PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ CANH TÁC TRÊN ĐẤT DỐC Ở HUYỆN MÙ CĂNG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI Trương Tuấn Linh* , Nguyễn Thị Thanh Huyền Khoa Công nghệ thông tin – Đại học Thá
Trang 1PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ CANH TÁC TRÊN
ĐẤT DỐC Ở HUYỆN MÙ CĂNG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
Trương Tuấn Linh*
, Nguyễn Thị Thanh Huyền
Khoa Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu thực tế về các nhân tố tác động đến hiệu quả canh tác trên đất dốc cho thấy
các yếu tố về lao động của hộ; vốn của hộ; diện tích đất ruộng bậc thang; chi phí sản xuất và biến
giả giao thông có ảnh trực tiếp tới nguồn thu nhập của các nông hộ Vì vậy, làm thế nào để nâng
cao hiệu quả canh tác trên đất dốc nhất là phát triển cây lúa nước ruộng bậc thang khi điều kiện
đồng bào dân tộc người Mông ở địa phương còn nghèo, gặp nhiều khó khăn trong cơ sở hạ tầng và
vốn phục vụ cho sản xuất
Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đề xuất 2 nhóm giải pháp với chính quyền địa phương và
với người dân nhằm nâng cao hiệu quả canh tác trên đất dốc trong đó tập trung vào giải pháp đầu
tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng, tăng cường hỗ trợ vốn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát
triển chăn nuôi, tăng năng suất cây trồng và hiệu quả sử dụng đất
Từ khóa: Ruộng bậc thang, hiệu quả kinh tế, đất dốc, Mù Căng Chải
MỞ ĐẦU
Đất đồi núi (phần lớn là đất dốc) chiếm 3/4
diện tích đất tự nhiên của Việt Nam Do thiếu
đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải
canh tác trên đất có độ dốc cao, dẫn đến việc
đất bị xói mòn rất mạnh và năng suất cây
trồng giảm nhanh Kết quả là đất bị thoái hoá,
năng suất cây trồng thấp nên cuộc sống của
nông dân còn bấp bênh Hiện tượng du canh
du cư còn phổ biến Mặc dù còn nhiều trở
ngại, vùng đất dốc có rất nhiều tiềm năng phát
triển và có vai trò ngày càng quan trọng đối
với sự phát triển và tồn tại của loài người,
nhất là khi hiệu ứng nhà kính thể hiện rõ ảnh
hưởng của nó
Ở Việt Nam, trong điều kiện đô thị hoá, công
nghiệp hoá diễn ra mạnh mẽ, diện tích đất
nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm, để
đảm bảo được việc cung cấp lương thực cho
khu vực miền núi phía Bắc, đòi hỏi khu vực
này phải phát triển sản xuất lương thực ngày
càng cao
Mù Căng Chải là một huyện miền núi khó
khăn, hẻo lánh của tỉnh Yên Bái, đại bộ phận
dân chúng là người Mông Trong những năm
gần đây đời sống của bà con dần ấm no, đầy
đủ đó là một phần nhờ vào hiệu quả của quá
Tel: 0986729868
trình canh tác hợp lý trên đất dốc của đồng bào
Đã có nhiều công trình nghiên cứu canh tác bền vững trên đất đốc ở Việt Nam cũng như ở các nước trên thế giới như mô
hình SALT (kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc), VACR (vườn, ao, chuồng và rừng), trang trại sản xuất rừng đồi và vườn đồi,…
(Bạt 1996, Đặng 2003; Doanh 2003, Phiên
1992, Khang 1997) Nhưng cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu về hiệu quả canh tác trên đất của huyện Mù Căng Chải
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả canh tác trên đất dốc ở huyện Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái” nhằm đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân địa phương
MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Mục đích nghiên cứu là xác định các yếu tố
ảnh hưởng tới thu nhập từ phương thức canh tác trên đất dốc, qua đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, cũng như nhân rộng mô hình canh tác hiệu quả trên đất dốc, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội cho huyện nói riêng và cho khu vực miền núi phía Bắc nói chung
* Nội dung nghiên cứu là phân tích, đánh giá
các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ từ
Trang 2phương thức canh tác trên đất dốc tại huyện
Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái
* Thời gian nghiên cứu: Năm 2006 – 2008
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: Để phù
hợp với mục tiêu nghiên cứu, căn cứ vào đặc
điểm của địa bàn nghiên cứu chúng tôi chọn 2
xã đại diện, La Pán Tẩn và Chế Cu Nha, làm
địa điểm nghiên cứu Mỗi xã chọn 2 thôn và
mỗi thôn 25 mẫu 100 mẫu được chọn ngẫu
nhiên để nghiên cứu
- Số liệu được thu từ điều tra hộ nông dân về
tình hình sản xuất lúa ruộng bậc thang và xử
lý bằng chương trình Excel
- Để phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố
đến sản xuất nông nghiệp và thu nhập của hộ,
chúng tôi sử dụng phương pháp hồi quy để
ước lượng, cụ thể là sử dụng hàm sản xuất
Cobb – Douglas (CD)
Hàm CD có dạng:
Y = AX1b1 X2b2….Xnbn
eC1D1 eC2D2…eCmDm
Trong đó:
Y: là biến phụ thuộc
Xi: là các biến độc lập định lượng
_
(i1, )n Dj: là các biến độc lập thuộc tính
_
(j1, )m
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Huyện Mù Căng Chải là một huyện vùng cao
nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Yên Bái, cách
trung tâm tỉnh 185km theo quốc lộ 37 và 32
Huyện có diện tích là 119.908 km2, nằm dưới
chân dãy núi Hoàng Liên Sơn, ở độ cao 1000
m so với mực nước biển
Tổng diện tích đất tự nhiên là 119.908 ha thì
trong đó diện tích đất ở độ cao trên 1.000m
chiếm 84% và dưới 1.000m chiếm 16% diện
tích đất tự nhiên Với vị trí địa lý và địa hình
khó khăn chỉ thích hợp với việc phát triển
nghề rừng, chăn nuôi đại gia súc, nhưng rất
hạn chế việc phát triển nông nghiệp, xây dựng
cơ sở hạ tầng và giao lưu với bên ngoài
Trong những năm gần đây kinh tế huyện Mù
Căng Chải có sự chuyển biến tích cực GDP
năm 2006 của huyện tăng trưởng
10,23% tăng 0,93% so với 2005 Trong đó
nhóm nông lâm nghiệp tăng 7,56%, công
nghiệp xây dựng tăng 18%, dịch vụ thương
mại 14,89%, GDP/người đạt 2.088 triệu,
lương thực bình quân đầu người đạt 315
kg/người/năm Văn hoá xã hội có nhiều tiến
bộ, an ninh quốc phòng được giữa vững và ổn định
Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập từ phương thức canh tác trên đất dốc
Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của người dân từ phương thức canh tác trên đất dốc của các hộ nông dân ở huyện Mù Căng Chải, chúng tôi sử dụng phương pháp hồi quy tương quan thông qua hàm hồi quy dạng hàm sản xuất Cobb- Douglas (CD)
Bảng 1 Kết quả về thu nhập từ ruộng bậc thang
Biến số
Hệ số ước lượng
Kiểm định T
( t_Stat)
Mức ý nghĩa
( P- Value)
Hệ số chặn 9.368305 12.90077 2.91621E-22
Hệ số tương quan mẫu: R= 0,847
Hệ số xác định: R 2 = 0,717
Hệ số điều chỉnh: R 2 = 0,692
F kiểm định: 28,789; Mức ý nghĩa xác suất của F:
0,00792
Phương trình: Ln(Y)= 9,368 + 0,425Ln(LD) +
0,089Ln(VON) +0,001Ln(NUONG)+
0,235Ln(RBT) + 0,271Ln(CP) + 0,0047Ln(VH) + 0,187GT + 0,0032KN
Mô tả mô hình:
Biến phụ thuộc: Thu nhập từ canh tác trên đất
dốc của hộ (Y)
Biến độc lập: Lao động của hộ (LD), vốn sản
xuất của hộ (VON), diện tích ruộng bậc thang (RBT), diện tích đất nương dốc (NUONG), chi phí canh tác trên đất dốc (CP), trình độ văn hoá của chủ hộ (VH), điều kiện giao thông (GT) (GT = 1 nếu giao thông thuận tiện, GT = 0 nếu giao thông không thuận tiện)
và dịch vụ khuyến nông (KN) (KN = 1 nếu có
sử dụng dịch vụ khuyến nông, và ngược lại
KN = 0 Sử dụng phần mềm Excel cho mô hình CD trên, ta có kết quả về thu nhập từ ruộng bậc thang của hộ như Bảng 1
Với mô hình trên ta có thể nhận xét:
Hệ số tương quan mẫu R = 0,847 cho thấy mối quan hệ giữa các biến là chặt chẽ Hệ số xác định R2
= 0,717 cho thấy sự biến động của thu nhập từ phương thức canh tác trên đất dốc được quyết định bởi 71,7 % là do 8 nhân
Trang 3tố trên tác động, còn lại do các yếu tố ngẫu
nhiên và các yếu tố khác không có trong mô
hình tác động
Fkiểm định: = 28,789, độ tin cậy của
F = 99,99% cho thấy mô hình được chấp nhận
về mặt thống kê Dấu các biến của mô hình
hoàn toàn phù hợp với xu thế thực tế ở địa
phương
Kết quả mô hình cho thấy, chỉ có các biến: lao
động của hộ; vốn của hộ; diện tích đất ruộng
bậc thang; chi phí sản xuất và biến giả giao
thông là đủ độ tin cậy về mặt thống kê để kết
luận có tác động tới biến phụ thuộc Các biến:
diện tích lúa nương; trình độ văn hóa của chủ
hộ; biến giả khuyến nông không đủ độ tin cậy
về mặt thống kê để kết luận có ảnh hưởng tới
biến phụ thuộc
Nếu các nhân tố khác không thay đổi thì:
- Khi lao động của hộ tăng thêm 1% thì thu
nhập từ canh tác trên đất dốc tăng lên
0,425%
- Khi vốn tích luỹ của các hộ tăng lên 1%, khi
đó người dân có điều kiện để đầu tư vào sản
xuất trên đất dốc và làm cho thu nhập tăng thêm
0,089%
- Khi chi phí cho việc canh tác trên đất dốc
tăng thêm 1% thì thu nhập từ cách thức canh
tác này của hộ tăng thêm 0,271%
- Diện tích lúa RBT ảnh hưởng khá lớn tới thu
nhập của hộ, khi tăng thêm 1% diện tích lúa
ruộng bậc thang sẽ làm cho thu nhập của hộ
tăng thêm 0,235%
- Mô hình cũng chỉ ra rằng điều kiện giao thông
có ảnh hưởng tới thu nhập của canh tác trên đất
dốc của hộ Cụ thể, những hộ có điều kiện giao
thông thuận lợi hơn (ở gần đường giao thông từ
300m trở lại) sẽ có thu nhập từ canh tác trên đất
dốc cao hơn những hộ có điều kiện giao thông
khó khăn là 0,187%
Ta sẽ có hai trường hợp sau:
Nếu điều kiện giao thông thuận tiện (GT=1)
thì ta sẽ có phương trình sau:
Ln(Y) = 9,55 + 0,425Ln(LD) +
0,089Ln(VON) + 0,001Ln(NUONG) + 0,235
Ln(RBT) + 0,271Ln(CP) + 0,004Ln(VH) +
0,003 KN
Nếu điều kiện giao thông không thuận tiện
(GT=0) thì ta sẽ có phương trình sau:
Ln(Y) = 9,368 + 0,425Ln(LD) +
0,089Ln(VON) + 0,001Ln(NUONG) + 0,235
Ln(RBT) + 0,271Ln(CP) + 0,004Ln(VH) +
0,003 KN
- Chúng tôi giả thuyết diện tích lúa nương, trình độ văn hóa của chủ hộ và dịch vụ khuyến nông có hiệu quả sẽ làm tăng thêm thu nhập của hộ từ canh tác trên đất dốc, song kết quả nghiên cứu thực tế đã phủ nhận giả thuyết này (không đủ độ tin cậy về mặt thống
kê để kết luận có ảnh hưởng tới thu nhập của
hộ từ canh tác trên đất dốc với P-value >
0.05) Trên thực tế, lúa nương với hộ chỉ là cây trồng phụ do năng suất không cao và điều kiện chăm sóc khó khăn Chính vì thế nguồn thu từ lúa nương hầu như không có trong thu nhập của hộ
Việc canh tác trên đất dốc chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và tập quán canh tác lâu đời của đồng bào nơi đây Chính vì thế mà thu nhập của nông hộ nơi đây không bị ảnh hưởng bởi trình độ văn hoá của chủ hộ
Như trên đã phân tích, khuyến nông nơi đây thực sự còn rất yếu, thiếu cả về cán bộ khuyến nông và cả năng lực của cán bộ Đây
là vấn đề đáng được quan tâm và thay đổi trong thời gian tới
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHƯƠNG THỨC CANH TÁC TRÊN ĐẤT DỐC
Nhóm giải pháp đề xuất với chính quyền huyện Mù Căng Chải
- Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng
nông thôn
- Tăng cường hỗ trợ vốn đầu tư cho sản xuất cho người nghèo với việc xác định đúng đối tượng vay vốn, hỗ trợ lãi suất, tăng lượng vốn vay và hướng dẫn sử dụng vốn vay hiệu quả
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn trong đó chú trọng phát triển chăn nuôi và có chính sách phát triển rừng hợp lý
- Thực hiện công tác kế hoạch hóa gia đình
- Chính sánh phát triển, mở rộng quy mô sản xuất lúa trên RBT Cần tập trung vào công tác giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người dân,
hỗ trợ hơn nữa cho việc khai hoang và phát triển ruộng bậc thang
- Tăng cường hoạt động khuyến nông thông qua việc: đào tạo cán bộ khuyến nông đáp ứng đủ nhu cầu cả về số lượng và chất lượng;
đổi mới các hoạt động khuyến nông, phương pháp khuyến nông dễ hiểu và được tiến hành thực tế trên đồng ruộng của người dân
- Tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản phẩm
vì kênh phân phối tiêu thụ các loại sản phẩm
Trang 4nông sản còn đơn giản, sản xuất phân tán và
bị tư thương ép giá Vì vậy chính quyền cần
thay đổi và trợ giúp cho bà con để họ có thể
có thị trường tiêu thụ sản phẩm tốt, đem lại
thu nhập cao cho nông hộ
- Nâng cao trình độ dân trí của người dân
thông qua việc mở thêm các lớp cấp phổ
thông cơ sở và trung học cơ sở tại thôn bản,
có chính sách khuyến khích và hỗ trợ việc học
tập của con em dân tộc thiểu số
Nhóm giải pháp cho người nông dân
- Tiếp tục khai hoang mở rộng diện tích canh
tác ruộng bậc thang Mở rộng thêm diện tích
đất canh tác là một trong những biện pháp để
góp phần nâng cao sản lượng lương thực nhằm
đảm bảo được vấn đề an toàn lương thực và
nâng cao thu nhập cho người dân nơi đây
- Chủ động tham gia, thực hiện các chương
trình khuyến nông, có ý thức tự giác và chủ
động tham gia vào các chương trình khuyến
nông để có thể nâng cao kỹ thuật sản xuất và
kịp thời nắm bắt các thông tin về thị trường,
giống, kỹ thuật mới
- Tăng cường đầu tư cho chăn nuôi và
trồng trọt
+ Trồng trọt: Các hộ cần tích cực đầu tư mua
các công cụ phục vụ cho sản xuất, đưa các
giống mới có năng suất cao phù hợp với đặc
điểm đất đai và tình hình khí hậu của địa
phương, đầu tư thêm phân bón, chăm sóc đúng
kỹ thuật, đúng thời vụ và phòng trừ sâu bệnh
kịp thời Đồng thời cần sử dụng triệt để những
diện tích đất chưa sử dụng có khả năng trồng
các cây lương thực vào sản xuất, nó sẽ góp
phần làm tăng diện tích đất sử dụng của hộ
+ Chăn nuôi: Với đặc điểm đất đai rộng lớn
nên rất phù hợp cho việc chăn nuôi theo kiểu
chăn thả đàn Các hộ cần mạnh dạn đẩy mạnh
chăn nuôi, đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi theo
quy mô đàn lớn tận dụng điều kiện đất đai lớn
và lao động dư thừa Chăn nuôi tốt sẽ góp
phần lớn làm tăng thu nhập cho gia đình
-Tăng năng suất cây trồng và hiệu quả sử
dụng đất: Muốn thoát nghèo, cần phải quản
lý sử dụng tốt đất đai, nâng cao độ phì nhiêu,
tăng chi phí sản xuất, cải thiện môi trường
Đa dạng hoá hệ canh tác trên đất dốc, phát
triển lúa nước ruộng bậc thang Giải quyết tốt
mối quan hệ đất đồi - ruộng ở vùng đất dốc
Bên cạnh đó, cần lựa chọn những cây trồng phù hợp, phát huy hệ thống canh tác truyền thống, kiến thức bản địa với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
KẾT LUẬN
Mù Căng Chải là một huyện miền núi, còn nghèo và gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế Đất đai nơi đây chủ yếu là đất có
độ dốc tương đối lớn, thực sự khó khăn khi lựa chọn phương thức canh tác và hướng phát triển kinh tế cho bà con nơi đây Đề tài này với mục tiêu là tìm ra phương thức canh tác trên đất dốc hiệu quả nhất, phân tích thực trạng canh tác nơi đây để rút ra những kết luận, những kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế và có thể nhân rộng mô hình ra những nơi có điều kiện đất dốc tương tự
Qua nghiên cứu, khảo sát chúng tôi thấy rằng
bà con nơi đây canh tác trên đất dốc chủ yếu
là 3 loại cây trồng chính là: Lúa nước ruộng bậc thang, ngô nương và lúa nương Với điều kiện về khí hậu, nguồn nước, tập quán canh tác của bà con dân tộc Mông nơi đây thì chủ yếu tập trung vào cây lúa nước ruộng bậc thang Tuy vậy, qua việc phân tích các nhân
tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất dốc của
hộ nông dân Mù Căng Chải, chúng tôi rút ra một số kết luận:
- Hiệu quả sử dụng đất dốc chưa cao là do các nguyên nhân:
+ Lao động của hộ là thủ công, tập quán canh tác cố hữu nên rất khó đưa tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới vào áp dụng
+ Trình độ văn hoá của chủ hộ còn rất thấp, phần lớn là những ngườii đã nhiều tuổi nên nhận thức và cách tiếp cận với phương thức canh tác nào có hiệu quả là rất khó
+ Chi phí đầu tư cho sản xuất còn hạn chế, nguồn vốn của hộ còn rất thấp không đáp ứng
đủ nhu cầu vốn đầu tư cho kỹ thuật và điều kiện canh tác của cây trồng nơi đây
+ Điều kiện giao thông là rất khó khăn, đường liên thôn, liên bản chủ yếu là đường đất nên rất khó có thể đi lại thuận tiện vào mùa mưa (mùa canh tác chính của nông hộ)
+ Đất đai vẫn bị thoái hoá nghiêm trọng mặc
dù đã có nhiều biện pháp và chính sách ngăn chặn
Trang 5+ Kinh tế trên đất dốc phát triển không đồng
đều, cơ cấu kinh tế nơi đây vẫn là sản xuất
nông lâm nghiệp
+ Tập quán canh tác lạc hậu, thiếu thông tin
khoa học kỹ thuật, sản xuất của bà con vẫn
mang tính tự túc tự cấp là chính
- Hiệu quả sử dụng đất dốc có sự khác nhau
rõ rệt giữa lúa nước ruộng bậc thang và các
loại cây trồng khác trên đất nương dốc
+ Lúa nước ruộng bậc thang vẫn là cây trồng chủ lực đem lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội, môi trường cao nhất
+ Chi phí đầu tư, công lao động, nguồn vốn,…
của ruộng bậc thang cao hơn và hiệu quả hơn
so với những cây trồng khác
+ Mặc dù vậy những cây trồng khác như Ngô, Lúa nương có rất nhiều tiềm năng để phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân nơi đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Thái Bạt (1996) Đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền
Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
[2] Nguyễn Thế Đặng, Đặng Văn Minh (2003) Đất dốc Việt Nam Nxb Nông nghiệp
[3] Lê Quốc Doanh, Hà Đinh Tuấn, Andre Chabanne (2005),Canh tác đất dốc bền vững, Nxb Nông
Nghiệp
[4] Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998), Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam Nxb
Nông nghiệp
[5] Nguyễn Khang (1997) Tiềm năng đất dốc Việt Nam, Hội thảo về quản lý dinh dưỡng và nước cho cây trồng
trên đất dốc Hà Nội, tháng 1-1997
SUMMARY
ANALYSE FACTORS AFFECTING CULTIVATING EFFICIENCY OF
SLOPING LAND IN MU CANG CHAI DISTRICT, YEN BAI PROVINCE
Truong Tuan Linh, Nguyen Thi Thanh Huyen
Falcuty of Information and Technology – Thai Nguyen University
The results of our research on factors impacted on cultivating efficiency of sloping land showed
that the following factors have direct effect on the income of farmers: the number of labors, the
area of terraced fields, production cost and transportation pseudo-variables We explored on how
to improve cultivating efficiency of sloping land, especially promote growing wet rice in terraced
fields, for H’mong people who live in poor conditions and encounter many difficult conditions in
facilities and capital for agricultural production
From the results of this research, we proposed two groups of solutions to the local government and
people so that to improve cultivating efficiency of sloping land Of the two groups of solutions we
suggest that local government and people concentrate on the following solutions: investing in
building facilities, reinforcing capital support activities, reengineering agriculture structure,
promote raising animals, improve productivity of crop plants and effectiveness of land use
Key words: terraced field, economic efficiency, sloping land, Mu Cang Chai
Phụ lục 1.Kết quả chạy hàm hồi quy dạng Cobb- Dauglas cho thu nhập
từ phương thức canh tác trên đất dốc của hộ
Tel:0986729868
Trang 6148
Regression Statistics
Adjusted R Square 0.69189
ANOVA
Intercept 9.3683 0.726182 12.90077 2.916E-22 7.9258342 10.810775 7.925834 10.810775