MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Tác giả luận văn NGUY[.]
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lậpcủa tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõràng
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
Trang 21.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍSẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANHNGHIỆP 51.1.1 Bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 5Bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 81.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm vớichức năng quản trị doanh nghiệp 101.1.3 Khái niệm tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm 121.1.4 Yêu cầu, nhiệm vụ tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm trong doanh nghiệp 131.2 NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀTÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 141.2.1 Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 141.2.2 Xây dựng hệ thống định mức, hệ thống dự toán chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm 241.2.3 Xác định chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 34
Trang 31.2.4 Phân tích mối quan hệ chi phí- sản lượng- lợi nhuận để ra các quyết định
kinh doanh 43
1.2.5 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 45
1.2.6 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp 48
1.3 KINH NGHIỆM VẬN DỤNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 51
1.3.1 Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị chi phí của Anh, Mỹ 51
1.3.2 Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị chi phí của các nước Châu Âu 51
1.3.3 Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị chi phí của các nước Châu Á 52
1.3.4 Bài học kinh nghiệm về kế toán quản trị chi phí cho Việt Nam 53
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 805 NGHỆ AN 55
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 805 NGHỆ AN 55
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty 55
2.1.2 Đặc điểm về tổ chức quản lý của Công ty 56
2.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty 58
2.1.4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng của nó đến tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An 62
2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 805 NGHỆ AN 64
2.2.1 Thực trạng tổ sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An 64
Trang 42.2.2 Thực trạng công tác xây dựng hệ thống định mức, hệ thống dự toán chi phísản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng
805 Nghệ An 672.2.3 Thực trạng xác định chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An 732.2.4 Thực trạng phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận để raquyết định tại Công ty cổ phần TV & ĐT xây dựng 805 Nghệ An 902.2.5 Thực trạng tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An 912.2.6 Thực trạng mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị tại Công ty 922.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊCHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔPHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 805 NGHỆ AN 94
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
805 NGHỆ AN 98
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀĐẦU TƯ XÂY DỰNG 805 NGHỆ AN TRONG THỜI GIAN TỚI 983.2 SỰ CẦN THIẾT, YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN TỔCHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNHSẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
805 NGHỆ AN 1003.2.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 NghệAn 1003.2.2 Yêu cầu của việc hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An102
Trang 53.2.3 Nguyên tắc của việc hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ
An 104
3.3 NHỮNG Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 805 NGHỆ AN 105
3.3.1 Hoàn thiện phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 105
3.3.2 Hoàn thiện công tác xây dựng hệ thống định mức, hệ thống dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 107
3.3.3 Hoàn thiện công tác xác định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 109
3.3.4 Hoàn thiện công tác phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận để ra quyết định kinh doanh 113
3.3.5 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị 115
3.3.6 Hoàn thiện mô hình kế toán quản trị 118
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ THỰC THI CÁC Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 122
3.4.1 Về phía Nhà nước và các cơ quan chức năng 122
3.4.2 Về phía doanh nghiệp 123
KẾT LUẬN 125 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CPNVL Chi phí nguyên vật liệu
CPSXC Chi phí sản xuất chung
TV&ĐT Tư vấn và đầu tư
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng Dự toán Chi phí xây lắp 71
Bảng 2.2: Trích sổ chi tiết nguyên vật liệu trực tiếp 76
Bảng 2.3: Trích Sổ chi tiết Nhân công trực tiếp 79
Bảng 2.4: Trích sổ chi tiết Chi phí sử dụng máy thi công 82
Bảng 2.5: Trích Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung 84
Bảng 2.6: Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung 85
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp chi phí sản xuất 86
Bảng 2.8 : Thẻ tính giá thành 90
Bảng 3.1: Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí 106
Bảng 3.2: Phiếu theo dõi tiêu hao vật tư 110
Bảng 3.3: Hệ thống tài khoản kế toán chi tiết 111
Bảng 3.4: Thẻ tính giá thành theo biến phí 112
Bảng 3.5: Báo cáo Kết quả sản xuất kinh doanh theo phương pháp lãi 117
trên biến phí 117
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin của doanh nghiệp 6
Sơ đồ 1.2 : Mối quan hệ giữa các Dự toán bộ phận 31
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức quản lý tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xâydựng 805 Nghệ An 56
Sơ đồ 2.2: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung 61
Sơ đồ 2.3: Quá trình tập hợp chi phí sản xuất theo công việc tại Công ty cổphần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An 73
Sơ đồ 2.4: Quá trình phản ánh chi phí sản xuất vào sổ sách tại Công ty cổ phần
TV & ĐT xây dựng 805 Nghệ An 87
Sơ đồ 2.5: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị tại Công ty cổ phần TV &
ĐT xây dựng 805 Nghệ An 92
Sơ đồ 3.1: Mô hình kế toán quản trị tách biệt 119
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường luôn có sự cạnh tranh khốc liệt,hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng và có tính đa dạng phứctạp, để đưa ra quyết định kinh doanh, các nhà quản trị doanh nghiệp cần có thôngtin chính xác và đáng tin cậy Xuất phát từ yêu cầu và tính chất quan trọng củathông tin cung cấp, kế toán quản trị (KTQT) được khẳng định là một trongnhững công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị doanh nghiệp Tại nhiều quốcgia, áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp không hề mới, nhưng tại ViệtNam, vai trò của KTQT và việc áp dụng KTQT ở các doanh nghiệp (DN) cònchưa phổ biến và phát triển
Tổ chức công tác KTQT có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa cơ
sở lý luận với thực tế thực hành công việc kế toán quản trị ở DN Về mặt lý luận,KTQT đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu rất đa dạng phongphú Tuy nhiên, về mặt tổ chức ứng dụng, KTQT là một lĩnh vực rất khan hiếm vềnguồn tài liệu hướng dẫn thực thi Vì vậy, rất cần các đề tài nghiên cứu tổ chứcKTQT chuyên sâu vào các lĩnh vực kinh tế của từng ngành, từng doanh nghiệp cụthể
Thời gian vừa qua, lực lượng các nhà tư vấn xây dựng của Việt Nam pháttriển khá mạnh Đặc biệt số lượng các DN tư vấn xây dựng tư nhân rất lớn Theo
số liệu của Hiệp hội tư vấn xây dựng hiện cả nước có hàng chục ngàn DN lớn,nhỏ hoạt động Tuy nhiên, điều đáng nói là các DN này, đặc biệt là các DN nhỏhoạt động tư vấn chưa thực sự chuyên nghiệp, thiếu bài bản, hoạt động của họvẫn theo kiểu “phụ họa” chủ đầu tư, thiếu tính độc lập Bên cạnh đó, trong bốicảnh khủng hoảng kinh tế như hiện nay, ngành xây dựng là ngành chịu ảnhhưởng trực tiếp và nhiều nhất Hầu hết các DN thuộc ngành xây dựng đều phảihứng chịu khó khăn do việc chậm tiêu thụ, tồn đọng hàng hoá, thiếu việc làm.Trong khi đó, chủ đầu tư các dự án lại chậm thanh toán, lãi suất cho vay còn cao,
Trang 10khó tiếp cận nguồn vốn Những khó khăn này đã đặt ra yêu cầu cấp bách chocác DN tư vấn xây dựng phải tổ chức công tác KTQT để đáp ứng nhu cầu thiếtyếu về thông tin quản lý điều hành DN, đặc biệt là KTQT chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm nhằm kiểm soát tốt chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăngkhả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Do vậy, cần thiếtphải có sự nghiên cứu đầy đủ, cụ thể về đặc thù hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp tư vấn xây dựng để tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm cho thích hợp
Trên thực tế, việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm tại các doanh nghiệp tư vấn xây dựng có nhiều đổi mới phù hợp với thông
lệ quốc tế và chế độ kế toán mới, đã đáp ứng được yêu cầu công tác lập báo cáotài chính và một số yêu cầu của nhà quản trị Tuy nhiên, công tác kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm chủ yếu được thực hiện theo chức năng củaKTTC, việc phân loại chi phí, xây dựng các phương trình dự toán chi phí đểkiểm soát chi phí theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp chưa được thực hiện,phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí chung để tính giá thành còn bộc
lộ nhiều hạn chế
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đã lựa chọn
đề tài: “Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An” là đề tài luận văn thạc
sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm trong các DN
- Đánh giá thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm ở Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn tổ chức kế toán quản trị chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây
Trang 11dựng 805 Nghệ An, tác giả đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức
kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế toánquản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các DN và thực tiễn ápdụng trong DN sản xuất
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn trình bày kết quả nghiên cứu về đối tượngnghiên cứu nêu trên trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể là lĩnh vực xây dựng
cơ bản của Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu sau:
Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử để nghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa cụ thể, có hệ thống đảm bảotính logic của các vấn đề nghiên cứu
Phương pháp mô hình hóa và phương pháp toán để xây dựng mô hình tổchức công tác kế toán quản trị và các phương trình dự toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp quynạp, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh….để phântích vấn đề, đánh giá và rút ra kết luận
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Luận văn trình bày hệ thống và toàn diện về tổ chức kế
toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các DN sản xuất,trong đó đưa ra vấn đề tổ chức kế toán quản trị phải phù hợp với hệ thống kếtoán tài chính của DN
Về mặt thực tiễn: Đề xuất các ý kiến để tổ chức thực hiện kế toán quản trị
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư
Trang 12xây dựng 805 Nghệ An, góp phần tạo cơ sở vững chắc cho việc nâng cao chấtlượng công tác ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp.
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu Luận văn bao gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng 805 Nghệ An
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán quản trịchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần tư vấn và đầu tưxây dựng 805 Nghệ An
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1.1. Bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
Kế toán – một hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp
Hệ thống là một tổng thể bao gồm nhiều bộ phận khác nhau có mối quan hệtác động qua lại với nhau, được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm tạothành một chỉnh thể thống nhất, có khả năng thực hiện một số chức năng hoặcmục tiêu nhất định Với ý nghĩa đó, doanh nghiệp (DN) là một hệ thống nếu xemxét theo chức năng hoạt động Nó bao gồm: hệ thống quyết định, hệ thống tácnghiệp và hệ thống thông tin, trong đó hệ thống thông tin thực hiện mối liên hệgiữa hệ thống tác nghiệp và hệ thống quyết định, đảm bảo chúng vận hành mộtcách thuận tiện để đạt được các mục tiêu đề ra Bên cạnh đó hệ thống thông tincủa DN còn có chức năng thu thập và trao đổi thông tin nội bộ với môi trườngbên ngoài
Trang 14Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin của doanh nghiệp
Với mục đích cung cấp thông tin trợ giúp cho quá trình ra quyết định ởmỗi lĩnh vực, mỗi bộ phận, hệ thống thông tin trong DN được phân thành cácphân hệ thông tin theo từng lĩnh vực, từng chức năng quản lý Thông thường, hệthống thông tin trong DN được tổ chức thành các hệ thống con bao gồm: hệthống thông tin thị trường, hệ thống thông tin sản xuất, hệ thống thông tin tàichính, hệ thống thông tin nhân sự, hệ thống thông tin kế toán Các hệ thống connày thường hỗ trợ và chia sẻ thông tin với nhau Đặc biệt, các hệ thống thông tincon này đều có mối quan hệ qua lại với hệ thống thông tin kế toán Trong quátrình hoạt động của mình, các hệ thống thông tin đều phải huy động và sử dụngnhiều loại tài sản khác nhau Trong khi kế toán là quá trình theo dõi, thu thập, xử
lý nhằm cung cấp thông tin về tình hình và sự biến động của toàn bộ tài sảntrong DN; các hệ thống thông tin ở trên sẽ tham gia cung cấp dữ liệu đầu vàocho hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán có trách nhiệm xử lýthành các thông tin phục vụ cho công tác quản lý
Kế toán quản trị - Hệ thống con của hệ thống kế toán
Hệ thống thông tin kế toán trong DN ngoài cung cấp hình ảnh của DN chobên ngoài còn phải được sử dụng như một công cụ quản trị nội bộ Xuất phát từnhu cầu bí mật các thông tin nội bộ đối với người cạnh tranh và công khai các
Các
nguồn
lực
Sản phẩm, dịch vụ
Thông tin bên ngoài
Hệ thống quyết định
Hệ thống thông tin
Hệ thống tác nghiệ p
Trang 15thông tin bên ngoài cho nhà tài trợ, hệ thống kế toán trong DN được phân thành
kế toán tài chính (KTTC) và kế toán quản trị (KTQT)
Kế toán tài chính là bộ phận kế toán cung cấp thông tin chủ yếu cho
những người ngoài doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính như bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ.Mục tiêu của các báo cáo tài chính là cung cấp cho người ngoài doanh nghiệpbức tranh tổng thể về tình hình tài chính của DN Qua đó, người ngoài doanhnghiệp có thể ra các quyết định liên quan đến việc đầu tư và trợ cấp tài chính.Thông tin từ các báo cáo tài chính là công khai và làm nền tảng để mọi cá nhân,
tổ chức có thể ra quyết định trong một môi trường kinh doanh thuận lợi
Kế toán quản trị là bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho những nhà
quản lý tại DN thông qua các báo cáo kế toán nội bộ Các nhà quản lý dựa vàothông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức Khái niệm kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa:” Là quá trìnhđịnh dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạtcác số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõiviệc thực hiện kế hoạch trong phạm vị nội bộ một DN, đảm bảo việc sử dụng cóhiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này” Các cấp quản lý trong
DN rất đa dạng, nhưng nhu cầu thông tin của họ phản ánh một mục đích chung
là phục vụ quá trình ra quyết định nhằm tối đa hóa lợi nhuận Nhằm phục vụ nhucầu thông tin nội bộ vốn rất đa dạng, các báo cáo nội bộ do KTQT cung cấpkhông mang tính tiêu chuẩn như báo cáo tài chính Kế toán quản trị đặt trọngtâm giải quyết các vấn đề quản trị của DN Vì vậy, KTQT phải thiết kế các thôngtin kế toán sao cho nhà quản trị có thể dùng vào việc thực hiện các chức năngquản trị
Như vậy, KTTC nhằm cung cấp thông tin công khai đến các đối tượng sửdụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp, trong khi đó kế toán quản trị nhằm tạocác thông tin phục vụ người làm công việc quản trị nội bộ
Trang 16Bản chất kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thốngcác chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan
hệ mật thiết với doanh thu, kết quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh doanh.Chính vì vậy đây là chỉ tiêu rất được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm
Mục đích sản xuất kinh doanh của các DN luôn là lợi nhuận tối đa Vì thế
họ quan tâm đến công tác quản lý chi phí, giá thành để xem phải bỏ ra những chiphí nào, mức độ bao nhiêu và kết quả sản xuất thu được là gì? Song nếu chỉ biếtmột cách tổng thể, khái quát như vậy thì chưa đủ để đảm bảo một quá trình sảnxuất kinh doanh hiệu quả Một trong những yêu cầu của quản lý doanh nghiệp làphải chi tiết hoá các nội dung về chi phí, giá thành đối với từng loại hoạt động,từng loại sản phẩm, dịch vụ DN có thể tiến hành nhiều loại hoạt động khác nhautrên cơ sở ngành nghề, giấy phép kinh doanh đã được cấp: vừa sản xuất tiêu thụsản phẩm, vừa mua - bán vật tư, hàng hoá…Trong mỗi hoạt động lại bao gồmnhiều sản phẩm, vật tư, hàng hoá, dịch vụ khác nhau Một câu hỏi đặt ra là phảilàm thế nào để có thể quản lý hiệu quả các hoạt động đó và kiểm soát các khoảnmục phát sinh một cách tốt nhất? Câu hỏi này chỉ được trả lời khi có sự tham giacủa KTQT chi phí, giá thành, doanh thu và kết quả Do vậy, KTQT chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm là nội dung không thể thiếu được trong toàn bộnội dung tổ chức công tác kế toán của DN và nó có ý nghĩa thiết thực đối với cácnhà quản trị doanh nghiệp bởi một số lý do chủ yếu sau:
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có thông tin hữu ích về chi phí,giá thành của từng hoạt động, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra được các quyết định phùhợp cho việc mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh.Thông qua số KTQT chi phí, giá thành cùng với số liệu của KTQT doanh thu,kết quả mà các nhà quản lý có quyết định đúng đắn trong việc mở rộng một hoạtđộng nào đó hoặc trong từng loại hoạt động thì mở rộng đối với loại sản phẩm,
Trang 17dịch vụ nào và ngược lại Điều này có ý nghĩa quan trọng quyết định sự tồn tại
và phát triển của DN
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp quyết định ngừng hay tiếp tụcsản xuất kinh doanh cũng như các quyết định nên tự sản xuất hay nên đi muahoặc chuyển hướng kinh doanh, đầu tư…
- Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp định được giá bán sản phẩmdịch vụ, hàng tồn kho…từ đó có chính sách giá cả hợp lý
Có thể nhận thấy những thông tin mà KTQT chi phí, giá thành sản phẩm,dịch vụ, lao vụ cung cấp là những thông tin cần thiết, nhanh chóng, kịp thời giúpcho các nhà quản trị doanh nghiệp đề ra được các quyết định phù hợp với tìnhhình thực tế và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ.Tuy nhiên cũngcần phải khẳng định một điều rằng KTQT chi phí, giá thành là công việc hết sứcphức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chỉ khi nào DN thực hiện tốt, đầy
đủ các nội dung liên quan thì KTQT chi phí, giá thành mới có thể phát huy đượchết vai trò to lớn của nó
Bản chất của KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được kháiquát như sau:
- KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không chỉ thu nhận, xử
lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sựhoàn thành, đã ghi chép, hệ thống hóa trong sổ kế toán mà còn xử lý và cung cấpcác thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết định các phương án kinhdoanh
- KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cung cấp các thông tin
về dự toán chi phí, biến động chi phí, nguyên nhân gây biến động chi phí, cácphương án xử lý,… thông qua hệ thống báo cáo nội bộ
- KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một bộ phận quantrọng của KTQT
Trang 181.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với chức năng quản trị doanh nghiệp
Để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN các nhà quản trị phảithông qua các chức năng quản lý cơ bản như hoạch định, tổ chức, kiểm soát,đánh giá và ra quyết định KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sửdụng các phương pháp riêng có của mình để thiết kế, tổng hợp, phân tích vàtruyền đạt thông tin, đặt chúng trong bối cảnh đã hoạch định nhằm cung cấpnhững thông tin hữu ích cho các chức năng quản trị Vậy KTQT chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm có vai trò cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm phục vụ cho các chức năng quản trị Cụ thể:
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán
Lập kế hoạch là xây dựng mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước,phương pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó Dự toán là sự liên kết các mụctiêu cụ thể lại với nhau và chỉ rõ cách thức huy động, sử dụng các nguồn lực sẵn
có về mặt tài chính để đạt được các mục tiêu đó Chức năng lập kế hoạch và dựtoán của nhà quản trị được thực hiện tốt, có tính hiệu quả và khả thi cao nếu nóđược xây dựng trên cơ sở các thông tin chính xác, hợp lý do bộ phận KTQT chiphí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cung cấp như: các thông tin kế toánđược tập hợp từ các sản phẩm đã được thực hiện, các thông tin về biến động giánguyên vật liệu, giá nhân công, định mức chi phí, các phương pháp phân bổ chiphí
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện
Kế hoạch và dự toán là những định hướng cho quá trình tổ chức thực hiện.Chức năng tổ chức thực hiện bao gồm thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạtthông tin của các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản
lý để thực hiện kế hoạch đó
Với chức năng này nhà quản trị phải biết liên kết tốt nhất giữa các bộ phận,giữa các cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của DN lại với
Trang 19nhau để thực hiện các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất Vì thế, nhà quản trịphải cần có các thông tin khác nhau do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó KTQTchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ cung cấp thông tin chủ yếu liênquan đến kinh tế, tài chính KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ
dự toán nhiều tình huống khác nhau của các phương án khác nhau để nhà quảntrị xem xét đề ra các quyết định trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như điềuhành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các mục tiêu chung
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá
Sau khi lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi nhà quản trị phảikiểm tra và đánh giá việc thực hiện đó KTQT chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm phân tích sai biệt chi phí trên cơ sở so sánh giữa các số liệu kế hoạchhoặc dự toán với số liệu thực hiện Từ đó nhận biết các sai biệt giữa kết quả thựchiện với kế hoạch đề ra, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc các
cơ hội cần khai thác
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định
Quá trình ra quyết định là việc xem xét, cân nhắc lựa chọn từ các phương ánkhác nhau để có được phương án tối ưu với hiệu quả cao nhất và rủi ro thấp nhất.Các thông tin liên quan đến chi phí và giá thành sẵn có thường rất nhiều loại,KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ chọn lọc, phân loại cácthông tin này giúp nhà quản trị phân biệt được các thông tin thích hợp và khôngthích hợp, từ đó xác định được thông tin phù hợp theo từng phương án Việcnhận diện thông tin về chi phí và giá thành quan trọng sẽ tập trung sự chú ý củacác nhà quản trị vào vấn đề chính cần giải quyết, giảm thời gian ra quyết định,đáp ứng được yêu cầu của nhà quản trị trong tình hình cạnh tranh khốc liệt của
cơ chế thị trường Với những thông tin đó, các nhà quản trị có thể nhìn nhậnđược vấn đề gì đang xảy ra, những khả năng tiềm tàng, những cơ hội sẵn có để
có kế hoạch kinh doanh đúng đắn
Trang 201.1.3 Khái niệm tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Kế toán quản trị nói chung và KTQT chi phí sản xuất, tính giá thành sảnphẩm nói riêng là một quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin Tổ chức
kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
là cách thức doanh nghiệp tổ chức bộ máy nhân sự, tổ chức các công cụ, phươngpháp kế toán… để thực hiện công tác thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin liênquan đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong DN Doanh nghiệp xâydựng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ và báo cáo kết quả, bố trí nhân sự, xâydựng mô hình kế toán quản trị để có thể tiến hành các phương pháp kĩ thuật củaKTQT nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin theo yêu cầu của nhà quảntrị doanh nghiệp về tình hình chi phí, doanh thu, hiệu quả của từng bộ phận;cung cấp đầy đủ kịp thời các thông tin thực hiện chênh lệch giữa dự toán và kếtquả thực hiện; phục vụ cho việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, điềuhành và ra quyết định giúp nhà quản trị thực hiện tốt chức năng của mình
Để phát huy vai trò là công cụ quản lý kinh tế tài chính trong đơn vị và vaitrò cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, việc tổ chức công tác kế toán quảntrị nói chung và kế toán quản trị chi phí và giá thành nói riêng phải đảm bảo cácyêu cầu chủ yếu sau:
Thứ nhất, tổ chức KTQT phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạtđộng, đặc điểm tổ chức quản lý, quy mô, trình độ, phạm vi hoạt động kinh doanhcủa mỗi đơn vị
Như chúng ta biết, các doanh nghiệp luôn có sự khác nhau về: đặc điểm hoạtđộng, phương thức quản lý, quy mô kinh doanh… nên không có mô hình KTQTnào được áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp Bên cạnh đó, KTQT là kếtoán cơ bản phục vụ cho công tác quản lý, cung cấp thông tin theo yêu cầu củanhà quản trị trong từng trường hợp cụ thể, vì vậy việc vận dụng KTQT phù hợpvới đơn vị mình là yêu cầu không thể thiếu
Trang 21Thứ hai, tổ chức KTQT phải đảm bảo tính kinh tế Doanh nghiệp cần cânđối giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận mang lại trong quá trình vận dụng công tác kếtoán quản trị.
Thứ ba, tổ chức KTQT phải phù hợp với trình độ trang thiết bị, sử dụngphương tiện tính toán cũng như biên chế của bộ máy kế toán và trình độ của độingũ nhân viên kế toán hiện có
1.1.4 Yêu cầu, nhiệm vụ tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệthống các chỉ tiêu kinh tế, phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mốiquan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Tổ chứcKTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hợp lý, đúng đắn có ý nghĩalớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm Do đó, để tổ chức tốtcông tác KTQT chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng đầy đủ,thiết thực, kịp thời yêu cầu quản lý về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, kếtoán cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Cần nhận thức đúng đắn vị trí KTQT chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm trong hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộ phận kếtoán liên quan;
- Xác định đúng đắn đối tượng KTQT chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm, lựa chọn phương pháp tổ chức công tác KTQT chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm theo các phương án phù hợp với điều kiện của DN;
- Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kếtoán phù hợp với yêu cầu thu thập thông tin của nhà quản trị
- Thường xuyên cập nhật thông tin xây dựng hệ thống định mức phục vụcông tác lập dự toán
- Tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm, cungcấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà
Trang 22quản trị doanh nghiệp đưa ra được các quyết định một cách nhanh chóng, phùhợp với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Để đáp ứng được các nhiệm vụ trên thì tổ chức KTQT chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo thu nhận và hệ thống hóa thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tếtài chính nhằm cung cấp thông tin kinh tế đáng tin cậy phục vụ cho công tácquản trị kinh doanh của danh nghiệp
- Phù hợp với quy mô và đặc điểm của tổ chức sản xuất kinh doanh;
- Phù hợp với trình độ khả năng của đội ngũ cán bộ kinh tế, và trình độtrang bị các phương tiện, kỹ thuật tính toán, ghi chép của DN;
- Phù hợp với chế độ kế toán hiện hành
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 1.2.1 Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.2.1.1 Khái niệm và phân loại chi phí
Khái niệm chi phí
Chi phí là một phạm trù kinh tế hết sức trừu tượng và phức tạp Trước hếtchúng ta thấy rằng, một DN muốn tiến hành sản xuất phải hao phí một số laođộng nhất định để tạo ra giá trị của hàng hóa đó
Theo quan điểm KTTC thì “ Chi phí của DN là biểu hiện bằng tiền củalao động sống và lao động vật hóa mà DN đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sảnxuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định”
Chi phí theo quan điểm của KTQT: Theo quan điểm của kế toán quản trị,chi phí không chỉ đơn thuần được nhận thức như quan điểm KTTC mà còn đượcnhận thức theo nhiều phương diện khác nhau nhằm mục đích cung cấp thông tinchi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho các nhà quản trị trong việc hoạch định,kiểm soát và ra quyết định Theo đó, chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắnliền với hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày của DN, chi phí cũng có thể là
Trang 23dòng phí tổn ước tính để thực hiện dự án hoặc là những phí tổn bị mất đi do lựachọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh và những chi phí sẽ được kiểm soátbởi một cấp quản lý khác.
Phân loại chi phí
a) Phân loại theo chức năng hoạt động của chi phí
- Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá
và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình sảnxuất, kinh doanh trong một kỳ nhất định Chi phí sản xuất trong DN bao gồm :chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuấtchung
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu là một đầu vào hết sức quan trọng đối với hoạt động kinhdoanh của DN Và mỗi DN khác nhau, mỗi lĩnh vực kinh doanh khác nhau thìmức độ quan trọng và quyết định của nó đến giá thành sản phẩm cũng khácnhau Ví dụ như trong các ngành công nhiệp nặng, chi phí nguyên vật liệu chiếmphần lớn tổng giá thành của sản phẩm Trong khi đó, đối với các ngành kinhdoanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn, giải trí v v thì chi phí nguyên vật liệu lạichiếm một tỷ trọng rất nhỏ Chính vì sự phức tạp đó mà chúng ta phải phân loạinó
Chi phí nguyên vật liệu có thể phân chia thành:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Là chi phí của các loại nguyên vật liệu được sử dụng để cấu thành nên sảnphẩm và có thể được phân loại trực tiếp và toàn bộ vào đơn vị sản phẩm đó
Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp:
Là chi phí của các loại nguyên liệu, vật liệu cần thiết để chế tạo sản phẩmnhưng không thể nhận diện và tách biệt cho từng sản phẩm Vì vậy, chi phí nàykhông thể phân bổ trực tiếp và toàn bộ vào một đơn vị sản phẩm được sản xuất ra
Trang 24+ Chi phí nhân công trực tiếp
Khoản mục này bao gồm toàn bộ tiền lương và các khoản trích theo lươngcủa những người lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm Khả năng và kỹ năng củalao động trực tiếp có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm tạo ra.Thông thường những lao động này trực tiếp xử lý NVLTT bằng tay hoặc thôngqua việc sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc máy móc thiết bị
Chi phí NCTT cũng giống như chi phi NVLTT, có thể xác định rõ ràng, cụthể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vịsản phẩm
Ngoài NCTT còn có NC gián tiếp: NC gián tiếp là những lao động khôngtrực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng cần thiết và không thể thiếu cho quá trình sảnxuất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của lao động trực tiếp như:quản đốc phân xưởng, nhân viên bảo trì máy Chi phí thanh toán cho NC giántiếp không thể phân bổ cho bất kỳ sản phẩm cá biệt nào nên phải đưa vào chi phísản xuất chung để phân bổ sau
+ Chi phí sản xuất chung
Chi phí SXC là những chi phí cần thiết khác để sản xuất ngoài chi phiNVLTT và chi phí NCTT Chi phí SXC bao gồm 3 loại chi phí, đó là chi phíNVL gián tiếp, chi phí NC gián tiếp và các chi phí khác Chi phí khác bao gồmcác chi phí cần thiết khác để vận hành phân xưởng Ví dụ: chi phí thuê nhà phânxưởng, chi phí khấu hao máy móc, thiết bị, chi phí điện nước, chi phí động lực,chi phí bảo hiểm chống cháy…
Chi phí SXC có đặc điểm là: Bao gồm nhiều yếu tố chi phí khác nhau
Các chi phí thuộc chi phí SXC đều có tính gián tiếp với từng đơn vịsản phẩm, nên không thể tính thẳng vào sản phẩm
Cơ cấu chi phí SXC gồm cả biến phí, định phí, và chi phí hỗn hợp,trong đó định phí chiếm tỷ trọng cao nhất
Do gồm nhiều yếu tố chi phí nên chúng được nhiều bộ phận khác nhauquản lý và rất khó kiểm soát
Trang 25Chi phí SXC cũng được tính vào sản phẩm cùng với chi phí NVLTT và chiphí NCTT Đặc điểm của chi phí SXC là không tính trực tiếp vào sản phẩm màphải thông qua việc phân bổ theo các tiêu thức thích hợp.
- Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất của DN bao gồm các loại chi phí phát sinh ngoài quátrình sản xuất sản phẩm, liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụcông tác quản lý chung toàn DN Loại chi phí này gồm có hai khoản mục chính:chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN
+ Chi phí bán hàng: bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụsản phẩm như chi phí marketing, chi phí hỗ trợ bán hàng, chi phí khuyến mại,chi phí sau bán hàng,…
+ Chi phí quản lý DN là các chi phí dùng vào tổ chức, quản lý và phục vụsản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn DN như chi phí tiền lương và cáckhoản trích theo lương vào chi phí của người lao động, quản lý ở các bộ phậnphòng ban của DN, chi phí dịch vụ điện nước, điện thoại, bảo hiểm phục vụchung cho toàn DN…
Như vậy, chi phí ngoài sản xuất cũng là một khoản mục chi phí gồm nhiềuthành phần có đặc điểm khác nhau và khá phức tạp
b) Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác định từng thời kỳ
- Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuấtsản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thànhqua giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất hay giá thành côngxưởng) Xét theo mối quan hệ với việc xác định lợi nhuận trong từng kỳ kế toán,chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển để xác định lợi nhuận trong kỳtương ứng với khối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó
Trang 26- Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ bao gồm các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác địnhcác khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Nó thường bao gồm các chi phíbán hàng, chi phí quản lý DN và chi phí tài chính Các chi phí thời kỳ ở kỳ kếtoán nào được xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của thời kỳ
đó, do vậy chúng được tính toán kết chuyển hết để xác định lợi nhuận ngay trong
+ Biến phí thực thụ : là một loại biến phí mà sự biến động của chúng thực
sự thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động Để thực sự kiểm soát biến phítuyệt đối, nhà quản lý không chỉ kiểm soát tổng số mà còn phải kiểm soát tốtbiến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động Hoạch định, xây dựng và hoàn thiệnđịnh mức biến phí tuyệt đối sẽ là tiền đề tiết kiệm, kiểm soát biến phí và giáthành sản phẩm một cách chặt chẽ hơn
+ Biến phí cấp bậc : là loại biến phí mà sự thay đổi của chứng chỉ xảy ra khimức độ hoạt động đạt đến một giới hạn nhất định
- Định phí
Định phí là những khoản mục chi phí rất ít thay đổi hoặc không thay đổitheo mức độ hoạt động của đơn vị Nếu xét trên tổng chi phí, định phí khôngthay đổi; ngược lại nếu quan sát chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, định
Trang 27phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Mức độ hoạt động càng cao thì định phícho một đơn vị mức độ hoạt động càng giảm Như vậy, dù DN có hoạt động haykhông hoạt động thì vẫn tồn tại định phí Định phí trong các DN gồm: chi phíkhấu hao TSCĐ, chi phí CCDC, chi phí bảo dưỡng,…
Định phí tồn tại dưới hai loại hình :
+ Định phí bắt buộc: là những định phí có tính chất cơ cấu liên quan đếncấu trúc tổ chức của một DN mà rất khó thay đổi, nếu muốn thay đổi loại địnhphí này phải cần một khoảng thời gian tương đối dài, ví dụ như khấu hao TSCĐ,chi phí bảo hiểm Hai đặc điểm cơ bản của định phí bắt buộc là :
Chúng tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Chúng không thể cắt giảm đến bằng không trong một thời gian ngắn
Do những đặc điểm trên, việc dự báo và kiểm soát định phí bắt buộc phảibắt đầu từ lúc xây dựng, triển khai dự án, xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý DN + Định phí không bắt buộc: còn được xem như chi phí bất biến quản trị.Dòng chi phí này phát sinh từ các quyết định hàng năm của DN, ví dụ như chiphí tiếp khách, văn phòng phẩm, chi phí điện thoại… Hai đặc điểm cơ bản củađịnh phí không bắt buộc là:
Có bản chất ngắn hạn và không ảnh hưởng đến dòng chi phí của DN hàngnăm
Trong trường hợp cần thiết có thể cắt bỏ định phí không bắt buộc
- Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những khoản mục chi phí bao gồm các yếu tố biến phí
và định phí pha trộn lẫn nhau Ở một mức độ hoạt động nào đó chi phí hỗn hợpthể hiện đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động khác chúng có thể thể hiệnđặc điểm của biến phí Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chiphí, cần phải phân tích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và yếu tố bấtbiến Việc phân tích này được thực hiện bằng một trong ba phương pháp:
Trang 28phương pháp cực đại – cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán và phương phápbình phương bé nhất.
d) Phân loại chi phí theo mối quan hệ kiểm tra và ra quyết định
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
+ Chi phí trực tiếp là những chi phí quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất mộtloại sản phẩm, một công việc hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định vàhoàn toàn có thể hạch toán quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc đó, ví dụnhư chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí gián tiếp : là chi phí liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc,nhiều đối tượng khác nhau, nên phải tập hợp quy nạp cho từng đối tượng bằngphương pháp phân bổ gián tiếp, ví dụ như chi phí sản xuất chung
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
+ Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà ở cấp quản lý nào đó nhàquản trị xác định được chính xác sự phát sinh của nó đồng thời nhà quản trị cũng
có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh của nó
+ Chi phí không kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị không thể
dự đoán chính xác sự phát sinh của nó hoặc không có thẩm quyền ra quyết định
về loại chi phí đó.
- Chi phí chênh lệch:
Là những khoản chi phí có ở phương án sản xuất kinh doanh này nhưngkhông có hoặc chỉ có một phần ở phương án sản xuất kinh doanh khác Có thểnói đây là thông tin thích đáng cho việc xem xét, lựa chọn phương án tối ưu
- Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội có thể định nghĩa là một khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất đihay phải hy sinh để lựa chọn, thực hiện hoạt động này thay thế một hoạt độngkhác Chi phí cơ hội không xuất hiện trên sổ sách kế toán nhưng lại là cơ sở đểlựa chọn phương án hành động
Trang 29- Chi phí chìm
Chi phí chìm là những dòng chi phí luôn luôn xuất hiện trong tất cả cácphương án sản xuất kinh doanh Đây là một dòng chi phí mà nhà quản trị phảichấp nhận không có sự lựa chọn
1.2.1.2 Khái niệm, phân loại giá thành sản phẩm
Khái niệm giá thành sản phẩm
Xét về thực chất, thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốncủa DN vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của DN bỏ vào quá trình sảnxuất kinh doanh Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chiphí chi ra cho từng loại hoạt động, sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, sốchi phí đã chi đó cấu thành trong số sản phẩm đã hoàn thành là bao nhiêu Giáthành sản phẩm sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp trả lời được câu hỏi này
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về laođộng sống cần thiết và lao động vật hoá được tính trên một khối lượng kết quảsản phẩm hoàn thành nhất định
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừamang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Trong hệ thống các chỉ tiêuquản lý của DN, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kếtquả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tínhđúng đắn của những giải pháp quản lý mà DN đã thực hiện nhằm hạ thấp chi phí,nâng cao lợi nhuận
Phân loại giá thành sản phẩm
Cũng như chi phí sản xuất, tuỳ theo mục đích quản lý và yêu cầu hạch
toán mà giá thành sản phẩm được phân thành các loại sau:
a) Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi tính toán chi phí:
Theo tiêu thức này giá thành được chia thành:
- Giá thành sản xuất theo biến phí: Giá thành sản xuất theo biến phí là
Trang 30giá thành mà trong đó chỉ bao gồm biến phí thuộc CPNVLTT, CPNCTT,CPSXC tính cho sản phẩm hoàn thành Theo phương pháp này thì toàn bộ địnhphí sản xuất được tính vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ mà không nằmtrong giá thành sản xuất sản phẩm.
Giá thành sản xuất theo biến phí là một bộ phận trong giá thành toàn bộtheo biến phí Thông qua đó DN sẽ xác định lãi gộp trên biến phí (lãi đóng góp,
số dư đảm phí) và cho phép mô hình hoá một cách đơn giản mối quan hệ Chi phí
- Khối lượng - Lợi nhuận
Thông tin về giá thành sản xuất theo biến phí có vai trò quan trọng trongviệc phục vụ cho việc đưa ra các quyết định ngắn hạn, mang tính sách lược, là cơ
sở để xác định điểm hoà vốn Nó thường được sử dụng chủ yếu trong môi trườngkiểm soát hoạt động, ở đó nhà quản trị phải đưa ra các quyết định ngắn hạn, tứcthời hoặc đột xuất
- Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định: Nội dung của
giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định bao gồm: Toàn bộ biến phísản xuất (trực tiếp, gián tiếp); phần định phí được phân bổ trên cơ sở mức hoạtđộng thực tế so với mức hoạt động chuẩn (theo công suất thiết kế và định mức).Phần định phí còn lại là chi phí hoạt động dưới công suất được coi là chi phí thời kỳ
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Giá thành toàn bộ sản phẩm
tiêu thụ bao gồm giá thành sản xuất cộng với CPBH và CPQL DN Chỉ tiêu nàychỉ xác định khi sản phẩm đã được tiêu thụ và được sử dụng để xác định kết quả
b) Phân loại giá thành sản phẩm theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
- Giá thành kế hoạch: Là loại giá thành được tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Loại giá thành này được xác định trướckhi tiến hành sản xuất và đó là mục tiêu của các DN nhằm tiết kiệm được chi phísản xuất đồng thời đánh giá tình hình tổ chức thực hiện kế hoạch để hạ giá thànhsản phẩm
Trang 31- Giá thành định mức: Là loại giá thành được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản xuất Loại giá thành này cũngđược xác định trước khi tiến hành sản xuất Giá thành định mức là công cụ đểquản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; Là thước đo chính xác để xácđịnh hiệu quả sử dụng tài sản, lao động, tiền vốn trong sản xuất; Là căn cứ đểđánh giá đúng đắn kết quả thực hiện các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà DN đã đề
ra trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Giá thành sản xuất thực tế: Là loại giá thành được xác định trên cơ sở
các chi phí thực tế đã phát sinh và số lượng sản phẩm được sản xuất thực tếtrong kỳ Loại giá thành này được xác định sau khi đã hoàn thành quá trình sảnxuất Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của DN trongviệc sử dụng các giải pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật để thực hiện quá trình sảnxuất sản phẩm Giá thành sản xuất thực tế là căn cứ để xác định kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của DN
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là 2 chỉ tiêu giống nhau về chất,đều là hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà DN bỏ ra trong quá trìnhsản xuất Nhưng, do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nênchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khác nhau trên 2 phương diện:
- Về mặt phạm vi: chi phí sản xuất gắn với 1 thời kỳ nhất định, còn giáthành sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành
- Về mặt lượng: chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau khi cóchi phí sản xuất dở dang Thể hiện:
+
Chi phí sảnxuất phát sinhtrong kỳ
-Chi phí sảnxuất dở dangcuối kỳ
(1.1)
Trang 32Trong trường hợp đặc biệt: Dở dang đầu kỳ = Dở dang cuối kỳ hoặckhông có sản phẩm dở dang thì Tổng giá thành sản phẩm bằng chi phí sản xuấttrong kỳ.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết vớinhau, chi phí sản xuất là đầu vào, là nguyên nhân dẫn đến kết quả đầu ra là giáthành sản phẩm Mặt khác, số liệu của kế toán tập hợp chi phí là cơ sở để tínhgiá thành sản phẩm Vì vậy, tiết kiệm được chi phí sẽ hạ được giá thành
1.2.2 Xây dựng hệ thống định mức, hệ thống dự toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm
1.2.2.1 Xây dựng hệ thống định mức chi phí sản xuất
- Các khái niệm
+ Chi phí định mức: (chi phí tiêu chuẩn) là sự ước lượng chi phí để sảnxuất một đơn vị sản phẩm Chi phí định mức được thiết lập cho từng khoản mụcchi phí sản xuất (chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, và chiphí sản xuất chung) dựa trên lượng định mức (ví dụ như số giờ lao động, sốlượng nguyên liệu,… cần để sản xuất một đơn vị sản phẩm) và giá định mức củamỗi nhân tố đầu vào (ví dụ: Giá ước tính cho 1kg nguyên liệu, mức lương ướctính cho 1 giờ lao động, v.v…) Dựa vào chi phí định mức, nhân viên kế toánquản trị sẽ xác định dự toán chi phí sản xuất (dựa trên mức hoạt động dự kiến)
và sử dụng nó làm “chuẩn mực” để đối chiếu với chi phí thực tế
+ Chi phí thực tế: là chi phí phát sinh thực tế trong quá trình sản xuất,được nhân viên KTQT thu thập từ hệ thống kế toán của tổ chức
+ Biến động chi phí: là chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí địnhmức (dự toán chi phí) Biến động chi phí được sử dụng để kiểm soát chi phí
- Các lợi ích của hệ thống chi phí định mức:
+ Chi phí định mức là chuẩn mực để nhà quản lý so sánh với chi phí thực tế; + Chi phí định mức là căn cứ để định giá việc thực hiện;
+ Chi phí định mức thúc đẩy người lao động hướng đến việc tiết kiệm chi phí
Trang 33+ Số liệu giá thành thường ổn định hơn
+ Hệ thống kế toán đơn giản hơn so với hệ thống chi phí thực tế
- Phân biệt định mức và dự toán
Dự toán được lập trên cơ sở dự toán tương lai, giúp cho nhà quản lý lên kếhoạch giá thành và chi phí cho kỳ tương lai Ví dụ: dự toán quỹ lương trongtháng, dự toán nguyên vật liệu… Định mức là mức tiêu chuẩn cần thiết cho hoạtđộng thực tế (như số kg nguyên vật liệu cho một sản phẩm, giờ công lao độngcho một sản phẩm) Trong sản xuất kinh doanh DN sẽ xây dựng hệ thống chi phíđịnh mức để làm cơ sở so sánh với các khoản chi phí thực tế như chi phí nguyênvật liệu, chi phí nhân công Khi đó chi phí định mức thể hiện giá trị của nguyênvật liệu và nhân công cần sử dụng cho các mức độ sản xuất thực tế
- Phân loại định mức
Định mức chi phí được chia làm hai loại là định mức lý tưởng và địnhmức thực tế
+ Định mức lý tưởng: Định mức lý tưởng hay còn gọi là định mức hoànhảo là định mức chỉ có thể đạt được trong những điều kiện sản xuất lý tưởng:Người lao động làm việc với năng suất cao nhất, nguyên liệu không bị hỏng,không có sự hư hỏng của máy móc, hoặc sự gián đoạn sản xuất,… Trong thực tế,định mức lý tưởng ít khi được áp dụng vì nó không có tính thực tiễn
+ Định mức thực tế
Định mức thực tế có thể được định nghĩa là định mức “chặt nhưng có thểthực hiện được”, là loại định mức được xây dựng một cách chặt chẽ, có cơ sởkhoa học, dựa trên điều kiện sản xuất thực tế: cho phép có thời gian hợp lý máyngừng và thời gian nghỉ ngơi của người lao động và do đó định mức sẽ đạt đượcthông qua sự nhận thức và sự cố gắng cao của người lao động trong công việc
Do vậy, định mức thực tế nếu xây dựng đúng đắn và hợp lý sẽ có tác dụng độngviên, khuyến khích người lao động làm việc có năng suất Biến động giữa số liệuthực tế với định mức (thực tế) sẽ có nhiều ý nghĩa đối với nhà quản lý trong việckiểm soát
Trang 34- Phương pháp xác định chi phí định mức
Thiết lập định mức có lẽ là công việc khó khăn nhất trong quá trình xâydựng một hệ thống chi phí định mức Các nhà quản lý thường sử dụng haiphương pháp chủ yếu sau đây để xây dựng định mức chi phí: Phương pháp thống
kê kinh nghiệm và phương pháp phân tích công việc
+ Phương pháp thống kê kinh nghiệm
Phương pháp này thường được áp dụng ở các DN có quy trình sản xuất ổnđịnh Để xây dựng các định mức chi phí, người ta dựa vào số liệu trong quá khứ,tiến hành phân tích và từ đó xây dựng định mức về lượng (lượng nguyên liệutiêu hao, thời gian làm việc,…) Đồng thời, căn cứ vào tình hình thị trường, cácquyết định tồn kho để xây dựng định mức về giá
+ Phương pháp phân tích công việc
Để thực hiện phương pháp này, các kế toán viên phải phối hợp với các nhânviên kỹ thuật để phân tích công suất thiết kế của máy móc thiết bị, phân tích quytrình công nghệ, phân tích hành vi sản xuất, v.v… để xây dựng các định mức chi phí
Trong thực tiễn, các nhà quản trị thường sử dụng phối hợp hai phươngpháp này để xây dựng các định mức chi phí Phương pháp thống kê kinh nghiệmđược sử dụng ở những phần/giai đoạn của quy trình sản xuất ổn định (không có
sự thay đổi), và phương pháp phân tích công việc được sử dụng trong nhữngphần/giai đoạn của quy trình sản xuất có sự thay đổi về công nghệ hoặc phươngpháp sản xuất
- Xây dựng định mức chi phí sản xuất
Xây dựng các định mức chi phí sản xuất kinh doanh là công việc phức tạp
và khó khăn, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải chú ý đến đặc điểm tổchức sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý cụ thể, loại sản phẩm, dịch vụ, địađiểm kinh doanh, nguồn hàng cung cấp, đơn giá vật tư, đơn giá lao động
+ Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xây dựng dựa vào địnhmức lượng nguyên vật liệu tiêu hao và định mức giá của nguyên vật liệu
Trang 35 Định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp: phản ánh lượng nguyên vậtliệu tiêu hao ước tính để sản xuất một sản phẩm, bao gồm cả lượng hao hụt chophép trong quá trình sản xuất
Định mức về giá nguyên vật liệu trực tiếp: phản ánh giá phí cuối cùngcủa một đơn vị nguyên vật liệu trực tiếp, bao gồm giá mua cộng với chi phí thumua trừ đi chiết khấu mua hàng được hưởng
Nguyên tắc chung: khi xác định số lượng NVL tiêu hao định mức cho mộtđơn vị sản phẩm (ĐVSP) phải căn cứ vào loại sản phẩm, khả năng thay thếNVL, trình độ sử dụng NVL của công nhân hay máy móc thiết bị, số NVL haohụt định mức (nếu có)
Khi xác định đơn giá NVL trực tiếp tiêu dùng cho sản xuất từng loại sảnphẩm, căn cứ vào việc nghiên cứu giá thị trường, nguồn cung cấp nguyên vậtliệu và một số điều kiện khác như giá cước phí vận chuyển, phương tiện vậnchuyển… để dự tính đơn giá mua thực tế và chi phí mua của một số vật liệu xuấtdùng
Sau khi xác định được đơn giá mua thực tế của NVL chính, kế toán sử dụng công thức dưới đây để tính định mức chi phí NVL chính tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm
x Đơn giá muavật liệu phụ (1.3)
Trang 36Cuối cùng, tổng hợp định mức chi phí NVL chính và vật liệu phụ trực tiếp
sử dụng cho sản xuất 1 ĐVSP sẽ có được định mức chi phí NVL trực tiếp tínhcho 1 ĐVSP
+ Định mức chi phí nhân công trực tiếp
Định mức chi phí nhân công trực tiếp được biểu thị thông qua định mứcgiá của một giờ lao động trực tiếp và định mức lượng thời gian lao động trực tiếp
để sản xuất một đơn vị sản phẩm
Định mức về thời gian lao động: lượng thời gian tiêu chuẩn cần thiết đểsản xuất một đơn vị sản phẩm Một điều cần lưu ý là định mức thời gian laođộng phải bao gồm cả thời gian để nghỉ ngơi, giải quyết các nhu cầu cá nhân, lauchùi máy và thời gian chết máy
Về lý luận cũng như thực tế, định mức thời gian lao động trực tiếp đượcthực hiện bằng một trong hai phương pháp:
Bấm giờ để xác định thời gian cần thiết hoàn thành một đơn vị sảnphẩm;
Chia công việc hoàn thành theo từng thao thác kỹ thuật, xác định thờigian của từng thao tác kỹ thuật để hoàn thành sản phẩm và tổng hợp lại nhằmxác định thời gian hoàn thành của một đơn vị sản phẩm
Định mức giá lao động trực tiếp: Chi phí tiền lương ước tính cho một giờ lao động trực tiếp, bao gồm tiền lương, tiền công của người lao động và các khoản phụ cấp và những chi phí khác liên quan đến lao động
x
Định mức đơngiá lao độngtrực tiếp cho 1ĐVSP
(1.4)
+ Định mức chi phí sản xuất chung
Định mức chi phí sản xuất chung được xây dựng theo chi phí sản xuấtchung biến đổi và cố định, nhằm phục vụ cho việc phân tích biến động chi phí
Trang 37sản xuất chung Định mức chi phí sản xuất chung được xây dựng dựa trên đơngiá phân bổ sản xuất chung và tiêu thức được chọn để phân bổ chi phí sản xuất(ví dụ như số giờ lao động hoặc số giờ máy)
Định mức chi phí sản xuất chung biến đổi:
Định mức lượng: Số giờ lao động cho cần thiết để sản xuất một ĐVSPĐịnh mức giá: Đơn giá phân bổ chi phí sản xuất chung biến đổi (phản ánhđơn giá sản xuất chung biến đổi tính cho một giờ lao động)
Phương pháp xác định định mức chi phí biến đổi và chi phí cố định thuộc chi phí sản xuất chung đều giống nhau và được tính theo công thức sau:
x
Đơn vị tiêuchuẩn phân bổcho 1 ĐVSP
(1.5)
Định mức chi phí sản xuất chung cố định:
Định mức chi phí sản xuất chung cố định được xây dựng tương tự nhưđịnh mức chi phí sản xuất chung biến đổi
1.2.2.2 Xây dựng hệ thống dự toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh là công việc hết sức cần thiếtđối với công tác điều hành và quản lý doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có cácgiải pháp phù hợp để khai thác tối đa nguồn thu, thực hiện chính sách chi tiêumột cách hiệu quả và tiết kiệm Ngân sách được lập sẽ là công cụ tài chính quantrọng để chủ doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh doanh đã xác định trongthế chủ động về tài chính
- Hệ thống dự toán bao gồm
+ Dự toán tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
+ Dự toán sản lượng sản xuất sản phẩm, dịch vụ
+ Dự toán hàng tồn kho
+ Dự toán chi phí bán hàng
Trang 38+ Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp.
+ Dự toán vốn bằng tiền
+ Dự toán Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Dự toán Bảng Cân đối kế toán
Mối quan hệ giữa các Dự toán bộ phận
Trong hệ thống dự toán ngân sách, có thể nói Dự toán về tiêu thụ sảnphẩm là quan trọng nhất, nó chi phối toàn bộ các dự toán khác
Sau khi dự toán về tiêu thụ sản phẩm được lập, nó quyết định khối lượngsản phẩm cần thiết sản xuất để phục vụ cho quá trình tiêu thụ Sau đó, dự toánsản xuất lại quyết định dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp và chi phí sản xuất chung Các dự toán về chi phí sản xuất này lạitác động đến dự toán tiền
Dự toán tiêu thụ sản phẩm còn chi phối dự toán chi phí bán hàng và chiphí quản lý, dự toán thu nhập và tất nhiên, các dự toán này cũng tác động đến
dự toán tiền
Dự toán tiền bị chi phối dự toán tiêu thụ sản phẩm vì việc tiêu thụ tạo ranguồn tiền để đáp ứng cho việc chi tiêu Các dự toán về chi phí đặt ra nhu cầu vềnguồn tiền trong kỳ, do vậy chúng tác động đến dự toán tiền Ngược lại, các dựtoán chi phí cũng chịu ảnh hưởng bởi dự toán tiền, bởi khả năng về lượng tiềnhiện có sẽ ảnh hưởng đến việc thỏa mãn các nhu cầu chi phí đó
Dự toán về vốn cũng nằm trong dự toán ngân sách, nó dự tính chỉ tiêu đểxây dựng nhà xưởng và mua sắm các loại tài sản, trang thiết bị…
Kết quả cuối cùng sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh là tình hìnhlợi tức, tình hình tài sản – những nội dung này sẽ được phản ánh trên dự toán kếtquả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán
Mối quan hệ giữa các dự toán bộ phận trong hệ thống dự toán ngân sáchcủa doanh nghiệp được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 39Sơ đồ 1.2 : Mối quan hệ giữa các Dự toán bộ phận
- Lập dự toán chi phí sản xuất
+ Dự toán sản xuất
DN dựa vào các thông tin về nhu cầu sản xuất cho kỳ kế hoạch để tậphợp thành dự toán sản xuất Khối lượng sản phẩm sản xuất ra, ngoài việc thỏamãn yêu cầu của tiêu thụ còn phải đáp ứng được cho việc tồn kho cuối kỳ Tuy
Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý
Dự toán
NVL trực
tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí sản xuất chung
Dự toán tiền
Bảng Cân đối kế toán
dự toán
Bảng dự toán hoạt
động sản xuất kinh
doanh
Trang 40nhiên, một phần của số sản phẩm này đã có sẵn trong kho từ đầu kỳ, số còn lại là
do sản xuất trong kỳ làm ra Do đó, nhu cầu sản xuất sẽ được xác định như sau:
+
Khốilượng tồnkho cuốikỳ
-Khốilượng tồnkho đầukỳ
(1.6)
+ Dự toán Nguyên vật liệu trực tiếp
Sau khi dự toán sản xuất đã được soạn xong, dự toán chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp sẽ được soạn thảo để xác định số nguyên vật liệu cần thiết cho quátrình sản xuất
Nguyên vật liệu trực tiếp, ngoài việc thỏa mãn yêu cầu của quá trình sảnxuất sản phẩm còn phải đáp ứng được cho việc tồn kho cuối kỳ Tuy nhiên, mộtphần của số nguyên vật liệu này đã có sẵn trong kho từ đầu kỳ, số còn lại muathêm bên ngoài
Dự toán chi
phí NVL =
Khối lượngNVL cần mua x
Định mứcchi phí NVL (1.7)Trong đó:
+
KhốilượngNVL tồnkho cuốikỳ
-KhốilượngNVLtồn khođầu kỳ
Mức tiêu haoNVL cho 1ĐVSP
(1.7.2.)