mới nhất 2014
Trang 1Bài thảo luận
***
“NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA HỆ
THỐNG NHTM NHÀ NƯỚC VIỆT NAM”
Trang 2Phần I: Giới thiệu chung về NHTM nhà nước ở Việt Nam
- Sự hình thành và phát triển của các NHTM "nhà nước" ở Việt Nam là một bộ phận trong quá trình lịch sử của ngành Ngân hàng Việt Nam
- Từ năm 1986 đến năm 1990, nước ta thực hiện tách dần chức năng quản
lý của Ngân hàng Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã được hình thành và hoàn thiện dần
- Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp – Trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi
- Trong thời gian này, 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam; 2) Ngân hàng đầu
tư và phát triển Việt Nam; 3) Ngân hàng Công thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
- Tháng 9/1997, thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long theo Quyết định số 769/TTg
- Như vậy đến đây, chúng ta có 5 NHTM nhà nước ở Việt Nam, với 4 ngânhàng lớn có quy mô hàng đầu trong các NHTM Ngân hàng thương mại nhà nước lúc này đúng nghĩa là NHTM do Nhà nước thành lập, thuộc sở hữu nhà nước, thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận và các chínhsách kinh tế của nhà nước Việc nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện chính sách kinh tế cho các ngân hàng này không phải bất nguồn từ quyền lực của nhà nước mà bắt nguồn từ quyền lực của chủ sở hữu đối với ngân hàng
- Từ năm 2004-2005 đã có nhiều ý kiến muốn tiến hành cổ phần hóa các NHTM nhà nước
- Tháng 6/2008, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được cổ phần hóa, chính thức chuyển đổi thành Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam(Vietcombank)
Trang 3- Tháng 9/2008, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Công thương Việt Nam, trở thành Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam(VietinBank)
- Tháng 2/2011, Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam Agribank chuyển đổi hoạt động sang mô hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên doNhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ
- Tháng 7/2011, Ngân hàng quốc doanh thứ ba được duyệt cổ phần hóa là Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long (MHB)
- Tháng 4/2012, BIDV chính thức thành ngân hàng thương mại cổ phần, tên đầy đủ là: Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Đối với các ngân hàng đã được cổ phần hóa nói trên, chúng không còn hoàn toàn đúng nghĩa là "ngân hàng thương mại nhà nước" nữa Tuy nhiên, nhà nước vẫn nắm phần lớn cổ phần trong đó Riêng với Ngân hàng Agribank, Ngân hàng Nhà nước kiên quyết trong vòng 5 năm tới không đặt vấn đề cổ phần hóa
hỗ trợ nhà ở Cùng ngày, Bộ Xây dựng cũng ban hành Thông tư
07/2013/TT-BXD hướng dẫn việc xác định các đối tượng được vay vốn
hỗ trợ nhà ở Bắt đầu từ ngày 1-6-2013 các Ngân hàng Thương mại Nhà nước bao gồm: Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long triển khai giải ngân gói 30.000 tỷ đồng hỗ trợ nhà ở xã hội Chương trình của gói tín dụng này sẽ dành 70% cho người dân vay mua nhà ở xã hội có quy mô từ 70m2/căn hộ trở xuống, có giá bán dưới
15 triệu đồng/m2, 30% còn lại dùng để cho vay đối với doanh nghiệp là
Trang 4chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội và doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại được chuyển đổi công năng sang nhà ở xã hội.
- Ở Việt Nam, các NHTM nhà nước chiếm thị phần lớn, gần như tuyệt đối,
và có tiềm lực tài chính lớn do có sự trợ giúp từ nhà nước Các NHTM
NN Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn về tín dụng (từ 60-85%) cũng như tiền gửi (74,3% đến 88%), mặc dù xu thế này đang có chiều hướng giảm dần Điều này là do yếu tố lịch sử, các NHTM ngoài quốc doanh mới thành lập ở Việt Nam nên uy tín chưa cao, hoặc phạm vi hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa rộng Điều này sẽ tạo nên một môi trường cạnh tranh gần với độc quyền nhóm
Quy mô của các ngân hàng này sẽ mang lại cho họ lợi thế để cạnh tranh với các đối thủ nhỏ hơn Tuy nhiên, các ngân hàng tư nhân hiện nay đangvươn lên về nhiều mặt, biểu hiện rõ sự cố gắng trong việc chiếm lĩnh mộtphần không nhỏ của thị trường đang tăng trưởng
- Có thể thấy khá rõ những tài sản vô hình nữa mà ngân hàng quốc doanh được hưởng, đó là sự thiên vị của công chúng so với các ngân hàng “tư nhân” Từ “quốc doanh” đối với đại bộ phận người Việt Nam vẫn đồng nghĩa với một thực thể lớn, vững chắc và an toàn Đó là cái mà chúng ta gọi là niềm tin Ngân hàng rất thích khái niệm này, vì nếu cảm giác tin tưởng này vẫn còn thống lĩnh, thì tiền gửi vẫn cứ chảy vào ngân hàng vớichi phí tương đối thấp Việc tiến hành các hoạt động PR và marketing tốnkém trở nên dễ dàng hơn nhiều Rõ ràng là, việc tiết kiệm ở đây đồng nghĩa với lợi nhuận tốt hơn
- Thêm nữa, tài sản hữu hình của ngân hàng quốc doanh có thể thấy được ởkhắp mọi nơi, từ bất động sản cho tới hệ thống những cơ sở và chi nhánh toàn quốc Ngân hàng Agribank đã có khoảng 2000 chi nhánh các cấp
Hệ thống chi nhánh này đã giúp cho Ngân hàng Agribank được Bảo hiểm
xã hội ủy thác việc trả lương, đây là một hợp đồng kinh doanh tốt đến nỗi
kể cả ngân hàng tư nhân có uy tín nhất là Sacombank cũng không có khả năng đạt được
- Không kém phần quan trọng, là khi cần một số quyền miễn trừ để thực hiện một số nhiệm vụ, thì những ngân hàng quốc doanh có nhiều khả năng được cấp quyền miễn trừ này
Tháng 9/2006, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quyết định cho phép NH Kỹ thương, NH Đầu tư & Phát triển và NH
Trang 5Ngoại thương vượt định mức cho vay không quá 15% vốn đối với một khoản nợ cho một pháp nhân Điều này đã cho phép NH Kỹ thương,NH Đầu tư & Phát triển và NH Ngoại thương huy động tổng số 1,27 tỉ USD cho Tổng công ty Điện lực Việt Nam, với khoản đóng góp của từng ngân hàng lần lượt là 321,3 triệu, 252,3 triệu và 659,9 triệu USD
- Việc Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, cũng như việc tiến hành tái cấu trúc ngành ngân hàng trong những năm qua đã thúc đẩy các ngân hàng thương mại Nhà nước phát triển hơn về nhiều mặt Cơ chế thị trường đã làm cho những ngân hàng quốc doanh xử sự giống những ngânhàng tư nhân: cạnh tranh trong việc quản lý luồng tiền gửi, mở rộng mạng lưới, thu hút những nhân sự có năng lực, tiến hành các chiến dịch
PR, phát triển văn hóa doanh nghiệp Những quy luật lạnh lùng của thị trường buộc họ phải thay đổi, giải quyêt nhiều vấn đề "cố hữu" như nợ xấu, nợ trực tiếp, quản trị rủi ro thấp để có thể giữ vững vị thế của mình
- Tóm lại, chúng ta đều hiểu rằng các ngân hàng quốc doanh rất khác so với một ngân hàng tư nhân trung bình Do đó, với những quy mô, lợi thế
to lớn của họ, cũng như các thách thức đặt ra, thì việc nâng cao tính hiệu quả của những ngân hàng này thực sự là vấn đề cần xem xét
Phần II: thực trạng sử dụng vốn của các NHTM nhà nước
Trang 6Tăng trưởng huy động vốn của 10 ngân hàng tốp đầu trong năm 2012
- Về con số tuyệt đối trong huy động vốn, khối NHTM nhà nước dẫn đầu
cụ thể là Agribank dẫn đầu hệ thống ngân hàng với 540.000 tỷ đồng của khách hàng gửi trong năm vừa qua Đứng thứ hai là BIDV với 360.167 tỷ.Vị trí thứ 3 và thứ 4 thuộc về Vietinbank và Vietcombank với lần lượt 288.271 tỷ đồng và 284.514 tỷ đồng
Trang 7Sơ đồ: Tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng ở VN
Trang 8- Huy động vốn của các NHTM có tăng trưởng khá qua các năm (trừ năm
2008, có giảm sút, do tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu)
do việc đa dạng hóa sản phẩm huy động và phát triển mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch
- Mặc dù có mạng lưới rộng và thương hiệu mạnh, được người dân biết đến, nhưng tốc độ tăng trưởng về huy động vốn của các NHTM CP có sự bứt phá mạnh, thị phần đã tăng lên 31,23% so với 21,3% năm 2006, khiến cho thị phần của các NHTM NN giảm Hoạt động cho vay cũng có tốc độ tăng trưởng cao, thậm chí còn tăng nóng trong năm 2007 và năm
2008, một số NHTM CP có tốc độ tăng từ 60% trở lên Nhưng 6 tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng đạt 10,8%, nhưng đến cưới tháng 7, tốc độ tăng trưởng đã khá hơn, với mức tăng gần 13,0% cho 7 tháng đầu năm 2010 So với tốc độ tăng trưởng kinh tế, thì tốc độ tăng trưởng tín dụng gấp 5 đến 6 lần được cho là tăng trưởng nóng, nhưng nhìn nhận mộtcách sâu sắc có thể thấy, nếu không có sự tăng trưởng cao của tín dụng trong vài năm qua, thì không có được tốc độ tăng GDP này
- Một số chỉ tiêu tài chính tính đến 30/4/2012
- Lần đầu tiên trong lịch sử, Ngân hàng Nhà nước công bố công khai một cách có hệ thống các thông tin về hoạt động tín dụng theo Thông tư 35/2011 Theo đó, tổng tín dụng tính đến 30/4/2012 là 2.617.320 tỷ đồng,giảm 0,59% so với cuối năm 2011 Trong đó, tín dụng cho công nghiệp chế biến, chế tạo có tăng trưởng 5,19% lên 607.846 tỷ đồng, chiếm tỷ
Trang 9trọng lớn nhất trong tổng dư nợ toàn hệ thống Tổng huy động từ dân cư
có mức tăng mạnh 11,78% trong 4 tháng, lên 1.449.453 tỷ đồng trong khi tiền gửi của doanh nghiệp lại giảm 5,6% xuống 1.084.405 tỷ đồng Tính tổng, huy động từ dân cư và doanh nghiệp tăng 88 nghìn tỷ đồng, tương đương 3,6% lên 2.533.858 tỷ đồng
- Theo đánh giá của ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc Phân tích và
Tư vấn đầu tư - Khách hàng cá nhân của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI Research), tiền gửi doanh nghiệp giảm có thể giải thích bằng hai nguyên nhân Thứ nhất, các doanh nghiệp rất thiếu vốn nên đã tích trữ tiền để cho vay lẫn nhau mà không qua hệ thống ngân hàng Thứ hai, kinh tế khó khăn khiến lợi nhuận và dòng tiền của doanh nghiệp giảm làm lượng tiền gửi ngân hàng cũng giảm Trong khi đó, tổng phương tiện thanh toán đến cuối tháng 4 là 3.035.790 tỷ đồng, tăng 3,14% (92 nghìn
tỷ đồng), thấp hơn mức tăng của huy động Theo nhận định của SSI Research, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và huy động có thể giải thích được bằng việc Ngân hàng Nhà nước đã bơm khoảng 180 nghìn tỷ đồng ra thị trường để mua USD Nếu trừ đi lượng tiền hút về qua OMO và tín phiếu Ngân hàng Nhà nước (120-140 nghìn tỷ đồng) thì lượng tiền chưa hút về vẫn còn 40-60 nghìn tỷ đồng
- Tỷ lệ tín dụng/huy động toàn hệ thống đến 30/4 là 86%, tương đối cao so với tỷ lệ 80% theo Thông tư 13 Điều đáng nói là tỷ lệ này ở khối ngân hàng thương mại Nhà nước là 107,8% trong khi ở khối ngân hàng thươngmại cổ phần chỉ là 77,6% Như vậy, khối ngân hàng thương mại Nhà nước có vẻ đang hoạt động “thiếu an toàn” hơn so với khối ngân hàng thương mại cổ phần Điều này cũng thể hiện ở tỷ lệ an toàn vốn của khối ngân hàng thương mại Nhà nước là 10,8% trong khi của khối ngân hàng thương mại cổ phần là 14,2% Trong các khối ngân hàng, khối ngân hàngliên doanh và nước ngoài có tỷ lệ an toàn vốn cao nhất 32,54%, còn tỷ lệ
an toàn vốn tính chung của hệ thống là 14,55% (cao hơn khá nhiều mức
an toàn 9% quy định tại Thông tư 13)
- Nhờ có các đợt tăng vốn do phát hành cho cổ đông nước ngoài và trong nước mà vốn tự có của khối ngân hàng thương mại Nhà nước tăng 12,5%trong 4 tháng, cao hơn mức 5,55% của ngân hàng thương mại cổ phần
Dù vốn tăng nhanh nhưng tỷ lệ sinh lời ROA và ROE của ngân hàng thương mại Nhà nước vẫn cao, 0,43% và 4,87%, gần gấp đôi so với ROA
và ROE của khối ngân hàng thương mại cổ phần (0,23% và 2,51%) Tổng tài sản toàn hệ thống cuối tháng 4 giảm 1,83% xuống còn
Trang 104.868.649 tỷ đồng Mức giảm diễn ra ở cả ngân hàng thương mại Nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng mức giảm của ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn (-1,74%) so với mức giảm 2,3% của ngânhàng thương mại cổ phần.
- Theo báo cáo tuần mới công bố của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), vào tháng 5/2013, các ngân hàng thương mại đã đồng loạt điều chỉnh giảm lãisuất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với một số lĩnh vực ưu tiên
về mức 10%/năm theo quy định của NHNN Các ngân hàng thương mại Nhà nước cũng điều chỉnh giảm tất cả các khoản vay có lãi suất trên 13%/năm về mức 13%/năm Theo NHNN, hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở mức 8-10%/năm;
Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác ở mức 9-11%/năm ở khối ngân hàng thương mại Nhà nước, 11-12%/năm ở khối ngân hàng thương mại cổ phần; trong đó, một số doanh nghiệp có tình hình tài chínhlành mạnh, minh bạch, phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả đãđược các ngân hàng thương mại cho vay với mức lãi suất chỉ từ 7,5-8%/năm
Báo cáo của NHNN cũng cho thấy, lãi suất cho vay USD phổ biến 5-8%, trong đó các ngân hàng thương mại Nhà nước là 4-5%/năm đối với ngắn hạn, 6-7,5%/năm đối với trung và dài hạn; các ngân hàng thương mại cổ phần khoảng 5,5-6,5%/năm đối với ngắn hạn, 6,5-8%/năm đối với trung
và dài hạn
- Lãi suất huy động VND tiếp tục ổn định Lãi suất huy động kỳ hạn từ 1 - 12tháng của nhiều tổ chức tín dụng thấp hơn mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VNĐ theo quy định của NHNN
Hiện nay, lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng phổ biến ở mức 2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; kỳ hạn 1 tháng đến dưới 12 tháng là 5-7,5%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 8-10,5%/năm
1,5-Lãi suất huy động USD phổ biến 2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và 0,5%/năm đối với tiền gửi của tổ chức
Trang 11- Tính đến 30/6/2013, tổng tài sản của các tổ chức tín dụng đạt 5.293.557 tỷ đồng, tăng 387.642 tỷ đồng sau 1 năm Tương tự, vốn tự có (không bao gồm ngân hàng Chính sách xã hội)và vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng cũng tăng thêm lần lượt 21.390 tỷ đồng và 15.834 tỷ đồng - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.
- Tính đến cuối tháng 6/2013, tổng tài sản của khối ngân hàng thương mại nhà nước tăng thêm 314.289 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 15,88% so với
1 năm trước đó Tương tự, tài sản của khối ngân hàng liên doanh, nước ngoài tăng 14,8%, trong khi mức tăng của khối ngân hàng cổ phần lại không đáng kể Còn với Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam, chuyển đổi từ Qũy tín dụng Trung ương, mức tăng tổng tài sản sau 1 năm đạt mức 26,29%
- Đáng chú ý, tổng tài sản của công ty tài chính, cho thuê lại giảm 8,9% sau 1 năm, tháng 6/2013 so với tháng 6/2012 - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Biểu đồ so sánh chỉ tiêu vốn tự có của của loại hình tổ chức tín dụng (không bao gồm ngân hàng Chính sách xã hội), trong đó khối ngân hàng thương mại nhà nước bao gồm cả Vietinbank và Vietcombank (đơn vị: tỷ đồng)
- Ở chỉ tiêu vốn tự có, khối ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính - cho thuê đang cho thấy sự đi xuống với mức giảm lần lượt là 4%
và 13%, xét trong kỳ so sánh 30/6/2013 so với 30/6/2012 Trong khi đó, trong cùng kỳ so sánh trên, vốn tự có của khối ngân hàng thương mại nhànước tăng 15,65%; ngân hàng liên doanh, nước ngoài (10,81%); Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (6,53%) - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Biểu đồ so sánh chỉ tiêu vốn điều lệ của của loại hình tổ chức tín dụng, trong đó khối ngân hàng thương mại nhà nước bao gồm cả Vietinbank và Vietcombank (Đơn vị: tỷ đồng) – Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Trang 12Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (không bao gồm ngân hàng Chính sách xã hội) - Nguồn:Ngân hàng Nhà nước.
Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động - Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
- Không chỉ vậy, Theo VNEconomy, dữ liệu cập nhật đến 31/3/2012 cho thấy, khối ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước chiếm quá nửa tổng
nợ xấu, tới 50,5%; nhóm thứ hai là khối NHTM cổ phần với 27,8%; nhóm ngân hàng nước ngoài chiếm khá nhỏ (do sự hạn chế về quy mô) với 4,2%; nhóm các tổ chức tín dụng khác 17.5%
Nợ xấu của các TCTD tính đến 31/3 (Nguồn: VNEconomy)
- Ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó giám đốc NHNN chi nhánh TPHCM, chobiết cho vay tiêu dùng cá nhân của các tổ chức tín dụng có tốc độ tăng
Trang 13khá cao, vào cuối tháng 8 tốc độ tăng cho vay cá nhân là 40% so với cuốinăm 2012 Ông cũng cho biết hiện nay cho vay cá nhân chiếm khoảng từ 8%- 9% trong tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
- Trong khi đó, tỷ lệ cho vay/huy động của khối ngân hàng thương mại nhànước không thay đổi nhiều, giảm từ 96,77% vào cuối năm 2012 xuống còn 96,69% vào cuối tháng 7 năm nay Tính chung toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, tỷ lệ cho vay so với huy động vào cuối tháng 7 là 87,75%, giảm so với mức 89,35% vào cuối năm ngoái
- Xét về mặt hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước đã giảm mạnh so với cuối năm 2012, trong khi các ngân hàng cổ phần mặc dù giảm mạnh vào tháng 3 nhưng đã tăngtrở lại vào cuối tháng 7 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước vào cuối tháng 7 là 5,28%, của khối ngân hàng cổ phần là 3,05%, của ngân hàng liên doanh, nước ngoài là 3,23%, của các công ty tài chính, cho thuê tài chính là âm 4,94%, và của toàn hệ thống là 3,86%
- Mặc dù vẫn đang lỗ nhưng khối công ty tài chính và cho thuê tài chính đã
có sự cải thiện đáng kể về lợi nhuận, vì tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của khối này vào cuối tháng 3-2013 là âm 31,4%, đến cuối tháng 7-
2013 chỉ còn âm 4,94%
- Tại Vietcombank, tăng trưởng tín dụng chung giảm 1,6% đến hết 6 thángđầu năm Trong đó, tín dụng bằng tiền đồng tăng 5%, nhưng tín dụng ngoại tệ giảm đến 17% Từ tháng 7 trở đi, tín dụng có cải thiện nhẹ tại ngân hàng này Đến cuối tháng 7, tăng trưởng tín dụng chung chỉ còn âm 0,2% so với cuối 2012 Việc giảm tín dụng cũng khiến cho thu nhập lãi thuần giảm khoảng 10% so với cùng kỳ
- Còn tại Vietinbank, theo ông Phạm Huy Thông, Phó tổng giám đốc, tín dụng của ngân hàng chỉ mới tăng lại trong tháng 7, còn đến cuối tháng 6, con số này vẫn âm Theo ông Thông, việc tái cơ cấu lại hoạt động, cải thiện chất lượng dư nợ đã được ngân hàng đẩy mạnh thực hiện trong 6 tháng đầu năm, điều này ảnh hưởng một phần đến con số tăng trưởng tín dụng nói chung Thêm vào đó, cho vay ngoại tệ giảm mạnh cũng khiến cho dư nợ chung bị ảnh hưởng
- Lý giải nguyên nhân một số ngân hàng tăng trưởng mạnh trong các thánggần đây, trong báo cáo triển vọng 6 tháng cuối năm 2013, Công ty chứng