ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG ** ** CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM 2020 – 2021 BẢN BÁO CÁO ĐỀ TÀI NHU CẦU VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC ĐÀ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
Sinh viên thực hiện Chủ nhiệm : TRẦN THỊ BÍCH NHI (18CTLC) Thành viên : PHAN VÕ MINH LƯƠNG (19CTLC) Giảng viên hướng dẫn : TS HOÀNG THẾ HẢI
Đà Nẵng 05/2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ,giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều thầy cô, bạn bè Nghiên cứu khoahọc cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quảnghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đạihọc, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị…Đặc biệt hơn nữa là sự hợp tác của cán
bộ giáo viên các trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng và sự giúp đỡ, tạo điềukiện về tinh thần từ phía gia đình, bạn bè
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Hoàng Thế Hải – người trực tiếphướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn em trong suốtquá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Tâm lý –Giáo dục và các thầy cô công tác trong trường đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏinhững thiếu sót Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâmđến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ
để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2021 Đại diện sinh viên thực
hiện
Trần Thị Bích Nhi
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu 9
3.2 Khách thể nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4.1 Nghiên cứu lý luận 9
4.2 Nghiên cứu thực tiễn 9
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Giả thuyết khoa học 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
8 Cấu trúc của đề tài 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nhu cầu về việc làm thêm của sinh viên 11
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở ngoài nước 11
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong nước 11
1.2 Cơ sở lý luận về nhu cầu việc làm thêm của sinh viên 15
1.2.1 Nhu cầu 15
1.2.2 Việc làm thêm 22
1.2.3 Sinh viên 23
1.2.4 Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên 25
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Tổ chức nghiên cứu 32
2.1.1 Vài nét về trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 32
2.1.2 Giới thiệu về khách thể nghiên cứu 33
Trang 42.1.3 Tổ chức nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 37
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi 37
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn 39
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 40
2.2.5 Phương pháp thống kê toán học 40
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUNG VỀ NHU CẦU VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 42
3.1 Kết quả nghiên cứu về nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 42
3.1.1 Thực trạng về lý do và tầm quan trọng của nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 42
3.1.2 Thực trạng mong muốn về thời gian, hình thức, nội dung việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 45
3.1.3 Thực trạng mong muốn về điều kiện làm việc của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 51
3.1.3 Thực trạng về những dự định khi có việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 55
3.2 Thực trạng mức độ các yếu tố ảnh hưởng của nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 58
3.3 Thực trạng cách thức tổ chức của các hoạt động hỗ trợ của Nhà trường / Phòng công tác sinh viên / Khoa mang lại cho sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 62
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT 64
1 Kết luận 64
2 Kiến nghị 66
2.1 Đối với doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động 66
2.2 Đối với Nhà trường 66
2.3 Đối với sinh viên 67
Phụ lục 70
Trang 5Phụ lục 1: Phiếu trưng cầu ý kiến 70 Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn 78
Trang 6đi làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng 62
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thực trạng về mức độ lý do mong muốn đi làm thêm của sinh viên Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng (N=250) 42 Biểu đồ 3.2 Thực trạng về mức độ lý do không mong muốn đi làm thêm của sinh viên Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng (N=250) 43
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xã hội đang thay đổi từng ngày với tốc độ chóngmặt Dưới tác động từ nhiều luồng tư tưởng khác nhau làm cho sự thay đổi ngày càngphong phú, đa dạng hơn Tuy thế, dưới tác động của xã hội hiện nay, sinh viên đượccho là nguồn lao động tri thức cao, được trang bị những “vũ khí” tối tân và cải tiến củanhiều thập kỉ qua hình thành Sinh viên ngày càng năng động, tự tin bước ra “sàn đấu”quốc tế, cùng nhau hội tụ, nâng cấp và cải biên nhau thành những phiên bản hiện đại,giá trị hơn Ngày nay, tính về mặt số lượng, sinh viên chiếm một phần không hề nhỏ vàngày càng gia tăng Khi tính về mặt chất lượng thì sinh viên Việt Nam vẫn còn thiếurất nhiều “điểm” tích lũy cho mình Trong một xã hội thu nhỏ (trường đại học) cũng đủkhiến cho sinh viên trăn trở với nhiều áp lực Vậy, khi bước ra ngoài xã hội ngoài kia,sinh viên hẳn phải rất chật vật khi không biết mình phải bắt đầu làm những gì, làm nhưthế nào cho chính xác, cho có công việc… Chính vì thế, sinh viên phải vừa học vừalàm thêm Đây là một hình ảnh gắn liền trong cuộc sống sinh viên Trong quá trình tíchlũy kinh nghiệm cho mình, việc làm thêm còn giúp cho sinh viên có thêm khoản thunhập để trang trải việc học tập, còn giúp sinh viên có kinh nghiệm cọ xát thực tế, tạoquan hệ, chứng tỏ được khả năng và bản lĩnh của mình trước doanh nghiệp Đa sốnhững kiến thức được học trong bốn năm đại học đều là lý thuyết, ít thực hành nên
“kinh nghiệm” đối với sinh viên ra trường rất quan trọng Sinh viên không nhữngnhững nhận được kinh nghiệm trong công việc còn có những kinh nghiệm trong cuộcsống như: kinh nghiệm ứng xử, giao tiếp, quan hệ đồng nghiệp, giữa sếp với nhân viên.Khi lựa chọn những công việc làm thêm để có kinh nghiệm, sinh viên cũng thườngquan tâm, chú ý đến những công việc liên quan đến ngành học để có nơi thực hànhnhững cái đang học Thế nhưng hiện nay là năng lực tự tìm việc làm của đa số sinhviên còn hạn chế, ít sử dụng kênh thông tin qua báo chí, Internet Ngoài ra sinh viêncũng nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức Đoàn, Hội, các trung tâm hỗ trợ sinh viên của
trường hoạt động nhưng ít hiệu quả về mảng này Vì vậy đề tài “Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng” là thật sự cần thiết
Trang 9nhằm đưa ra các khuyến nghị giúp các sinh viên tìm được việc làm thêm phù hợp vớikhả năng và ngành học của mình Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả chưa thấymột đề tài cụ thể nào nghiên cứu về nhu cầu việc làm thêm ở sinh viên mà hầu hết các
đề tài nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm thêm ở sinh viên.Vậy nên, chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực trạng nhu cầu đi làm thêm của sinh viên TrườngĐại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng, từ đó đề xuất một số biện pháp để đáp ứng nhucầu việc làm thêm của sinh viên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Sinh viên ở trường Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận
- Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu của vấn đề, xác định cơ sở lý luận của đề tài: nhucầu, nhu cầu việc làm thêm; đặc điểm, phân loại; biểu hiện; sự phát triển nhu cầu, việclàm thêm, sinh viên, đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên
4.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát thực trạng nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học SưPhạm – Đại học Đà Nẵng
- Các yếu tố ảnh hưởng của nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đạihọc Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Trang 10- Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu nhu cầu của sinh viên Trường Đại học SưPhạm – Đại học Đà Nẵng về việc làm thêm
Phạm vi về địa bàn nghiên cứu
- Đề tài tập trung khảo sát các sinh viên ở 07 khoa tại Trường Đại học Sư Phạm –Đại học Đà Nẵng, thử nghiệm trên 250 sinh viên Trường Đại học Sư Phạm – Đại học
Đà Nẵng
Phạm vi về thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện trong Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵnghơn 6 tháng, từ 25/11 đến 17/5/2021
6 Giả thuyết khoa học
- Thực trạng của nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở mức độ trung bình
- Kinh nghiệm, kỹ năng mềm, tài chính của công việc mang lại là những nguyênnhân ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì đề tàigồm có các chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu nhu cầu việc làm thêm
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu nhu cầu việc làm thêm
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở TrườngĐại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nhu cầu về việc làm thêm của sinh viên
Trong phần tổng quan nghiên cứu, chúng tôi đã chọn lọc để trình bày lại 12nghiên cứu bao gồm các liệt kê về các đề tài nghiên cứu trên thế giới và 12 nghiên cứutại Việt Nam, các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu là những nghiên cứu về nhu cầu.Xét theo lĩnh vực nghiên cứu, không có nghiên cứu ở nước ngoài về nhu cầu việc làmthêm và tại việt nam chỉ có 1 nghiên cứu về nhu cầu việc làm thêm, có 3 nghiên cứu vềthực trạng nhu cầu việc làm thêm, 2 nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của nhu cầu, có 3khảo sát / phân tích về nhu cầu việc làm thêm
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở ngoài nước
Tại nước ngoài có nhiều đề tài về nhu cầu, chúng tôi tìm được một số đề tàinghiên cứu về nhu cầu như: sách Needs Asessment: A user’s Guide of Kaufman,Roger, Rojas, Alicia M, Mayer, Hannah (1993); sách needs assessment in public health
of Petersen, Donna J., Alexander, Greg R Tuy nhiên về nghiên cứu nhu cầu làm thêm
cả sinh viên thì không có
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong nước
Khi xét về khái niệm của nhu cầu,theo Lê Thị Kim Chi - Viện Triết học thì “Nhucầu là những trạng thái thiếu hụt và những đòi hỏi cần được đáp ứng của chủ thể (conngười và xã hội) để tồn tại và phát triển” [1] Tiếp đó, theo luận văn của tác giả ĐàoLan Hương, trích của tác giả Hoàng Thị Thu Hà (2003) thì nhu cầu đã được bắt đầutiến hành nghiên cứu từ thế kỷ thứ 19 bởi W.Kohler E Thorndile, N.E.Miller Các ôngnghiên cứu nhu cầu ở động vật, các kiểu hành vi của con vật được thúc đấy bởi nhucầu Họ đã giải thích mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng của cơ thể bằng cái gọi là
“Luật hiệu ứng” và từ đó khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi [7] Theo tácgiả Nguyễn Quang Uẩn (2003), nhu cầu cho là: “Sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của
cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người (vật) thấy cần được thỏamãn để tồn tại và phát triển” [4] Cuối cùng, tác giả Bùi Thị Thoa (2012), tác giả chianhu cầu theo các trường phái nghiên cứu về nhu cầu chia nhu cầu Bên cạnh đó, tác giả
Trang 12còn đưa vào một số đặc điểm cơ bản của nhu cầu, mối quan hệ giữa nhu cầu và nhậnthức để đưa vào đề tài [10]
Theo tác giả Nguyễn Xuân Long, phần lớn sinh viên đi làm thêm khi trả lời phỏngvấn đều khẳng định đi làm thêm để nâng cao kiếm thức đạc được học ở nhà trường, mởrộng tầm hiểu biết về những lĩnh vực có liên quan tới ngành học, để được “cọ xát nhiềuhơn”với thực tế Bên cạnh đó, có những sinh viên đi làm thêm để phụ giúp gia đình vàcũng để chứng minh năng lực vị trí của mình trong gia đình Ngoài ra, báo cáo đề tàicòn cho thấy những số liệu và lý luận của tác giả về các thực trạng, lý do đi làm thêm,những công việc sinh viên thường làm, thời gian cho việc làm thêm và việc học củasinh viên và các nguồn cung cấp thông tin việc làm thêm cho sinh viên đã phát họa rõràng nhu cầu đi làm thêm của sinh viên hiện nay.[6]
Theo tác giả Mokey D Luffy, khái niệm làm thêm “theo công ước só 175, năm
1994 về việc làm bán thời gian của ilo (international labour ofice – tổ chức lao độngquốc tế), người làm bán thời gian (employed person) được định nghĩa là người có sốgiờ làm việc bình thường ít hơn so với những người làm việc toàn thời gian (worker).Công ước cũng chỉ ra rằng, ngưỡng thông thường để chia công nhân thành lao độngtoàn thời gian hay bán thời gian thay đổi tùy thuộc vào mỗi quốc gia, nhưng thườngtrong khoảng từ 30 – 35 giờ mỗi tuần”[14] Bên cạnh đó, ông đã đưa ra được các giảipháp để giải quyết nhu cầu đi làm thêm của sinh viên Trong đó, có hai giải phápchính: xây dựng câu lạc bộ việc làm sinh viên và phát triển hoạt động của trung tâmđánh giá kỹ năng nghề và quan hệ công chúng để một phần nào đó giúp sinh viên trongviệc tìm kiếm các việc làm thêm phù hợp và giảm thiểu ảnh hưởng đến đời sống, họctập
Tiếp theo, theo tác giả Nguyễn Trung, xét về mặt tích cực, khi đi làm thêm, sinhviên sẽ có được một khoản thu nhập, sinh viên sẽ được tiêu chính những đồng tiền do
mồ hôi công sức lao động do chính họ bỏ ra, lúc đó họ sẽ biết trân trọng giá trị củađồng tiền hơn, biết cách chi tiêu một cách hợp lý hơn Thứ hai, nếu sinh viên đi làmthêm có liên quan đến chuyên ngành mình đang học thì đó là một cơ hội để sinh viên
Trang 13áp dụng lý thuyết vào thực tế và đúc rút những bài học kinh nghiệm cho mình Thứ ba,việc đi làm thêm sẽ giúp cho sinh viên gia tăng các mối quan hệ xã hội, cải thiện kỹnăng giao tiếp, các kỹ năng mềm mà trên giảng đường sinh viên sẽ ít có cơ hội đượcrèn luyện Thứ tư, việc sinh viên tự đi làm thêm sẽ giúp cho cá nhân đó rèn luyện tính
tự lập, trưởng thành hơn.[15]
Theo tác giả Phạm Lê Hồng Nhung, đã đề xuất một số giải pháp giúp sinh viên tìmđược việc làm thêm phù hợp như: nâng cao hiệu quả của các trung tâm giới thiệu việclàm, cung cấp thêm nhiều thông tin về việc làm thêm, cần có thêm nhiều công việcdành cho sinh viên Theo tác giả phạm Lê Hồng Nhung, những khó khăn về việc làm
mà sinh viên đang vướng phải: phần lớn sinh viên tìm việc thông qua người quenchiếm 62% và trên các thông báo tuyển dụng 58%, các kênh khác chiếm tỷ lệ ít hơn.Chưa sử dụng triệt để các phương tiện như internet hay trung tâm giới thiệu việc làm.Trong quá trình đi tìm việc sinh viên gặp nhiều khó khăn nhưng ảnh hưởng nhiều nhất
là không sắp xếp được thời gian Ngoài giờ học trên lớp sinh viên còn phải dành thờigian để tự học, đi học nhóm hay tham gia vào các hoạt động của trường nên quỹ thờigian rãnh không nhiều Bên cạnh đó áp lực của việc vừa học vừa làm cũng là một khókhăn cho sinh viên.[13]
Theo tác giả Nguyễn Thị Cẩm Tú, một số hạn chế và ưu điểm thuận lợi của côngviệc làm thêm đối với sinh viên Với một số hạn chế như sau: sinh viên có thái độ thờ ơ
và cẩu thả trong công việc vì việc làm thêm dễ thay đổi Sự hạn chế về kiến thứcchuyên môn và ngoại ngữ làm cho sinh viên không thể có được kinh nghiệm trong lĩnhtrong ngành nghề của mình sau này, Và với một số mặt thuận lợi như sau: Về mặtkinh nghiệm thì một số sinh viên đã vận dụng những điểm mạnh của mình để phát huytrong công việc và từ đó, kinh nghiệm cũng phong phú hơn,… tác giả cũng đưa một sốmột số ý kiến của sinh viên về vấn đề đi làm thêm Theo tác giả Nguyễn Thị Cẩm Tú,
đã đưa ra các góc nhìn khác nhau của nhiều người về vấn đề làm thêm đối với sinhviên từ đó rút ra kết luận chung: “việc làm thêm đối với sinh viên có ý nghĩa tham giaviệc làm ngay khi vẫn còn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị,
Trang 14các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làm ảnh hưởng nhiều đến họctập Với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm,
cọ sát hơn với thực tế cuộc sống.”[18]
Tiếp đó, theo tác giả Vương Quốc Duy Ths Nguyễn Thị Phượng&Trần Thị Diễm
Thúy, đã đưa ra khái niệm làm thêm (part- time job): “Hợp đồng làm thêm (part-time
job) là một dạng lao động được thực hiện vài giờ trên tuần ít hơn so với hợp đồng làmviệc toàn thời gian Người làm việc có sự thay đổi nhưng vẫn đảm bảo theo yêu cầu hếtviệc và trong suốt mỗi năm Sự thay đổi thường có tính chất xoay vòng Người laođộng được xem như người làm việc bán thời gian nên họ thường làm việc ít hơn 30 hay
35 giờ hàng tuần (ILO - tổ chức lao động quốc tế) Theo ILO, số lượng người làm việcbán thời gian đang gia tăng twf ¼ đến ½ trong 20 năm vừa qua ở hầu hết các quốc giaphát triển, trừ nước mỹ Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc đi làm bán thời gian, baogồm sở thích làm thêm, công nhân muốn giảm thời gian làm việc và không tìm đượcviệc làm trọn thời gian.”[12][17]
Theo tác giả Nguyễn Thị Như Ý, đã sử dụng phân tích phân biệt, kết quả điều tracho thấy có 10 nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đi làm thêm của sinh viên Bên cạnh đó,Trần Thị Ngọc Duyên Và Cao Hoài Thi (2009) trong nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng đến quyết định làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước như: cơ hội đào tạo vàthăng tiến, thương hiệu và uy tín tổ chức, sự phù hợp giữa cá nhân - tổ chức, mức trảcông, hình thức trả công, chính sách và môi trường tổ chức, chính sách và thông tintuyển dụng, gia đình và bạn bè.[10] [16]
Theo tác giả Lê Vũ Ngân Hà, mặt tích cực, bao gồm: nếu sắp xếp được thời gian học
và làm hợp lí sẽ thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn; rèn luyện nhiều kĩ năng mềmcho sinh viên; giúp sinh viên tích lũy được nhiều kinh nghiệm sau khi ra trường Vàmặt tiêu cực, bao gồm: sinh viên bị ảnh hưởng về sức khỏe và giờ giấc sinh hoạt khiếncho kết quả học tập sa sút; cám giỗ bởi vật chất làm cho các bạn sinh viên rơi vàonhững tệ nạn xã hội.[19] Bên cạnh đó, tác giả Lê Đình Thảo đã đưa ra những nguyênnhân mà sinh viên gặp phải vấn đề về kinh tế, về cuộc sống hằng ngày Sinh viên hay
Trang 15chủ quan việc học, xem việc làm thêm quan trọng hơn Sinh viên buộc phải có kinhnghiệm khi trên ghế nhà trường bởi vì không có nhà tuyển dụng nào muốn dùng mộtngười không có kinh nghiệm Không những thế, tác giả còn đưa ra một số mặt thuậnlợi và khó khăn của việc làm thêm đối với sinh viên.[8]
Theo bản báo cáo việc làm thêm của giới trẻ Việt Nam vào năm tháng 9/2015 khảosát trên 500 người cho thấy: kinh nghiệm làm bán thời gian của sinh viên chiếm đến57% trong tổng số 500 người đó Bản báo cáo còn cho thấy tỷ lệ những công việc màgiữa nam và nữ đã làm qua Có các công việc như: Gia sư, bồi bàn, phục vụ, bán hàngtại cửa hàng, tư vấn, nhân viên thu ngân, buôn bán tự do, giao hàng, nhập liệu văn bản,làm tại rạp chiếu phim… có tỷ lệ chênh lệch cao Không những thế, báo cáo còn đưa ra
tỷ lệ 39% kiếm ít hơn 1 triệu/tháng, 79% kiếm ít hơn 2 triệu/tháng Và tìm kiếm côngviệc thông qua giới thiệu của bạn bè, kế đến là facebook, internet [11]
Đề tài còn ít tác giả nghiên cứu, chủ yếu nghiên cứu về thực trạng, nhận thức củasinh viên
1.2 Cơ sở lý luận về nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
1.2.1 Nhu cầu
a Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý, chi phối mạnh mẽ đến đời sốngtâm lý con người nói chung và đến hành vi nói riêng Nhu cầu được nhiều ngành khoahọc nghiên cứu trên các khía cạnh tiếp cận khác nhau Khi bàn về nhu cầu trong tâm lýhọc có nhiều quan niệm khác nhau:
S Freud (1856 – 1939) cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lýthuyết bản năng của con người” Ông khẳng định, phân tâm học coi trọng nhu cầu tự
do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục Việc thoả mãn nhucầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự đượctôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người
Erich Fromm, nhà phân tâm học mới, quan niệm rằng: “Nhu cầu tạo ra cái tựnhiên của con người”
Trang 16Abraham Maslow (1908-1970) trong lý thuyết thang bậc nhu cầu, ông sắp xếpcác nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ởmức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏamãn trước hệ thống thang bậc nhu cầu của A.Maslow thường được thể hiện dưới dạngmột hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới.
X.L Rubinstein khẳng định rằng con người có nhu cầu sinh vật, nhưng bản chấtcủa con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề cơ bảncủa con người với nhân cách Nói đến nhu cầu của con người nói đến việc đòi hỏi mộtcái gì đó hay một điều gì đó nằm ngoài con người trong quá trình hoạt động để thoảmãn nhu cầu Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào thế giới đốitượng, trong những điều kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thuộc vào sự nỗ lực, năng lựccủa chính chủ thể Do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: Thế giới đốitượng và trạng thái tâm lý của chủ thể Tức là phải có mối quan hệ thống nhất giữa haiyếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ quan (của chủ thể) trong hoạt độngthoả mãn nhu cầu Nhu cầu mang tính tích cực, thúc đẩy con người hoạt động tìm kiếmcách thức, phương tiện đối tượng thoả mãn nó
P.X Simonov thì cho rằng: Trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện màthiếu hụt thông tin về khả năng thoả mãn, sẽ nảy sinh những rung cảm âm tính, tăngnăng lượng nhu cầu Tuy nhiên, kết quả hành vi lại không thuận lợi Kết quả dươngtính sẽ làm giảm tổng thể các hành động thoả mãn nhu cầu Theo ông, đặc điểm nhucầu phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức nhằm thoả mãnnhu cầu
A.N Leonchiev cho rằng: Cũng như những đặc điểm tâm lý khác của conngười, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn Theo ông, nhu cầu thực
sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó.Trong mối quan hệ giữa đối tượng thoả mãn nhu cầu, ông cho rằng: đối tượng tồn tạimột khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mới chỉ có cảm giác thiếu hụt hay đòihỏi Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đối tượng thoả mãn nhu cầu mới xuất hiện và
lộ diện ra Nhờ có sự lộ diện ấy mà nhu cầu mới có tính đối tượng của nó
Trang 17B.Ph Lomov khi nghiên cứu về nhân cách, ông cũng đề cập khá nhiều đến nhucầu Ông cho rằng nhu cầu như là một thuộc tính của nhân cách “Nhu cầu cá nhân làđòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại vàphát triển Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính kháchquan trọng đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình Dĩ nhiên, nhu cầu làtrạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân”.
P.A Rudich quan niệm “Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người tathấy một sự cần thiết nhất định nào đó về một điều gì đó”
Theo từ điển của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (2001), “Nhu cầu là điều cần thiết đểđảm bảo tồn tại và phát triển” Nhu cầu được thỏa mãn thì dễ chịu, không được thỏamãn thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức
Theo từ điển tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, “Nhu cầu là trạng thái của cánhân xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và pháttriển của mình, là nguồn gốc tích cực của cá nhân”
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau vềnhu cầu và thống nhất sử dụng khái niệm do tác giả Nguyễn Quang Uẩn nêu ra tronggiáo trình tâm lý học đại cương làm công cụ cho đề tài này: “Nhu cầu là sự biểu hiệnmối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người(vật) thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển” Sự thỏa mãn nhu cầu trở thành độnglực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân và tập thể Nhu cầu quyết định xu hướng lựachọn suy nghĩ, tình cảm và ý chí của con người Nếu không có nhu cầu hay nhu cầukhông được đáp ứng thì nó ảnh hưởng đến hoạt động xã hội của con người nói chung
và đến sự phát triển con người nói riêng
b Đặc điểm, hình thức biểu hiện của nhu cầu
- Nhu cầu của con người có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năngđáp ứng sự thoả mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạtđộng nhằm tới đối tượng
Trang 18+ Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thoả mãn nó quy định.Tuỳ theo phương thức thoả mãn nào nó có thể phát triển lên hoặc thoái hoá đi hoặcthậm chí biến mất đi Bề rộng của nhu cầu phụ thuộc vào mức độ phát triển của conngười và những điều kiện vật chất của cuộc sống.
+ Nhu cầu có tính chu kỳ, có nghĩa là nhu cầu được nảy sinh trong điều kiện nóđược lặp đi lặp lại một cách có hệ thống, do đó sẽ hình thành thói quen sử dụng mộtphương tiện và phương thức nhất định để thoả mãn nhu cầu
+ Con người điều chỉnh các nhu cầu của mình một cách có ý thức, vì vậy nhu cầucủa con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật Khi điều chỉnh các nhu cầucủa mình, con người không chỉ xem xét các điều kiện bên ngoài, mà còn xem xét cácchuẩn mực hành vi trong xã hội Và sự điều chỉnh này phụ thuộc vào cấu trúc tâm lýtrọn vẹn của nhân cách, vào sự được giáo dục của nhân cách
+ Nhu cầu của con người rất đa dạng so với nhu cầu của con vật (nhu cầu vật chấtgắn liền với sự tồn tại của cơ thể, nhu cầu tinh thần gồm có nhu cầu nhận thức, nhu cầulao động, nhu cầu thẩm mỹ…)
- Có hai hình thức biểu hiện của nhu cầu:
+ Hình thức đầu, nhu cầu được phản ánh vào các bán cầu đại não, được ý thức và
biểu hiện ra dưới dạng một hành động có lý trí (hành động có ý chí) Đây là trường hợptiêu biểu nhất cho con người và có đặc điểm là quá trình thoả mãn nhu cầu tiến hànhthông qua các hiểu biết và kinh nghiệm sống Nói cách khác, trong trường hợp này,nhu cầu của con người đã đi qua đầu óc của nó, tức là được ý thức và biểu hiện ra trong
ý chí của con người
+ Hình thức thứ hai, biểu hiện của nhu cầu chỉ thấy có ở người trong trường hợp
ngoại lệ Nó có đặc điểm là hành động để thực hiện ý hướng mang tính chất bồng bộthay nói đúng hơn là bột phát, ít được ý thức
c Phân loại nhu cầu
Có nhiều cách để phân loại nhu cầu, thông thường người ta dựa vào đối tượngthoả mãn của nhu cầu để chia thành nhu cầu vật chất (gồm có nhu cầu ăn, mặc, ở) vànhu cầu tinh thần (gồm có nhu cầu nhận thức và nhu cầu thưởng thức cái đẹp) Bên
Trang 19cạnh đó còn có thêm một loạt nhu cầu khác có tính chất xã hội (nhu cầu giao tiếp, laođộng, hoạt động xã hội) Theo A.G Covaliop có các dạng nhu cầu sau:
- Nhu cầu vật chất là những nhu cầu có trước nhất, là cơ sở cho hoạt động sinh
sống của con người Nhu cầu này hình thành trong quá trình phát triển giống loài vàphát triển xã hội lịch sử của loài người Thoả mãn nhu cầu vật chất sẽ tạo điều kiện giảiphóng nhân cách con người khỏi những thói hư tật xấu như tham lam, ganh tị… Nhucầu vật chất thường chiếm ưu thế và mang hình thức xấu xa ở những người phát triểnphiến diện và thấp kém về trí tuệ, ở những người này thường không có những động cơđẹp đẽ và cao quý, không nghĩ đến lợi ích chung mà chỉ chú ý đến lợi ích của bản thân.Nếu nhu cầu vật chất được thoả mãn một cách hợp lý, được phát triển một cách bìnhthường thì con người tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống và thấy mình có ích cho tất cảmọi người
- Nhu cầu tinh thần là những cấu thành đặc biệt, là các nhu cầu đặc trưng cho con
người và chỉ con người mới có, và nó chứng tỏ một trình độ phát triển cao của nhâncách Nhu cầu tinh thần gồm có nhu cầu nhận thức, khoái cảm thẩm mỹ Nhu cầu nhậnthức vừa là một nhu cầu định hướng chung (con người cần hiểu biết cái thế giới trong
đó mình sống) vừa là một nhu cầu riêng hay là một niềm say mê hiểu biết các hiệntượng đặc biệt của hiện thức như hiện tượng vật lý, hoá học,… Trên cơ sở nhu cầunhận thức sẽ hình thành nhu cầu sáng tạo khoa học với tính cách là một nhu cầu độclập Trong trường hợp này nhận thức không phải là mục đích mà trở thành phương tiện
để thỏa mãn nhu cầu sáng tạo Trong cuộc sống con người nhu cầu khoái cảm thẩm mỹchiếm vị trí to lớn Nhờ nó con người hướng đến việc làm cho cuộc sống của mình đẹplên Cơ chế biểu hiện của những nhu cầu tinh thần, chẳng hạn như nhu cầu nhận thứcthì cơ chế sinh lý trước nhất của nhu cầu nhận thức chính là phản xạ định hướng Và cơthể càng phát triển thì trong hoạt động sống của nó, phản xạ định hướng càng ngàycàng tăng cường Tất cả mọi người đều có phản xạ định hướng - tìm tòi không điềukiện, nhưng không phải người nào cũng có hứng thú rõ rệt đối với việc nhận thức cáchiện tượng của tự nhiên và xã hội Chỉ trong điều kiện dạy học và giáo dục nhất định,phản xạ tìm tòi có điều kiện mới được hình thành và củng cố Chính phản xạ này thể
Trang 20hiện nhu cầu nhận thức của con người Khi ta tạm ngừng thoả mãn nhu cầu nhận thứcthì điều đó sẽ làm cho nhu cầu này trở nên gay gắt hơn, có thể làm trì trệ và suy yếunhu cầu đó Các nhu cầu tinh thần khi được thoả mãn sẽ không tạm thời lắng dịu xuống
mà trái lại, càng tăng lên rõ rệt Nhu cầu nhận thức vừa là một nhu cầu định hướngchung, vừa là một nhu cầu riêng, và trên cơ sở nhu cầu nhận thức sẽ hình thành nhucầu sáng tạo khoa học với tính cách là một nhu cầu độc lập
- Nhu cầu xã hội : nhu cầu có vị thế xã hội, nhu cầu được xã hội đánh giá, nhu
cầu tình bạn, tình đồng chí, tình yêu, nhu cầu hoạt động xã hội… nhu cầu xã hội thểhiện bản chất xã hội của con người Một trong những nhu cầu xã hội là nhu cầu giaotiếp, nhu cầu này tạo điều kiện để hình thành những mối liên hệ muôn màu muôn vẻgiữa người với người, đồng thời kích thích sự phát triển của nhân cách Bên cạnh đó,nhu cầu xã hội chủ đạo của nhân cách con người chính là nhu cầu lao động Nhu cầulao động làm con người biết được niềm vui, niềm hạnh phúc khi nào người đó làm việc
vì lợi ích chung Người nào có những nhu cầu xã hội đặc biệt và những nhu cầu tinhthần phát triển thì người đó sẽ thoả mãn những nhu cầu vật chất một cách hợp lý.Người đó sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống trong hoạt động sáng tạo, làm cho con ngườicảm thấy hạnh phúc của cuộc sống và cảm thấy mình có ích cho tất cả mọi người Cómột cách phân chia khác, đó là thang nhu cầu của A Maslow A Maslow chia nhu cầucủa con người thành 7 nhóm nhu cầu, chúng xuất hiện từ lúc sinh và trong quá trìnhphát triển nhân cách gồm có : Nhu cầu sinh lý; nhu cầu được an toàn; nhu cầu đượccông nhận và chấp nhận; nhu cầu được tôn trọng; nhu cầu nhận thức; nhu cầu thẩm mỹ;nhu cầu tự bộc lộ (năng lực, tài năng, các tiềm năng sáng tạo, thể hiện bản thân)
Có rất nhiều cách để phân loại về các mức độ của nhu cầu, chúng tôi thống nhất
sử dụng cách phân loại theo X.L.Rubinstein ở trong giáo trình Tâm lý học đại cương đểlàm công cụ nghiên cứu cho đề tài này Tác giả đã phân loại nhu cầu làm 3 mức độ:
- Ý hướng: Là mức khởi đầu của nhu cầu Ở mức độ này nhu cầu chưa được phản
ánh đầy đủ, rõ ràng vào trong ý thức của con người Ở mức độ ý hướng, chủ thể mới ýthức được trạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó nhưng chưa ý thức được
nó là gì Nói cách khác lúc này chủ thể đang trải nghiệm sự thiếu hụt nhưng chưa ý
Trang 21thức được sự thiếu hụt đó Khi chủ thể đã ý thức được đối tượng nhu cầu, nghĩa là trảlời được câu hỏi thiếu hụt cái gì thì nhu cầu chuyển sang mức độ cao hơn đó là ý muốn.
- Ý muốn: Ở mức độ này chủ thể đã ý thức được đối tượng chứa đựng khả năng
thỏa mãn nhu cầu nhưng chưa tìm kiếm được cách thức, điều kiện thỏa mãn nhu cầu
- Ý định: Lúc này chủ thể đã ý thức được đầy đủ về cả đối tượng và cách thức, điều
kiện thỏa mãn nhu cầu, chủ thể xuất hiện tâm thế sẵn sàng hành động Lúc này nhu cầutrở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể tiến hành hoạt động để thỏa mãn
nó Đồng thời chủ thể cũng có khả năng hình dung được kết quả của hoạt động
d Sự phát triển của nhu cầu
Sự phát triển của nhu cầu có thể được xét ở hai phương diện, đó là phương diện xãhội lịch sử và phương diện phát sinh cá thể Trong quá trình phát triển lịch sử, bắt buộcphải diễn ra quá trình tăng thêm và ngày càng phân hoá các nhu cầu Về mặt phát triển
cá thể, sự phát triển của nhu cầu bắt đầu từ sự thoả mãn những nhu cầu tự nhiên củađứa trẻ Ngay từ rất bé, đứa trẻ đã bộc lộ hoạt động định hướng tìm tòi, thể hiện ở nhucầu muốn nhận thức thế giới xung quanh Nếu được thoả mãn thì hoạt động này đượccủng cố và mở rộng thêm Trái lại nếu không được thoả mãn, nhu cầu này sẽ bị ức chế
và tàn lụi đi Sự hình thành và phát triển nhu cầu phải tuân theo một số qui tắc sau đây:
1 Nhu cầu chỉ có thể được hình thành và củng cố trong điều kiện được thoả mãnmột cách có hệ thống hay là được thực hiện một hoạt động nhất định Điều đó làmcho cơ thể nói riêng và toàn bộ nhân cách nói chung trở nên quen thuộc với mộtkiểu hoạt động nhất định Tất cả mọi nhu cầu mới đều được hình thành theo kiểuthói quen; cơ chế hoạt động của nó cũng vậy
2 Nhu cầu phát triển trong điều kiện được “tái sản xuất mở rộng” Điều đó tạođiều kiện để những phương tiện thoả mãn nhu cầu được trở nên phong phú hơn vàphát triển hơn Nhu cầu xuất hiện và phát triển trong quá trình hoạt động
3 Sự tiến triển của nhu cầu sẽ dễ dàng hơn nếu hoạt động không làm con người trởnên kiệt quệ đi, đặc biệt là thoạt đầu, mà trái lại tương đối dễ thực hiện vì điều đólàm cho con người có thái độ tích cực đối với hoạt động ấy
Trang 224 Một điều rất quan trọng để phát triển nhu cầu là sự chuyển tiếp từ hoạt động táitạo sang hoạt động sáng tạo Điều đó không những làm cho con người có thái độxúc cảm tích cực đối với hoạt động mà hơn nữa, còn thấy rằng nó là thiên hướng
cơ bản của mình
5 Nhu cầu sẽ được củng cố khi ta có ý thức về ý nghĩa xã hội của nó và ý nghĩacủa nó đối với bản thân ta
1.2.2 Việc làm thêm
1.2.2.1 Khái niệm việc làm thêm
- Theo từ điển bách khoa mở Wikipedia, việc làm thêm là : “Một công việc mangtính chất không chính thức, không thường xuyên, bên cạnh một công việc chính thức
và ổn định.”
Các công việc làm thêm ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu từ hai phía: Nhu cầutuyển dụng nhân sự với giá rẻ của nhà tuyển dụng và nhu cầu rèn luyện, học tập, cảithiện thu nhập….của người ứng tuyển Đối tượng phù hợp với các công việc làm thêm
có phạm vi rộng, tuy nhiên, nguồn nhân lực chính cho các công việc làm thêm chủ yếuvẫn là các sinh viên của các trường Đại học, Cao đẳng.
1.2.2.2 Đặc điểm của việc làm thêm
- Khác với việc làm chính thức, việc làm thêm không có môi trường làm việc cốđịnh, cách thức và thời gian làm việc linh hoạt nên sinh viên có thể tự do lựa chọn côngviệc cũng như môi trường làm việc phù hợp với bản thân Vậy nên, việc làm thêmmang tính chất không cố định và thường chỉ kéo dài trong khoảng từ 3 – 5 tiếng mỗingày và có thể thay đổi tùy theo tính chất công việc
- Với việc làm thêm này thì thường không có hợp đồng lao động Việc làm thêmđều dựa trên được thoả thuận đạt được giữa hai bên Điều này giúp cho sinh viên tiếtkiệm thời gian làm hồ sơ, không bị bó ép thời hạn làm việc, không cần trả tiền phạt khi
vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, điều này cũng đem lại khá nhiều bất lợi cho sinh viên.Trong trường hợp bên tuyển dụng tự ý đuổi việc hoặc tự ý cắt giảm đãi ngộ thích hợp
đã đưa ra trước đó có sự thông qua và đồng ý của hai bên (vì không có hợp đồng laođộng) Chính vì điều này, sinh viên cũng cần nâng cao cảnh giác khi đi làm thêm Cần
Trang 23phải có những thỏa thuận trên giấy tờ, ghi âm… để có cớ sở căn cứ khi bên tuyển dụng
tự ý chấm dứt công việc
1.2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến việc làm thêm
- Sinh viên mong muốn cải thiện được tình hình tài chính của cá nhân, phụ giúpgia đình trang trải học phí và các khoản phụ phí phát sinh khi vào Đại học, Cao đẳng ;đặc biệt là đối với những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn hoặc sinh viên ngoại tỉnh
- Sinh viên cần kinh nghiệm, mong muốn rèn luyện, trau dồi các kỹ năng nghềnghiệp để phục vụ cho nhu cầu ngành nghề sau này Điều tất yếu trong một công ty làtuyển những người đã có kinh nghiệm vào làm việc Thế nên, trong các yêu cầu tuyểndụng hiện nay, kinh nghiệm làm việc đa dạng và và có nhiều kỹ năng là một lợi thế tối
ưu để bản thân có thể theo nghề và hành nghề Tuy nhiên, sinh viên mới tốt nghiệp lạikhông thể đáp ứng được yêu cầu này Và hiển nhiên, Khi học Đại học / Cao đẳng, sinhviên sẽ có khối lượng thời gian dư giả và đủ độ tuổi để làm việc nên thời điểm đó đãtrở thành lựa chọn hàng đầu để có cơ hội tự khẳng định bản thân và tìm kiếm cơ hộiviệc làm Những kinh nghiệm đó chỉ có thể có được khi sinh viên cọ sát với các môitường làm việc khác nhau
1.2.3 Sinh viên
1.2.3.1 Khái niệm sinh viên
Theo Từ điển Giáo dục học: Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học [7; tr 71] Theo Luật Giáo dục đại học: “Sinh viên là người đang học tập
và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, theo học chương trình đào tạo Cao đẳng, chương trình đào tạo Đại học.” Theo Từ điển Tiếng Việt, sinh viên là người học
ở bậc Đại học Xét theo nguồn gốc, sinh viên, trong tiếng Latinh là “Student”, có nghĩa
là người nghiên cứu, tìm kiếm tri thức Theo nhà Tâm lý học Liên Xô X.L Rubinstein, sinh viên: “Đại diện cho một nhóm xã hội được đào tạo tại các trường Cao đẳng hoặc Đại học để tích lũy kinh nghiệm cho hoạt động sau này, như hoạt động sản xuất tinh thần hay vật chất Khi tổ chức theo mục đích xã hội nhằm trang bị cho việc thực hiện vai trò xã hội thì sinh viên luôn chủ động Do vậy họ là lực lượng vô cùng quan trọng
Trang 24trong việc bổ sung lực lượng đội ngũ có tri thức được rèn luyện để thành lao động trí
óc để phục vụ cho các hoạt động của xã hội.”
Từ những khái niệm trên, chúng tôi tóm tắt lại rằng, sinh viên là những người theo học ở bậc Đại học, Cao đẳng Trong môi trường đó, người học được lĩnh hội kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này Bên cạnh đó, nhằm hình thành các phẩm chất đạo đức cũng như chuyên môn để phục vụ cho các hoạt động xã hội và được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình
học
1.2.3.2 Đặc điểm tâm lý sinh viên
- Hoạt động nhận thức và sự phát triển trí tuệ Hoạt động nhận thức của sinh viên
là đi sâu tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể để nắm đượcnội dung, phương pháp, quy luật của các môn khoa học khác nhau với mục đích trởthành những chuyên gia ở những lĩnh vực nhất định Nét đặc trưng trong hoạt độngnhận thức là có thể hoạt động trí tuệ tập trung, tư duy độc lập với nhiều thao tác nhưphân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá
Sự phát triển trí tuệ ở lứa tuổi sinh viên được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trítuệ như tính nhạy bén, khả năng giải thích và gán ý nghĩa cho những ấn tượng của cảmtính nhờ vào kinh nghiệm đã có và những tri thức khoa học tiếp thu trong quá trình họcĐại học
- Đặc điểm tự ý thức của sinh viên Một trong những đặc điểm tâm lí quan trọngnhất ở tuổi sinh viên là sự phát triển tự ý thức Tự ý thức của sinh viên được hình thànhtrong quá trình xã hội hoá và liên quan đến tính tích cực nhận thức của sinh viên; giúpcho sinh viên có những hiểu biết và thái độ đối với bản thân mình để chủ động hướngnhân cách theo các yêu cầu của xã hội
Trong quá trình học ở trường đại học, việc xây dựng tương lai của sinh viên có ảnhhưởng đến tự ý thức của họ Mức độ tính tích cực của tự ý thức ở sinh viên phụ thuộcvào thời hạn đạt tới mục đích được vạch ra Những sinh viên có kế hoạch lâu dài trongcuộc sống thường biểu hiện tích cực tự nhận thức trong hoạt động Thực tế cho thấy,những sinh viên có kết quả học tập cao thường chủ động tích cực trong việc tự giáo
Trang 25dục, giao tiếp hướng vào bạn bè, hướng vào các nguyên tắc hoạt động, tìm tòi những trithức mới, tích cực hoạt động nhận thức; ngược lại, những sinh viên có kết quả học tậpthấp thường tự đánh giá cao về bản thân, bị động trong việc tự giáo dục.
- Xu hướng phát triển nhân cách của sinh viên Trên quan điểm tiếp cận hoạtđộng - giá trị - nhân cách, sự phát triển nhân cách sinh viên trong quá trình học tập ởđại học, được diễn ra theo các hướng cơ bản sau:
+ Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp và các năng lực cần thiết của người chuyên giatương lai được hình thành, củng cố và phát triển
+ Mức độ kì vọng tăng lên cao hơn đối với nghề nghiệp tương lai của sinh viên + Các quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình nhận thức được phát triển và có tínhnghề nghiệp
+ Tình cảm nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập được nâng cao, cá tính vàlập trường sống được bộc lộ rõ nét
+ Sự trưởng thành về mặt xã hội, đạo đức, khả năng tự giáo dục của sinh viên đượcnâng cao
+ Hình thành những phẩm chất nghề nghiệp và tính sẵn sàng đối với hoạt động nghềnghiệp tương lai được củng cố
Từ xu hướng hình thành và phát triển của sinh viên trong quá trình học tập ởđại học, các hoạt động của sinh viên tập trung ở ba lĩnh vực: Mục đích, ý nghĩa củacuộc sống (lí tưởng sống); hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học (hoạt động chủđạo); mối quan hệ giữa con người với con người (hoạt động giao tiếp)
1.2.4 Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
1.2.4.1 Khái niệm nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
Từ các cơ sở lý luận phía trên chúng tôi rút ra nhu cầu việc làm thêm của sinhviên: “Là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của sinh viên đối với việc làm thêm, là sựđòi hỏi tất yếu mà sinh viên thấy cần thỏa mãn những điều kiện về vật chất và tinh thần
để tồn tại và phát triển.” Sinh viên xuất hiện nhu cầu đi làm thêm khi chưa thỏa mãnmột điều kiện nào đó Vì vậy, sự tích cực của cá nhân sinh viên được thể hiện quanhững chuẩn bị cần thiết cho công việc làm thêm của mình Khi điều kiện về vật chất
Trang 26được thỏa mãn nhưng về mặt tinh thần, sinh viên cảm thấy áp lực, căng thẳng, bối rốithì sẽ xuất hiện nhu cầu khác nhằm hạn chế những áp lực về mặt tinh thần hoặc có thểhướng sự tích cực, nhu cầu của mình bằng cách thay đổi công việc.
1.2.4.2 Biểu hiện của nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
- Sinh viên nhận thức được trạng thái thiếu hụt của bản thân về việc làm thêmnhưng chưa ý thức rõ nó là gì Biểu hiện rõ nhất của nhu cầu trong ý muốn đối với việclàm thêm là sinh viên nhận thức được tầm quan trọng ý nghĩa, vai trò của việc làmthêm Việc làm thêm tạo ra hoạt động lao động, tạo ra thu nhập (việc làm thêm nàyphải hợp pháp), góp phần nâng cao đời sống, giảm tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng xãhội Bên cạnh đó, việc làm thêm tạo cơ hội cho sinh viên rút ngắn được khoảng cáchgiữa thực tế và lý thuyết, giúp sinh viên trường thành hơn Làm thêm giúp nâng caonhận thức về bản thân, về giá giá trị của đồng tiền do mình làm ra, mang lại các kinhnghiệm, trải nghiệm trong cuộc sống và giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng cần có
- Sinh viên đã ý thức được đối tượng của mình là việc làm thêm Nó chứa đựngkhả năng thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, mặc dù vẫn chưa tìm kiếm được cách thức,điều kiện để thỏa mãn nhu cầu Chính vì thế, sinh viên có các mong muốn về việc làmthêm và nó được biểu hiện qua các yếu tố sau:
+ Sinh viên mong muốn việc làm thêm của mình thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu của bản thân Một số sinh viên mong muốn có được những việc làm thêm trựctiếp: gia sư; tiếp thị; phục vụ nhà hàng, café; làm thời vụ;… Bên cạnh đó, một sốsinh viên có mong muốn làm thêm những việc khác để hỗ trợ trang trải cuộc sốnghoặc chỉ có nhu cầu làm thêm qua hình thức gián tiếp: Cộng tác viên viết bài, biêndịch, tư vấn qua điện thoại, bán hàng online, quản trị fanpage
+ Đối với bất kì một việc làm thêm nào, sinh viên mong muốn có thể thay đổithời gian làm thêm một cách linh hoạt Vì sinh viên còn có nhiệm vụ quan trọng hơn
là đi học, làm bài tập / đồ án và chỉ thực hiện việc làm thêm trong lúc trống lịch họchoặc khoảng thời gian rảnh rỗi Vì thế, sinh viên mong muốn cân bằng giữa lịch họccùng với lịch làm việc hợp lý Việc học có thể chiếm một trong hai buổi (sáng, trưachiều, tối), còn đối với lịch làm thêm sinh viên sẽ sắp xếp trong những khoảng thời
Trang 27gian còn lại Và nếu việc làm thêm chiếm quá nhiều thời gian sẽ ảnh hưởng nhiềuđến việc học của mình
+ Mặc dù chỉ là việc làm thêm nhưng sinh viên cũng có những mong muốn vềđiều kiện để làm thêm cả vật chất lẫn tinh thần
Đối với điều kiện vật chất: Sinh viên mong muốn được tăng lượng, đượcthưởng thêm ngoài giờ và khi hiệu suất làm việc cao Bên cạnh đó, sinh viêncòn có mong muốn được hỗ trợ về phương tiện đi lại (vì không phải sinh viênnào cũng có xe để di chuyển đến nơi làm việc), bảo hiểm (bằng tiền hoặc hiệnvật) và có thể đảm bảo các chính sách ưu ái về thời gian cho việc làm thêm.Không những thế, với những mong muốn trên thì sinh viên còn muốn có mộtmôi trường làm việc tốt: Có điều hòa, bàn ghế, trang thiết bị hỗ trợ, khác,…(tùy thuộc vào công việc hướng đến) Thế nên, để đảm bảo một công việclàm thêm đáp ứng các điều kiện trên sẽ khá khó khăn cho sinh viên tìm việclàm thêm thích hợp và phù hợp với năng lực và trình độ của bản thân mình
Điều kiện tinh thần: Sinh viên với mong muốn được có thêm nhiều mốiquan hệ tốt thì môi trường làm việc là điều kiện tiêu quyết để sinh viên đạtmục đích này Sinh viên quan tâm và mong muốn nhiều điều vào người sếp
sẽ hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên trong công việc Bên cạnh đó, để làm việcđược hiểu quả và tối ưu nhất thì cũng cần đồng nghiệp thân thiện, vui vẻ,giúp đỡ nhau sẽ đem lại hiệu suất cao việc cao Sinh viên sẽ cảm thấy bảnthân được tôn trọng, được thoải mái tìm tòi và sáng tạo trong công việc cũngnhư cuộc sống Và sự thỏa mãn tinh thần nhất đối với sinh viên là được lưuđộng trong thời gian làm việc không quá bị bó buộc, không trùng lịch học ởtrường
+ Sinh viên còn mong muốn công sức mình bỏ ra sức đáng và phù hợp để nhậnđược những chế độ đãi ngộ của việc làm thêm Mong muốn được phụ cấp thêm tiền
ăn trưa, tiền xăng xe, điện thoại,… Những chính sách về sức khỏe cá nhân như bảohiểm và cuối cùng được đãi ngộ làm theo thời gian biểu linh động hoặc có thể nghỉphép theo giờ
Trang 28- Đến lúc này, sinh viên đã ý thức được đầy đủ về cả việc làm thêm và cách thức,điều kiện thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và sinh viên xuất hiện tâm thế sẵn sàng hànhđộng lúc này nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ sinh viên tiến hànhhoạt động để thỏa mãn nhu cầu việc làm thêm của mình Đồng thời sinh viên cũng cókhả năng hình dung được kết quả của hoạt động.
+ Khi sinh viên đã hình thành những mong muốn trong đầu và bắt đầu hành độngbằng cách tìm kiếm các việc làm thêm phù hợp với những mong muốn đề ra Chẳnghạn, khi muốn có việc làm thêm, sinh viên sẽ thông qua thông tin trên mạng:website, trang mạng online như: Face, Zalo…; các trung tâm giới thiệu việc làm cótính phí trên thị trường; nếu không muốn có phí chủ động hỏi thăm người thân, bạn
bè để giới thiệu việc làm hay đến các trung tâm hỗ trợ việc làm thêm để được tư vấn
và cung cấp việc làm Cũng có thể thông qua sự trao đổi với những người đi làmthêm về việc làm thêm của họ để tìm việc làm phù hợp
+ Để có được một công việc làm thêm như ý muốn, sinh viên cũng cần cácphương tiện để thỏa mãn nhu cầu việc làm thêm của mình bằng cách sử dụngphương tiện của bản thân: xe máy, xe đạp, xe điện… Hay những bạn sinh viênkhông có các phương tiện riêng thì buộc phải sắp xếp thời gian hợp lý để sử dụngcác phương tiện công cộng: Bus, xe lam hoặc xe công ty… Tuy nhiên, với số tiềnlương giao động thường từ 1 – 3 triệu thì sinh viên không thể nào đi quá nhiêu lầntrong một tháng bằng các phương tiện như grab, goviet… nhanh gọn, lẹ nhưng lạiquá tốn kém
+ Bên cạnh những điều kiện khác, sinh viên còn cần phải chuẩn bị những điềukiện để đáp ứng việc làm thêm
Sinh viên nên có các năng lực và số lượng kiến thức phù hợp với việclàm thêm Bên cạnh việc sinh viên cần chuẩn bị nội dung, đối tượng công việchướng đến mà còn phải luôn học hỏi, tiếp thu kiến thức chuyên ngành để có việclàm thêm phù hợp Không những thế, sinh viên còn cần có năng lực tư duy, kháiquát… công việc và có các năng lực chuyên môn nhằm mang đến hiệu quả chocông việc
Trang 29 Sinh viên phải chuẩn bị thêm về mặt sức khỏe Việc làm thêm khôngchỉ đơn giản là đi làm cho có khi không có sự ràng buộc của hợp đồng lao động
mà nó còn mang đến những áp lực không nhỏ Áp lực từ phía học tập cũng đủkhiến sinh viên mệt mỏi nhưng khi đã quyết định làm thêm thì sinh viên buộcphải chịu những áp lực vô hình đến từ việc làm và còn cả áp lực của bản thânkhi mong muốn đạt một điều gì đấy rõ ràng trong công việc
Để việc làm thêm có hiệu quả cao thì sinh viên cần phải rèn luyện và cócác kỹ năng mềm và kiến thức xã hội nhằm bổ trợ cho các kiến thức chuyênmôn và công việc thực tế Đồng thời, còn giúp sinh viên nâng cao được các kỹnăng khác: giao tiếp, quản lý thời gian, thấu hiểu, Nhằm tăng khả năng hòanhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử trong việc làm thêm
1.2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm thêm
1.2.4.3.1 Các yếu tố thuận lợi
- Giới tính: Việc làm thêm không phải lúc nào cũng có công việc phù hợp vớisinh viên có nhiều công việc làm thêm khác nhau nên mức độ phù hợp của giới tínhđối với mỗi công việc cũng sẽ khác nhau
- Năng lực trình độ, kiến thức chuyên môn: đối với một số công việc làm thêmđòi hỏi về các kỹ năng, ngôn ngữ khác nhau và thái độ ứng xử trong công việc Khôngnhững thế, sinh viên nắm chắc các kiến thức được học, có học lực, trình độ tốt, sẽ bổtrợ cho công việc làm thêm được hoàn thiện và ổn định hơn Qua đó, nhu cầu học hỏikinh nghiệm, nâng cao kiến thức nghề nghiệp của sinh viên được tăng cao
- Sở thích: Sinh viên có mong muốn được làm những công việc phù hợp với sởthích cá nhân để công việc đạy được hiệu quả nâng cao, cũng đem lại cho sự yêu thích
và niềm đam mê cho sinh viên
1.2.4.3.2 Các yếu tố khó khăn
- Điều kiện kinh tế gia đình: Mỗi một gia đình đều có hoàn cảnh và điều kiện
sống khác nhau Một số sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn phải tự bươm trảikiếm thêm thu nhập để lo toan học phí và chi phí trong cuộc sống đời thường Đa sốsinh viên này thường làm rất nhiều công việc làm thêm vì không thể phụ thuộc vào gia
Trang 30đình Bên cạnh đó, một số sinh viên đi học đều là do ba mẹ nộp học phí Tuy nhiên,một số sinh viên ngại việc mình đã lớn nhưng tài chính vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào ba
mẹ nên muốn tự đi làm thêm để trang trải cho cuộc sống, giảm bớt gánh nặng cho ba
mẹ Còn lại, những sinh viên có điều kiện gia đình khá giả, mặc dù sinh viên muốn đilàm thêm nhưng gia đình không ủng hộ, ba mẹ thương nên ngăn cản không cho làmthêm vì sợ sinh viên cực khổ Cũng có những sinh viên không muốn đi làm thêm dokhông có thời gian hoặc không gặp áp lực về kinh tế nên không nhất thiết phải ra tăngthu nhập từ công việc làm thêm tóm lại, yếu tố gia đình ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầuviệc làm thêm của sinh viên
- Học tập: Điều quan trọng nhất bây giờ của sinh viên là việc học nên nhiều bạn
sinh viên muốn tập trung thời gian cho việc học vì cá nhân họ mong muốn khai thác,học hỏi những kiến thức ở trên nhà trường một cách tối ưu và toàn vẹn Thế nên, sinhviên không có nhu cầu đi làm thêm vì sợ ảnh hưởng đến yếu tố này Yếu tố về sứckhỏe cũng được sinh viên đề cao khi cá nhân họ cảm thấy không đảm bảo sức khỏe khicùng một lúc vừa đi làm vừa đi học, đặc biệt là các bạn sinh viên cuối khóa khi màkhối lượng kiến thức phải học tăng lên để chuẩn bị cho giai đoạn quan trọng trước khitốt nghiệp Chính vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu học tập, sinh viên sẽ không có nhu cầu
đi làm thêm
- Thông tin: Khi tìm kiếm việc làm thêm trên các trang mạng xã hội thì sinh viên
rất dễ bị lạc trong thông tin tuyển dụng việc làm Sinh viên sẽ tự quyết định chọn côngviệc làm thêm theo tiêu chí của mình: thủ tục nhanh, thoáng; chính sách ưu đãi, nơi làmviệc phù hợp hoặc gần nơi sinh sống (không có phương tiện di chuyển), phù hợp vớilịch học ở nhà trường, công việc ít áp lực để có thời gian học tập Đôi lúc, sinh viên rấtthường hay nhảy việc, chỉ cần có mức lương cao hơn, sinh viên sẽ có nhu cầu làmthêm Các thông tin trên mạng xã hội đã góp phần quyết định hoặc thay đổi công việclàm thêm Bên cạnh đó, bạn bè đi làm thêm nhiều và kể về việc làm thêm đó để sinhviên tìm hiểu, góp ý kiến lựa chọn công việc phù hợp hoặc xin làm cùng nhau
Trang 31Tiểu kết Chương 1
- “Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là
sự đòi hỏi tất yếu mà con người (vật) thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển.”(Nguyễn Công Uẩn)
- “Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên là Là sự biểu hiện mối quan hệ tích cựccủa sinh viên đối với việc làm thêm, là sự đòi hỏi tất yếu mà sinh viên thấy cần thỏamãn những điều kiện về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.”
- Biểu hiện: Sinh viên mong muốn tìm kiếm công việc làm thêm nhằm đáp ứng
về vật chất và tinh thần, tạo cơ hội trải nghiệm, phát triển cá nhân
- Ảnh hưởng:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm thêm của sinh viên như: Yếu
tố chủ quan (tìm kiếm công việc phù hợp với bản thân, nắm chắc các kiến thức đượchọc), yếu tố khách quan (điều kiện về tài chính, chọn công việc làm thêm theo các tiêuchí ngành nghề, …)
Trang 32CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng (Tên tiếng anh: The University
Of Danang, University Of Education) - được thành lập từ những cơ sở Giáo Dục – ĐàoTạo tiền thân sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đến nay, trường Đạihọc Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã có 46 năm tuổi Đây là trường thành viên Đại học
Đà Nẵng, chuyên đào tạo các chuyên ngành sư phạm và cử nhân khoa học, được xếpvào nhóm các Trường Đại học Sư Phạm trọng điểm quốc gia việt nam Trường đồngthời là trung tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và triển khai công nghệ phục vụ yêucầu phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, thành phố miền Trung - Tây Nguyên
Dẫu mốc trở thành một thành viên của Đại học Đà Nẵng năm 1994 đã mở ra choTrường Đại học Sư Phạm một trang sử mới với tinh thần đổi mới, hội nhập và pháttriển Đến nay, Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã phát triển vượt bậc,khẳng định vị thế của một học hiệu uy tín, chất lượng ở khu vực miền Trung – TâyNguyên và cả nước Tháng 04/2016, Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đãđược cấp giấy chứng nhân đạt chuẩn chất lượng đào tạo Đây là Trường Đại học đầutiên trong cả nước được cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn chất lượng
Hiện nay, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư theo hướng hiện đạihóa, ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáodục Nhà trường cũng đa dạng hóa và mở rộng loại hình đào tạo Bên cạnh đào tạo Đạihọc bậc chính quy (Khối Sư Phạm và khối Cử nhân) gồm 41 chuyên ngành, Nhàtrường cũng mở rộng đào tạo sau đại học với tổng cộng 16 ngành Thạc sĩ và 05 ngànhTiến sĩ Đào tạo hệ vừa làm vừa học cũng như đào tạo lưu học sinh nước ngoài cũngđược đặc biệt quan tâm Công tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế cũng có nhữngbước tiến mới
Qua 46 năm xây dựng, phát triển và hơn 27 năm là thành viên của Trường Đạihọc Đà Nẵng, Trường Đại học Sư Phạm đã đào tạo được hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ,hơn 20.000 cử nhân sư phạm và cử nhân khoa học, hơn 14.000 cử nhân cao đẳng sư
Trang 33phạm, 17.500 trung cấp sư phạm tiểu học và mầm non Chuẩn hoá gần 18.000 giáoviên các cấp, đào tạo gần 5.000 cán bộ quản lý giáo dục.
Bên cạnh đó, nhà trường đã có nhiều khung chương trình đào tạo vừa học vừalàm Không những thế, Trường Đại học Sư Phạm còn có nhiều chương trình về việclàm thêm, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho sinh viên mới ra trường Nhà trườngcòn có cả phòng hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho sinh viên,…
Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã vinh dự được Chủ tịch Nướctặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1985), Huân chương Lao động hạng Nhì(2002), Huân chương Lao động hạng Nhất (2016) cùng nhiều bằng khen khác của Thủtướng Chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng
2.1.2 Giới thiệu về khách thể nghiên cứu
Đề tài “Nhu cầu việc làm thêm của sinh viên ở Trường Đại học Sư Phạm – Đạihọc Đà Nẵng” triển khai nghiên cứu thực tiễn tại các lớp 20CTL2, 19CTLC, 20ST1,18CVNH1, 18CNVH2… tại Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng và mẫuđược chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản Trên cơ sở chọn mẫunày, khách thể đề tài được phân bố như sau:
Bảng 2.1 Phân bố mẫu khách thể nghiên cứu
Tiêu chí Nhóm khách thể nghiên cứu Số lượng Phần trăm
Khoa Tâm lý – Giáo
Khoa Giáo dục tiểu học Ngành Giáo dục tiểu học 27 sinh viên 10.8
Trang 34Khóa học
Học lực
Từ tháng 2/3 – 17/5/2021: Viết báo cáo khoa học phân tích kết quả thực trạng vàcác yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
- Phương phápnghiên cứu tàiliệu
16/10/2020–2/1/2021
Trang 35cứu có liên quan
đến đề tài nhu cầu
việc làm thêm của
sinh viên
liên quan đến đề tàinhu cầu việc làmthêm của sinh viên
- Tổng hợp các kháiniệm, nội dung lýthuyết, các phươngpháp nghiên cứu,biểu hiện và ảnhhưởng cụ thể của đềtài
- Phương phápnghiên cứu tàiliệu
6/1/2021 –11/1/2021
- Hoàn thành và
trình bày cơ sở lý
luận cho đề tài
Xây dựng cơ sở lýluận cho đề tài(chương 1)
- Phương phápnghiên cứu tàiliệu
15/1/2021–1/4/2021
- Xác định khách
thể nghiên cứu
Chọn mẫu nghiêncứu cho đề tài
- Phương phápchọn mẫu xácsuất
16/3/2021–20/3/2021
- Phương phápnghiên cứu tàiliệu, phươngpháp nghiêncứu điều trabằng bảng hỏi,phương phápphỏng vấn
- Phương phápthống kê toán
2/2/2021 –1/3/2021
Trang 36- Thu thập số liệubằng phiếu trưngcầu ý kiến
- Nghiên cứu sâubằng phỏng vấn
- Phương phápnghiên cứuđiều tra bằngbảng hỏi
- Phương phápphỏng vấn
8/3/2020 –2/4/2021
- Xử lý số liệu
trên phiếu trưng
cầu ý kiến của
sinh viên
- Nhập và xử lý sốliệu
- Phương phápthống kê toánhọc
10/3/2021– 6/4/2021
- Trình bày kết
quả chương 3
Viết kết quả nghiêncứu đề tài (chương3)
2/3/2021 –12/4/2021Giai
Viết báo cáo cho đề
–17/5/2021
- Thuyết trình
19/5/2021
Trang 372.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
c Cách tiến hành
- Bước 1: Giai đoạn chuẩn bị
- Bước 2 Giai đoạn sử dụng tài liệu nghiên cứu
- Bước 3 Phân tích, tổng hợp tài liệu
- Bước 4 Trình bày kết quả và đưa ra kết luận
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi
- Thu được thông tin chính xác
- Xây dựng bảng hỏi để tìm hiểu nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
b Nội dung
Trưng cầu ý kiến nhu cầu việc làm thêm của sinh viên về các nội dung:
- Lý do, tầm quan trọng của sinh viên về việc làm thêm
- Những mong muốn của sinh viên về thời gian làm việc, thời điểm làm việctrong ngày, hình thức làm việc, phương tiện làm việc, chế độ đãi ngộ trong công việc.nội dung công việc, điều kiện làm việc
Trang 38- Những cách thức để có được việc làm thêm, sinh viên phải chuẩn bị những điềukiện khác nhau để đáp ứng việc làm thêm.
- Những thuận lợi và khó khăn của sinh viên khi đi làm thêm
- Một số biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
Phần 2: tìm hiểu thông tin cá nhân (giới tính, lớp, khoa, ) của khách thể
- Bước 2: Thiết kế câu hỏi
- Bước 3: Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến
+ Đề tài nhu cầu việc làm thêm của sinh viên thiết kế một mẫu phiếu dành chosinh viên Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến nhằm mục đích tìm hiểu về:
Lý do và tầm quan trọng của việc làm thêm ở sinh viên (câu 1, câu 2,)Những mong muốn của sinh viên về: thời gian, hình thức, điều kiện về vật chất và tinhthần của viêc làm thêm, chế độ đãi ngộ công việc, nội dung công việc (Câu 3A, câu3B, câu 3C, câu 3E, câu 4, câu 6)
Cách thức để sinh viên có được việc làm thêm, những phương tiện nhằmthỏa mãn nhu cầu làm thêm, chuẩn bị các điều kiện để đáp ứng việc làmthêm (Câu 3D, câu 5, câu 8)
Những thuận lợi và khó khăn khi đi làm thêm của sinh viên (câu 7)
Những hoạt động hỗ trợ từ phía nhà trường về việc làm thêm của sinh viên.(Câu 8)
- Bước 4: Điều tra thử
+ Cách thực hiện:
Bước 1: Phát phiếu thử cho 30 khách thể làm và góp ý
Bước 2: Nhập số liệu, tính thử số liệu
Trang 39 Bước 3: Kiểm tra độ phân biệt, độ hiệu lực, độ tin cậy.
Bước 4: Chỉnh sửa câu hỏi nếu cần thiết
- Bước 5: Điều tra đại trà
+ Sau khi đã chỉnh sửa, chúng tôi thu được phiếu trưng cầu ý kiến đánh giá vềnhu cầu việc làm thêm của sinh viên đã hoàn thiện thì chúng tôi triển khai đưa
ra điều tra đại trà cho sinh viên (Phụ lục 1)
d Cách tính điểm và xếp loại mức độ
- Điểm trung bình và xếp loại mức độ nhu cầu việc làm thêm của sinh viên
Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (3 - 0) / 4 = 0.75
Ý nghĩa các mức như sau:
+ Điểm trung bình từ 0.00 đến 0.75: Không có nhu cầu
+ Điểm trung bình từ 0.76 đến 1.51: Nhu cầu ở mức thấp
+ Điểm trung bình từ 1.52 đến 2.27: Nhu cầu ở mức trung bình
+ Điểm trung bình từ 2.28 đến 3.00: Nhu cầu ở mức cao
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn
- Thu được thông tin chính xác
- Các cử chỉ, hành vi, ngôn từ của người trả lời thông qua việc quan sát trong quátrình phỏng vấn
- Câu trả lời phản ánh được ý thức, quan điểm của người trả lời
Phỏng vấn ý kiến nhu cầu việc làm thêm của sinh viên chưa đi làm thêm hoặc đã vàđang đi làm thêm về các nội dung như sau:
- Chưa đi làm thêm:
+ Có ý hướng muốn đi làm thêm về công việc như thế nào trong tương lai + Những mong muốn về công việc sau này
Trang 40+ Những dự định về việc làm thêm dự định làm và ảnh hưởng của nó đến cuộcsống của sinh viên.
- Đã / đang đi làm thêm:
+ Việc làm thêm đáp ứng nhu cầu của sinh viên về các mặt trong đời sống.+ Những điều kiện giúp sinh viên có được việc làm thêm phù hợp
- Phần câu hỏi dành cho cả hai đối tượng:
+ Những động cơ nào thôi thúc khiến bạn muốn đi làm thêm
+ Những ảnh hưởng của việc làm thêm khiến bạn muốn / không muốn đi làmthêm
- Bước 3: Kết thúc phỏng vấn (Thời điểm kết thúc hay hoãn lại cuộc phỏng vấn)
2.2.4 Phương pháp chuyên gia
- Chương 3: Xem xét số liệu, hướng dẫn viết kết quả
c Cách tiến hành