MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, xu thế chung mà các quốc gia trên thế giới hướng tới là sự hòa bình, hợp tác và phát triển Các quốc gia ngày càng có nhiều mối quan hệ về kinh tế, chính tr[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, xu thế chung mà các quốc gia trên thế giới hướng tới là sự hòabình, hợp tác và phát triển Các quốc gia ngày càng có nhiều mối quan hệ vềkinh tế, chính trị, xã hội Để những mối quan hệ này trở nên tốt đẹp, bền vững,một quốc gia cần có quan hệ ngoại giao tốt với các quốc gia khác trong khu vực
và trên thế giới
Việt Nam, sau 20 năm đổi mới, đang có lợi thế rất lớn là tình hình chínhtrị, xã hội cơ bản ổn định nhưng chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiềuthách thức rất lớn, trong đó đặc biệt phải nhắc tới là thách thức đến từ ngườiláng giềng Trung Quốc.Việt Nam và Trung Quốc vốn là hai nước “núi liền núi,sông liền sông”, trong hàng ngàn năm lịch sử Việt Nam luôn phải đối mặt với
sự xâm lược của Trung Quốc Vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hai quầnđảo Trường Sa và Hoàng Sa đã diễn ra giữa hai nước hàng chục năm nay nhưngtrở nên đặc biệt căng thẳng trong thời gian gần đây Sau một loạt các hành độngkhiêu khích như cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Bình Minh của ta, xua đuổi, thậmchí bắn chết ngư dân Việt Nam trên vùng biển Việt Nam, thì việc hạ đặt tráiphép giàn khoan Haiyang Shiyou 981 ở vùng đặc quyền kinh tế trong thềm lụcđịa của Việt Nam là bước đi tiếp theo nhằm thực hiện ý đồ độc chiếm BiểnĐông của Trung Quốc Đây là một hành vi hết sức nguy hiểm, làm phương hại
an ninh khu vực và thế giới Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trở nên hết sứccăng thẳng Đây là một thách thức vô cùng lớn đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta:Làm thế nào để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thờigiữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước
Nhìn lại quá khứ để có câu trả lời cho hiện tại, tìm hiểu về chính sách đốingoại của Việt Nam giúp ta hiểu rõ về hoạt động ngoại giao của nước nhà Từ
đó, ta rút ra được những kinh nghiệm quý báu để vận dụng sáng tạo góp phầnphát triển đất nước trong tình hình hiện nay
Trang 2Giai đoạn 1945 – 1946 là thời điểm nước Việt Nam dân chủ cộng hòamới được hình thành Đây là thời điểm, tình hình trong nước và quốc tế diễnbiến rất phức tạp, chúng ta phải đối mặt với vô vàn khó khăn, tình thế “ngàncân treo sợi tóc”, khi phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng lúc trong đó có quânđội Trung Hoa Dân quốc Ngoại giao Việt Nam lúc này phải phát huy hết khảnăng để giữ vững thành quả của cách mạng tháng Tám, đưa cách mạng nước taphát triển mạnh mẽ
Vì những lý do trên đây, người viết xin được chọn đề tài: Sách lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quân đội Trung Hoa Cộng hòa dân quốc (1945 – 1946)
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đề tài đã và đang được nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu, khảo sát ở nhiều góc độ khác nhau như:
- Nguyễn Kiến Giang (1961): “Việt Nam năm đầu tiên sau cách mạng tháng
Tám (Tháng Tám 1945- Tháng Chạp 1946)”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội.
- Lưu Văn Lợi (1996): “Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam(1945- 1946)”,Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội
- Nguyễn Phúc Luân (2001):“ Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp
giành độc lập, tự do (1945- 1975)”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội
- Nguyễn Mạnh Hà: “Bàn thêm về ứng xử của Trung ương Đảng và Chủ tịch HồChí Minh đối với Trung Hoa Dân Quốc những năm 1945- 1946”, tạp chí Lịch sử quân sự,
Trang 3ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trong ngoại giao với quânđội Tưởng ở miền Bắc (trước 6/3/1946) để góp phần làm sáng tỏ sự sáng tạo trongchủ trượng, sách lược và nghệ thuật ngoại giao của Đảng nhằm triệt để lợi dụngmâu thuẫn kẻ thù tranh thủ điều kiện có lợi nhất cho cách mạng, giữ vững ddowcjthành quả cách mạng tháng Tám.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương và hoạt động ngoại giao của Đảng và Hồ Chủ tịch đốivới quân đội Tưởng Giới Thạch trong giai đoạn 1945-1946 và rút ra bài họckinh nghiệm vận dụng cho thời kì hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày tình thế hiểm nghèo của nước ta sau cách mạng thángTám(1945), bắt buộc phải nhân nhượng đối với kẻ thù
- Trình bày đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, sách lược linhhoạt, nghệ thuật ngoại giao tài giỏi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vớiquân đội Tưởng ở miền Bắc (trước 6/3/1946)
- Bài học kinh ngiệm, ý nghĩa trong thực tiễn ngoại giao hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận
4.1 Đối tượng: Sách lược ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh 4.2 Phạm vi nghiên cứu: Sách lược ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh đối với quân đội Trung Hoa Dân Quốc giai đoạn 1945- 1946
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác Lê nin, quan điểm của
Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; về mốiquan hệ chiến lược, sách lược cách mạng; về tư tưởng thêm bạn bớt thù, tranhthủ điều kiện thuận lợi bên ngoài, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù,từng bước thoát khỏi tình thế khó khăn giữ vững thành quả cách mạng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu: phân tích các nguồn tài liệu qua các công trìnhnghiên cứu về ngoại giao Việt Nam 1945- 1946
Trang 4- Phương pháp lôgic-lịch sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh,tổng kết thực tiễn.
6 Ý nghĩa thực tiễn của khóa luận
Góp phần bổ sung tài liệu, hệ thống tư liệu về sách lược của Đảng và chủtịch Hồ Chí Minh với quân đội Trung Hoa Dân quốc trong giai đoạn lịch sử1945- 1946, để từ đó thấy được đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, sáchlược linh hoạt, nghệ thuật ngoại giao tài giỏi của Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh với quân đội Tưởng ở miền Bắc (trước 6/3/1946) ; đồng thời kết quảnghiên cứu luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đếnsách lược ngoại giao của Đảng ta với quân đội Tưởng năm 1945-1946, phục vụ
giảng dạy cho bộ môn Đường lối cách mạng Việt Nam
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,khóa luận gồm 02 chương, 06 tiết
Chương I Hoàn cảnh lịch sử 1945 -1946 và âm mưu của quân đội TrungHoa Dân Quốc
1 Hoàn cảnh lịch sử 1945 -1946
1.1 Hoàn cảnh thế giới
1.2 Hoàn cảnh trong nước
2 Âm mưu của quân đội Trung Hoa Dân Quốc
Chương II Sách lược của Đảng và Hồ Chủ tịch đối với quân đội TrungHoa Dân quốc giai đoạn 1945-1946
1 Chủ trương của Đảng và Hồ Chủ tịch
2 Các biện pháp thi hành chủ trương của Đảng
2.1 Biểu dương lực lượng
2.2 Lợi dụng mâu thuẫn tránh xung đột
2.3 Nhân nhượng có nguyên tắc
3 Kết quả
4 Bài học kinh nghiệm
Trang 5Nước Mỹ sau chiến tranh, đặc biệt là sau khi tổng thống Truman lên cầmquyền (T4-1945), dựa vào vị trí là quốc gia mạnh nhất về kinh tế, tài chính,quân sự, độc quyền về vũ khí nguyên tử, chủ nợ chính của phần lớn các quốcgia Âu, Á, Mỹ Latinh trong thời chiến, mưu đồ làm bá chủ thế giới Để thựchiện mục tiêu chiến lược làm bá chủ thế giới của mình, hoạt động ngoại giaocủa Mỹ bắt đầu hướng vào chống Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới,chống những diễn biến tích cực của phong trào giải phóng thuộc địa nhằm thoátkhỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân,
Liên Xô sau chiến tranh, trở thành cường quốc hàng đầu Châu Âu Tuycòn thua kém Mỹ về tiềm lực kinh tế và vũ khí hạt nhân nhưng Liên Xô vẫnđóng một vai trò quyết định cùng Mỹ giải quyết những vấn đề lớn về hòa bình,
an ninh trong khu vực và trên thế giới
Tại thời điểm này, các nước lớn trong phe Đồng Minh cũng ra sức củng
cố lại hệ thống thuộc địa Anh và Pháp là hai cường quốc thắng trận nhưngtrong thế suy yếu, chính trị không ổn định nên cần phải nhanh chóng khôi phụclại nền kinh tế, ổn định chính trị và duy trì vai trò cường quốc sau chiến tranh
Trang 6Để làm được như vậy, Anh và Pháp phải bảo vệ được hệ thống thuộc địa và khuvực ảnh hưởng của mình.
Trong khi đó ở Châu Á và Châu Phi, phong trào đấu tranh chống chiếntranh xâm lược và sự thống trị, đô hộ của thực dân phương Tây trở nên vô cùngmạnh mẽ Các cuộc đấu tranh ở các nước diễn ra dưới nhiều hình thức khácnhau nhưng đều có chung một xu hướng là hướng tới lật độ ách thống trị bênngoài, giải phóng đất nước vốn và thuộc địa của đế quốc, thực dân phương Tây.Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước này dần lan sang Châu Âu
và lan rộng toàn thế giới
Như vậy, ta thấy được bối cảnh quốc tế trong những năm 1945 – 1946 cónhiều diễn biến phức tạp tác động sâu sắc và rộng lớn tới nhiều mối quan hệquốc tế và có tác động trực tiếp đến tình hình ở Việt Nam
1.2 Hoàn cảnh trong nước
Vào thời điểm đỉnh cao của cuộc chiến tranh thế giới, năm 1942, Chủtịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra thời cơ và tiên đoán thời điểm cách mạng nước tathành công “1945 – Việt Nam độc lập”[7;230] Người kêu gọi đồng bào cảnước: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt Các Đồng minh quốc sắp tranhđược sự thắng lợi cuối cùng Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong mộtnăm hoặc năm rưỡi nữa Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh!”[7;505,506].Cuộc Cách mạng tháng Tám nǎm 1945 do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minhlãnh đạo, dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 nǎm để gây dựngnên nước Việt Nam độc lập Dân, ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế
kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà
Thắng lợi đó đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam:
kỷ nguyên đất nước được độc lập, thống nhất, nhân dân lao động làm chủ xãhội và tạo ra những tiền đề cần thiết, từng bước đưa đất nước phát triển theocon đường xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng nước ta có những thuận lợi lớn Hệ thống chính quyền cáchmạng được xây dựng từ Trung ương tới cơ sở trên cả nước Từ hoạt động bí
Trang 7mật, Đảng ta đã trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền Đảng, Mặt trận ViệtMinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh có uy tín lớn trong dân tộc, chính quyền cáchmạng được toàn dân ủng hộ Phong trào cách mạng tinh thần yêu nước củanhân dân dấy lên từ cao trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tiếp tục pháttriển với những hình thức và nội dung mới nhằm xây dựng, bảo vệ chính quyền,giữ vững thành quả cách mạng.
Bên cạnh những thuận lợi, những ngày đầu đất nước thành lập, chínhquyền nhân dân phải đối mặt với nhiều thách thức lớn Đời sống kinh tế - xã hộiđang rối loạn, suy sụp sau chiến tranh Nền kinh tế nước ta vốn đã nghèo nàn,lạc hậu lại bị thực dân Pháp và phátxít Nhật vơ vét, bị chiến tranh và thiên taitàn phá nên lại càng nghèo hơn Nǎng suất lúa rất thất (12 tạ/ha) Nông dân laođộng chiếm hơn 95% số hộ nhưng chỉ được sử dụng không quá 40% ruộng đất.Nạn khan hiếm lương thực triền miên trong thời chiến đã đưa lại hậu quả trongnhững năm 1945, có hơn hai triệu người chết đói, hàng triệu người còn bị nạnđói đe dọa Trong phiên họp đầu tiên ngày 3-9-1945 của Chính phủ Việt NamDân chủ Cộng hòa, chống đói được nêu lên hàng đầu trong 6 nhiệm vụ cấpbách của Chính phủ. Hậu quả nạn đói cuối nǎm 1944 đầu nǎm 1945 chưa kịpkhắc phục, thì nạn lụt lớn lại xảy ra, tàn phá 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ 50%ruộng đất bỏ hoang Báo Sự thật ra ngày 13-4-1946 cho biết hồi đó có tất cảhơn 100 quãng đê bị vỡ, làm ngập 8 tỉnh Bắc Bộ: Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam,Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình Sau đó nạn hạn hánghê gớm làm sụt mất 1/3 số thu hoạch Lụt lội cũng làm mùa màng thất thu ởcác tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Báo Cứu Quốc số ra ngày 4 và 5 thángGiêng năm 1946 cho biết số thóc cho vụ mùa 1945 chỉ “đủ nuôi 8 triệu ngườitrong 3 tháng Đợi đến vụ chiêm 1946 dân sẽ bị đói 4 tháng Nghĩa là còn thiếu850.000 tấn thóc” Sau vụ chiêm 1946, có thóc mới, đời sống nhân dân bớt khókhăn, giá gạo hạ xuống Nhưng lúc này, bọn nhà buôn Pháp và quân đội Tưởngtung tiền ra vét gạo hòng gây khó khăn cho chính quyền nhân dân
Trang 8Về kinh tế, tài chính tình hình cũng vô cùng nguy ngập Trước đây nềnkinh tế Đông Dương chủ yếu do thực dân Pháp năm giữ: xi măng, than, xe lửa,điện, cao su… đều nằm trong tay Pháp Khi chính quyền nhân dân được thànhlập, trừ một số xí nghiệp thì phần lớn các xí nghiệp đều ngưng hoạt động Cácnhà công thương Việt Nam chỉ làm chủ những cơ sở nhỏ Công nghiệp chỉ cókhông quá 200 nhà máy nhỏ bé, trang bị cũ kỹ, đang lâm vào đình đốn Saucách mạng tháng Tám, sản xuất thiếu hụt hàng hóa khan hiếm, số người thấtnghiệp tăng, tình hình tài chính nguy ngập Hệ thống ngân hàng Đông Dươngvẫn trong tay tư bản Pháp Khi Chính phủ Lâm thời thành lập, ngân sách ĐôngDương hụt tới 185 triệu đồng và nợ tới 564 triệu đồng, ngân khố trung ương chỉcòn 1.230.720 đồng trong đó 586.000 đồng là hào nát không dùng được Đồngbạc Đông Dương mất giá.Trong khi đó, quân Tưởng cho lưu hành đồng tiềnmất giá của Trung Quốc, tự ý quy định tỷ giá tiền quan kim và tiền ĐôngDương, làm lũng đoạn thị trường ở miền Bắc Ngân hàng Đông Dương tuyên
bố không tiêu giấy bạc 500 đồng, không chịu ứng tiền cho Chính phủ nhân dânnhằm gây khó khăn ta
Cùng với giặc đói đe dọa là nạn giặc dốt do chính sách ngu dân của thựcdân Pháp làm cho hơn 90% dân ta mù chữ. Hầu hết số người được đi học chỉ ởbậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới có một học sinh cao đẳng hoặc đạihọc và chủ yếu học ở ngành luật và ngành thuốc.
Suốt thời kỳ 1930-1945, số công chức có trình độ cao đẳng và đại học chỉgồm vài trǎm người Thực tế đó làm cho việc tổ chức, hoạt động của chínhquyền mới gặp không ít khó khǎn, lúng túng
Một thách thức nữa mà nước ta gặp phải - đó là cùng một lúc phải đốiphó với nhiều thế lực quân sự đối địch của các nước lớn đang có mặt tại nước
ta Ở phía Bắc, gần 20vạn quân Tưởng vào Việt Nam với danh nghĩa giải giápquân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra, mang theo các nhóm người Việt sống lưuvong ở Trung Quốc Những nhóm người Việt này thuộc các tổ chức Việt Cách,Việt Quốc do chính quyền Tưởng thu nạp và nuôi dưỡng từ lâu Phía Nam Việt
Trang 9Nam lúc này cũng có khoảng 26 nghìn quân Anh - Ấn vào giải giáp quân độiNhật.
Tháng 10/1945, Anh đã ký với Pháp hiệp định chính thức công nhậnquyền dân sự của Pháp tại Đông Dương Ngày 1/1/1946, Anh ký hiệp định traoquyền cho Pháp giải giáp quân đội Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16 Đổi lại, Phápnhân nhượng cho Anh một số quyền lợi ở Xyri và Libăng Thêm vào đó, trongkhoảng thời gian Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, Pháp có khoảng 50 nghìnlính gồm tù binh đang bị Nhật giam giữ và tân binh nằm rải rác ở các miền phụcận Đông Dương Sau chiến tranh, 1500 lính Pháp bị Nhật giam giữ ở miềnNam Việt Nam trong cuộc đảo chính ngày 9/3/1945 được thả và vũ trang trởlại Quân viễn chinh mới của Pháp (CEFEO) được gấp rút đưa trở lại ĐôngDương Ngày 23/9/1945, nấp sau quân Anh, người Pháp trở lại Việt Nam, bắtđầu đánh chiếm Sài Gòn rồi từ đó mở rộng chiếm đóng ra Nam Kỳ và NamTrung Kỳ Ngoài ra, còn khoảng 60 nghìn quân Nhật ở Việt Nam chờ giải giáplúc này
Như vậy, bốn thế lực quân sự lớn đang chiếm đóng nước ta (là Nhật,Anh, Pháp và lực lượng Tưởng Giới Thạch) và bốn trong năm nước lớn làthành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đang dính líu vàoviệc giải giáp cho Đông Dương với mục tiêu duy nhất là tìm cách xóa chínhquyền cách mạng, lập lại trật tự của thực dân phương Tây tại đây Nhìn tổng thể
về kinh tế, tài chính, quân sự, tương quan lực lượng giữa ta và các thế lực thùđịch từ bên ngoài vào có sự chênh lệch rất lớn Đất nước ta lại rơi vào tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc”
Lúc này, chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cùngThường vụ Trung ương Đảng đã sớm thấy khả năng dùng ngoại giao như vũ khísắc bén tham gia năng động vào quá trình tự bảo vệ thành quả cách mạng, chia
rẽ, cô lập kẻ thù Ngoại giao Việt Nam từ những ngày đầu đã chủ động phát huythế tiến công chống lại âm mưu, cạm bẫy của kẻ thù, thực thi những nhiệm vụ
to lớn tưởng chừng như khó có thể thực hiện được
Trang 102 Âm mưu quân đội Tưởng Giới Thạch và bè lũ tay sai.
Chúng ta biết rằng quân đội Tưởng đã kéo vào miền Bắc Việt Nam vớidanh nghĩa thay mặt Đồng minh tước khí giới của quân đội Nhật Bản Vào cuốitháng Tám 1945, chúng kéo vào nước ta theo hai ngả: một ngả từ Lào Caixuống Hà Nội, một ngả từ Lạng Sơn, Cao Bằng xuống Hà Nội, rồi phân chiachiếm đóng từ vĩ tuyến 16(Đà Nẵng) trở ra Tất cả là 20 vạn quân do tướng LưHán làm chỉ huy
Việc hàng chục vạn quân đội Tưởng kéo vào Việt Nam là gánh nặng cực
kì to lớn với kinh tế- tài chính cho nhân dân ta, nhất là trong lúc nhân dân miềnBắc phải đối mặt với nạn đói Hàng đống giấy lộn “quan kim” và “quốc tệ” doquân Tưởng đưa vào làm lũng đoạn thị trường khiến giá cả tăng vọt Trongnhiều trường hợp quân đội Tưởng cũng công khai tiến hành việc cướp bóc nhândân ta
Nhưng điều nguy hiểm nhất là chúng mang theo quân đội và bè lũ tay saivào Việt Nam theo kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” được tướng Trương PhátKhê – Tư lệnh đệ tứ khu, chuẩn bị từ đầu những năm 40 với sự hậu thuẫn mạnh
mẽ của Mỹ nhằm dựng lên một chính phủ thân Trùng Khánh Lư Hán đến HàNội với âm mưu “diệt cộng, cầm Hồ” lật đổ chính quyền nhân dân, đặt mộtchính quyền bù nhìn lên thay thế Như vậy, Trùng Khánh trong lúc phải đối phóvới Cộng sản trong nước, không muốn phải đối phó với cộng sản ở giáp biêngiới phía Nam Trung Quốc Chúng coi Việt Nam như một nước cờ, mưu toanlợi dụng việc chiếm đóng Bắc Đông Dương để ép Pháp nhượng cho chúng càngnhiều quyền lợi về kinh tế, chính trị, đẩy Pháp đối phó với cách mạng Việt Nambằng cách đứng “trung lập” trong cuộc xung đột này Cùng với sự hậu thuẫncủa Mỹ, Tưởng hi vọng từng bước thực hiện mục tiêu của mình
Bọn tay sai của Tưởng Giới Thạch được tổ chức thành hai chính đảng:Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội(Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam(tênnày trước đây đã có xu hương thân Nhật) cầm đầu Bọn này được nuôi dưỡng từ
Trang 11trước tại Trung Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng do Lư Hán và Long Vân nuôidưỡng tại Vân Nam, còn Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội do Trương PhátKhê nuôi dưỡng ở Quảng Đông từ năm 1942-1943) Những tên phản cách mạng
ở hai tổ chức này tuy có thành phần khác nhau, hoặc là những tên lưu manh côn
đồ, hoặc là những chính khách cơ hội chủ nghĩa, hoặc là những kẻ đào ngũ củacác tổ chức chống Pháp trước kia nhưng bọn chúng đều giống nhau ở một điểm:xây dựng quyền thống trị trên lưng nhân dân ta bằng cách bán mình cho bọnxâm lược nước ngoài Chúng tự xưng là những đảng phái “ yêu nước”, “cáchmạng” nhưng hoàn toàn không có một chút uy tín nào với nhân dân
Quân đội Tưởng Giới Thạch tích cực thực hiện những âm mưu nhamhiểm của chúng
Ngay khi vừa kéo vào Lạng Sơn, quân Tưởng đã dùng sức mạnh, tước vũkhí của một số Giải phóng quân của ta Chính phủ Việt Nam ta đã lập tức khángnghị về việc ấy và yêu cầu quân đội Tưởng phải tôn trọng nền độc lập của nướcViệt Nam và không được xâm phạm đến chính quyền nhân dân Việt Nam.Thếnhưng sau đó ở một số thị trấn thuộc Bắc Bộ (Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, VĩnhYên, Bắc Ninh, Quảng Yên,…), chúng vẫn giải giáp các lực lượng vũ trang,cho bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách lập chính quyền phản cách mạng, chốnglại sự lãnh đạo của Chính phủ trung ương, khống chế quần chúng một cáchnghiêm ngặt Nơi đó được bọn phản cách mạng coi là “chiến khu” của chúng.Ngoài ra, quân đội Tưởng còn ra sức giúp cho bọn phản cách mạng nắm giữchính quyền Trung ương Nhưng đứng trước sức mạnh của nhân dân Việt Nam
và sự tín nhiệm rất cao giành cho Đảng, cho Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhândân, quân Tưởng thấy rằng không thể lật đổ Chính phủ ta ngay lập tức được,cho nên đã dùng thủ đoạn mưu toan lấn dần
Chúng bàn mưu mô ép ta lập chính quyền ba phái có Việt Quốc, ViệtCách tham gia Chúng trực tiếp đề ra yêu sách đòi thay đổi thành phần củachính phủ ta, thậm chí có lần chúng đòi Hồ Chủ Tịch phải từ chức để đưa BảoĐại lên làm Tổng thống Ngày 7 tháng 10 năm 1945, Hà Ứng Khâm Tổng tham
Trang 12mưu trưởng của Tưởng Giới Thạch đã qua Hà Nội cùng với tên tướng Mỹ MacLure, nhằm mục đích xúc tiến kế hoạch xâm lược Việt Nam Một mặt hắn tuyên
bố “Trung Quốc không có ý muốn xâm chiếm Việt Nam”, nhưng mặt khác lạinói một cách mật mờ rằng “Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam thực hiện quyền độclập dần dần, theo chương trình của các cường quốc” Nghĩa là chúng muốn thựchiện kế hoạch của Mỹ trước kia, kế hoạch thiết lập chế độ ủy trị quốc tế ở ViệtNam, mà thực tế đó là sự thống trị của đế quốc Mỹ
Bên cạnh hành động của quân đội Tưởng, bè lũ tay sai Việt Quốc, ViệtCách dưới mệnh lệnh của chúng đã tiến hành các hoạt động phá hoại: quấy rối,khiêu khích, ám sát, bắt cóc, tống tiền, làm cho đời sống nhân dân hỗn loạn.Chúng biết rõ chính phủ nước ta đang được đông đảo quần chúng nhân dân tínnhiệm và ủng hộ, nên chúng muốn làm yếu Chính phủ ta bằng cách chia rẽnhân dân Chúng thành lập ra một mặt trận phản cách mạng- dưới cái tên lừabịp “Mặt trận quốc gia chống Pháp”, bao gồm những tay sai cũ của Pháp, Nhật
và bọn địa chủ, tư sản phản động… Chúng ra hàng loạt báo phản cách mạnglàm công cụ chia rẽ nhân dân và nói xấu Đảng, Chính phủ ta như: “Việt Nam”,
“Tự Do”, “Thiết Thực”, “Đồng Tâm”, “Liên Hiệp”, “Phục Quốc”,… Chúng lợidụng những khó khăn của Chính phủ để khoét sâu thêm những bất mãn của một
số tầng lớp địa chủ tư sản Chúng xúi giục “ Tổng hội sinh viên” không thamgia vào Việt minh và mưu toan năm lấy tổ chức này Giữa lúc nhân dân ta đangtập trung ngọn lửa tinh thần chống Pháp, thì chúng gieo rắc những tin tức thấtbại hòng làm hoang mang dân chúng Quân Tưởng sử dụng những tài liệu củanhững tên đào ngũ từ chiến trường miền Nam về để chửi bới cuộc kháng chiếnanh dũng của nhân dân ta, mạt sat chính phủ chúng bảo vệ những tên Việt gianphản cách mạng với luận điệu “không bao giờ nên bắn vào người Việt Nam”
Nhưng tất cả âm mưu ấy không lừa dối được nhân dân ta mà càng làmcho sự căm phẫn của nhân dân với bọn cướp nước ngày càng sâu sắc Trướctình hình ấy, Tưởng chấp nhân lui bước, nhưng sự phản động của chúng vẫnnguyên vẹn bằng chứng là ngay sau khi kí tên vào bản “Tinh thần đoàn
Trang 13kết”(24/11/1945) với Việt minh, chúng vẫn ra sức công kích Chính phủ ta.Chúng bắt cóc các nhân viên của Chính phủ (đồng chí Trần Đình Long và dựkiến bắt cóc thêm các đồng chí lãnh đạo khác) Bọn chúng đòi tham gia vào 7
bộ trong chính phủ, đưa ra danh sách những tên với thành tích rất nhơ nhuốc đểtham gia vào Chính phủ Tại các vùng chiếm đóng, Quân Tưởng duy trì sựthống trị đen tối và lập nên một tổ chức mới với tên là “Đại Việt quốc gia Liênminh” để không phải phục tùng hiệp ước đoàn kết Chúng đả kích không tiếclời chế độ ủy ban nhân dân, cho rằng chế độ cường hào quan lại cũ còn tốt hơnchế độ này
Ngày 23/12/1945, dưới áp lực của quần chúng, Việt Quốc và Việt Cách
đã phải cùng Việt minh ký kết bản “Biện pháp đoàn kết”, quy định thành lậpChính phủ liên hiệp trước khi Quốc họi họp bầu ra Chính phủ chính thức Nhândịp Chính phủ liê hiệp ra mắt quốc dân, báo “ Việt Nam” - cơ quan ngôn luậncủa Việt Nam quốc dân Đảng đã có một số đặc biệt và hô hào “ dân chúng dến
dự thực đông để tôn phần long trọng cho cuộc lễ” Nhưng lập tức sau đó, chúnggiở trò phá hoại đòi thành lập ngay “ Chính phủ liên hiệp quốc gia chính thức”mặc dù chưa triệu tập được Quốc hội
Như vậy, là suốt từ ngày thành lập chính quyền nhân dân cho đến cuối
năm 1945, quân đội Tưởng Giới Thạch và bè lũ tay sai của chúng, nhất là ViệtNam quốc dân Đảng, đã dốc toàn lực phá họa cách mạng Việt Nam và nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa Sự phá hoại ấy đã đặt chính quyền nhân dân tatrước một thách thức vô cùng lớn bên cạnh nguy cơ xâm lược của thực dânPháp ở miền Nam và nạn đói, nạn lụt ở miền Bắc Trong tình thế nhân dân ta,đất nước ta đứng trước một lúc nhiều khó khăn như vậy, chúng ta phải đối phóvới âm mưu và những hành động phá hoại của quân Tưởng như thế nào để cóthể giữ vững chính quyền cách mạng, bảo vệ thành quả của cách mạng thángTám? Đây là một vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết khôn khéo vàđúng đắn để bảo vệ chính quyền ta đang ở trong tình trạng mong manh
Trang 14II Sách lược của Đảng và Hồ Chủ tịch đối với quân đội Trung Hoa Dân quốc giai đoạn 1945-1946.
1.Chủ trương của Đảng và Hồ Chủ tịch.
Trong những ngày đầu của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, lúc mànhân dân ta đứng trước rất nhiều kẻ thù, thì vấn đề chỉ đạo sách lược có một ýnghĩa quyết định đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam
Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc"
với hai nhiêm vụ cơ bản là kháng chiến ở miền Nam, kiến quốc, xây dựng thựclực mọi mặt ở miền Bắc.Về chỉ đạo chiến lược, bản chỉ thị xác định nhiệm vụchiến lược của cách mạng lúc này "vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng
Vì trên thực tế, cuộc cách mạng đó vẫn đang tiếp diễn, nước ta chưa hoàn toànđộc lập Chính quyền cách mạng cùng toàn dân phải "kiên quyết hoàn thànhnhiệm vụ thiêng liêng ấy Khẩu hiệu của cách mạng vẫn là "Dân tộc trên hết",
"Tổ quốc trên hết" Xem xét âm mưu của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạngViệt Nam và Đông Dương cũng như những hành động xâm lược của thực dânPháp ở Nam Bộ cho thấy, việc Đảng ta xác định nhiệm vụ chiến lược trên đây
là đúngđắn. Trong nhiệm vụ kiến quốc có 5 nội dung chủ yếu: xây dựng thể chếnhà nước; khôi phục và phát triển sản xuất; từng bước xóa nạn thất học; đấutranh ngoại giao gữi gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh; xây dựng thựclực quân sự, thì đấu tranh ngoại giao chống quân Tưởng, sau là quân Pháp, ởmiền Bắc Việt Nam là một điểm sáng trong sách lược ngoại giao của Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh
Trong chỉ thị “ Kháng chiến, kiến quốc” Đảng ta đã nhận định: thực dân
Pháp là kẻ thù nguy hiểm hơn, là kẻ thù chính, cần phải tập trung mũi nhọn vào chúng Đảng ta chủ chương: “ phải đặt riêng bọn thực dân Pháp xâm lược ra mà
đánh, đừng bỏ cả Pháp, Anh, Ấn (lính Ấn Độ trong hàng ngũ quân Anh) vàomột bị mà đánh và đừng coi họ là kẻ thù ngang nhau, đừng công kích nướcPháp, chỉ công kích bọn thực dân Pháp”[8;24] Xác định thực dân Pháp là kẻthù chính, bởi vì chúng đã và đang trắng trợn vũ trang xâm lược nước ta ở Nam
Trang 15Bộ Thực dân Pháp rắp tâm đặt lại ách thống trị của chúng ở Đông Dương Âmmưu đó được thể hiện trong Tuyên ngôn của chính phủ Đờ Gôn ngày 24-3-
1945 Nhận rõ âm mưu của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai,Đảng ta cho rằng, các thế lực đế quốc sẽ đi đến dàn xếp với nhau để cho thựcdân Pháp trở lại Đông Dương Trước sau chính quyền Tưởng Giới Thạch cũng
"sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhượng choTưởng nhiều quyền lợi quan trọng" Như vậy, việc tập trung chống thực dânPháp lúc này là hoàn toàn đúng Để tập trung đối phó với thực dân Pháp, cầnphải hoà hoãn, nhân nhượng với Tưởng Bởi lẽ chúng chưa thể trắng trợn gâychiến tranh xâm lược nước ta được Như vậy, tránh được tình thế khó khǎn bấtlợi là phải đối đầu với cả quân Pháp và quân Tưởng cùng một lúc.Nhưng nhưvậy cũng không có nghĩa là coi nhẹ nguy cơ uy hiếp của quân đội Tưởng GiớiThạch và tay sai của chúng Đối với quân Tưởng, chúng ta đã nhận rõ chântướng của chúng Một mặt, chúng ta nhận thấy rõ tính chất xâm lược của quânTưởng Giới Thạch và những mục đích hung ác của chúng Mặt khác, Chính phủ
ta cũng nhìn thấy những mặt yếu của chúng và đoán biết trước sự thỏa hiệp củaTưởng với Pháp sau này Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ quân Tưởngvào nước ta với ý đô lật đổ Chính phủ ta, lập nên chính quyền tay sai của chúngnhưng lại dưới danh nghĩa quân Đồng minh làm nhiệm vụ tước vũ khí quânNhật, nên ngay từ những ngày đầu Tưởng vào nước ta, Đảng ta đề ra chính sách
"Hoa - Việt thân thiện", có những nhân nhượng nhất định, chính là chủ độngngǎn chặn và làm thất bại âm mưu lật đổ của chúng, tỏ rõ thiện chí của Nhànước Việt Nam dân chủ cộng hoà là sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ quân Đồng minhtrong việc giải giáp quân Nhật, không để họ kiếm cớ lật đổ chính quyền của ta.Đây là sự nhìn nhận và xử trí cực kỳ tinh tế sáng suốt, tránh được sự đối đầu cóthể dẫn tới đổ vỡ Khi quyết định sách lược hoà hoãn với Tưởng, Đảng ta cũngnhận rõ những mâu thuẫn, khó khǎn trong nội bộ quân Tưởng Chính quyềnTưởng tuy có Mỹ giúp sức, song đang phải đối phó với sự phát triển của cáchmạng Trung Quốc do Đảng cộng sản lãnh đạo và nước Trung Hoa đang đứng
Trang 16trước một cuộc nội chiến mới Chính quyền Tưởng tuy tham vọng thì lớn,nhưng thực lực có hạn, đội quân Tưởng kéo sang Việt Nam tuy đông nhưng ôhợp, tổ chức kém và hậu cần khó khǎn, nên chúng không thể muốn gì là làmđược, không thể không trông mong vào những khả nǎng hậu cần tại chỗ Do đó,chúng không thể không giao thiệp và dựa vào chính quyền của ta đã được xáclập, để có thể giải quyết những nhu cầu cấp thiết Sức mạnh của cách mạngnước ta, là đã không chỉ tự lực giành chính quyền, mà còn đang tự bảo vệ cóhiệu quả thành quả cách mạng của mình, đã làm cho chính quyền Tưởng cũngphải từng bước điều chỉnh chính sách của họ.
Do nhận định như vậy, chúng ta đã đề ra một sách lược rất đúng đắn:kiên quyết giữ vững chủ quyền của ta nhưng rất mềm dẻo trong việc đối phóvới quân đội Tưởng Giới Thạch Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về phương châmđối phó với bọn Tưởng Giới Thạch “Chính sách của chúng ta hiện nay phải làchính sách Câu Tiễn Nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục”[9;78].Chúng ta có thể tạm thời nhân nhượng với chúng, tạm thời hòa hoãn với chúng
để làm giảm bớt những khó khăn do chúng gây nên và để tập trung ngọn lửađấu tranh vào thực dân Pháp Để thực hiện sách lược ấy, Đảng ta đã phải giảiquyết hàng loạt các vấn đề chưa từng được đặt ra, theo tinh thần kết hợp tínhnguyên tắc cao độ với sự vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác- Lê nin vào hoàncảnh nước ta Hồ Chủ Tịch đã nói về vấn đề đó rằng:
“ Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách
để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và
để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cốMặt trận dân tộc thống nhất”.[10;385]
“ Lúc đó Đảng không thể do dự, do dự là hỏng hết Đảng phải quyết đoánmau chóng, phải dùng những phương pháp – dù là những phương pháp đau đớn
- để cứu vãn tình thế.” [10; 385]
Đảng và Chính phủ luôn đứng vững trên cương vị người cầm quyền củamột nước đã giành được nền độc lập Sách lược của ta đối với quân đội Tưởng
Trang 17là tránh xung đột với chúng, nhấn mạnh trách nhiệm của quân đội Tưởng GiớiThạch là giải giáp quân đội Nhật để ngăn ngừa những hành động xâm lược củachúng, ít nhất cũng làm cho chúng bớt hung hăng trong việc can thiệp vào nộitrị của nước ta Đồng thời khi chúng xâm phạm vào chủ quyền của nước ta,chúng ta cũng sẵn sàng đối phó với chúng “ huy động toàn bộ lực lượng quầnchúng biểu tình” phản đối chúng Như vậy, trong thực tế sách lược của ta làtrung lập với quân đội Tưởng Giới Thạch.
Còn đối với tay sai của chúng là Việt nam quốc dân Đảng và Việt NamCách mệnh đồng minh, thì sách lược của ta là cô lập chúng trước quần chúngnhân dân làm cho quần chúng nhân dân thấy rõ bộ mặt phản cách mạng củachúng, kiên quyết ngăn chặn và đánh lùi những hành động phản quốc củachúng, dùng lực lượng quần chúng làm áp lực cho chính quyền kiên quyết trấn
áp bọn phản cách mạng có đầy đủ bằng chứng và tiến tới tiêu diệt chúng Đồngthời, trong điều kiện chúng vẫn còn chỗ dựa mạnh là quân đội Tưởng GiớiThạch, chúng ta dùng lối bài trừ dần dần, và có thể nhân nhượng với chúng trênnguyên tắc giữ vững chính quyền nhân dân và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảngđối với cách mạng, đối với chính quyền Mục đích của những chính sách này làlợi dụng lực lượng của Tưởng có mặt ở Việt Nam như một lực lượng đối trọngvới lực lượng của thực dân Pháp, kiềm chế chủ trương của chính phủ Paris sớmkhôi phục kiểm soát ở Đông Dương; có thời gian ổn định tình hình trong nước
và rảnh tay đối phó với Pháp
2 Các biện pháp thi hành chủ trương của Đảng
2.1.Biểu dương lực lượng
Đảng ta thực hiện biểu dương lực lượng chính trị lớn mạnh của quầnchúng nhân dân ủng hộ cách mạng để hậu thuẫn cho hoạt động ngoại giao Điểnhình là cuộc diễu hành của 30 vạn nhân dân thủ đô Hà Nội trong buổi chào đón
Hà ứng Khâm, Tổng tư lệnh quân đội Tưởng và phái bộ đồng minh đến Hà Nộingày 2/10/1945 Cuộc diễu hành về danh nghĩa để hoan nghênh phái bộ Đồngminh nhưng thực chất là để biểu dương lực lượng của nhân dân ủng hộ chính
Trang 18quyền cách mạng và Hồ Chủ tịch Việc biểu dương lực lượng là cần thiết và có
ý nghĩa vô cùng quan trọng khi nước ta đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi
tóc” bởi: Thứ nhất, nó biểu thị ý chí và sức mạnh của nhân dân ta đoàn kết xung
quanh chính phủ Hồ Chí Minh, điều này chứng tỏ rằng chính phủ Việt Nam dânchủ cộng hòa đã và đang được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân
Đó là điều không dễ gì có được cũng như không dễ gì thay đổi Thứ hai, hành
động đó đồng thời thể hiện thiện chí, sự hoan nghênh và mong muốn hoà vớiquân Tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam dân chủ cộng hòa Trongbối cảnh đất nước tiêu điều, gian truân về mọi mặt, đặc biệt là quân sự và kinh
tế thì việc biểu dương lực lượng lúc này là nhằm che lấp bớt đi những khó khăntrước mắt Biểu dương lực lượng là một hành động ngoại giao hết sức khéo léo
và tinh tế của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Âm mưu và mục đích của củaTưởng là “diệt Cộng cầm Hồ”, lật đổ chính quyền Việt Minh và tổ chức ra mộtchính quyền bù nhìn lên thay thế Nhưng khi sang Việt Nam, chúng thấy khắpcác con phố, làng xã đều được treo cờ đỏ sao vàng, thấy rõ nhân dân ta đoàn kếtmột lòng ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh, Tưởng nhận ra rằng việc đánh đổchính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thay bằng chính phủ bù nhìn do chúnglập nên là không thể tực hiện được ngay mà cần phải có thời gian
Một điều quan trọng hơn hết lúc này là, chúng ta không thể và cũng không
đủ khả năng đấu tranh vũ trang trực tiếp với Tưởng, vì vậy hành động biểudương lực lượng thể hiện sự tán dương quân Tưởng có mặt tại Việt Nam là mộthành động hết sức thông minh của chủ tịch Hồ Chí Minh và Chinh phủ lâm thờitrong việc đánh giá tình hình hiện thời cũng như thực lực của ta lúc bấy giờ
Qua hành động này ta thấy được nghệ thuật ngoại giao “trong nhu cócương”, đã làm thất bại tạm thời âm mưu “ diệt Cộng, cầm Hồ” của Tưởngbuộc chúng, buộc chúng phải thay đổi chính sách với nước ta
2.2.Lợi dụng mâu thuẫn tránh xung đột
Trong các tuyên bố công khai của Chính phủ Việt Nam về quan hệ Việt –Hoa, cũng như các thư từ và điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Tưởng
Trang 19Giới Thạch, ta luôn khẳng định tình hữu nghị, quan hệ gắn bó lâu năm giữa hainước Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường có những cuộc thăm hỏi các tướnglĩnh của Tưởng ở Việt Nam như Lư Hán, Tiêu Văn một mặt là để đặt quan hệngoại giao thân thiết, mặt khác là để tìm hiểu các tướng lĩnh, lợi dụng mặt hámlời vật chất để hạn chế sự chống phá; tìm hiểu những mâu thuẫn nội bộ củachúng và các mâu thuẫn với bên ngoài Từ đó, lợi dụng những mâu thuẫn đểthực hiện những việc có ích cho ta Bác Hồ thường nhắc nhở “nội bộ nó không
ổn định ta có thể lợi dụng”.Ta nhận ra rằng các tướng lĩnh của Trung Quốc vàoViệt Nam giống nhau ở chỗ đề chống cộng nhưng thuộc nhiều phe cánh khácnhau: Phái Vân Nam, phái Lưỡng Quảng, phái Trung ương, lại mâu thuẫn vớinhau về quyền lợi và ta có thể khai thác những mâu thuẫn đó
Đối với tướng Lư Hán của Tưởng – thuộc tập đoàn Vân Nam của LongVân, Bác đã triệt để khai thác mâu thuẫn giữa Lư Hán và chính quyền trungương thông qua vụ việc Tưởng Giới Thạch cử Lư Hán đi Việt Nam là dùng kế “điệu hổ ly sơn” để bắt Long Vân Sau khi cử Lư Hán đi được vài tuần thì TưởngGiới Thạch đã lừa bắt úp Long Vân, và hứa hẹn cho Lư Hán làm tỉnh trưởngVân Nam, xong Trùng Khánh lại điều hai trung đoàn của Lư Hán về trước, vàthay bằng quân của trung ương, qua đó có thể thấy nội bộ quân Tưởng bất ổn
Lư Hán và chính quyền trung ương có những bất đồng nhất định và Lư Hán làngười thường có thái độ thành kiến với Pháp ở Đông Dương Bởi vậy, ngay từkhi tên này đến Hà Nội, Hồ chủ tịch đã trao đổi với Lư Hán về tình hình ViệtNam, giới thiệu chủ trường “Hoa – Việt thân thiện”, phê phán các hành độngxâm lược của Pháp Qua những lần trao đổi như vậy, Lư Hán rất ngạc nhiên vàkhâm phục sự hiểu biết sâu rộng của chủ tịch Hồ Chí Minh Lư Hán đã thể hiện
sự tôn trọng và thiện cảm với Bác khi y gọi Bác là “Hồ Chủ Tịch”, lời gọi ấykhông chỉ chứng minh cho sự tôn trọng của Lư Hán đối với Bác mà còn với cả
bộ máy chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa Lư Hán cũng có nhữnghành động độc lập với chính phủ Trung Ương như: không công nhận A-lếch-xăng-đri là đại diện cho Đờ Gôn ở miền Bắc Việt Nam, không cho phép Pháp