần, nếu kẻ thống trị không được nhân dân ủng hộ thì
dù sùng bái quỷ thần cũng bị mất chính quyền có thể nỏi ở thời kì này vấn đềcon người chưa được các triết gia chú ý tìm hiểu, nếu có nhắc đến thì những tưtưởng này thường được đề cập bên cạnh “thượng đế”, “thiên mệnh”, con ngườichưa được chú trọng nghiên cứu ở mộ khía cạnh độc lập mà thường bị lồng vàoyếu tố duy tâm thần bí
2.2 Quan điểm về con người thời Xuân Thu - Chiến Quốc
Có thể thấy được rằng tư tưởng triết học của Trung Quốc khởi nguồn làthần thoại thời tiền sử và đến thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, thời đại của trí tuệđược giải phóng, trí thức được tôn là thầy và trí thức được phổ cập thì tư tưởngtriết học Trung Quốc trong đó có “vấn đề con người” mới trở thành hệ thốnghoàn chỉnh Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “Bách gia chử tử:, “Bách gia tranhminh” Cuối Xuân Thu, đầu Chiến Quốc học thuyết của các triết gia lần lượt nở
rộ, trong khoảng “103 nhà” nổi lên “Sáu nhà” Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Phápgia, Danh gia, Âm Dương gia trong đó có ảnh hưởng lớn nhất là Nho gia, Đạogia và Pháp gia
Trang 17Nội dung tư tưởng triết học của ba học phái này lấy con người làm trungtâm và mục tiêu nhận thức Đề cao giá trị đạo đức và tinh thần nhân văn; khẳngđịnh giá trị tích cực của con người đối với mình và đối với xã hội; đặt con ngườitrong mối quan hệ giữa con người với con người Các học phái này tập trungphân tích con người từ bản chất và có mục tiêu chung là xây dựng con người đạođức, có nghĩa, có nguyên tắc
2.2.1 Quan điểm của Nho gia về vấn đề con người
* Về bản chất con người
Trong lịch sử triết học Trung Quốc, Nho gia là một trường phái triết họcđưa ra học thuyết chính trị đạo đức để giáo hoá con người, nhằm củng cố duy trìtrật tự xã hội Chính vì vậy giáo lý của Nho giáo thiên về việc xem xét lý giảicon người ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, vấn đề chính vẫn là luận bàn
về bản tính con người thông qua khái niệm “tính người”, “tâm người”, “lýngười”, tức chỉ là bàn đến phẩm chất tinh thần, ý thức tâm lý, tư tưởng mà chưa
đi sâu vào bản chất đích thực của con người Từ rất lâu trong lịch sử Trung Quốc
đã xuất hiện phạm trù Tính và trong giai đoạn trăm nhà đua tiếng, bách gia chư
tử thì mỗi triết gia, mỗi trường phái lại luận bàn về Tính với những quan điểmkhác nhau và thông qua những quan điểm này mà có những lý giải khác nhau vềbản chất con người Mạnh Tử đề xuất Tính là “Thiên chi giáng tài” (tài trời cho),Tuân Tử cho rằng Tính là “bản thủy tài phác” (tố chất nguyên sơ còn chất phác)của con người, Đạo gia Trang Tử đề xuất Tính là “Sinh chi chất” (chất củaSinh); Cáo Tử cho rằng “Sinh chi vị Tính” (sinh gọi là Tính), Hàn Phi Tử củaPháp gia lại đưa ra Tính là “Thiên Tính” của con người Đồng thời cùng với việcđưa ra một quy định chung cho nội hàm Tính, mỗi triết gia, mỗi phái đều cốgắng thông qua Tính để tìm hiểu nhân tính, tìm hiểu về bản chất của con ngườitheo mỗi hướng khác nhau
Phạm trù Tính và tư tưởng Tính trong triết học Trung Quốc đầu tiên đượcđào sâu tìm hiểu và phát triển trong Nho gia Nho gia thời Tiên Tần bàn về Tính
Trang 18năng và nhân tính Mặc dù, mỗi nhà triết học của Nho giáo xem xét bản chất conngười ở mỗi khía cạnh khác nhau (Khổng Tử: Tính tương cận, tập tương viễn;Mạnh Tử: tính thiện; Tuân Tử: tính ác), song trong toàn bộ quá trình vận độngcủa lịch sử tư tưởng thì ở họ, vẫn có sự kế thừa, phát triển và làm cho quan niệm
về bản chất con người ngày càng trở nên hoàn thiện hơn
Khổng Tử là người luận bàn về Tính sớm nhất Trong Luận ngữ, Khổng Tử
đã hai lần bàn về Tính, tuy vẫn còn tương đối đơn giản sơ khai nhưng có tính sángtạo Ông cho rằng: Tính tương cận dã, tập tương viễn dã” [8,70] Tính nói ở đây làbản tính trời sinh của nhân loại Khổng Tử cho rằng nhân tính con người gần gũitương tự nhau, vốn không có khác biệt cơ bản Sự khác biệt thiện, ác, trí ngu củamọi người là do hậu thiên tập nhiễm khác nhau mà hình thành, tức là do quá trìnhtiếp xúc và học hành mà có sự khác biệt Phẩm chất của con người là chất phác,chân thực Có thể thấy tư tưởng này của Không Tử đề cập đến hai vấn đề:
Một là nhân tính chung phổ biến của nhân loại Con người với tư cách làmột sinh linh có trí tuệ khác với gỗ đá, cầm thú, vốn có nhân tính khác với tínhcủa gỗ dá, cầm thú “Tính tương cận” là phân loại trìu tượng rút ra từ đặc tínhbản chất nội tại của con người Bản tính của con người theo Khổng Tử là tính tựnhiên trời phú cho con người, sinh ra đã có Bản tính đó “Con người ta hết thảyđều giống nhau Nhưng bởi nhiễm thói quen, nên họ thành ra khác xa nhau -Tính tương cận dã, tập tương viễn dã” Bản tính tự nhiên của con người sinh ra
đã giống nhau ấy, là bản tính lành hay thật Con người trở thành ác và giả dối là
do hoàn cảnh tác động làm thay đổi mà thôi Vì thế trong thiên Ung dã Khổng
Tử cho rằng: “Con người ta sinh ra bản tính vốn ngay thật - Nhân chi sinh dãtrực” [4,365] Bản tính của con người thể hiện trong một loạt các đức tính trongđời sống con người, được phản ánh trong hệ thống các phạm trù đạo đức củaKhổng Tử như: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dung, hiếu, kính đễ… và được thể hiệntrong mẫu người lý tưởng, toàn trí toàn đức Nhưng những phạm trù đạo đứcphản ánh những đặc tính của con người theo Khổng Tử không tách rời nhau, tạo
Trang 19thành hệ thống những đặc tính hữu cơ trong triết học đạo đức nhân sinh củaKhổng Tử Con người muốn thực hiện điều nhân phải có lễ, thực hiện được điềunhân theo lễ là nghĩa, là trung là hiếu, là kính đễ…trong đó nhân được Khổng Tử
đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất Nó được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quyđịnh bản tính con người thông qua lễ, nghĩa, nó quy định những quan hệ giữangười với người trong gia tộc đến bên ngoài xã hội Nó liên quan đến nhữngphạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử, trong đó các phạm trù đạo đức nhưmột vòng tròn đồng tâm mà chữ nhân là tâm điểm Bởi phạm trù nhân đã chỉ racái bản chất nhất trong bản chất con người Thông qua những quan điểm về conngười thì chủ trương của Khổng Tử là hướng đến hình mẫu lý tưởng của ông làquân tử Ông chô rằng “Người quân tử làm việc chi cũng lấy nghĩa làm gốc.Người noi theo lễ tiết mà thi hành, người phát biểu nghĩa của mình bằng khiêmtốn và người thành tựu bằng lòng tín thật Làm một việc mà có đủ các đức tính:nghĩa, lễ, tốn, tín như vậy thật là người quân tử thay - Quân tử nghĩa dĩ vi nhất,
lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi Quân tử tai” [4,365] Theo ông quân tử trước hếtphải biêt tu thân Không tu được thân không thể giữ được đời, không thể làmtròn bổn phận đối với thiên hạ, Khổng Tử cho rằng “Những vị vua, những vịthánh thưở xưa muốn cho đức của mình được tỏa sáng, trước hết phải sửa trị nhàmình Muốn sửa trị nhà mình, trước hết phải tu lập lấy mình cách thấu suốt Đạocủa trời đất, để giữ lòng ngay thẳng” [9,159] Học để tu thân, tề gia, trị quốc,bình thiên hạ là đường đi của quân tử Tiểu nhân cũng phải học song cái học củangười tiểu nhan để họ phục dịch và tuân lệnh kẻ cầm quyền Xét một người nào
đó là quan tử hay tiểu nhiên, Khổng Tử đòi hỏi phải quan sát hành động của họxem hành động ấy có phù hợp với lời nói của họ không và để đánh giá con ngườiông khuyên phải nhìn vào công việc của họ và phải xem thái độ của họ
Hai là vấn đề con đường tu dưỡng nhân tính Khổng Tử cho rằng nhântính là trời sinh nhưng tinh thần đạo đức của con người lại có thể thông qua thựctập thực hành mà tạo ra được Về phương diện này, then chốt ở tập Tập mà
Trang 20Khổng Tử nói đến không phải là hàng ngày dỏng tai mở mắt nghe nhìn, mà quantrọng hơn nữa là học tập đạo lý một cách có mục đích Do sở tập khác nhau, chonên con người vừa có thể làm thiện cũng có thể làm ác, vừa có thể làm quân tử,cũng có thể làm tiêu nhân Tư tưởng triết học Khổng Tử coi trọng nhân đạo, đặcbiệt coi trọng đạo làm người Vì vậy không khó hiểu khi Khổng Tử chỉ ra cáchthức, con đường để trở thành một người có đạo đức cao thượng Ông cho rằng,nếu con người có thể học tập tư tưởng Nhân, quan niệm Lễ, hơn nữa hành độngthực tiễn thi hành một loạt quy phạm đạo đức Nhân Lễ như yêu người, trung tín,hiếu đễ, cung kính, trí dung, mẫm huệ, lễ nghĩa,…thì người đó có thể trở thànhngười có đạo đức cao thượng Khổng Tử còn cho rằng, học tập tự giác là phươngpháp và con đường quan trọng để giúp con người có được đạo đức cao thượng,cho nên ông cực kỳ nhấn mạnh học tập Ông chủ trương con người không nhữngphải học văn mà phải học lễ, học đạo, làm cho được “tin tưởng sâu sắc, hiếu học,
tử thụ đạo thiện”, không tán dương những người “ăn không ngồi rồi” Hy vọngmọi người có thể nhờ học tập trở thành người quân tử nhân đức, do đó mà có íchcho người khác, quốc gia, xã hội Ông quả là ông tổ khai sáng “Hành vi chủnghĩa học phái” của thời hiện đại, Khổng Tử tin rằng thông qua quá trình họctập, con người có thể phát triển và làm chủ được hướng đi của đời mình TuyKhổng Tử cho rằng con người “Tính tương cận” nhưng đồng thời thừa nhậnngười có tính thiện tính ác Ông nói: “duy chỉ có người thượng trí và người hạngu là không thay đổi chuyển hóa” Cổ kim nhân biểu có đề cập đến ngườithượng trí và người hạ ngu “Thượng trí là người có thể làm thiện không thể làm
ác Hạ ngu là người có thể làm ác, không thể làm thiện” [8,72] Trong tư tưởngKhổng Tử “thượng trí” hàm ý thiện, còn “hạ ngu” hàm ý ác Hai loại người cựcđoan này cơ hồ không thể chuyển hóa, do đó ông nói: “Người trung bình trở lên
có thể nói là người thượng trí, người trung bình trở xuống không thể nói là ngườithuongj trí” [8,72] Người trung bình trở lên thuộc vè người thượng trí, ngườitrung bình trở xuống thuộc về người hạ ngu, họ cực ít Như vậy người trung bình
Trang 21học tập đạo đức bỏ ác hướng thiện là đại đa số Thông qua học tập giáo dụckhiến cho số nhiều người trung bình trở thành người quân tử nhân đức, đó làmục tiêu giáo dục của Khổng Tử Ông nói nhiều về đạo làm người, mà ít nói vềTính và đạo trời Như học trò của ông Tử Cống đã nói: “Lời của Khổng Tử nói
về văn chương thì đã được nghe, lời Khổng Tử nói về tính và thiên đạo khôngđược nghe” [8,72]
Khổng Tử chi đề xuất tư tưởng “Tính tương cận, tập tương viễn” nhưngchưa triển khai cụ thể Tuy Khổng Tử mới chỉ đưa ra nhận định về nhân tính conngười là “tính tương cận” chưa đi sâu nghiên cứu nó nhưng ông đã là người tiênphong trong việc đề xuất tìm hiểu nhân tính con người, tách riêng con người ởmột khía cạnh cụ thể chứ không đan xen vào yếu tố duy tâm như xã hội trước
Kế thừa và phát triển quan niệm về tính của Khổng Tử, từ thời ChiếnQuốc về sau, vấn đề Tính mới thực sự được các nhà Nho quan tâm với nhữngquan điểm khác nhau Có người cho rằng bản tính con người vừa thiện vừa ác.Lại có người cho rằng, bản tính con người không thiện không ác, cũng có nhữngngười tuyệt đối hóa một mặt trong bản chất con người hoặc là thiện hoặc là ác.Nổi bật nhất là hai quan niệm đối lập nhau về Tính của Mạnh Tử và Tuân Tử.Mặc dù Mạnh Tử và Tuân Tử đều là môn đồ của trường phái triết học Nho gianhưng khi bàn về bản chất của con người, hai ông đã có sự đối lập nhau thậm chícòn có sự trái ngược nhau trong quan điểm nhưng dù học có tuyệt đối hóa về mặtnày hay mặt khác, thì vẫn có sự kế thừa, bổ sung và phát triển tư tưởng củaKhổng Tử với những góc độ khác nhau và ở chính học cũng có sự bổ sung chonhau khi xem xét bản chất con người
Khi bàn về bản chất con người, Mạnh Tử cho rằng bản chất của conngười là thiện và Tính thiện của con người được thể hiện qua bốn đức lớn: nhân,
lễ, nghĩa, trí Có thể nói Mạnh Tử là người đầu tiên đề cập đến vấn đề cá nhân,vấn đề nhân tính một cách có hệ thống và cụ thể Cũng như Khổng Tử và KhổngCấp, Mạnh Tử cho rằng bản tính con người là do trời phú Nhưng khác với họ,
Trang 22Mạnh Tử lại khẳng định rằng, cái bản tính của con người vốn thiện Vì vậy tưtưởng nổi bật nhất trong triết học của Mạnh Tử là vấn đề triết lý nhân sinh màtrọng tâm của nó là học thuyết về “Tính thiện” Học thuyết này của Mạnh Tửvừa là nền tảng của chính sách trị nước theo chủ nghĩa “nhân chính”, vừa là căn
cứ để ông đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng của các học thuyết đối lậpđương thời Ở Trung Quốc lúc bấy giờ, bàn về bản tính con người, ngoài thuyếtcủa Mạnh Tử còn có ba học thuyết khác với những quan điểm hoàn toàn tráingược nhau:
Thuyết thứ nhất cho rằng “Bản tính của con người có tính thiện, có tínhbất thiện Cho nên khi vua Nghiêu làm vua thì lại có kẻ thất đức như Tượng làmtôi Khi Cổ Tầu làm cha lại có bậc hiền như ông Thuấn làm con Nay nếu chobản tính người là thiện, ắt các trường hợp trên đều sai sao?” [3,217]
Thuyết thứ hai nói:” Tính của người ta có thể khiến cho làm điều thiện, cóthể khiến cho làm điều bất thiện Cho nên, vua Văn, vua Vũ nhân đức mà thịnhthì dân ưa làm điều thiên, vua U, vua Lệ là vua bạo ngược nổi lên thì dân ưa làmđiều tàn bạo” [3,217]
Thuyết thứ ba, thuyết của Cáo Tử lại cho rằng: “Bản tính con người takhông thiện cũng không bất thiện”, “sinh hoạt ở đời là tính - sinh chi vị tính” Cáo
Tử nói: “Tính như cây kỷ, cây liễu, nghĩa như cái chén, cái thìa Đem cái tính tựnhiên của con người ta uốn nắn mà làm điều nhân nghĩa cũng như đem cây lỷ, câyliễu đẽo gọt thành cái chén cái thìa vậy” Cáo Tử lại ví:” Tính tự nhiên của conngười ta như nước chảy, khiến chảy về phía đông thì chảy về phía đông, khiến hảy
về phía tây thì chảy về phía tây Tính người không phân biệt thiện hay bất thiệncũng như nói không phân biệt phía đông, phía tây vậy” [3,218]
Mạnh Tử bác bỏ tát cả những quan niệm ấy, theo ông bản tính con người
là thiện, nó là cái bản nguyên vốn có mà trời phú cho con người Mạnh Tử lýgiải “Tính thiện” của con người được thể hiện qua bốn đức tính lớn là nhân,nghĩa, lễ trí.Bốn đức lơn đó bắt nguồn từ Tứ đoan hay bốn đầu mối của thiện,
Trang 23còn gọi là thiện đoan, là cái tài chất, bản chất trời phú cho con người Bốn tứđoan đó là: Lòng trắc ẩn(biết thương người), lòng tu ố(biết thẹn), lòng từ nhượng(biết cung kính) và lòng thị phi (biết phân biệt trái phải) Thiện đoan là cái chất
cố hữu của con người như mầm cây vốn có trong hạt, như thân thể vốn có tứ chi.Nếu con người biết nuôi dưỡng thiên đoan thì thành thánh nhân không khó, cònnếu con người đánh mất thiện đoan, để nó mai một, suy tàn thì con người trở nênnhỏ nhen, không khác gì cầm thú Ông cho rằng “người ta ai cũng có lòng trắc
ẩn, lòng tu ố, lòng từ nhượng, lòng thị phi Không có lòng trắc ẩn thì không phải
là người, không có lòng tu ố không phải là người, không có lòng từ nhượngkhông phải là người, không co lòng thị phi cũng không phải là người Lòng trắc
ẩn là đầu mối của nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng từ nhượng là đầumối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí Người có bốn đầu mối đó như làngười có tứ chi Có bốn đầu mối ấy mà biết khuếch sung ra thì như lửa bắt đầucháy, như suối bắt đầu chay, mỗi ngãy một lớn, mạnh lên Không biết khuếchsung ra thì dẫu việc thường như thờ cha mẹ cũng không làm được” [3, 220]
Bản tính con người thiện vì “tính là cái chung, cái bản chất của một loài”
Ở loài người, có nhiều điểm giống nhau, trong đó điểm giống nhau đầu tiên là tàichất, là bản năng thiện do trời phú cho Sau đó là sự giống nhau ở các quan năng
để nhận biết tốt xấu, thị phi Với tài chất và quan năng ấy, ai ai cũng có sẵn mầmthiện và đều có thể trở thành thiện, Mạnh Tử cho rằng: “Phàm những vật đồngloại đều mang một bản chất giống nhau Tại sao đối với con người, người ta lạinghi ngờ điều đó? ” [9,164]
Mạnh Tử còn cho rằng bản tính người là thiện vì trong mỗi con người đều
có cái “tâm” Tâm là cái chủ thể trong mỗi con người, là cái thần minh có đủ mọi
lý, trời phú cho ta để hiểu biết, ững xử với vạn vật, để phân biệt phải trái, tốt,xấu…biết được điều này chính là bốn đầu mối của thiện Tâm là nguồn gốc củatính thiện trời phú cho con người, vì thế Mạnh Tử mới cho rằng: “trắc ẩn chitâm”, “tu ố chi tâm”, “từ nhượng chi tâm”, “thị phi chi tâm” Vậy nên, người có
Trang 24tính ấy ắt có tâm ấy, tâm với tính là một “Hễ biết hết cái tâm của mình thì biết
rõ cái tính của mình, biết rõ cái tính của mình thì biết rõ cái tính của trời vậy”[3,224] Sở dĩ Mạnh Tử cho rằng, khi tận tâm tính của mình, thì con người ta cóthể biết được trời, hiểu rõ đạo lý, nhân nghĩa tức là con người ta có thể trở thànhthánh thiện, là vì tâm vốn có “lương năng” và “lương tri” Đó là cái mà ngay từkhi sinh ra đã biết, do trời phú cho ta, không cần học tập mà có, còn gọi là “sinhtri” Ông cũng cho rằng: “Không đợi phải học mà làm được, ấy là lương năngcủa mình, không phải đợi suy nghĩ mà biết được ấy là lương tri của mình Cònbồng trên tay mà không đứa trẻ nào không biết yêu cha mẹ nó, đến khi lớn lên,không đứa trẻ nào không biết kính anh nó Thân yêu cha mẹ ấy là nhân, cungkính tôn trưởng ấy là nghĩa, không có gì khác lạ, vì cái đạo thông hành tất cảtrong thiên hạ, ai ai cũng vậy” [3,224] Nghĩa là với sự hiểu biết “tiên thiên”trờiphú, trong tâm con người ta vốn có lòng nhân nghĩa, chỉ vì ta bị chi phối, đam
mê vật dục nên cái tâm của ta bị lu mờ, làm ta không còn phân biệt được phảitrái tốt xấu và tồi tệ hơn là khiến ta đánh mất tính thiện trong con người mình.Bởi vậy, phải tận tâm, “tồn tâm dưỡng tính”
Mặc dù cho rằng con người sinh ra đã có sẵn tính thiện nhưng Mạnh Tửcũng khẳng định tính thiện không phải nhất thành bất biến Tính thiện sẽ bị maimột khi con người bị tác động bởi những ngoại cảnh xấu: “Cái bản tính của conngười giống như bản tính của nước là chảy vào chỗ trũng Không một người nàosinh ra tự nhiên bất thiện mà cũng không một thứ nước tự nhiên nào sinh ra tựnhiên chảy ngược dòng Song nếu như bị đắp đập ngăn bờ thì nước sẽ tràn cảnúi, cũng vậy, nếu bị vật dục che lấp thì bản tính vốn lành sẽ ngược chiều ngay”[9,165].Tuy nhiên sự chi phối, tác động của ngoại cảnh cũng chỉ có giới hạn Khitâm của con người thật vững vàng thì vật dục vô hiệu Chính vì vậy, Mạnh Tửrất chú trọng đến giáo hóa con người để mỗi người giữ tâm mình thật vững Ôngcho rằng con đường chủ yếu là “tồn tâm dưỡng tính” Đó là sự giữ gìn, bồidưỡng, đừng làm tổn hại hay mất thiên tâm, thiên tính của mình Đối với ông
Trang 25“Có tước người, Nhân nghĩa, trung tín, vui làm điều không mỏi, là cái tước trờicho Công khanh, đại phu là cái tước người cho Người đời xưa lo sửa cái thiêntước thì cái nhân tước theo sau Người đời nay lo sửa cái thiên tước để cầu lấycái nhân tước, khi đã có nhân tước thì bỏ cái thiên tước thành ra mất tất cả Nhưthế thật là mê hoặc.” [9,166] Vì sao khi bỏ thiên tước theo cái nhân tước lại mất
tấ cả? Theo Mạnh Tử, chỉ cái bản tính thiên phú mới là “cái chân thật, tồn tạivĩnh cửu, còn cái nhân tước tưởng tôn quý nhưng là ngụy tạo do con người tựđặt ra, lúc thế này, lúc thế khác tùy ý của con người nên nó chỉ tồn tại trong cuộcsống” [9,166] Theo ông, những người sống không “tồn tâm, dưỡng tính” lànhững người tự hủy bỏ thiên tước, hủy hoại mình, rời bỏ bản thân mình Ôngcũng cho rằng “Nói không phải lễ nghĩa gọi là tự hại mình Thân ta không ởnhân.,không theo điều nghĩa, gọi là tựa bỏ mình Nhân là cái người ta ở yên.Nghĩa là con đường chính người ta đi Bỏ cái nhà yên không ở, bỏ cái đườngchính không đi, thế có thảm không Còn “nếu khéo bồi dưỡng thì không vật nàokhông sinh trưởng” [9,166] Theo Mạnh Tử, tồn tâm, dưỡng tính quan trọng nhất
là “không làm mất cái tâm hồn nhiên thành thực như trẻ thơ- Bất thất kỳ xích từchi tâm giả dã”, không để tâm ta sa vào những ham muốn nhục dục Sau nữatheo ông, trong phép “tu tâm dưỡng tính thì quả dục chính là “thuốc thử” Ôngnói: “Làm người mà quả dục thì tuy có người chưa giữ được cái tâm nhưng cũng
là ít có vậy Làm người nhiều ham muốn, tuy có kẻ giữ được bản tâm nhưngcũng là ít có vây” [3,225] Quả dục hay bớt những ham muốn nhục dục ở đây,Mạnh Tử chia làm hai loại: Một là những ham muốn phàm tục như thích danh,thích lợi, tửu sắc, muốn ăn ngon mặc đẹp mà bất chấp đạo lý, lễ nghĩa thì phảihỏa dục Trái lại, loại ham muốn thứ hai là những ham muốn cao thượng, rất nênbồi dưỡng: “Sống thì ta vẫn muốn sống, nhưng có cái ham muốn còn hơn sựsống nữa, cho nên ta chẳng chịu làm những việc cẩu thả mà giữ lấy mạng sống
Sự chết ta vẫn ghét, những có cái còn đáng ghét hơn chết nữa, cho nên ta chẳngtìm cách để tránh hoạn nạn Nhưng cái sở dục quan trọng hơn cả sống đó là lễ
Trang 26nghĩa, nhưng cái đáng ghét hơn cả sự chết đó là bất lễ, bất nghĩa Không riêng gìngười hiền mới có cái lòng ấy mà người ta ai ai cũng có…Như đói gần chết, cóngười cho một giỏ cơm, một tô canh, nhưng lơn tiếng gọi cho một cách vô lễ,hoặc chà đạp dưới chân rồi mới cho thì thà chết đối chứ chẳng chịu nhận Lại có
ai cho mười ngàn chung thóc mà không hợp nghĩa thì chẳng chịu nhân Nếunhận mà không hợp lễ nghĩa thì bỏ mất cái tâm vốn thiện của mình.” [3,225] Vìquan niệm rằng trong thân thể con người ta có phần cao quý, có phần ti tiện, cóphần lớn, có phần nhỏ, nên phép tồn tâm dưỡng tính nên Mạnh Tử chủ trươngrằng tồn tâm còn là giữ lấy cái phần cao quý nhất trong con người “Nuôi phầnnhỏ là tiểu nhân, dưỡng phần lớn là đại nhân” “Phần lớn, phần cao quý trongcon người chính là lương tâm (gọi là đại thể), còn phần nhỏ, phần ti tiện là giácquan, tai mắt (gọi là tiểu thể), luôn bị vật dục lôi kéo: “Tai mắt của người takhông phải để suy nghĩ mà hay bị ngoại vật che lấp và chỉ là vật nó giao với vậtkia mà tiếp dẫn nhau làm cho những giác quan ở con người bị cảnh trần lôi cuốn.Tâm là cơ quan để suy nghĩ Suy nghĩ thì hiểu biết rõ được đạo lý, không suynghĩ thì không nhận biết được chính tà Trong những cái trời phú cho ta trướchết phải giữ gìn, bồi dưỡng cái lớn thì cái nhỏ mới không lấn lướt được Khi đãgiữ gìn tu dưỡng cái căn bản trong con người thì sự thực không ở đâu xa: “Vạnvật đều đủ ở trong ta Ta tự xét mình thành thực thì có cái vui nào thú nào lớnhơn nữa Mình bảo tồn tâm, dưỡng tính của mình để thờ trời vây”[3,227] Trongcon người ta cùng với tâm tính là phần cao quý trời phú cho ta còn có phần khí.Khí lưu thông khắp vũ trụ, ngưng tụ lại thành hình thể, tạo nên vạn vật và conngười Nhờ có khí lưu hành trong cơ thể mà vạn vật và con người mới có sự sinhtrưởng Vì vậy cùng với tồn tâm người ta phải dưỡng cả khí Khí và chí liên hệvới nhau thành cơ thể sống Khí chính là phần thể chất, khí chất, còn chí chính làphần tinh thần, ý thức của con người Trong đó “chí là nguyên soái điều khiểncái khí, khí là phần sung mãn lưu thông trong thân thể Cao nhất là cái chí rồiđến cái khí Cho nên nói rằng, mình phải giữ bền cái chí, đừng làm hư hại cái
Trang 27khi” [3,229] Con người ta phải có sự điều hòa giữa chí và khí mới có thể tồn tại,phát triển sinh động được Vì:” Khi cái chí nguyên nhất về một điều gì đó thì nóđộng tới cái chí Ví như bây giờ có kẻ chạy gấp, chạy mau, đó là động tới khí lựccủa mình làm động ngược lại tới cái tâm chí vậy” [3,229] Để bảo tồn và pháttriển tâm tính, chí khí của con người Mạnh Tử chủ trương cần có sự tu dưỡng,rèn luyện, giáo dục đạo lý cho mọi người, nhất là những kẻ làm vua, bậc quân tử:
“Sự gìn giữ của người quân tử là tự sửa mình mà thiên hạ được thái bình vây Quân tử chi thủ, tu kỳ thân nhi thiên hạ bình” Ông quan niệm: “Người ta tuy cóđạo lý, nhưng cứ ăn no mặc ấm, ngồi rồi không dạy bảo thì gần giống cầm thú”.Hơn nữa, nếu không học thì “nhiều người làm mà không biết ý nghĩa của việcmình làm, có thói quen mà chẳng chịu xem xét các thói quen của mình, trọn đời
-cứ theo đó mãi mà chẳng biết phải quấy, chẳng rõ cái đọa… Nên đạo ở gần mà
đi tìm ở xa, việc dễ mà đi tìm ở cái khó” Và khi người ta không được dạy dỗ,
“không có lễ nghĩa nữa thì ắt trên dưới sẽ hỗn loạn” nên “trời sinh ra người ta,khiến kẻ tiên tri dạy kẻ hậu tri, kẻ tiên giác dạy kẻ hậu giác”, “người trung chínhdạy kẻ không trung chính, người tài năng dạy kẻ không có tài năng”[3,231].Luôn tính tưởng ở tính thiện của con người nên Mạnh Tử cho rằng sự tự sửamình, tự giáo dục mình, thức tỉnh nội tâm của mỗi người là rất quan trọng Nhưvậy theo Mạnh Tử” cái đạo học hỏi không có gì khác, chỉ cốt tìm lại cái tâm…”,tồn tâm, thành tâm và tận tâm mà thôi” [3,233] Ta thấy, Mạnh Tử cho rằng bảntính trời phú cho con người là thiện và nếu có thành ra bất thiện là vì con ngườikhông biết giữ lấy cái tâm, không tu tâm dưỡng tính Ông cũng chủ trương cầnphải có giáo dục để mỗi người không đánh mất tính thiện, phải trau dồi cho tínhthiện ngày một phát triển, ai ai cũng trở thành người tốt
Đến Tuân Tử, trước thực trạng xã hội hết sức rối loạn lúc bấy giờ, khi tậnmắt thấy cảnh tranh giành, xâu xé, chem giết lẫn nhau giữa các giai cấp, tầng lớp,giữa con người với con người trong xã hội nên từ chỗ hoài nghi ông đi đến bác bỏthuyết tính thiện của Mạnh Tử Đây chính là những cơ sở cho những quan niệm
Trang 28mới và sự lý giải mới về Tính ở Tuân Tử theo ông Tính là cái tự nhiên, cái bẩmsinh có sẵn trong con người, không thể học, luyện tập mà có được, vì nói là cáitrời sinh ra Như vậy cũng giống với Không Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử cũng khẳngđịnh bản tính con người là đồng nhất, là như nhau Song khác với Mạnh Tử thậmchí là trái ngược hoàn toàn, Tuân Tử cho rằng bản tính con người vốn là ác NếuMạnh Tử xuất phát từ những giá trị có tính xã hội thiên về đạo đức để khẳng địnhbản tính thiện của con người, thì Tuân Tử lại xuất phát từ những nhu cầu có bảnnăng sinh vật, tự nhiên của con người để đề xuất thuyết tính ác của mình.
Theo Tuân Tử, con người khi mới sinh ra vốn đã có sẵn lòng ham muốn
và dục vọng nên để thỏa mãn những ham muốn dục vọng đó, con người đã hànhđộng thuận theo tính tự nhiên của mình Và điều đó tất phải dẫn đến sự tranhgiành, chiếm đoạt lẫn nhau Ông cho rằng: phàm là người đều “sinh ra đã hiếulợi”, sinh ra đã có cái dục của tai mắt” Dục vọng tâm lý nội tại này “không nhờsức người mà đã có tự nhiên, đó tức là nhân tính ” Tính của con người là đóimuốn no, lạnh muốn ấm, mệt muốn nghỉ, mắt hiếu sắc, tai hiếu thanh, miệnghiếu vị, tâm hiếu lơi, xương cốt da thịt hiếu an nhàn, những điều đó sinh ra tínhcon người, cảm nhận tự nhiên không nhờ sức nguời rồi sau mới sinh ra” Chínhtâm dục lợi này thức đẩy con người lấy việc mưu cầu lợi ích vật chất làm mụcđích hoạt động của họ.Tuân Tử cũng khẳng định thiên tính của con người khôngphải chỉ có một tâm lợi dục Ngoài tâm lợi dục ra còn có khả năng phân biệt vàhiểu biết thiên phú “Con người sở dĩ là con người, không phải chỉ vì có hai chân
và không có lông mao mà là vì có khả năng phân biện” [8,88] Như vậy, theotuân Tử, nhân tính bao gồm lợi dục và tài tính chi năng của con người vốn có từkhi sinh ra Và nhân tính này theo Tuân Tử là có chung ở tất cả mọi người, nhờ
có nhân tính chung mới có thể hình thành loài người “Thích vinh ghét nhục,ham lợi ghét hại Những điều đó người quân tử cũng như tiểu nhân đều nhưnhau” Xuất phát từ nhận thức bản tính tự nhiên của con người quy định nhântính thành lợi dục và tài tính chi năng Tuân Tử đi đến tư tưởng nhân tính ác
Trang 29Ông nói: “Nay tính của con người sinh ra đã tham lợi, thuận theo đó thì tất sinhtranh đoạt mà quên nhường nhịn, sinh ra đã thích làm điều ác, thuận theo đó thìsinh ra chém giết mà quên trung tín, sinh ra mà đã có sinh dục sắc dục (thíchthanh sắc) của tai mắt, thuận theo đó thì sinh ra dâm loạn mà quên lễ nghĩa văn lý.Nếu thuận theo Tính, Tình của con người thì tất ngoài thì tranh đoạt, trong thìphạm phận, loạn đạo lý và cuối cùng thì bạo ngược Cho nên phải có thầy vàpháp luật giáo hóa, dạy đạo lễ nghĩa, sau đó mới có ra ngoài thì nhường nhịn,bên trong thì giữ đạo lý, cuối cùng mới bình trị Từ đó mà xét, rõ ràng con ngườitính ác, thiện là ngụy tạo” [8, 91] Có thể thấy rõ tư tưởng của Tuân Tử: bản tínhban đầu của con người là ác, còn tính thiện là do con người sáng tạo ra Ông giảithích cho luận điểm này như sau:
Thứ nhất, con người sinh ra đã có tâm lợi dục, tức có dục vọng truy cầu sựhưởng thụ và thỏa mãn nhu cầu của những cái bản năng sinh học: Bụng đói thích
no, thân thích ấm, mắt thích đẹp, tai thích âm thành thánh thót, miệng thích mỹ
vị, mũi thích hương thơm, tay chân thích nhàn hạ, tập trung vào Tâm thành ratâm lợi dục Nhu cầu đó vô cùng và vô tận: “Ăn muốn có gà lợn, mặc muốn thêuthùa, đi muốn xe ngựa, thích giàu có của cải đầy kho, năm này năm nọ, đời nàyđời nọ không bao giờ biết đủ, đó là tình của con người vậy” Chính bởi vì conngười trời sinh ra đã có tâm lợi dục không biết đủ, không biết tận cùng và sự truycầu lợi dục do tâm lợi dục này thúc đẩy đã hình thành cuộc tranh đoạt sinh tồnkhông bao giờ ngừng của xã hội loài người, dẫn đến các loại loạn lạc Điều đóchứng tỏ nhân tính bất thiện mà ác
Thứ hai, ác là thiên tính vốn có, còn thiện là do con người học tập, rènluyện mà có được “Phàm con người muốn làm thiện bởi vì tính ác Phàm mỏngmuốn dày, xấu muốn đẹp, hẹp muốn rộng, nghèo muốn giàu, hèn muốn quý, bởi
vì bên trong không có thì tìm bên ngoài…Ngày nay tính của con người là không
có lễ nghĩa, tính không biết lễ nghĩa cho nên suy nghĩ lo tìm lễ nghĩa” [8, 93].Ông cho rằng người thiện phải là người có lễ, nghĩa mà bản tính trời sinh con
Trang 30người là ác, vốn không có lễ nghĩa Do đó mới cần phải học lễ nghĩa, biết lễnghĩa khiến con người biết làm thiện Thiện không có trong nhân tính, nên phảicần đến giáo dục học tập ở bên ngoài.
Thứ ba, Tuân Tử cho rằng: “Cây thẳng không đợi uốn mới thẳng mà đó là
do tính nó thẳng vậy Cây cong phải uốn nắn rồi sau đó mới thẳng, đó là do tính
nó không thẳng” “Cho nên thời xưa thánh nhân thấy con người tính ác cong vẹokhông ngay thẳng, phản loạn bất trị, cho nên mới lập ra vua để chế ngự, dạy lễnghĩa để giáo hóa, lập pháp luật để trị, dùng hình phạt nặng để ngăn cấm, khiếncho thiên hạ bình trị, hợp với thiện vậy” Nếu như nhân tính thiện, sinh ra đã tựđộng làm thiện, như vậy thì, mọi người sẽ yêu thương nhau yên ổn với nhau,thiên hạ tự nhiên thái bình Nhưng sự thực lại hoàn toàn khác, nếu như nhân tínhvốn thiện lương thì không cần xây dựng nhà nước sử dụng hình pháp để cai trị
Sự tồn tại của nhà nước, việc lập quân vương, thi hành lễ nghĩa, sử dụng hìnhpháp đều do nhân tính ác, đều đó chứng tỏ nhân tính bản ác
Thứ tư, Tuân Tử cho rằng trong xã hội hiện thực, con người có quân tử vàtiểu nhân, người thiện và người ác phân biệt với nhau Sựu khác biệt này là do sựrèn luyện, học tập làm điều thiện của mỗi người không giống nhau
Mặc dù quan niệm bản tính con người là ác nhưng Tuân Tử cũng cho rằngnhân tính con người có thể giáo hóa, dù sinh ra có tính ác nhưng có thể làm điềuthiện Nhân tính là do trời sinh, bản tính ác không có nghĩa con người nhất địnhphải làm điều ác, trở thành người ác Con người vẫn có thể làm điều thiện và trởthành người thiện bởi nhân tính con người ngoài tâm lợi dục ra còn có năng lựcnhận biết, phân biệt Nhờ có năng lực này mà con người có thể cải biến bản tính
ác của mình, có thể học tập lễ nghĩa, phân biệt thiện ác, nhận thức được đạo trờiđạo người, dùng lễ nghĩa để chế ngự tâm lợi dục của bản thân, đồng thời giúpcon người điều chỉnh hành vi cửa mình cho phù hợp với đạo trời, đạo người, từ
đó trở thành người thiện Do đó, Tuân Tử cũng rất coi trọng học tập, ông chorằng chỉ thông qua học tập lễ nghĩa đạo đức mới có thể giúp con người khắcphục tính ác trở thành người thiện
Trang 31Như vậy, qua những phân tích trên chúng ta có thể kết luận được rằngthuyết “Tính thiện”của Mạnh Tử và thuyết “Tính ác” của Tuân Tử mặc dù đãđưa ra được một số quan niệm về bản chất của con người nhưng còn chứa đựngnhiều hạn chế Một trong những hạn chế đó là các ông không tránh khỏi tínhchất siêu hình, máy móc khi luận bàn, đề xuất bản tính vốn có của con người.Nếu Mạnh Tử thiên về mặt xã hội thì TuânTử lại thiên về mặt sinh học, mặt bảnnăng tự nhiên của con người để khẳng định cái bản chất tiên thiên trong bản chấtcon người Các ông chưa thấy được cái bản chất của con người là sự thống nhấtkhông thể tách rời giữa mặt xã hội và cái sinh học Mỗi người tuyệt đối hóa mộtmặt và chính điều này dẫn đến sự đối lập giữa thuyết “Tính thiện” của Mạnh Tửvới thuyết “Tính ác” của Tuân Tử Mặc dù vậy sự đối lập ấy không phải là sựđối lập hoàn toàn, tuyệt đối như một số người quan niệm Qua sự phân tích kỹnhững nội dung của “Nhân tính luận” chúng ta có thể thấy, hai thuyết đó tuy đốilập nhưng lại bổ sung cho nhau Sự bổ sung ấy cho phép chúng ta nghiên cứu vàhiểu đúng đắn đầy đủ hơn bản chất của con người Hơn nữa, cả Mạnh Tử vàTuân Tử đều không bỏ qua những yếu tố khiến con người đi ngược lại, trở thànhngười đối lập với bản tính vốn có của mình Ví như Mạnh tử ông cho rằng bảntính người là thiện nhưng cũng không quên đề cập đến những tác động có thểkhiến người từ thiện trở thành ác, Tuân Tử cũng quả quyết rằng bản tính ác củacon người có thể được cải biến, con người có thể trở thành thiện Mặc dù khi đềcập đến bản chất của con người, điểm xuất phát của Mạnh Tử và Tuân Tử làkhác nhau, thậm chí đối ngược nhau, nhưng cả hai ông đều gặp nhau tại mộtđiểm chung rất cơ bản là khẳng định sự cần thiết phải dùng giáo dục, giáo hóa đểhoặc là thúc đẩy cái “Tứ thiện đức” (như quan niệm của Mạnh Tử), hoặc tiết chếcái dục vọng, ham muốn vốn sẵn có trong con người (như quan niệm của TuânTử) Tất cả điều đó đều nhằm mục đích để con người được sống đúng với nghĩa
“người” Điều này cũng từng được cụ Phan Bội Châu khẳng định khi đánh giá vềthuyết “Tính ác” của Tuân Tử: “Học thuyết tính ác của Tuân Tử chẳng những
Trang 32không phản đối tính thiện của thầy Mạnh Tử mà còn bổ túc cho thầy Mạnh Bởi
vì trong tính thiện của thầy Mạnh chuyên chú trọng về mặt lương tâm mà bỏ sóttình dục Mặt khác nói, tính thiện mà trông mong cho người ta theo tính mà làmthiện Thầy Tuân nói tính ác mà trông mong cho người ta chứa tính ác mà chẳnglàm ác” [7,40] Mục tiêu chung của giáo dục theo cả hai ông đó chính là làm chocon người có Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và phù hợp với yêu cầu xã hội và chế độphong kiến lúc bấy giờ
Có thể kết luận rằng mặc dù có học thuyết của Nho gia tuy đã đề cập đếnbản chất con người, nhưng vẫn chưa giải thích đúng đắn, đầy đủ bản chất của conngười cũng như chưa tìm ra phương thức để giải phóng con người Những quanniệm của Nho gia vẫn còn nhiều hạn chế, còn chịu ảnh hưởng bởi lập trường củagiai cấp thống trị Những quan niệm về bản chất con người không được xem xéttrên nền tảng của điều kiện kinh tế xã hội, mà chỉ xuất phát từ những chuẩn mựcđạo đức thuần túy, dựa trên lợi ích và mục đích chính trị của giai cấp thống trị, hạthấp vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo vốn có của con người
* Về mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội
Ở thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, hệ tư tưởng phong kiến thống trị mọimặt cả về vật chất lẫn tinh thần Quan niệm của các triết gia về con người, vềmối quan hệ giữa con người với con người cũng bị chi phối bởi tư tưởng đạo đứcphong kiến Nho gia là trường phái có hệ tư tưởng mang nặng tính chất phongkiến gia trưởng và nó có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Quan niệm của Nhogia về mối quan hệ giữa người với người chủ yếu được thể hiện qua học thuyết
về chính trị xã hội
Khổng Tử - người sáng lập ra phái Nho gia cho rằng sự thay đổi của xãhội làm cho thiên hạ rối ren, nguyên nhân chính là do sự xa đọa của thế lực cầmquyền làm cho “danh” không được “chính” tức là “danh” không phù hợp với
“thực” Quan niệm “danh” không được “chính” làm cho xã hội loạn lạc, phép tắc
kỷ cương xáo trộn, danh phận không rõ ràng, nên để khôi phục trật tự xã hội,
Trang 33Khổng Tử đã chủ trương thực hành thuyết “chính danh” Như vậy, khi đề ra họcthuyết “chính danh”, Khổng Tử đã cố gắng thể hiện nó qua hành động của mình.
Nó cũng phản ánh thái độ tôn trọng, tôn ty trật tự phép tắc của Khổng Tử Tôn tynày trong quan hệ giữa người với người mà Nho gia gọi là “Luân” được sách
“thuyết văn” cho là “con đường”, sách Khúc lễ giảng giải là “loại”, Mạnh Tử gọi
là “trật tự” Một số nhà nghiên cứu sau này giải thích là “thứ bậc” là đạo “cưxử” Có thể hiểu trong xã hội “mỗi một thứ quan hệ là một luân”
Trong các mối quan hệ xã hội, triết học Nho gia xác định năm mối quan
hệ cơ bản và thông thường của mỗi đời người trong thiên hạ, gọi là “Ngũ luân”gồm quan hệ Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bè - bạn (quân thần, phụ
tử, phu phụ, huynh đệ bằng hữu) (Trung dung 20)
Mỗi quan hệ lại có tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng, như cha hiền conthảo, anh tốt em ngoan, chồng biết tình nghĩa vợ nghe lẽ phải, bề trên từ hiếu bềdưới kính thuận, vua nhân từ tôi trung thành Trong “ngũ luân” lại có ba mốiquan hệ cơ bản nhất, Nho gia gọi là “Tam cương” (quân vi thần cương, phụ vi tửcương, phu vi thê cương) Trong đó Khổng Tử nhấn mạnh nhiều hơn đến quan
hệ vua tôi, cha con
Đối với quan hệ vua tôi, ông lên án việc chức tước theo truyền thống,dòng dõi, mặc dù trong xã hội đương thời vẫn có ba kiểu lên ngôi được thừanhận như: lên ngôi vua do cha truyền lại, lên ngôi do vua trước truyền lại và lênngôi do đổi mệnh vua Khổng Tử đã đưa ra yêu cầu đối với người đứng đầu củamột quốc gia phải là người đạt được nhân đạo và thiên đạo Về những yêu cầu cụthể đối với vua, Khổng Tử chủ trương: vua phải đảm bảo cho dân được no ấm,xây dựng đất nước vững mạnh thể hiện ở lực lượng quân sự hùng hậu, phải làngười được dân yêu dân tin Dân đối với vua, theo Khổng Tử phải coi như cha
mẹ của mình Trong quan hệ giữa người dân và vua, thì dân vì vua là “trung”,vua vì dân để được lòng dân tin cũng là “trung” vậy “Trung” của Khổng Tử chỉ
là đòi hỏi sự hết lòng và thành tâm thật ý trong quan hệ với nhau.Bên cạnh đó
Trang 34Khổng Tử cũng nhấn mạnh vua phải biết trong dụng người đức độ và có nănglực làm việc, phải biết rộng lượng đối với các quan lại phụng sự cho mình
Trong quan hệ cha con, Khổng Tử đề cập đến phạm trù “hiếu” Theo ônghiếu của con cái đối với cha mẹ, không đơn giản chỉ là sự phụng dưỡng người đãsinh ra mình mà trước hết phải là lòng thành kính “Chỉ nuôi cha mẹ không thôithì không thể gọi là hiếu, vì đến như giống chó, giống ngựa cũng có người nuôi,nuôi cha mẹ mà không thành kính thì có khác gì như nuôi chó ngựa, làm sao cóthể gọi là lòng hiếu thảo” (Luận ngữ, vi chính 7) Ông thường dậy rằng, phậnlàm con thấy cha mẹ lầm lỗi phải can giám một cách nhẹ nhàng, hoặc quan điểm
“cha ra cha, con ra con” cũng đòi hỏi cha mẹ phải đối xử với con cái cho đúngđạo của mình Như vậy, không chủ trương ngu trung, ngu hiếu, không bắt buộccon người phải phục tùng bề trên vô điều kiện nội dung trung, hiếu của Nho giasau này Đối với Khổng Tử trong xã hội “Chính danh” là quan hệ hai chiều: quân
có nhân thì thần mới trung, phụ có từ thì tử mới hiếu mà công cụ để thực hiệnhai chiều này là đạo đức xã hội
Kế thừa quan điểm triết lý nhân sinh của Khổng Tử, Mạnh Tử, bên cạnhthuyết “tính thiện” nổi tiếng còn có tư tưởng chính trị đặc sắc, những tư tưởngnày thể hiện quan điểm của Mạnh Tử về mối quan hệ giữa người với người,được nói ở tinh thần “dân bản” Dựa trên học thuyết “tính thiện” tiếp tục tưtưởng đạo đức của Khổng Tử, Mạnh Tử đã kịch liệt phê phán phương pháp trịnước của các trường phái triết học khác như Mặc Gia, Đạo Gia,: “Họ Dương vịngã ấy là không nhận có vua, họ Mặc kiêm ái ấy là không nhận có cha Không
có vua, không có cha, ấy là cầm thú rồi vậy Nếu cái đạo của họ Dương và họMặc không tắt thì đạo của Khổng Tử chẳng được sáng tỏ” (Mạnh Tử, đằng văncông) Từ đó ông đề ra thuyết “Nhân chính” trong đạo trị nước chủ trương lấyphép tắc đạo đức, đạo lý của Thánh Vương đời Tam đại, ngũ đế là chuẩn mực đểgiáo hoá dân, bình trị nước, gọi là “pháp tiên vương”
Theo thuyết “nhân chính” việc trị nước chăm dân của các bậc vương giả”phải vì nhân nghĩa chứ không phải vì lợi Vua hà tất phải nói đến lợi, chỉ có nhân
Trang 35nghĩa mà thôi Nếu ông vua nói rằng làm thế nào lợi cho nước ta, quan đại phunói rằng làm thế nào lợi cho nhà ta, kẻ sĩ và thứ dân nói rằng làm thế nào lợi chothân ta, kẻ trên người dưới ai lấy đều tranh nhau điều lợi thì nguy vậy (Mạnh Tử,Lương Huệ Vương).
Trên cơ sở tư tưởng “nhân nghĩa” và chủ trương “nhân chính” Mạnh tử
đã đề xuất quan điểm “dân bản” Theo Mạnh Tử trong một nước có ba của báu làđất đai, nhân dân, chính sự Trong ba của báu ấy, theo ông quần chúng nhân dânlao động có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn vong suy thịnh của một đấtnước Thậm chí ông còn cho rằng, dân còn quý hơn cả vua chúa và xã tắc Ôngnói: “Dân vi quý, xã tắc vi thứ chi quân vi khinh” (Mạnh Tử, Tận tâm hạ) sở dĩtrong một nước dân là cái quý nhất, vì theo ông, dân là gốc của nước, có dân mới
có nước, mới có vua Ý dân là ý trời: “Trời trông ở dân, ta trông trời nghe ở dân
ta nghe” (Vạn Chương Thượng) “Vì vậy hễ ai được lòng dân chúng thì đượclàm vua thiên hạ” (Mạnh Tử, Tận Tâm Hạ).Từ đó Mạnh Tử chủ trương thi hànhmột chế độ “bảo dân” và khuyên các bậc vua chúa: “Ngài vui cái vui của dân thìdân cùng vui cái vui của mình, ngài lo cái lo của dân thì dân cũng lo cái lo củamình Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo thế mà không làm vương thì chưa cóvậy” (Mạnh Tử Lương Huệ Vương).Theo Mạnh Tử, để thực hiện được “nhânchính”, các bậc vua chúa hiền phải giữ mình khiêm cung, sinh hoạt tiết kiệm, giahuệ với bề tôi và thu thuế của dân có chừng mực
Xét cho cùng ta thấy tư tưởng bao trùm triết học của Mạnh Tử khi nói vềquan hệ giữa người với người ở đây dựa trên luân lý đạo đức lấy nhân nghĩa làmtrọng, Ông đã có tư tưởng lấy dân làm gốc Đây có thể nói là một tư tưởng rấttiến bộ của Mạnh Tử mà đời sau vẫn còn kế thừa
Tiếp sau Mạnh Tử, Tuân Tử là người theo học thuyết của Khổng Tử ông
đề cao nhân, nghĩa, lễ, nhạc, chủ trương “chủ nghĩa chính danh”, trọng vương,kinh bá Nhưng lại khác với tư tưởng của Khổng Tử và Mạnh Tử Khi quan niệm
về mối quan hệ giữa người với người ông đưa ra quan niệm về trung hiếu Trung
Trang 36hiếu là những đức tốt, ai cũng phải theo, song người đi học phải biết thế nào làthật trung, thật hiếu Tuân Tử nói: “nhập hiếu xuất đễ, nhân chi tiểu hạnh dã,tòng đạo bất tòng quân, tòng nghĩa bất tòng phụ, nhân chi đại hạnh dã: vào hiếu
ra đễ là cái tiểu hạnh của người ta; thuận theo người trên, thân yêu kẻ dưới, là cáitrung hạnh của người ta; theo đạo mà không theo vua, theo nghĩa mà không theocha, là cái hạnh của người ta vậy” (Tử đạo, XXIX) Người làm tôi có bốn hạng:
“có bậc đại trung, có bậc thứ trung, có bậc hạ trung, có kẻ quốc tặc lấy đức màbáo đáp vua để hoá được vua ấy là bậc đại trung Lấy đức để sửa lỗi của vua màgiúp vua, ấy là bậc thứ trung Lấy điều phải mà can ngăn điều trái, làm cho vuagiận, ấy là bậc hạ trung Không lo đến sự vinh, sự nhục của vua, không lo đénnước hay nước dở chỉ thâu hợp cẩu dung để giữ lấy lợi lộc, nuôi lấy sự giaothông bè đảng, ấy là kẻ quốc tặc vậy”.(Thần đạo, XIII)
Người làm con có hiếu có ba hạng: “người con có hiếu có ba điều sở dĩkhông theo mệnh cha Theo mệnh thì cha mẹ nguy, không theo mệnh thì cha mẹyên, người hiếu tử không theo mệnh là hợp với đạo trung Theo mệnh thì cha mẹnhục, không theo mệnh thì cha mẹ vinh, người hiếu tử không theo mệnh là hợpvới điêu nghĩa theo mệnh là cầm thú,không theo mệnh thì làm cho cha mẹ được
vẻ vang, người hiếu tử không theo mệnh là kính cha mẹ Cho nên điều đáng theo
mà không theo không phải đạo làm con, chưa nên theo mà đã theo là không hợpđạo trung Biết rõ cái nghĩa đáng theo mà theo và không đáng theo mà lại hết sứccung kính, trung tín, đoan xác, rồi cứ cẩn thận mà làm, thế gọi là đạo hiếu vậy”(tử đạo XXIX)
Cũng như Khổng Tử, Tuân Tử cũng đề cập đến “trung” và “hiếu” nhưngông lại đề cao chữ “trung” hơn “hiếu”, Trung có nghĩa là hiếu rồi Quan điểmkhác hẳn với Khổng Tử là đề cao chữ “hiếu”
2.2.2 Quan điểm của Đạo gia về vấn đề con người
* Về bản chất con người
Sau Nho gia thì Đạo gia cũng là một trong ba trường phái triết học lớnthời Xuân Thu - chiến Quốc và có nhiều ảnh hưởng lớn đối với xã hội lúc bấy