Khá nhiều lĩnh vực liên quan đến TCCC đang được quan tâm nghiên cứu như đa dạng loài, đánh giá nguồn lợi, phân loại học, đa dạng nguồn gen; đặc điểm sinh học như cấu trúc tuổi, chuỗi thứ
Trang 1PHÂN BỐ TRỨNG CÁ - CÁ CON Ở VÙNG VEN BỜ ĐÔNG TÂY NAM BỘ
ThS Phm Quc Huy
Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng
Báo cáo dựa trên các số liệu và mẫu vật về trứng cá - cá con (TCCC) thu được tại 60 trạm cố định (trong đó có 8 trạm thu mẫu TCCC liên tục ngày đêm, 4 giờ thu mẫu một lần) ở vùng biển ven bờ Đông Tây Nam bộ, bao phủ từ 08015 đến 11000 vĩ độ Bắc và 103050 đến 108030 kinh độ Đông Độ sâu thu mẫu dao động từ 4 -30m Phương tiện thu mẫu là tàu cá ngư dân BV 7603 TS, từ ngày 05/03 đến ngày 03/04/2007
Sử dụng 3 kiểu lưới là: lưới kéo tầng mặt, tầng xiên và tầng đáy để thu mẫu Tổng số đã thu được 37.466 trứng cá (TC) và 23.649 cá con (CC)
TC thu được ở tầng mặt cao hơn ở tầng đáy, ở vùng biển có độ sâu < 20m cao hơn ở vùng biển có độ sâu 20 - 30m và ngược lại đối với CC
TCCC thu được vào ban đêm thường nhiều hơn vào ban ngày Đàn cá bố mẹ thường đi đẻ vào thời gian từ gần nửa đêm tới sáng
Xu thế phân bố TCCC giữa 3 tầng nước là tương đối giống nhau Tuy nhiên, phân bố mật độ giữa 3 tầng nước có khác nhau Tầng mặt thường xuyên có mật độ dày nhất, sau đó là tầng đáy và thấp nhất là tầng xiên
TCCC chủ yếu tập trung ở vùng ven bờ, cửa sông và xung quang các đảo
1 MỞ ĐẦU
Nghiên cứu giai đoạn phát triển sớm của
cá có vị trí quan trọng trong ngư loại học, từ
những tài liệu về thành phần và số lượng của
chúng có thể tìm hiểu được thành phần khu
hệ, xác định bãi đẻ, mùa vụ sinh sản và biến
động lượng bổ sung Mặt khác, nó còn là
nhân tố quan trọng cho việc phát hiện nguồn
giống, quy hoạch và bảo vệ nguồn lợi thuỷ
sản [2, 3]
Khá nhiều lĩnh vực liên quan đến TCCC
đang được quan tâm nghiên cứu như đa
dạng loài, đánh giá nguồn lợi, phân loại học,
đa dạng nguồn gen; đặc điểm sinh học như
cấu trúc tuổi, chuỗi thức ăn, vòng đời, các
đặc điểm sinh sản, dinh dưỡng, sự di cư, sự
phát triển của cá thể; cấu trúc quần thể, mối
Việc vắng mặt hầu như hoàn toàn của một số loài cá đặc sản vốn ở vùng nước ven
bờ đang là thực trạng cần xem xét và đánh giá [4] Vì vậy, việc nghiên cứu hiện trạng phân bố và sự biến động của TCCC, điều kiện môi trường và các ngư cụ ảnh hưởng đến nguồn lợi TCCC ở vùng biển ven bờ cần được đặt ra, nhằm góp phần rất quan trọng cho việc quy hoạch, định hướng phát triển các ngành nghề khai thác cho phù hợp với lợi ích bền vững của nguồn lợi đầy tiềm năng này Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động nghiên cứu về hiện trạng và vai trò của TCCC, nhằm tăng cường ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn lợi sinh vật ở vùng biển ven bờ nói chung và TCCC nói
riêng
Từ nguồn số liệu của Đề tài “Đánh giá
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 2ven bờ Đông Tây Nam Bộ thu được qua
chuyến khảo sát tháng 3-4 năm 2007 của đề
tài
2.2 Phơng pháp nghiên cu
Quy trình thu mẫu được thực hiện theo
đúng quy trình thu mẫu ngoài hiện trường
của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng
- Phương pháp nghiên cứu trên mặt
rộng: Dựa vào các đặc tính sinh thái và quá
trình phát triển cá thể của một số loài cá là
khi mới nở cá sống ở tầng nước mặt, sau đó
chúng chuyển xuống sống ở tầng sát đáy,
nên chúng tôi dùng 3 phương pháp thu mẫu
đồng thời bằng 3 loại lưới: Lưới kéo tầng mặt,
tầng đáy và tầng xiên
- Lưới kéo tầng mặt: Lưới có miệng hình
chữ nhật, chiều dài 1m, chiều rộng 0,5m,
kích thước mắt lưới 450µm Lưới được thiết
kế hình chóp nón, chiều dài tính từ miệng
lưới tới ống đáy là 3m, thu mẫu ớ tầng nước
0,5-0m Lưới được thả cách mạn tàu khoảng
30m và cố định vào mạn tàu Cho tàu chạy
theo hướng ngược sóng, với tốc độ khoảng 2
hải lý/ giờ Thời gian vớt mẫu tính từ khi lưới
bắt đầu ổn định cho tới khi bắt đầu vớt lên là
5-10 phút
- Lưới kéo xiên: Lưới có miệng hình tròn,
đường kính 0,8m Lưới có cấu tạo giống như
lưới kéo tầng mặt Khi thu mẫu lưới được thả
theo phương thẳng đứng, sao cho miệng
thước mắt lưới 2a = 1mm Lưới được thiết kế hình chóp nón Lưới được thả ở phía sau tàu, chiều dài dây thả tùy thuộc vào độ sâu nơi thu mẫu Cho tàu chạy theo hướng ngược sóng, với tốc độ khoảng 2 hải lý/ giờ Thời gian thu mẫu tính từ khi lưới bắt đầu ổn định cho tới khi bắt đầu vớt lên là 5-10 phút Lưới cho phép thu được cá và tôm con ở giai đoạn hậu ấu trùng (postlarvae) và con non (juvenile)
- Phương pháp thu mẫu theo nhịp điệu thời gian: Các trạm nghiên cứu theo nhịp điệu thời gian đối với TCCC, được xác định
là các trạm đại diện và đặc trưng cho khu vực nghiên cứu bao gồm 08 trạm (04 trạm ở dải độ sâu < 20m nước và 04 trạm ở dải độ sâu từ 20-30m nước), việc thu mẫu được tiến hành liên tục trong 24 giờ, 04 giờ thu mẫu một lần (Hình 1)
- Phương pháp phân tích và bảo quản mẫu: Các giai đoạn phát triển của TCCC được xác định theo Rass T S (1965) Số
biển và mẫu vật được bảo quản trong dung dịch formalin 5-7%
Trang 3Hình 1 Sơ đồ trạm vị khảo sát ở vùng ven bờ Đông Tây nam bộ tháng 3 năm 2007
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 S lng TCCC
Đối với TC: Đã xác định được 18% tổng
số TC thu được Trong đó, họ cá Trỏng -
Engraulidae có số lượng nhiều nhất (2.289
TC-6,1% tổng số) Tiếp đó là các họ cá Bơn
lưỡi - Cynoglossidae (2.152 TC-5,7% tổng
số); họ cá Mối - Synodontidae (980 TC-2,4%
tổng số); họ cá Trích - Clupeidae (598
TC-1,6% tổng số); họ cá Hố - Trichiuridae (441
TC-1,2% tổng số)
So sánh số lượng TC ở hai vùng biển
Đông và Tây Nam Bộ cho thấy: Họ cá Trỏng,
tỷ lệ TC thu được ở vùng biển Đông Nam Bộ
và Tây Nam Bộ chênh lệch nhau không nhiều Nhưng các họ cá Bơn lưỡi, cá Mối, cá Trích thì tỷ lệ TC thu được ở vùng biển Đông Nam
Bộ lại cao hơn so với vùng biển Tây Nam Bộ
và ngược lại đối với họ cá Hố ở vùng biển Tây Nam Bộ lại cao hơn vùng biển Đông Nam Bộ
Số lượng TC thu được ở vùng biển có độ sâu < 20m, cao hơn ở vùng biển có độ sâu
từ 20 đến 30m (20.720TC, chiếm 55,3% tổng
số và 16.461TC, chiếm 44,7% tổng số) Ở cả hai độ sâu số lượng TC thu được bằng lưới kéo tầng mặt lại nhiều hơn số lượng TC thu được ở lưới kéo tầng xiên và tầng đáy (Bảng 1)
Bảng 1 Số lượng và tỉ lệ % của TCCC theo dải độ sâu
Lưới
Tây Nam bộ
Đông Nam bộ
Trang 417,6% tổng số); họ cá Đù - Sciaenidae (2.266
CC-9,5% tổng số); họ cá Liệt - Leiognathidae
(2.090 CC-8,8% tổng số); họ cá Trỏng -
Engraulidae (1.606 CC-6,7% tổng số); họ cá
Khế - Carangidae (1.573 CC-6,6% tổng số);
họ cá Trích - Clupeidae, (1.151 CC-4,8%
Bregmacerostidae (1.038 CC-4,4% tổng số);
họ cá Chai - Platycephalidae (719 CC-3,0%
tổng số); họ cá Phèn - Mullidae (655
CC-2,8% tổng số); họ cá Căng - Teraponidae
(650 CC-2,7% tổng số); họ cá Sơn -
Apogonidae (565 CC-2,4% tổng số); họ cá
Bơn lưỡi - Cynoglossidae (476 CC-2,0% tổng
số); họ cá Bò một gai - Monacanthidae (354
CC-1,5% tổng số); họ cá Thu Ngừ -
Scombridae (352CC-1,5% tổng số)
Các họ cá Đàn lia, cá Khế, cá Trích thì tỷ
lệ CC thu được ở vùng biển Đông Nam Bộ
thường cao hơn ở vùng biển Tây Nam Bộ, và
ngược lại với các họ cá Bống trắng, cá Đù,
cá Trỏng, cá Tuyết tê giác thì tỷ lệ CC thu
được ở vùng biển Tây Nam Bộ lại cao hơn ở
vùng biển Đông Nam Bộ; các họ cá còn lại, tỷ
lệ CC thu được ở vùng biển Đông Nam Bộ
và Tây Nam Bộ là tương đương nhau
Số lượng CC thu được ở vùng biển có độ
sâu < 20m lại thấp hơn ở vùng biển có độ
sâu từ 20 đến 30m (9.457CC, chiếm 39,7%
(Bảng 1)
3.2 Phân b mt đ TCCC
Xu thế phân bố TCCC trong tháng 3-4 năm 2007 là rải rác khắp vùng Tuy nhiên, vùng biển gần bờ, nơi có các cửa sông đổ ra
và xung quanh các đảo lớn thường có mật
độ TCCC phân bố dày hơn vùng biển xa bờ Đối với TC: Tập trung chủ yếu ở vùng ven bờ, gần cửa sông và quanh các đảo lớn
Ở tầng mặt, mật độ TC phân bố dày hơn cả,
nước biển; sau đó là tầng đáy, mật độ đạt tới
biển (Hình 2, 3, 4)
Đối với CC: Xu thế phân bố CC ở tầng đáy, tầng xiên và tầng mặt cũng rất giống nhau và cũng trùng với xu thế phân bố TCCC chung Tuy nhiên, những vùng biển có mật
độ phân bố CC tập trung so với TC thì ra xa
bờ hơn So với TC, phân bố mật độ CC thấp hơn nhiều lần (khoảng 5 đến 9 lần) Ở tầng mặt, mật độ CC phân bố dày hơn cả, có những trạm mật độ CC đạt tới 5.873
tầng đáy có mật độ CC thấp nhất, khoảng
Trang 5Hình 2 Phân bố mật độ TC ở tầng đáy Hình 3 Phân bố mật độ TC tầng xiên
3.3 Phân b mt đ TCCC theo nhp Số lượng TC thu được nhiều hơn vào
Trang 6Giai đoạn phát triển của trứng cá Giai đoạn của cá con Tầng
thu
mẫu
Thời
Tầng
đáy
Tầng
xiên
Tầng
mặt
(Chú thích: Ngày: từ 6 giờ đến 17 giờ ; Đêm : từ 18 giờ đến 5 giờ)
Trang 7Hình 10 TC tầng xiên theo ngày - đêm Hình 11 CC tầng xiên theo ngày - đêm
Từ hình 8, 9, 10, 11, 12 và 13 cho thấy:
Nhìn chung số lượng TCCC thu được vào
ban ngày thường ít hơn vào ban đêm, đặc
biệt đối với những trạm ven bờ và phía Mũi
Cà Mau Tuy nhiên, tại trạm số 45 ở vùng
biển Tây Nam Bộ, số lượng TC có xu hướng
ngược lại với xu hướng chung là cao vào
ban ngày và ít vào ban đêm
4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
4.1 Đối với TC: Họ cá Trỏng -
Engraulidae thu được số lượng nhiều nhất
Sau đó là các họ cá Bơn lưỡi -
Cynoglossidae; họ cá Mối - Synodontidae; họ
Leiognathidae; họ cá Trỏng - Engraulidae; họ
cá Khế - Carangidae; họ cá Trích -
Platycephalidae; họ cá Phèn - Mullidae; họ
cá Căng - Teraponidae; họ cá Sơn -
Cynoglossidae; họ cá Bò một gai -
Scombridae
4.3 TC thu được ở tầng mặt thường cao
hơn ở tầng đáy và ngược lại đối với CC
4.4 TC thu được ở vùng biển có độ sâu <
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đỗ Văn Nguyên, 1999, Thành phần, mật độ và phân bố trứng cá - cá con ở vùng biển Việt
Nam thu trên tàu M,V SEAFDEC, Báo cáo khoa học, Viện Nghiên cứu Hải sản
2 Nguyễn Hữu Phụng, 1991, Trứng cá cá con ở vùng biển Việt Nam; Tuyển tập nghiên cứu biển,
Tập III, trang 5-20, Viện Hải Dương học Nha Trang
3 Nguyễn Hữu Phụng, 1994, Trứng cá cá con ở vùng biển Việt Nam, Chuyên khảo biển Việt Nam, tập IV, phần 1, trang 55-68, Viện Hải Dương học Nha Trang
4 Nguyễn Thị Thu, 1985, Tình hình trứng cá - cá bột đầm nước lợ Hải Phòng - Quảng Yên, Báo
cáo chuyên đề, Phân Viện Hải Dương Học tại Hải Phòng
5 Yoshinobu Konishi and ect, 2005, Recruiment processes of jack mackerel (Trachurus
japonicus) in the East China Sea (ECS) in relation to enviromental conditions, Southaest
Asean Fisheries Development Center (SEAFDEC)
ABSTRACT
This report based on fish egg and larvae data collected from 60 stations (including 8 day - night stations with sampling frequency of every 4 hours) in near shore East - West of Southern seawaters, from 08015-11000 N and 103050-10803 E, at the depth of 4 to 30 m The survey was executed on board the vessel named BV7603TS of a fisherman in Vung Tau from March - April, 2007
Fish egg and larvae samples collected by three types of net: surface, vertical and bottom nets Total number of sampled fish eggs and larvae were 37,466 and 23,694, respectively
The quantity of fish eggs collected in surface is observed larger than the one collected from bottom; and at the depth of less than 20 m is larger than at 20-30m This is contrary to the observations of larvae
The quantity of fish egg and larvae collected at nighttime was observed larger than at daytime This shows the fact that the adult fish join the reproducing in the time from midnight to early morning Fish eggs and larvae at three water levels are observed similar in the trend of distribution but different in density The density of fish egg and larvae was observed most dominant at surface, followed by the one at bottom, and then vertical level
The density of fish egg and larvae in inshore, estuary and around of islands was observed higher than that in offshore
... độ phân bố trứng cá - cá vùng biển ViệtNam thu tàu M,V SEAFDEC, Báo cáo khoa học, Viện Nghiên cứu Hải sản
2 Nguyễn Hữu Phụng, 1991, Trứng cá cá vùng biển Việt Nam; ... Engraulidae; họ
cá Khế - Carangidae; họ cá Trích -
Platycephalidae; họ cá Phèn - Mullidae; họ
cá Căng - Teraponidae; họ cá Sơn -
Cynoglossidae; họ cá Bò gai -
Scombridae... phần 1, trang 5 5-6 8, Viện Hải Dương học Nha Trang
4 Nguyễn Thị Thu, 1985, Tình hình trứng cá - cá bột đầm nước lợ Hải Phòng - Quảng Yên, Báo
cáo chuyên đề, Phân Viện Hải Dương