SỬ DỤNG ĐẤT VƯỜN ĐỒI Ở HUYỆN VÕ NHAI – TỈNH THÁI NGUYÊN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Ngô Xuân Hoàng * Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật – ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Ở huyện Võ Nhai đất vườn
Trang 1SỬ DỤNG ĐẤT VƯỜN ĐỒI Ở HUYỆN VÕ NHAI – TỈNH THÁI NGUYÊN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngô Xuân Hoàng *
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Ở huyện Võ Nhai đất vườn đồi được sử dụng thông qua 5 loại mô hình chủ yếu đó là: Mô hình cây lương thực (chiếm 32,5% diện tích), Mô hình cây chè (chiếm 8,2% diện tích), Mô hình trồng cây ăn quả chủ yếu là cây hồng, cam quýt, vải nhãn và mận, các loại cây này được trồng thành vườn với quy mô khác nhau Mô hình hình vườn tạp tương đối phổ biến, đặc biệt là những hộ người dân tộc thiểu số với mục đích sản xuất tự túc, tự cấp là chính Mô hình nông lâm kết hợp, là mô hình mới nhưng có triển vọng, được phát triển ở vùng phía Bắc và vùng cao của huyện nơi có diện tích đất rộng và dốc
Kết quả cho thấy: mô hình cây chè, mô hình trồng cây ăn quả và mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả kinh tế cao hơn các mô hình khác, do vậy phát triển kinh tế vườn đồi của huyện cần mở rộng và phát triển các mô hình cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và mô hình nông lâm kết hợp, tiến tới thu hẹp và xoá bỏ mô hình vườn tạp, vườn cây lương thực đem lại hiệu quả kinh tế thấp
Để phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất vườn đồi, cần phải thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp về quy hoạch sử dụng đất cho từng xã, giải pháp về khuyến nông, giải pháp về vốn cho
hộ nông dân, giải pháp về thị trường và chế biến sản phẩm Giải pháp xây dựng, phát triển mô hình
trang trại phù hợp với địa phương, phát triển các mô hình vườn đồi vườn rừng có hiệu quả kinh tế cao
Từ khóa: Hiệu quả, giải pháp chủ yếu, sử dụng đất vườn đồi
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái
Nguyên, gồm 14 xã và một thị trấn với tổng
số nhân khẩu là 62.744 người, tổng diện tích
đất tự nhiên là 84.510,4 ha (2008), trong đó
đất nông nghiệp 7.318,7 ha (8,68%), đất lâm
nghiệp 56.238 ha (66,7%) Trong những năm
gần đây, khai thác và sử dụng đất vườn đồi đã
đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên
chưa xứng với tiềm năng đất vườn đồi của
huyện Do vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất
vườn đồi nhằm tìm ra những giải pháp khả thi
góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn đất đai
của huyện là việc làm hết sức cần thiết Trong
bài viết này chúng tôi muốn làm rõ thực trạng
và hiệu quả sử dụng đất vườn đồi ở huyện Võ
Nhai, kết quả đạt được, những hạn chế và
tiềm năng nâng cao hiệu quả sử dụng đất
vườn đồi từ đó đề xuất những giải pháp chủ
yếu mang tính khả thi nhằm sử dụng có hiệu
Tel: 0912140868
quả đất vườn đồi trên địa bàn huyện trong những năm tiếp theo
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành nghiên cứu chúng tôi đã chọn 8
xã, trong đó có 5 xã vùng thấp và 3 xã vùng cao, các xã này được phân bố ở các vùng trong huyện Sau đó chọn 240 hộ để điều tra thu thập số liệu Trong quá trình thu thập số liệu chúng tôi đã sử dụng phương pháp chuyên gia, chuyên khảo, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát thực tế Số liệu được kiểm tra chỉnh lý và khẳng định độ tin cậy sau
đó được phân tổ và trình bày ở bảng thống kê,
đồ thị thống kê, bảng tính toán EXCEL Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, được tính cho từng loại mô hình
sử dụng đất trên từng vùng Bên cạnh đó phương pháp phân tích thống kê kinh tế và
Trang 2nhiều phương pháp phân tích khác cũng đã
được dùng trong phân tích và dự báo
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm và mô hình sử dụng đất vườn đồi
ở huyện Võ Nhai
Huyện Võ Nhai được chia thành 3 tiểu vùng
nhỏ thuộc 2 vùng sinh thái: vùng núi cao thuận
lợi phát triển sản xuất lâm nghiệp, trồng cây ăn
quả và chăn nuôi đại gia súc; vùng núi thấp
hướng phát triển chính là trồng lúa, cây lương
thực, rau màu, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc,
gia cầm Võ Nhai với địa hình tương đối phức tạp diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, diện tích đất đồi núi chiếm tỷ trọng lớn - thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, cây lâm nghiệp và các loại cây trồng cạn khác Qua điều tra khảo sát 240 điểm được phân bố đều ở các vùng kinh tế trong huyện cho thấy: đất vườn đồi được sử dụng thông qua 5 loại mô hình chủ yếu, có thể khái quát như sau (bảng 01)
Bảng 01 Tình hình sử dụng đất vườn đồi năm 2008 tại điểm điều tra
Mô hình
Khá T.bình Nghèo Khá T.bình Nghèo Số lượng (ha) Tỷ lệ (%)
Nguồn: tổng hợp từ số liệu điều tra
Mô hình cây lương thực (MH1): trên đất
vườn đồi chủ yếu là trồng cây lương thực
như ngô, lúa cạn, sắn và đậu tương, tỷ trọng
diện tích của mô hình chiếm 32,5% trong
tổng diện tích điều tra Chủ yếu là các hộ
nghèo và trung bình, sản phẩm làm ra chủ yếu
phục vụ cho bản thân nông hộ, phần dôi ra
dùng để phát triển chăn nuôi, tỷ lệ sản phẩm
hàng hoá nhỏ Giống cây trồng chủ yếu là các
giống địa phương, đầu tư thâm canh thấp, lấy
công làm lãi là chính, chỉ trồng một vụ trong
năm nên sản xuất bấp bênh, hiệu quả kinh tế
và môi trường thấp
Mô hình cây chè (MH2): phát triển chủ yếu là
cây chè, bên cạnh đó còn có một số loại cây
khác như cam, quýt, hồng xiêm Diện tích mô
hình này chiếm khoảng 8,2% trong tổng diện
tích điều tra, tập trung chủ yếu ở phần giữa
của hai vùng trong huyện Đối tượng sản xuất
chủ yếu là các hộ người dân tộc Kinh khai
hoang, cây chè được trồng và chăm sóc tương
đối tốt cho năng suất ổn định Qua điều tra
cho thấy, hầu hết diện tích chè được các hộ
trồng và chăm sóc theo hướng quảng canh
(trồng không đúng kỹ thuật, đầu tư phân bón
ít, không đốn…) Trong 5,7 ha có tới 4 ha trồng theo hướng này, giống chè sử dụng chủ yếu là Trung du, Trung Quốc lá nhỏ
Mô hình trồng cây ăn quả (MH3): chủ yếu là
cây hồng, cam quýt, vải nhãn và mận, các loại cây này được trồng thành vườn với quy mô khác nhau, sản phẩm mang tính hàng hoá cung cấp cho nhiều nơi trong toàn quốc Đối tượng sản xuất thường là các hộ có kinh tế khá Mô hình này đem lại hiệu quả kinh tế cao và ngày càng được chú trọng mở mang, được coi là giải pháp rất quan trọng để cải thiện nâng cao đời sống người dân, phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn huyện
Mô hình hình vườn tạp (MH 4): tương đối phổ
biến trong đời sống sản xuất của nông hộ trong vùng, đặc biệt là những hộ người dân tộc thiểu
số với mục đích sản xuất tự túc, tự cấp là chính Cây trồng trong mô hình sản xuất này rất đa dạng, manh mún bao gồm cây ăn quả, cây lương thực, cây rau các loại, sản phẩm hàng hoá rất ít, không được chú trọng đầu tư, sản xuất bấp bênh hiệu quả thấp Đối tượng
Trang 3sản xuất gồm nhiều loại khác nhau, chủ yếu là
nhóm hộ nghèo, trung bình
Mô hình nông lâm kết hợp (MH 5): đây là mô
hình mới nhưng có triển vọng, được phát triển
ở vùng phía Bắc và vùng cao của huyện nơi
có diện tích đất rộng và dốc Hiện nay ở
huyện Võ Nhai mô hình nông lâm kết hợp có
3 kiểu chính:
Mô hình cây lâm nghiệp - cây ăn quả - cây
lương thực: mô hình này được các hộ bố trí
như sau: đỉnh đồi có độ dốc lớn trồng cây lâm
nghiệp (rừng mới trồng hoặc rừng khoanh nuôi
bảo vệ) dưới tán rừng chăn nuôi dê Phần lưng
đồi trồng cây ăn quả (vải, mơ), phần chân đồi
trồng cây lương thực như lúa, ngô
Mô hình cây lâm nghiệp - cây lương thực, cây
công nghiệp ngắn ngày - ao: bố trí như sau
phần chỏm đồi phát triển cây lâm nghiệp
(rừng khoanh nuôi tái sinh), phía dưới thấp
hơn trồng cây lương thực và cây công nghiệp
ngắn ngày Mô hình này thường được thiết kế
theo kiểu nương định canh (nương có băng
cốt khí hoặc xếp băng đá), điển hình ở các xã
Tràng Xá, La Hiên, Thượng Nung
Mô hình cây lâm nghiệp-cây ăn quả-cây công
nghiệp ngắn ngày: ở phần chỏm đồi phát triển
cây lâm nghiệp và chăn thả trâu bò, phần giữa
trồng cây ăn quả (vải, mơ), chân đồi trồng
một số loại cây cây công nghiệp ngắn ngày
Qua thực tế cho thấy: Nhóm hộ nghèo thường
quan tâm đầu tư đem lại lợi ích trước mắt và
an toàn lương thực (mô hình cây lương thực,
vườn tạp) Nhóm hộ khá và trung bình đầu tư
vào những mô hình sản xuất mang tầm chiến
lược hơn, kết hợp hài hoà giữa lợi ích trước
mắt và lâu dài (mô hình cây lương thực, ăn
quả, công nghiệp và nông lâm kết hợp)
Hiệu quả kinh tế sử dụng đất vườn đồi ở
huyện Võ Nhai
Hiệu quả kinh tế mô hình trồng cây lương
thực (MH1) Là mô hình tương đối phổ biến,
đặc biệt là ở các hộ nông dân vùng sâu, vùng
xa Mô hình này tập trung hầu hết ở các hộ
nghèo và hộ trung bình, thường nhiều nhân
khẩu, ít ruộng, thậm chí không có ruộng
Trong mô hình này thường có 3 loại cây trồng
chính là lúa nương, ngô, sắn và đỗ tương Các
loại cây trồng này đều dễ trồng, đầu tư ít, sử
dụng kỹ thuật truyền thống, sản xuất quảng
canh, các hộ nông dân chủ yếu lấy công làm lãi, dựa vào sự ưu đãi của tự nhiên Qua tính toán cho thấy: năng suất các loại cây trồng có
sự chênh lệch giữa 2 vùng, trong mô hình có ngô, đỗ tương và lạc là cho GO từ 3332 đến
4950 nghìn đồng/ha (vùng thấp), từ 3165 đến
4725 nghìn đồng/ha (vùng cao) Thấp nhất là
sắn có GO từ 2598 đến 2691 nghìn đồng/ha Nhìn chung MI/ngày lao động thấp, nông dân lấy công làm lãi, ngày lao động bình quân trong sản xuất vườn đồi dôi ra từ 2,0-2,5 nghìn đồng so với ngày lao động thuê ngoài Tuy vậy, đây là nơi cung cấp nguồn lương thực quan trọng cho các hộ nông dân mặc dù các loại cây trồng có năng suất không ổn định phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, hiệu quả kinh tế thấp
Hiệu quả kinh tế của mô hình cây chè (MH2)
Mô hình này chủ yếu là cây chè, bên cạnh các
hộ còn trồng xen một số loại cây ăn quả như: hồng, vải, nhãn Tuy vậy, các loại cây này chủ yếu tạo bóng mát, chưa được chú ý phát triển Các hộ trồng chè chủ yếu là người kinh lên khai hoang, chè là nguồn thu nhập chính, sản phẩm hàng hóa cao, với chất lượng không thua kém chè ở các vùng nối tiếng khác Nhìn chung hiệu quả sản xuất chè tương đối cao Nhìn chung năng suất chè ở vùng thấp cao hơn năng suất chè ở vùng cao khoảng 1,8 tạ/ha, đặc biệt là chè thâm canh có năng suất cao hơn chè quảng canh khoảng 3,8 tạ/ha, hiệu quả kinh tế cây chè gấp khoảng 7,2 lần
so với cây lương thực Tuy vậy, hiệu quả kinh
tế sản xuất sản xuất cây chè ở Võ Nhai còn thấp hơn nhiều so với các vùng chè khác (năng suất, hiệu quả chỉ bằng 1/2 so với chè ở huyện Đại Từ và chè ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang) Hiện nay sản xuất chè đã bắt đầu phát triển khá mạnh ở huyện Võ Nhai Tuy nhiên, việc trồng chè vẫn chủ yếu theo hướng quảng canh (70% diện tích trồng hạt, giống cũ, không thiết kế hàng chè theo đường đồng mức) do vậy, ảnh hưởng đến khả năng phát triển và năng suất của cây chè Đầu tư vật chất cho sản xuất chè còn hạn chế, chủ yếu là thuốc sâu và phân hoá học do vậy phần nào ảnh hưởng đến chất lượng đất và khả năng tăng năng suất trong những năm tiếp theo
Trang 4Hiệu quả kinh tế mô hình cây ăn quả (MH3)
Đây là mô hình có hiệu quả nhất, tập đoàn
cây trồng chính trong mô hình này gồm hồng
và cam quýt Bên cạnh cây hồng, cây cam,
quýt cũng được phát triển, huyện Võ Nhai có
nhiều giống cam, quýt … loại hoa quả này
thường chín vào dịp Tết, giá bán cao đem lại
thu nhập đáng kể cho các hộ nông dân Tuy
vậy, hiện nay giống cam quýt ở Võ Nhai cũng
bị suy thoái, sâu bệnh nhiều, chất lượng quả
không tốt Trong mô hình này cây hồng có
hiệu quả kinh tế cao nhất, bình quân 1 ha
hồng cho GO từ 15406 đến 15615 nghìn
đồng/ha/năm, đem lại MI từ 11094 đến 12398
nghìn đồng/năm, bình quân/ngày lao động đạt
40,7 đến 41,4 nghìn đồng, sau khi trừ chi phí
lãi khoảng 30,7 đến 31,4 nghìn đồng/ngày lao
động Cây cam có hiệu quả đứng thứ 2, tiếp
đó là cây quít, mô hình cây ăn quả là cho hiệu
quả cao hơn hẳn các mô hình khác từ 14-15
lần Tuy nhiên, mô hình này có những hạn
chế sau: năng suất và sản lượng cây trồng phụ
thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, năm được
mùa, năm mất mùa ảnh hưởng đến đời sống
nông dân Sản phẩm khó bảo quản, phụ thuộc
nhiều vào thị trường, vốn đầu tư ban đầu cao
do vậy thường thích hợp với những hộ khá và
trung bình, hộ nghèo khó phát triển
Hiệu quả kinh tế mô hình vườn tạp và nông
lâm kết hợp (MH4, MH5) Mô hình vườn tạp
(MH 4): đây là mô hình canh tác truyền thống
của các nông miền núi Sản phẩm vườn tạp
chủ yếu để tiêu dùng cho đời sống hàng ngày
của nông hộ - thể hiện tính tự cung tự cấp rõ
nét Xét về mặt hiệu quả kinh tế, mô hình
vườn tạp có hiệu quả thấp hơn mô hình cây ăn
quả, cây công nghiệp dài ngày và mô hình
trồng cây lương thực Nhìn chung hiệu quả sử
dụng đất vườn tạp ở cả 2 vùng còn thấp chỉ
đạt GO từ 3279 đến 3975 nghìn đồng/ha/năm,
do cơ cấu cây trồng và trình độ đầu tư thâm
canh còn hạn chế Tuy vậy, xét theo quan
điểm hệ thống thì mô hình vườn tạp có tính
bền vững cao do có nhiều tầng che phủ,
nhiều bộ rễ ăn sâu trong lòng đất, nên chịu
được xói mòn rửa trôi, tính ổn định cao,
mức độ rủi ro thấp, gắn chặt với cuộc sống
người nông dân từ lâu đời
Mô hình nông lâm kết hợp (MH5): đây là mô
hình mới được hình thành và phát triển kể từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về thực hiện chính sách giao đất giao rừng cho các hộ nông dân ở huyện Võ Nhai Nhiều hộ
đã phát huy thế mạnh sẵn có, lấy phương châm "lấy ngắn nuôi dài" mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất theo hướng nông lâm kết hợp trên cùng diện tích canh tác Số liệu cho thấy: mô hình nông lâm kết hợp tuy mới hình thành và phát triển nhưng bước đầu mang lại hiệu quả cao, GO đạt trung bình khoảng
10725 đến 10825 nghìn đồng/ha các chỉ tiêu khác cũng đạt tương đối cao Hệ thống nông lâm kết hợp sẽ được coi là hệ thống bền vững
và là mô hình phổ biến trong tương lai ở huyện Võ Nhai, đặc biệt ở các xã vùng cao nơi có điều kiện thuận lợi về diện tích
Hiệu quả kinh tế tổng hợp các mô hình sử dụng đất vườn đồi Sau khi tính toán hiệu quả
kinh tế của từng mô hình sử dụng đất vườn đồi, chúng tôi đã tổng hợp, trình bày trong bảng 02, qua bảng này cho thấy nhìn chung
mô hình 2, mô hình 3 và mô hình 5 có hiệu quả kinh tế cao hơn các mô hình khác, điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế vườn đồi của huyện là mở rộng
và phát triển các mô hình cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và mô hình nông lâm kết hợp, tiến tới thu hẹp và xoá bỏ mô hình vườn tạp, vườn trồng các loại cây lương thực đem lại hiệu quả kinh tế thấp
Như vậy: đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất vườn đồi cho thấy
Trên đất vườn đồi, nông hộ sử dụng đất vườn
đồi theo nhiều mô hình khác nhau (mô hình cây
lương thực, mô hình cây ăn quả, mô hình cây chè, mô hình vườn tạp và mô hình nông lâm kết hợp) và bước đầu đem lại hiệu quả nhất định
góp phần nâng cao đời sống người dân Đối với cây hàng năm: ở cả hai vùng, cây đậu tương đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, tiếp đó là cây lạc, sau đó là ngô, lúa và cây sắn Do vậy, việc đẩy mạnh phát phát triển sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày với chủng loại, cơ cấu, giống phù hợp cùng với việc tiếp tục trồng các loại cây lương thực chủ yếu (trong mô hình nông lâm kết hợp)
Trang 5vẫn là hướng đi trước mắt và lâu dài đối với
sản xuất trên vườn đồi
Đối với cây lâu năm: cây hồng, cam, cây chè
vẫn là các loại cây đem lại hiệu quả kinh tế
cao, quyết định thu nhập và đời sống trong
nông hộ Cây vải, tuy mới được đưa vào trồng
trên địa bàn huyện thông qua hỗ trợ của các
chương trình dự án, nhưng đã khẳng định được
vị trí Hiệu quả thấp nhất là cây quít do ảnh
hưởng của yếu tố giống, năng suất, giá cả…
Sử dụng đất vườn đồi theo hướng trồng cây
ăn quả, cây chè và xây dựng mô hình nông
lâm kết hợp bước đầu đem lại hiệu quả cao
cần nhân rộng, phát triển Bên cạnh đó cần
tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiến bộ vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất vườn đồi
Qua đánh giá, phân tích cho thấy: trên đất
vườn đồi/rừng cần tập trung chú ý phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày
và cây ăn quả với số lượng, quy mô và cơ cấu giống phù hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao Chú ý phát triển các mô hình sử dụng đất có hiệu quả cao như mô hình chè, cây ăn quả, nông lâm kết hợp ở những nơi có điều kiện phù hợp, tiến tới xoá bỏ diện tích vườn tạp và vườn cây lương thực
Bảng 02 Hiệu quả kinh tế tổng hợp các mô hình sản xuất vườn đồi năm 2008
tại điểm điều tra (Bình quân 1 ha TT)
Mô hình GO
(1000đ)
VA (1000đ)
MI (1000đ)
GO/IC (lần)
VA/IC (lần)
MI/IC (lần)
GO/Ng lđ (1000đ)
VA/Ng lđ (1000đ)
MI/Ng lđ (1000đ) I.Vùng thấp
Mô hình 1 4017,8 3402,8 2787,8 3,3 2,8 2,3 18,5 14,5 12,5
Mô hình 2 15167,5 13258,0 11348,5 4,0 3,5 3,0 35,2 28,8 26,3
Mô hình 3 12731,0 11079,0 9426,9 3,9 3,4 2,9 47,0 42,0 34,5
Mô hình 4 3575,0 3076,0 2577,0 3,6 3,1 3,0 19,4 16,7 14,0
Mô hình 5 10825,0 9300,0 7775,0 3,5 3,0 2,5 32,5 27,9 23,3
II.Vùng cao
Mô hình 1 3765,0 3178,3 2591,5 3,2 2,7 2,2 17,7 22,3 12,0
Mô hình 2 13837,5 11995,3 10153,0 3,8 3,3 2,8 34,6 30,0 25,3
Mô hình 3 12106,5 10541,5 8976,4 3,9 3,4 2,9 45,5 26,1 33,2
Mô hình 4 3279,0 2809,5 2340,0 3,5 3,0 2,5 19,1 16,4 13,6
Mô hình 5 10725,0 9162,5 7600,0 3,4 2,9 2,5 32,3 27,6 22,9
Giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu
quả đất vườn đồi ở huyện Võ Nhai
Trong giai đoạn 2008-2015, cải tạo 10.651,5
ha đất đồi núi để trồng rừng sản xuất, xây
dựng mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây
công nghiệp, cây ăn quả và phát triển chăn
nuôi đại gia súc Phương hướng sử dụng đất
vườn đồi sẽ là: huy động tối đa đất vườn đồi,
vườn rừng vào sản xuất; chuyển giao các tiến
bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp đến các hộ nông
dân, đặc biệt là hộ vùng sâu, xa; mở rộng diện
tích các loại cây công nghiệp và cây ăn quả;
khuyến khích nông hộ làm giàu và phát triển thành trang trại gia đình
Giải pháp chung
Giải pháp quy hoạch sử dụng đất cho từng xã
Cần hoàn thành việc xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất cho các xã, việc xây dựng phương án quy hoạch cần có sự tham gia của người dân Tiếp tục hoàn chỉnh việc giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất Bên cạnh đó cần khuyến khích nông dân trao đổi, chuyển nhượng đất, tăng cường tập trung
Trang 6ruộng đất; kết hợp giao quyền quản lý sử
dụng đất đai và công tác khuyến nông; đề
nghị các chủ sử dụng đất cần tuân thủ chặt
chẽ quy hoạch sử dụng đất
Giải pháp về khuyến nông
Về nội dung hoạt động: cần tập trung hỗ trợ
nông dân cách tổ chức sản xuất hướng dẫn kỹ
thuật canh tác trên đất dốc, chống xói mòn,
cách sử dụng vốn, hạch toán kinh tế, sử dụng
phân bón, phòng trừ sâu bệnh, chú ý đến kỹ
thuật đầu tư thấp, phát huy kiến thức bản địa
về cây trồng, chế biến, bảo quản sản phẩm
Tuy vậy, cần xác định các chủ đề đào tạo cho
phù hợp với từng đối tượng nông hộ (hộ khá
giàu, trung bình, nghèo)
Về phương pháp hoạt động: cần xây dựng kế
hoạch sớm và phát huy tối đa sự tham gia của
người dân; tổng kết kinh nghiệm tìm ra
phương pháp khuyến nông phù hợp với địa
phương; sử dụng phương pháp truyền đạt
ngắn gọn, dễ hiểu, chủ yếu là trao đổi kết hợp
với việc sử dụng các hình ảnh, tờ bướm kỹ
thuật, mô hình; khuyến cáo phải dễ áp dụng
và phù hợp với điều kiện nông dân; tăng
cường cung cấp thông tin cho nông dân thông
qua sách báo, ấn phẩm khuyến nông, đài, ti vi;
xây dựng các câu lạc bộ khuyến nông, nhóm
sở thích, làng khuyến nông tự quản Phải
chuyển hẳn phương pháp khuyến nông cung
cấp hiện nay sang khuyến nông theo yêu cầu
Giải pháp về vốn cho hộ nông dân
Đối với hộ khá và quỹ đất lớn, cần tăng
cường vốn vay trung hạn (5-7 trđ) và vốn vay
dài hạn (10-15 trđ) Hộ trung bình cần tăng
cường lượng vốn vay trung hạn (5-7 trđ) Các
hộ nghèo tăng cường cho vay vốn từ 3-5 trđ
(chủ yếu là hiện vật) Bên cạnh đó Ngân hàng
cần cải tiến thủ tục vay vốn, đa dạng nguồn
vốn vay, hình thành quỹ tín dụng nhân dân,
gắn chặt giữa hoạt động cho vay, khuyến
nông và hệ thống dịch vụ vật tư
Giải pháp về thị trường và chế biến sản phẩm
Về thị trường: Gắn người sản xuất với tiêu
dùng, giữa sản xuất với chế biến thông qua
xây dựng mối liên hệ giữa tổ chức tiêu thụ với
nhóm nông hộ Bên cạnh đó việc cung cấp
thông tin về giá sẽ giúp cho nông hộ đưa ra
quyết định đúng đắn trong sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm ở thị trường nào có lợi nhất
Vấn đề sơ chế biến: cần đề nghị với Nhà nước
hoặc kêu gọi doanh nghiệp tư nhân xây dựng 1-2 cơ sở chế biến với quy mô vừa, chế biến sản phẩm mơ, mận, vải, nhãn, gỗ ván ép, cót
ép, hàng thủ công mây tre đan, đó là nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương để tạo đầu ra cho các loại sản phẩm
Giải pháp xây dựng, phát triển mô hình trang trại phù hợp với địa phương Giải pháp này
có thể áp dụng đối với hộ khá giàu hoặc có
quỹ đất lớn Ở huyện Võ Nhai các nông hộ có thể phát triển trang trại theo 4 hướng: trang
trại nông lâm kết hợp, trang trại lâm nghiệp, trang trại nông lâm -dịch vụ, trang trại nông lâm ngành nghề Tuy vậy cần có
hướng dẫn và chính sách cụ thể để giúp các
hộ phát triển đúng hướng
Giải pháp cụ thể
Tăng cường phát triển các mô hình vườn đồi vườn rừng có hiệu quả kinh tế cao như mô
hình cây ăn quả, mô hình cây chè và mô hình lâm kết hợp nhằm sử dụng đất có hiệu quả và tạo ra những vùng sản xuất hàng hoá Việc xây dựng vườn đồi dưới dạng mô hình canh tác đất dốc là hết sức cần thiết, nhằm hạn chế rửa trôi, giảm xói mòn, tăng độ dinh dưỡng và
độ ẩm của đất
Cải tạo vườn tạp trở thành vườn cây ăn quả
có hiệu quả kinh tế cao Việc thay thế nên
tiến hành từng bước theo phương pháp trồng xen và tạo gốc ghép, phương pháp trồng xen nhằm loại thải những cây trồng có năng suất thấp, bị sâu bệnh, thay vào đó những cây trồng mới có năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt Phương pháp tạo gốc ghép nhằm tận dụng những cây hiện có trong vườn, bằng cách chặt bỏ phần ngọn, giữ lại phần gốc sau đó ghép những giống có năng suất cao (ghép nêm, ghép áp, ghép mắt ) để có những cây có sản phẩm nhiều hơn, phương pháp này hiện nay được áp dụng phổ biến để cải tạo vườn tạp ở nhiều nơi trên miền Bắc
Cải tạo và lựa chọn giống cây trồng phù hợp, năng suất cao chất lượng tốt dễ tiêu thụ
Đối với cây chè: cải tạo giống chè trung du ở những nơi trồng trên 20 năm có năng suất thấp bằng cách đốn cải tạo hoặc phá bỏ để trồng cây chè cành giống PH1 Phát triển
Trang 7giống chè PH1 có năng suất tiềm năng 55
tạ/ha, chất hoà tan cao 49,0% Bên cạnh đó
đối với các xã vùng cao nên tập trung phát
triển diện tích cây chè Tuyến san với thị
trường tiêu thụ lớn phục vụ cho chương trình
phát triển cây chè xuất khẩu của tỉnh
Đối với cây hồng: cần tập trung phát triển
giống hồng địa phương với mẫu mã, chất
lượng, hương vị phù hợp và giá bán cao
Trong quá trình phát triển cần chú ý chọn lọc
cải tạo chất lượng cây giống, kiên quyết
không cho phát triển những cây giống kém
chất lượng, loại bỏ giống kém chất lượng ra
khỏi địa bàn huyện
Đối với các loại cây vải, nhãn: cần du nhập và
phát triển các loại cây giống vải nhãn có năng
suất chất lượng cao như vải thiều Lục Ngạn,
nhãn Hưng Yên đã khẳng định tính thích nghi
với điều kiện miền núi Tuy vậy, cần chú ý
đến nguồn gốc giống để đảm bảo cây trồng
được bảo hành về chất lượng tránh tình trạng
"cây không có quả" và phải chặt hàng loạt
trong những năm gần đây làm ảnh hưởng và
tổn thất lòng tin của người dân đối với nhà
nước, giảm hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Cải tạo đất và áp dụng các biện pháp kỹ thuật
cải tiến trong sản xuất
Cải tạo đất vườn và hệ thống giữ ẩm: Xây
dựng hệ thống cây che phủ, cây bóng mát phù
hợp với từng loại cây trên đất vườn (cây cốt
khí, keo tai tượng, muồng, dứa, lạc), ví dụ: nếu
vườn cây ăn quả thì cây che phủ là đậu, lạc,
dứa; nếu vườn cây công nghiệp dài ngày thì
cây che phủ là muồng, cốt khí, keo tai tượng,
dứa Luôn giữ cho mặt đất được che phủ thông
qua các biện pháp: ủ rác vào gốc cây, trồng cây
phủ đất, không nên cầy xới đất tạo dòng chảy
gây xói mòn cuốn trôi chất dinh dưỡng
Áp dụng các biện pháp kỹ thuật cải tiến trong
sản xuất: Như thiết kế vườn và trồng, đốn tỉa
cành và tạo tán…
KẾT LUẬN
Ở huyện Võ Nhai đất vườn đồi được sử dụng
thông qua 5 loại mô hình chủ yếu đó là: Mô
hình cây lương thực (chiếm 32,5% diện tích),
Mô hình cây chè (chiếm 8,2% diện tích), Mô
hình trồng cây ăn quả chủ yếu là cây hồng,
cam quýt, vải nhãn và mận, các loại cây này
được trồng thành vườn với quy mô khác nhau Mô hình hình vườn tạp tương đối phổ biến, đặc biệt là những hộ người dân tộc thiểu
số với mục đích sản xuất tự túc, tự cấp là chính Mô hình nông lâm kết hợp, là mô hình mới nhưng có triển vọng, được phát triển ở vùng phía Bắc và vùng cao của huyện nơi có diện tích đất rộng và dốc
Kết quả nghiên cứu cho thấy: mô hình cây chè, mô hình trồng cây ăn quả và mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả kinh tế cao hơn các mô hình khác, do vậy phát triển kinh tế vườn đồi của huyện cần mở rộng và phát triển các mô hình cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và mô hình nông lâm kết hợp, tiến tới thu hẹp và xoá bỏ mô hình vườn tạp, vườn cây lương thực đem lại hiệu quả kinh tế thấp
Để phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất vườn đồi, cần phải thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp về quy hoạch sử dụng đất cho từng xã, giải pháp về khuyến nông, giải pháp về vốn cho hộ nông dân, giải pháp về thị trường và chế biến sản phẩm Giải pháp xây dựng, phát triển mô hình trang trại phù hợp với địa phương, phát triển các mô hình vườn đồi vườn rừng có hiệu quả kinh tế cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo cáo quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010 (1996) Trình quốc hội khoá IX, kỳ
họp thứ 10, kèm tờ trình số 4665/KTN ngày 15/9, Hà Nội
[2] Chu Hữu Quý (1999), Những vấn đề đặt ra đối với hộ nông dân trong việc sử dụng đất hiện nay,
Tài liệu hội thảo HAU - JICA, Hà Nội, tháng 10
[3] UBND huyện Võ Nhai (2008), Báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp huyện Võ Nhai, Võ Nhai, tháng 12
[4] Ngô Xuân Hoàng (2003), Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp ở huyện Bạch Thông - tỉnh Bắc Kạn, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Hà Nội
[5] Ngô Xuân Hoàng (2006) Giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả đất gò đồi ở huyện Võ Nhai –tỉnh Thái Nguyên, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ
[6] Nguyễn Xuân Quát (1996), Sử dụng đất tổng hợp và bền vững, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Trang 8SUMMARY
LAND USES OF UPLANDS AND HILL LAND IN VO NHAI DISTRICT THAI NGUYEN PROVINCE: ISSUES AND SOLUTIONS
Ngo Xuan Hoang
College of Economics and Technology - Thai Nguyen University
In Vo Nhai district, there were five main models to use hill-garden land as: Food-plants model (reached 32.5% of area); Tea plants models (made up 8.2% of area); Fruit-tree models had mainly
of Persimmon, Citrus, Litchi, Longan and Plum These fruit-tree were planted as different size gardens Mixed -gardens were fairly popular for minority groups with the major purpose of self-sufficient and self-supplying Combinative models of Agro-Forestry were new ones but its had a good prospects and developed in the North and high-land regions of district which had large and sloping land
The results showed that: Tea plats models, Fruit-tree models and Combinative models of Agro-Forestry had higher economic effects than the other ones Therefore, to develop of hill-garden economics for the district needed to expanse for fruit-tree , long-time industrial-tree and combined Agro-Forestry models And to come to narrowed and rub out the mixed-garden models and food gardens which had low benefit
To develop for production and enhance the using effects for hill-garden, we need to implement the comprehensive measures on land-use plan for each village; And solutions of extension, funds for farmers, market and produce-processing; Construction and development the farm models which suitable with each local area, and develop the hill-garden and forest-garden with high economic effects
Key words: Economic effects and Mail solutions for hill-garden using
Tel: 0912140868