"Đề cơng về đổi mới công tác đào tạo tài năng thể thao" tại Hội nghị ngành TDTT năm 1993 đã nhận định một trong những nguyên nhân chủ quan tạo nên mặt bằng trình độ thấp của thể thao nớc
Trang 1Đặt vấn đề
Sự nghiệp TDTT trong những năm qua đợc Đảng và Nhànớc rất quan tâm, Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/3/1994 của Ban
bí th TW Đảng đã nêu rõ: "Mục tiêu trớc mắt là phải đào tạo
đợc lực lợng VĐV trẻ đạt thành tích cao hơn hòa nhập vào quỹ
đạo chung của khu vực và thế giới".
Trong những năm qua thể thao Việt Nam đã đạt đợcnhững thành tựu rất đáng trân trọng Trên đấu trờng khuvực, từ SEA-games 15 đợc tổ chức tại Kuala - Lămpơ thànhtích thể thao của chúng ta liên tục đợc nâng cao cả về số l-ợng huy chơng và vị trí của toàn đoàn trong bảng Đặc biệt,huy chơng bạc Olympic của Trần Hiếu Ngân đã đặt mộtdấu son cho lịch sử thể thao Việt Nam Tuy vậy, thực tiễnthể thao cũng cho thấy lực lợng VĐV trẻ còn mỏng và phát
triển cha đồng đều ở các môn "Đề cơng về đổi mới công
tác đào tạo tài năng thể thao" tại Hội nghị ngành TDTT năm
1993 đã nhận định một trong những nguyên nhân chủ quan
tạo nên mặt bằng trình độ thấp của thể thao nớc nhà là "cha
xây dựng đợc quy trình đào tạo VĐV nên cách làm còn chắp vá, tuỳ tiện; mỗi nơi làm một cách,… còn rất xem nhẹ tính
hệ thống, tính khoa học trong công tác tuyển chọn, đào tạo VĐV Từ nhận định trên, cùng với nhận thức thể thao trẻ là một mắt xích quan trọng trong hệ thống huấn luyện thể thao hoàn chỉnh, ngành TDTT khi xác định "phát triển thể thao thành tích cao" là một trong 3 nhiệm vụ chiến lợc xuyên suốt
của ngành đã nêu lên biện pháp hoàn chỉnh từng bớc hệ
Trang 2thống đào tạo tài năng thể thao quốc gia với xuất phát điểm
là các tuyến đào tạo VĐV trẻ
Pencaksilát đợc du nhập vào Việt Nam từ những nămcuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 Sau Seagames 15 tổ chức tạiMalaysia năm 1989 Qua Segames này các võ s và vận độngviên Việt Nam đã tiếp thu đợc kỹ thuật và luật lệ thi đấu củamôn võ này vào Việt Nam Ngay từ những ngày đầu, môn võnày đã đợc đông đảo các chuyên gia thể thao của nớc ta xác
định là môn thể thao mới mà chúng ta có khả năng pháttriển tốt Do đó Hà Nội là nơi vận động cho việc phát triểnmôn Pencaksilát đầu tiên
Nh chúng ta đã biết, thể thao Việt Nam trong nhữngnăm gần đây đã khởi sắc, môn Pencaksilát cũng ngày càng
đợc chú trọng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Đặcbiệt là từ khi Tổng cục thể dục thể thao xác định các môn
võ, trong đó có Pencaksilát là một trong những môn thể thaomũi nhọn nên đã chắp cánh cho sự phát triển của môn phái
võ này trên đất nớc ta Tuy du nhập vào Việt Nam muộn song
đến Seagames 17 trở đi, các VĐV Nguyễn Hồng Hải, ĐàoXuân Thắng, Trịnh Thị Mùi, Nguyễn Văn Hùng đã lần lợtgiành đợc các tấm Huy chơng vàng trên đấu trờng khu vực
Điều đó chứng minh rằng môn thể thao Pencaksilát rất phùhợp với con ngời Việt Nam
Trong thi đấu Pencaksilát mỗi trận đấu thờng kéo dàikhoảng 10 phút (kể cả thời gian nghỉ giữa các hiệp) songcác VĐV lại phải thi đấu với mật độ dày đặc Vì vậy tố chấtthể lực là một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết
Trang 3định đến sự thắng thua của trận đấu; Cũng chính do vaitrò quan trọng của thể lực đối với võ sinh Pencaksilát mà cáchuấn luyện viên môn thể thao này rất coi trọng, huấn luyệnnâng cao trình độ thể lực cho VĐV ở tất cả các giai đoạnhuấn luyện.
Tuy vậy, thông qua trao đổi trực tiếp với các HLVPencaksilát đội tuyển trẻ quốc gia trong quá trình huấnluyện thể lực chung và thể lực chuyên môn cho các VĐVPencaksilát, để đánh giá trình độ VĐV, các HLV mới chỉthông qua một số bài kiểm tra đơn giản nh chạy 800m, chạy1500m, chạy 60m, bật xa tại chỗ, đá lămpơ, xoạc ngang, xoạcdọc, sau đó dựa vào sự tiến bộ để đánh giá mà cha có một
hệ thống chỉ tiêu và tiêu chuẩn đánh giá một cách khoa học
đối với sự phát triển thể lực của VĐV Pencaksilát
Trong khi đó, nhìn lại các công trình nghiên cứu vềxây dựng chỉ tiêu đánh giá thể lực cho VĐV Pencaksilát ở nớc
ta mới chỉ thấy xuất hiện một số rất ít các công trình nghiêncứu về lĩnh vực này Điểm lại chúng tôi thấy có các công
trình của Lê Thị Chiến "xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức
nhanh nhóm, đòn tay phòng thủ cho nữ VĐV Pencaksilát lứa tuổi 15 - 17 thành phố Thanh Hoá" năm 2004 và một số ít
các luận văn nghiên cứu về Pencaksilat của sinh viên đại họcTDTT I
Từ thực tế trên đòi hỏi cần có một hệ thống chỉ tiêu
đánh giá thể lực có tính khoa học và hợp lý dùng để đánh giáthể lực của VĐV Pencaksilát các nhóm tuổi khác nhau, nhằmgiúp cho việc đánh giá trong tuyển chọn VĐV và điều chỉnh
Trang 4trong huấn luyện đạt hiệu quả cao hơn Chính vì vậy,
chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu xây
dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho VĐV môn Pencaksilát đội tuyển trẻ quốc gia lứa tuổi 15 - 17".
* Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này đợc xác định làqua nghiên cứu sẽ lựa chọn đợc hệ thống các chỉ tiêu và xâydựng tiêu chuẩn đánh giá một cách khoa học để có thể đánhgiá một cách chính xác trình độ phát triển thể lực của VĐVPencaksilát 15 - 17 tuổi đội tuyển trẻ quốc gia Từ đó gópphần nâng cao chất lợng tuyển chọn và đào tạo VĐVPencaksilát của nớc ta
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi
đã xác định 2 nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng thể lực và việc sửdụng các tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho VĐV, củacác HLV Pencaksilát đội tuyển quốc gia
- Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu lựa chọn chỉ tiêu và xây dựngtiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của VĐV Pencaksilát 15
- 17 tuổi đội tuyển trẻ quốc gia
Trang 5chơng I tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1 Những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nớc ta vềcông tác TDTT
Nhận rõ tầm quan trọng của hoạt động thể dục thểthao, ngày 27/3/1946 Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi toàn dân
tập thể dục và ký sắc lệnh số 33 về việc "thiết lập trong Bộ
quốc gia giáo dục một nha Thanh niên và thể dục" Để đánh
dấu mốc lịch sử này, ngày 27/3 đã đợc gọi là ngày thể thaoViệt Nam và hàng năm cứ đến ngày này các hoạt động thểdục thể thao lại sôi nổi diễn ra trên phạm vi cả nớc
Hởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ và đợc sự quan tâmcủa Đảng và Nhà nớc, hoạt động TDTT ở nớc ta đã khôngngừng lớn mạnh, phát triển sâu rộng và có những bớc tiến vợtbậc trên cả hai lĩnh vực TDTT quần chúng và thành tích thểthao
Sự nghiệp Cách mạng nói chung và TDTT nói riêng pháttriển rực rỡ với những thắng lợi vẻ vang nh ngày nay là nhờ có
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thông qua đờng lối cáchmạng đúng đắn phù hợp với xu thế vận động của thời đại vàthực tiễn đất nớc qua các thời kỳ lịch sử cụ thể Sự lãnh đạocủa Đảng đối với công tác TDTT đợc thể hiện ở đờng lốichung và trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nớc
* Giai đoạn 1954 đến 1964:
Trang 6Là giai đoạn miền Bắc tiến vào cách mạng xã hội chủnghĩa đi lên CNXH Miền Nam tiếp tục làm cách mạng dântộc dân chủ nhân dân để tiến tới thống nhất đất nớc.
Giai đoạn này những Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng vềcông tác TDTT nổi bật là: Chỉ thị 106/CT-TW ngày02/10/1958, Chỉ thị 151/CT-TW ngày 13/01/1960 Hai Chỉthị nêu trên đã vạch phơng hớng hoạt động cho ngành TDTT
là: "phong trào TDTT và thể thao quốc phòng của ta phải trở
thành một phong trào quần chúng rộng rãi ngày càng đợc nâng cao về mặt kỹ thuật Để đạt mục đích góp phần tăng cờng thể chất, nghị lực và giáo dục, đoàn kết đông đảo nhân dân cần lấy việc mở rộng phong trào làm chính, không bó hẹp trong một số ít tổ chức hoặc một vài môn.
Đồng thời quan tâm đúng mức đến việc nâng cao trình
độ chuyên môn" [42], Chỉ thị của Đảng về công tác TDTT
xác định xây dựng phong trào TDTT quần chúng rộng rãi làcơ bản, nhng cũng cần chú trọng đến nâng cao trình độchuyên môn, đến thể thao thành tích cao, Chỉ thị 106 và
181 của Đảng nêu ra những biện pháp cụ thể, yêu cầu cáccấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp tăng cờng lãnh đạo, tuyêntruyền giáo dục, có kế hoạch vận động nhân dân tập luyệnTDTT Chú ý kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý ngành từtrung ơng đến địa phơng cơ sở Xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật, dụng cụ, sân bãi, xây dựng chế độ chính sách chohoạt động TDTT
* Giai đoạn từ 1965 - 1975:
Trang 7Trớc những thất bại nặng nề ở chiến trờng miền Nam,
để cứu vãn nguy cơ thất bại của chúng, ngày 5/8/1964 lấy cớ
“sự kiện vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ đã cho máy bay némbom miền Bắc, phá hoại nền hoá bình và công cuộc xâydựng CNXH ở miền Bắc nớc ta Mọi hoạt động nói chung vàTDTT nói riêng phải chuyển sang tình hình mới - cả nớc cóchiến tranh
ở giai đoạn này, ngành TDTT đã đợc Đảng vạch ra nhữngchủ trơng, phơng hớng mới thông qua các Chỉ thị, Nghịquyết chủ yếu sau:
- Chỉ thị 140/CT-TW ngày 20/11/1967 của Ban bí thtrung ơng Đảng về tăng cờng công tác bảo vệ và nâng caosức khoẻ cho cán bộ, công nhân viên chức
- Chỉ thị 180/CT-TW ngày 26/8/1970 về tăng cờng côngtác TDTT trong những năm tới Chỉ thị 180, một mặt Đảng tavạch ra phơng hớng cho ngành TDTT hoạt động, phù hợp vớitình hình cả nớc có chiến tranh Mặt khác còn phải chuẩn
bị cho tơng lai khi đất nớc có hoà bình, thống nhất Tổquốc Chỉ thị nêu: “Trên cơ sở xuyên suốt đờng lối và quan
điểm TDTT của Đảng và Nhà nớc nhằm mục tiêu khôi phục vàtăng cờng sức khoẻ của nhân dân, góp phần tích cực phục
vụ lao động sản xuất, phục vụ quốc phòng, phục vụ đờisống, phục vụ xây dựng con ngời mới Cần ra sức phát triểnTDTT thành một phong trào có tính quần chúng rộng rãi, lấythể dục, rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn và 5 môn: Chạy,nhảy, bơi, bắn, võ làm trọng tâm, đồng thời cố gắng pháttriển những môn thể thao khác Cần tăng cờng xây dựng và
Trang 8bồi dỡng đội ngũ hớng dẫn viên, HLV, VĐV thể dục thể thao,tăng cờng việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật TDTT, kết hợpnhững thành tựu hiện đại của thế giới với kinh nghiệm truyềnthống của dân tộc, do đó mà từng bớc vững chắc nâng caochất lợng của phong trào” [42].
- Chỉ thị 180 còn nêu phơng châm, những nhiệm vụ
và nội dung cụ thể của công tác TDTT, vạch ra những biệnpháp chính để thực hiện phơng hớng và nhiệm vụ của Chỉthị
- Chỉ thị 180/CT-TW của Ban bí th Trung ơng Đảng ra
đời đã tạo ra một động lực mạnh mẽ góp phần thúc đẩyphong trào TDTT quần chúng phát triển rộng khắp, công tácTDTT đã phát triển đúng hớng, góp phần tích cực phục vụsản xuất chiến đấu đời sống và xây dựng con ngời mới
* Giai đoạn từ 1975 đến nay:
ở giai đoạn này có thể chia làm 2 giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn thứ nhất từ năm 1975 đến 1986
- Giai đoạn thứ hai từ năm 1986 đến nay
Với thắng lợi vẻ vang của cuộc tổng tấn công mùa xuân
1975 đợc kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử,
nhân dân ta đã thực hiện đúng lời dạy của Bác: "Đánh cho
Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào" Non sông đất nớc đã thu về
một mối, Tổ quốc Việt Nam hoà bình, thống nhất Cũng từ
đây hoạt động TDTT đợc thực hiện trong phạm vi cả nớc, từBắc vào Nam
Sáu tháng sau ngày giải phóng miền Nam, Đảng và Nhànớc tuy còn đang phải giải quyết rất nhiều hậu quả sau
Trang 9chiến tranh nhng Đảng đã sớm đề ra phơng hớng mới chongành TDTT, đó là Chỉ thị số 227/CT-TW ngày 18/11/1975của Ban bí th trung ơng Đảng về công tác TDTT trong tìnhhình mới.
Chỉ thị 227/CT-TW đã xác định mục tiêu của TDTT
trong tình hình mới, đó là: "Khôi phục và tăng cờng sức khoẻ
của nhân dân, góp phần xây dựng con ngời mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc XHCN, xây dựng một nền thể thao XHCN phát triển cân đối, có tính chất dân tộc nhân dân và khoa học"[42].
Chỉ thị nêu phơng châm thực hiện trong tình hìnhmới là:
+ Kết hợp với thể thao, lấy thể dục làm cơ sở, kết hợpTDTT với vệ sinh phòng bệnh, tập trung sức phục vụ chophong trào cơ sở
+ Tập luyện TDTT phải phù hợp với lứa tuổi nam, nữ,ngành nghề, sức khoẻ từng ngời và điều kiện kinh tế
+ Kết hợp việc phát triển phong trào quần chúng với việcxây dựng lực lợng nòng cốt, bao gồm cán bộ, HLV, trọng tài,giáo viên, hớng dẫn viên và vận động viên TDTT
+ Triệt để sử dụng những điều kiện thiên nhiên, cơ sởvật chất sẵn có và dựa vào lực lợng của Nhà nớc là chính, kếthợp sự giúp đỡ của Nhà nớc để xây dựng cơ sở vật chất
Sau Chỉ thị 227/CT-TW ngày 18/11/1975 ngành TDTTtiếp tục đợc Đảng vạch ra phơng hớng, nhiệm vụ qua 2 kỳ Đạihội Đảng toàn quốc là Đại hội IV năm 1976 và Đại hôi V năm1981
Trang 10* Giai đoạn từ 1986 đến nay:
Năm 1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đờnglối đổi mới toàn diện về kinh tế - chính trị - văn hoá xã hội.Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới năm 1996 Đại hội
lần thứ VIII của Đảng đã đánh giá tổng quát nh sau: "Sau 10
năm thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện Đất nớc đã vợt qua một gia đoạn thử thách gay go Trong những hoàn cảnh hết sức phức tạp, khó khăn, nhân dân ta không những đứng vững mà còn vơn lên đạt những thắng lợi nổi bật trên nhiều mặt".[2;42]
Thực hiện đờng lối đổi mới, ngành TDTT đã đợc Đảnglãnh đạo bằng Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/3/1994 về công tácTDTT trong giai đoạn mới
Quan điểm của Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn
mới là: “Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong
chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc nhằm bồi dỡng và phát huy nhân tố con ngời, công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lợng vũ trang”[2;42].
1.2 Đặc điểm kỹ thuật và thể lực của môn Pencaksilát
Đặc điểm hoạt động thể lực của môn Pencaksilát phụthuộc rất lớn vào kỹ thuật và thi đấu của môn thể thao này.Bởi vậy trớc khi tìm hiểu về đặc điểm hoạt động thể lụccủa môn thể thao này Chúng ta cần đi sâu tìm hiểu đặc
Trang 11điểm kỹ thuật và đặc điểm về thi đấu của VĐVPencaksilát.
1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật của môn Pencaksilát.
Pencaksilát là môn võ thuật bao gồm nhiều kỹ thuật vàcác thế tấn công khác nhau Một số tổ hợp kỹ thuật và cácthế tấn đợc ghép lại với nhau theo một mục đích, một ý tởngriêng tạo thành một Rurul Nh vậy có thể nói rằng Pencaksilát
là một tổng thể các kỹ thuật tự vệ, chiến đấu bao gồmnhiều Rurul, mỗi Rurul là một hệ thống kỹ thuật chiến đấu
và tấn pháp độc lập đợc kết hợp với nhau theo một mục đíchriêng nhng lại gắn bó, phối hợp chặt chẽ với nhau
Cấu thành môn võ PencakSilát gồm 4 hệ thống kỹ thuậtlà:
Hệ thống bộ pháp di chuyển là hệ thống kỹ thuật dichuyển thay đổi vị trí, thay đổi tấn pháp để tiếp cận đốiphơng Hệ thống kỹ thuật này gồm các bớc di chuyển,chuyển dịch vị trí thân ngời và các thế trong phối hợp khi dichuyển
Trang 12Hệ thống các kỹ thuật tấn công là hệ thống các kỹ thuật
đợc dùng để ra đòn tấn công nhằm đánh thắng đối phơnghoặc hạn ché đòn tấn công của đối phơng Các kỹ thuật tấncông trong võ Pencaksilát gồm: Đâm, xỉa, cầm nã, đánh trỏ,
đá, đánh gối, quật ngã, đánh ngã, khoá và mỗi kỹ thuật lạibao gồm nhiều đòn thế khác nhau
Hệ thống các kỹ thuật phòng thủ là hệ thống các kỹthuật dùng để ngăn chặn hoặc chống trả đòn tấn công của
đối phơng Căn cứ vào tính chất phòng thủ, ngời ta chia hệthống kỹ thuật phòng thủ thành 2 loại là: Hệ thống các kỹthuật phòng thủ bị động và hệ thống các kỹ thuật phòng thủchủ động Căn cứ vào tính chất của kỹ thuật hệ thống các kỹthuật này lại có thể đợc chia ra hệ thống kỹ thuật gạt đỡ,tránh né, lánh đòn, hoá giải
Tất cả các hệ thống kỹ thuật trên hệ thống các t thếphòng thủ và bộ pháp di chuyển đợc gọi là hệ thống các kỹthuật chiến đấu gián tiếp Còn hệ thống các kỹ thuật tấncông và phòng thủ đợc gọi là hệ thống các kỹ thuật chiến
đấu trực tiếp
Qua đặc điểm kỹ thuật trên ta có thể nhận thấy các kỹthuật này đều liên quan tới các hoạt động sức nhanh, sứcmạnh, mềm dẻo, khéo léo của VĐV
1.2.2 Đặc điểm thi đấu của môn Pencaksilát.
Thi đấu Pencaksilát là mộc chi hệ của Pencaksilát và các
kỹ thuật Rurul đợc biến đổi để trở thành phơng tiện rènluyện thể chất và nâng cao thành tích thi đấu thể thao củamôn võ này
Trang 13Nh chúng ta đã biết môn Pencaksilát có 4 nội dung là:
- Nội dung tự vệ chiến đấu
- Nội dung tinh thần võ đạo
- Nội dung biểu diễn nghệ thuật
- Nội dung thi đấu thể thao
Cả 4 nội dung này luôn kết hợp với nhau trong 1 thểthống nhất và ở bất cứ nội dung nào cũng thể hiện ra cả 4hình thức và mỗi kỹ thuật Rurut của chúng đều mang đầy
Về kỹ thuật của nội dung Pencaksilát thi đấu thể thao
là hình thức tệ vệ chiến đấu đợc tổ chức lại để thi theoluật lệ thi đấu thể thao Bởi vậy Pencaksilát thi đấu thể thaongoài mục tiêu rèn luyện nâng cao thể chất và thành tíchthể thao thì các kỹ thuật và Rurut trong nội dung này còn cóthể sử dụng trong tự vệ chiến đấu và trong biểu diễn nghệthuật cũng nh rèn luyện yếu tố tinh thần cho ngời tập
Trớc đây hình thức thi đấu thể thao của Pencaksilátvẫn mang tính truyền thống nhng hiện nay cùng với xu hớng
Trang 14phát triển cũng nh sự tác động và ảnh hởng của các phơngpháp huấn luyện thể thao hiện đại Pencaksilát đã trở thành
1 môn thi đấu mang tính toàn cầu với 3 phơng thức thi đấu
là thi đấu biểu diễn, thi đấu đối kháng và TDTT [17]
Pencaksilat thi đấu biểu diễn là sự trình diễn củaRurul đặc sắc và phong phú tính nghệ thuật của môn võnày Hình thức biểu diễn có thể là cá nhân, 2 hoặc đồng
đội (3 ngời trở lên)
Pencaksilát thể dục thể thao là môn thi đấu có các
động tác đợc đúc rút và biến đổi từ các kỹ thuật, Rurut củahình thức thi đấu thể thao Nội dung này đợc thực hiện với 2cấp độ là vận động nhẹ dùng để rèn luyện và nâng cao sứckhoẻ cho mọi lứa tuổi và vận động nặng cho các VĐV thểthao
Pencaksilát thi đấu đối kháng là môn thi đấu đối khángtheo luật thi đấu (thi đấu 3 hiệp, mỗi hiệp 2 phút) Nhìnchung nội dung này có nhiều điểm giống với Pencaksilát tự
vệ chiến đấu Khi thi đấu với cờng độ cao trong suốt 3 hiệpVĐV phải sử dụng sức mạnh tốc độ sự khéo léo, linh hoạt sứcbền bỉ để thực hiện tốt các kỹ thuật và chiến thuật thi đấumới có thể giành đợc phần thắng Do vậy thể chất nói chung
và thể lực nói riêng là yếu tố vô cùng quan trọng đối với VĐVPencaksilát để có thể giành đợc thành tích đỉnh cao trongthi đấu
1.2.3 Mối quan hệ giữa kỹ chiến thuật Pencaksilát với các tố chất thể lực.
Trang 15Theo các nhà sinh lý học trong và ngoài nớc nh: DơngTích Nhợng - Trung Quốc, Lu Quang Hiệp (Việt Nam) cùng các
võ s môn phái Pencaksilát thì tất cả các động tác kỹ thuậtcùng hành động chiến thuật của VĐV Pencaksilát đều cóquan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực sau:
Sức mạnh trong huấn luyện và thi đấu Pencaksilát, sứcmạnh đợc sử dụng vào hầu hết các động tác tấn công vàphòng thủ Trong đó sức mạnh của các nhóm cơ lng, bụng,hông, cánh tay, cẳng chân, các ngón tay và sức mạnh nội lực.[21;49]
Trong khi thực hiện các đòn tấn công phần lớn sử dụngloại sức mạnh tốc độ Theo định luật 2 Niutơn:
F = m a
Vậy muốn có sức mạnh tốt phải có a lớn Trong khi đó:
Hay nói cách khác muốn có sức mạnh động tác trong
đòn tấn công cần có V tốc độ tức thời tại thời điểm t (Vt)
lớn
- Sức bật và sức rớn: Sức bật và sức rớn cũng là một loạisức mạnh bộc phát mà VĐV Pencaksilát cần để sử dụng trongcác động tác kỳ thuật tấn cong hoặc phòng thủ
- Sức nhanh cũng giống nh tố chất sức mạnh, tố chất sứcnhanh là một tố chất hết sức cần thiết đối với VĐVPencaksilát Tố chất sức nhanh của VĐV Pencaksilát phụ thuộcvào tốc độ phản ứng đối với động tác, tốc độ động tác đơn
và tốc độ di chuyển vị trí có thể trong các đoạn rất ngắn
Trang 16Tố chất tốc độ là một tố chất có độ di truyền cao Songthông qua huấn luyện cũng cỏ thể cải thiện đợc một phạm vilớn, mức độ lớn [35; 38; 39]
- Sức bền, do trận thi đấu Pencaksilát thờng kéo dàikhoảng 10 - 15 phút với cờng độ rất cao và liên tục nên đòihỏi VĐV chẳng những phải có sức bền yếm khí tốt mà cònphải có sức bền ùa khí cao Vận động viên Pencaksilát có sứcbền ùa yếm khí tốt có thể duy trì sự ổn định kỹ chiếnthuật và tâm lý tốt giúp cho hiệu quả, thi đấu đạt đợc càngcao hơn
- Năng lực phối hợp vận động là một yếu tố rất quantrọng và cần thiết đối với VĐV Pencaksilát
Trong các yếu tố thành phần của năng lực phối hợp vận
động thì năng lực duy trì thăng bằng có thể và cảm giáckhông gian thời gian có ý nghĩa nổi trội hơn Nh chúng ta đãbiết khi thực hiện bất cứ động tác kỹ thuật nào dù là tấncông hay phòng thủ thì việc duy trì thăng bằng cơ thể
đóng một vai trò hết sức quan trọng Ví dụ: 1 VĐV đang cố
gắng nâng chân lên để tấn công đối phơng trong lúc đóanh ta lại bị mất thăng bằng thì rất có thể sẽ bị ngã trớc khi
đòn tấn công kịp chạm vào ngời của đối phơng
Do thi đấu Pencaksilát chịu ảnh hởng trực tiếp củanguyên lý hoạt động động lực, cho nên nếu cơ thể ở trongtrạng thái vững vàng ổn định sẽ giữ thăng bằng rất ổn
định song lại rất khó cho việc triển khai các hoạt động Ngợclại mọi hoạt động đợc triển khai sẽ đợc dễ dàng hơn nếu cơthể không ở trong trạng thái cân bằng bền quá vững chắc
Trang 17và ổn định Cảm giác không gian, thời gian cũng là mộtnăng lực hết sức quan trọng đối với VĐV Pencaksilát Bởi vìchỉ khi nào cảm giác này chuẩn xác thì động tác phòng thủ
và tấn công mới đạt hiệu quả cao [17]
+ Mềm dẻo cũng là một tố chất cần thiết đối với VĐVPencakSilát, đặc biệt là độ mềm dẻo của khớp hông, cổchân và cột sống nhằm giúp cho các động tác kỹ thuật tấncông có đợc biên độ lớn và đạt đợc công suất lớn động táctránh né khi phòng thủ có hiệu quả cao hơn
1.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực ở lứa tuổi 15- 17
Tố chất thể lực thực chất là các năng lực về sức mạnh,tốc độ mềm dẻo linh hoạt biểu hiện trong vận động của conngời Trong quá trình phát triển các tố chất thể lực của conngời thờng kéo trong nhiều năm Sự phát triển các tố chấtthể lực theo các nhà sinh lý thể thao trong và ngoài nớc nh:Dơng Tích Nhợng, Lu Quang Hiệp và Vũ Chung Thuỷ thì sựphát triển các tố chất thể lực cũng gắn chặt với sự phát dụctrởng thành của cơ thể Đặc biệt là sự phát triển của cơquan vận động, hệ tim mạch hô hấp, hệ thần kinh Bởi vậy
do tính làn sóng trong sự phát dục trởng thành của cơ thểnên đã kéo theo các thời kỳ nhạy cảm các tố chất thể lực [21;34; 35; 37; 49]
Theo các nhà sinh lý trong và ngoài nớc thì các tố chấtthể lực trong quá trình phát triển có các thời kỳ tuổi nhạycảm riêng nh bằng dới đây thể hiện:
Tuổi nhạy cảm phát triển các tố chất thể lực
Trang 18Phản xạ tốc
độ
Năng lực phối hợp vận
động
Tính linh hoạt
Độ mềm dẻo
Nhị p
điệu
Tốc
độ
Sức mạnh
Sức bền
Trích từ sinh lý TDTT của Trung Quốc (1991)
Qua bảng trên ta có thể nhận thấy ở lứa tuổi 15 - 17 làthời kỳ các em rất nhạy cảm đối với việc phát triển các tố chấttốc độ, sức mạnh và sức bền
1.3.1 Đặc điểm phát triển tố chất tốc độ ở tuổi 15 – 17.
Tốc độ là một năng lực quan trọng của VĐV PencakSilát,năng lực tốc độ của một VĐV thờng phụ thuộc rất nhiều vàotính linh hoạt, cờng độ của quá trình thần kinh cũng nh mức
độ điêu luyện về kỹ thuật Tốc độ cũng là kết quả sự hoànthiện chức năng của cơ thể đồng thời là mốc đánh dấu sựthành công hay thất bại trong huấn luyện phát triển tố chấtnày cho VĐV PencakSilát
Theo quy luật biến đổi về tốc độ của VĐV nói chung vàVĐV PencakSilát nói riêng, giai đoạn 13 - 16 tuổi sự phát triểntốc độ nhanh hơn Đặc biệt là VĐV nam còn VĐV tốc độ pháttriển chậm hơn nam Đây là đỉnh thứ 2 của quá trình pháttriển tốc độ của VĐV nữ đến tuổi 16 đã có thể đợc khoảng
Trang 1995 - 96% tốc độ cao nhất của đời ngời còn nam có thể đạt
đợc khoảng 91 - 92% [21; 49]
1.3.2 Đặc điểm phát triển sức mạnh ở tuổi 15 – 17.
Nh chúng ta đã biết sức mạnh thờng đợc chia thành 3loại: Sức mạnh tối đa, sức mạnh tốc độ (tức sức mạnh bộcphá) và sức mạnh bền
* Đặc điểm phát triển sức mạnh tối đa: ở 1 VĐV thể
thao nói chung và VĐV Pencaksilát nói riêng từ lúc nhỏ đếnlúc lớn thờng đợc chia thành 4 giai đoạn
ở giai đoạn đầu 10-13 tuổi và 13-15 tuổi nghĩa làtrong 5 năm sức mạnh tuyệt đối tăng 54%.[34; 35; 49]
Song ở cả 2 giai đoạn sau (15-16 tuổi và 16-21 tuổi)sức mạnh chỉ tăng đợc 20% Điều này là do càng lên cao thì
tỷ lệ càng chậm lại Tuy vậy ở tuổi 15 - 16 tuổi tăng với tỷ lệ14% là khá cao đồng thời sự khác biệt giữa nam và nữ càng
rõ rệt hơn Đây cũng là điều đáng đợc quan tâm khi xâydựng tiêu chuẩn, đánh giá sức mạnh cho VĐV Pencaksilát 15 -
17 tuổi [38; 49]
* Đặc điểm phát triển sức mạnh tốc độ: Sức mạnh tốc
độ của các VĐV thể thao thờng phát triển nhanh ở độ tuổitrớc 14 tuổi Song từ 15 tuổi trở đi thì tốc độ phát triểnchậm lại, theo các nhà sinh lý thể thao nh: IA.M.KOK, DơngTích Nhợng thì nếu so sánh tốc độ phát triển sức mạnh tốc
độ với sự phát triển sức mạnh tuyệt đối thì sức mạnh tốc độphát triển sớm hơn một chút Đó cũng là một lý do để các nhàhuấn luyện học sắp xếp tập phát triển sức mạnh tốc độ trớctập luyện sức mạnh tối đa Mặt khác đặc điểm này cũng
Trang 20cần đợc lu ý khi xây dựng chỉ tiêu đánh giá sức mạnh tốc độcho VĐV Pencaksilát [49]
* Đặc điểm phát triển sức mạnh bền:
Cũng theo các nhà sinh lý thể thao trong và ngoài nớcthì sức mạnh bền của con ngời từ lúc 7 tuổi đến khoảng 17tuổi phát triển theo đờng thẳng tăng tiến dần Nữ từ 7 - 13tuổi sức mạnh bền phát triển nhanh sau đó chậm lại sau 14tuổi, thậm chí sức mạnh bền của nữ còn có xu thế giảmxuống Còn nam sau 17 tuổi mới phát triển chậm lại và chữnglại ở tuổi 22 trở đi [21; 34; 49]
1.3.3 Đặc điểm phát triển sức bền của VĐV Pencaksilát 15 - 17 tuổi.
Sức bền cũng là một tố chất thể lực quan trọng đối vớiVĐV Pencaksilát Theo các nhà sinh lý thể thao nh thời kỳ nhạycảm phát triển sức bền cho VĐV là ở tuổi 16 - 18 Song nhiềunghiên cứu cũng cho rằng VĐV thiếu niên, nhi đồng từ 10 tuổitrở đi đã bắt đầu phát triển sức bền ùa khí rất nhanh và
đến 13 tuổi lại xuất hiện cao trào phát triển sức bền ùa khílần thứ 2 và kéo dài tới 15 - 17 tuổi, phát triển nhanh nhất ởnam và nữ là từ 15 - 16 tuổi Tuy vậy ở nữ sau khi có kinhnguyệt 2 năm thì tốc độ phát triển chậm lại Rõ ràng là sựphát triển sức bền ùa khí có thể từ lúc 10 đến 15, 16 tuổi.Trên cơ sở phát triển tốt sức bền ùa khí thì lứa tuổi 15 - 17cũng là thời kỳ rất tốt để phát triển sức bền yếm khí [35;38]
1.3.4 Đặc điểm phát triển năng lực phối hợp vận động (tính linh hoạt) của VĐV Pencaksilát 15 - 17 tuổi
Trang 21Các nhà khoa học thể dục thể thao nh Nguyễn Toán,Phạm Danh Tốn cho rằng năng lực phối hợp vận động là mộtphối hợp các tiền đề của VĐV để thực hiện thắng lợi mộthoạt động thể thao nhất định Năng lực này gồm 7 loại nănglực phối hợp vân động là năng lực liên kết vận động, nănglực định hớng, năng lực thăng bằng, năng lực nhịp điệu,năng lực phản ứng năng lực phân biệt vận động và năng lựcthích ứng Theo các nhà sinh lý học TDTT thì các năng lựcphối hợp vận động thờng có thời kỳ nhạy cảm phát triển ởtuổi từ 6 - 12 tuổi, trong đó khả năng thăng bằng từ 6 - 8tuổi, khả năng bắt chớc 8 - 10 tuổi, phản ứng tốc độ 9 - 10tuổi Tốt nhịp điệu và khả năng phối hợp vận động tính linhhoạt khoảng 10 - 12 tuổi Tuy vậy ở các lứa tuổi sau đó docác tố chất thể lực khác đợc phát triển cùng với các kỹ năng đ-
ợc hình thành sẽ kéo theo sự phát triển năng lực phối hợp vận
động Vì vậy ở tuổi 15 - 17 năng lực phối hợp vận động củaVĐV đã đạt đợc trình độ khá cao, song vẫn còn đang đợctiếp tục phát triển
1.3.5 Đặc điểm phát triển tố chất mềm dẻo của VĐV Pencaksilát 15 - 17 tuổi.
Tố chất mềm dẻo là một tố chất cũng rất quan trọnggiúp cho VĐV Pencaksilát nâng cao hiệu quả kỹ thuật vànâng cao thành tích thi đấu Tuy vậy yêu cầu mềm dẻo củaVĐV Pencaksilát khác với yêu cầu mềm dẻo trong môn thể dụcnghệ thuật hoặc nhảy cầu, bơi nghệ thuật mềm dẻo củaVĐV Pencaksilát tập trung vào độ dẻo của khớp hông, cột sống
và độ xoay nghiêng của bàn chân
Trang 22Tố chất mềm dẻo ở một ngời thờng phát triển rất nhanh
ở lứa tuổi nhỏ khoảng 10 - 12 tuổi sau đó phát triển chậmlại Tuy vậy ở lứa tuổi 15 - 17 tố chất mềm dẻo vẫn ở vào thời
kỳ phát triển tốt nếu đợc tập thờng xuyên và đúng phơngpháp
1.3.6 Mối quan hệ giữa mục tiêu, yêu cầu huấn luyện thể lực ở giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá với sự phát triển thể lực của VĐV Pencaksilát đội tuyển trẻ Hà Nội.
1.3.6.1 Mục tiêu yêu cầu huấn luyện thể lực ở giai đoạn chuyên môn hoá (15 - 17 tuổi):
Theo kế hoạch huấn luyện do liên đoàn Võ thuật(Pencaksilát) đa ra và đợc hội đồng các HLV Pencaksilátthông qua thì giai đoạn 15 - 17 tuổi huấn luyện thể lực choVĐV đợc xác định mục tiêu yêu cầu nh sau:
- Về thể lực chung, chú ý phát triển toàn diện các tốchất thể lực nhanh, mạnh, bền, khéo, dẻo để làm tiền đềvững chắc cho phát triển thể lực chuyên môn
- Về thể lực chuyên môn: Nâng dần trình độ thể lựcchuyên môn lên đỉnh cao để có thể tham gia thi đấu và
bổ sung vào đội tuyển quốc gia sau tuổi 17
Yêu cầu: Thời kỳ 15 đến đầu tuổi 16 lấy tập luyện
phát triển thể lực chung là chính tỷ lệ thể lực chung có thểchiếm 2/3 đến 3/4 tổng thời lợng tập thể lực
Thời kỳ cuối tuổi 16 - 17 tuổi tỷ lệ tập thể lực chunggiảm xuống còn khoảng 1/3 đến 1/2 [28]
Trang 23Từ mục tiêu yêu cầu huấn luyện trên ta có thể thấy ở lứatuổi 15 - 17 tuổi việc kiểm tra đánh giá thể lực vẫn phải
đánh giá song song cả thể lực chung và thể lực chuyên môn
để giúp cho việc điều chỉnh và nâng cao hiệu quả huấnluyện thể lực cho các VĐV Pencaksilát nam và nữ
1.4 Cơ sở lý luận cơ bản trong lập test và lý thuyết đánhgiá
Để có thể tiếp cận đợc vấn đề nghiên cứu xây dựngtiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho VĐV Pencaksilát 15
- 17 tuổi đề tài đã tổng hợp từ các nguồn t liệu khác nhaunh: Học thuyết huấn luyện của Harre; Lý luận và phơng phápthể thao trẻ của PhiLin; 130 câu hỏi về huấn luyện thể thaohiện đại của Diên Phong; Đánh giá trình độ tập luyện củaVĐV cấp cao của Phùng Liên Thế; Đo lờng và đánh giá TDTTcủa Hình Văn Hoa; Đo lờng thể thao của Dơng Nghiệp Chí,
Đánh giá TDTT của Aulic I.V;…
Để bớc đầu hình thành cơ sở lý luận cơ bản cho việclập test và đánh giá trình độ thể lực cho VĐV
1.4.1 Cơ sở lý luận cơ bản trong lập test.
Trong lĩnh vực lập test để kiểm tra đánh giá tronglĩnh vực TDTT đã phát triển khá sớm ở các nớc nh: Mỹ, Nga,Nhật, Đức, Trung Quốc Theo các nhà khoa học lập test nh:Aulic, Zaxiorxki (Nga), Hình Văn Hoa (TQ), Dơng Nghiệp Chí(VN) thì test là những đo lờng hoặc thử nghiệm đợc tiếnhành với mục đích xác định trạng thái hoặc khả năng củaVĐV Song các nhà khoa học trên cũng cho rằng không phải
Trang 24mọi phép đo đều có thể dùng làm test mà chỉ có các phép
đo đáp ứng đợc các yêu cầu chuyên biệt nh:
- Sự tiêu chuẩn hoá của phép đo
- Có hệ thống đánh giá
- Có độ tin cậy
- Có tính thông báo
Nếu một phép đo đáp ứng đợc cả 4 yêu cầu trên thì
đợc gọi là test đủ phẩm chất Còn quá trình thử nghiệm đợcgọi là lập test Các giá trị thu đợc nhờ phép đo là kết quả lậptest
Trong thực tiễn thể thao phần lớn là sử dụng 3 loại testvận động sau:
- Các bài tập kiểm tra: Thông qua bài tập này VĐV thểhiện kết quả tốt nhất bằng thời gian vận động nh: Chạy bơi,
đạp xe đạp trên đờng.v.v bằng trọng lợng hoặc cự ly nh
đẩy tạ, bật nhảy.v.v
- Các thử nghiệm chức năng với vận động định mức, loạithử nghiệm này thờng có định lợng thống nhất đối với cácVĐV theo đại lợng công thác thực hiện hoặc theo đại lợng cácdấu vết sinh lý ở đại lợng định mức Ví dụ: Tần số mạnh đập
ở hoạt động định mức, gia tốc chạy khi mạnh đập ở mức100l/p
- Các thí nghiệm chức năng tối đa, qua kiểm tra cácVĐV thực hiện vận động với công suất (thành tích) tối đa sau
đó kiểm tra các chỉ số sinh lý khi vận động cực hạn Ví dú:Xác định VO2max hoặc hàm lợng axít lactíc khi vận độngcực hạn
Trang 25Song trong thực tế thể thao đôi khi ngời ta còn sử dụngmột số test có chung mục đích cuối cùng nh: Đánh giá trạngthái thể thao của VĐV trong thời kỳ thi đấu bằng nhữngnhóm test Đây gọi là đánh giá bằng tổng hợp test
Trong quá trình lập test đều đợc các nhà khoa học vềkiểm tra đo lờng thể thao quan tâm là độ tin cậy của test
và tính thông báo của test [1; 11; 46]
1.4.1.1 Độ tin cậy của test.
Trong thực tiễn thể thao chúng ta có thể dễ dàng nhậnthấy nếu sử dụng cùng một test kiểm tra trên cùng một đối t-ợng với các điều kiện và dụng cụ kiểm tra nh nhau thì nếu
nh không có sự biến đổi ở chính đối tợng (ốm đau hoặcchấn thơng, quá sức ) thì các kết quả chỉ sai số không lớn
Sự biến đổi không lớn đó chính là sự biểu hiện mức độ phùhợp giữa các lần lập test, nó cũng biểu hiện độ tin cậy củatest Vì vậy các nhà đo lợng thể thao cho rằng độ tin cậycủa test là mức độ phù hợp giữa các lần lập test trên cùng một
đối tợng thực nghiệm và trong cùng điều kiện lập test
Cũng theo giáo s Dơng Nghiệp Chí thì lý thuyết tin cậycủa test bắt nguồn từ kết quả của bất kỳ phép đo nào trêncon ngời (Xt) đều là tổng của 2 giá trị kết quả gốc X
∞
vàsai số Xc tạo ra Bởi vậy mối quan hệ giữa phơng sai của cáckết quả gốc (
) với phơng sai ghi chép đợc (
2tg) đợc gọi làhệ số tin cậy
Các nhà đo lờng thể thao đã lập biểu thức, biểu thị độtin cậy của test nh sau:
Trang 26Trong đó: là độ tin cậy của test.
là Phơng sai của sai số
là Phơng sai của kết quả [11; 46]
Trong thực tế lập test độ tin cậy của các số liệu thựcnghiệm là giảm giá trị số đánh giá của các hệ số tơng quan
Có thể khẳng định rằng không có test nào lại không có quan
hệ với test khá chặt hơn quan hệ với bản thân test đó giữa
2 lần lập test Trong trờng hợp này chỉ số tin cậy:
Để đánh giá tơng quan giữa các trị số nguyên gốc cóthể sử dụng công thức sau:
Trong đó:
là tơng quan giữa các trị số nguyên gốc x và y
là tơng quan giữa các số trị số liệu thực nghiệm củacác test x và y
và đánh giá độ tin cậy x và y
Cũng trong quá trình lập test các nhà đo lờng thể thaocũng hết sức quan tâm tới sự ổn định của test Theo giáo sDơng Nghiệp Chí thì tính tái sinh của các kết quả khi lặplại test qua một thời gian cố định ở các điều kiện đồng nhất
ổn định của test
Trang 27Việc lặp lại test đợc gọi là Retest và đợc biểu hệin ở sơ
- Trờng hợp thứ 2 là chỉ cần kiểm tra mức độ duy trìthứ hạng giữa lần lập Test và lần Retest Trong trờng hợp này
sự ổn định của Test có thể đánh giá bằng hệ số tơng quangiữa 2 lần lập Test và Retest
Trong quá trình lập Test các nhà khoa học đo lờng thểthao còn hết sức quan tâm tới sự phù hợp của Test Các nhàkhoa học nh: Hình Văn Hoa, Dơng Nghiệp Chí cho rằng:Không ít Test đợc lựa chọn từ một số Test đồng dạng nhất
định Bởi vậy có thể sử dụng phơng pháp dang song song
để đánh giá mức độ phù hợp của Test Sơ đồ lập Test trongtrờng hợp này có thể nh sau:
Giãn cách thời gian
Hệ số tơng quan giữa các kết quả của Test là hệ số
t-ơng đt-ơng Các Test nằm trong nhóm nào đó có tính tt-ơng
đơng cao gọi là Test đồng thể Ngợc lại là Test dị thể Ví
Trang 28dụ: Bật xa tại chỗ và bật 3 bớc là Test đồng thể Còn nằm sấpchống đẩy với bật xa tại chỗ là Test dị thể.
Để có thể nâng cao đợc độ tin cậy của Test, các nhàkhoa học đo lờng thể thao cho rằng cần phải giải quyết tốtcác vấn đề sau:
- Lập Test với tiêu chuẩn chặt chẽ hơn
1.4.1.2 Tính thông báo của Test.
Các nhà khoa học đo lờng thể thao cho rằng: Để xác
định một đặc trng nào đó (chất lợng, khả năng, đặc tính)gọi là tính thông báo hay còn gọi là hoạt tính của Test
Theo giáo s Hình Văn Hoa, Dơng Nghiệp Chí thì tínhthông báo của Test phải giải đáp đợc 2 câu hỏi:
- Test đo lờng cái gì?
- Nó đạt độ chính xác nh thế nào?
Mức độ thông báo của Test có thể xác định bằng số ợng thực nghiệm (thông báo thực nghiệm) và chất lợng thửnghiệm nhờ phân tích nội dung tình huống thông báo
l-Các nhà khoa học đo lờng đã phân chia tính thông báocủa thử nghiệm thành 2 trờng hợp (2 loại):
Trang 29- Trờng hợp thứ nhất là các chỉ số có thể đo lờng: Trongtrờng hợp này tính thông báo của thử nghiệm sẽ bao hàm cáckết quả Test so sánh với một chỉ số (Ví dụ: thành tích mônthể thao chuyên sâu) Sau đó sẽ tính hệ số tơng quan giữathử nghiệm với chỉ số, hệ số này gọi là hệ số thông báo đợc
ký hiệu là Ttc Trong đó: t là test, c là chỉ số
- Trờng hợp 2 là không có chỉ số duy nhất nh tính thôngbáo nhân tố ở trờng hợp 1
Theo các nhà khoa học đo lờng thì khi đánh giá mộtvấn đề nào đó có khi có hàng chục Test có thể dùng đểkiểm tra đánh giá Để có thể so sánh kết quả nghiên cứu đôikhi không thể chỉ dùng 1 test duy nhất mà phải dùng 1 nhómtest Trong trờng hợp này việc phân tích nhân tố sẽ phânchia các nhóm nhân tố và tím ra tỷ trọng ảnh hởng lớn nhấttrong từng nhóm nhân tố và tập hợp các nhóm nhân tố [1;11; 46]
Ví dụ: Để đánh giá sức mạnh có rất nhiều test nh gánh
tạ, bật nhảy xa, bật nhảy cao, nằm sấp chống đẩy, co tay xà
đơn, lực bóp tay, lực kéo cơ lng Chúng ta không thể chỉchọn một chỉ số duy nhất làm test ở trờng hợp này mà phảitính tỷ trọng của từng chỉ số
Trong thực tiễn lập test tính thông báo của thử nghiệm
đã đợc các nhà khoa học đo lờng thể thao hết sức coi trọng.Bởi vì có những test tính thông báo rất cao đối với đối tợng
A song lại không có tính thông báo đối với đối tợng B Ví dụ:
VO2max có tính thông báo rất cao đối với VĐV bơi từ cấp kiệntớng trở xuống Nhng lại không có tính thông báo đối với
Trang 30những VĐV xuất sắc của thế giới Bởi vậy trớc khi sử dụng mộttest nào đó cần phải kiên định tính thông báo của nó.
Hệ số thông báo có quan hệ chặt chẽ với độ tin cậy của
1 test và các test không đủ độ tin cậy cũng thờng là testkhông có tính thông báo Các nhà đo lờng thể thao cho rằng
hệ số thông báo của 1 test không nhỏ hơn 0,3 là có thể sửdụng đợc và > 0,60 là có thể dùng để dự báo thành tích
1.4.2 Cơ sở lý luận của lý thuyết đánh giá.
Khi lập xong test các test thờng có các đơn vị rất khácnhau nh: Cm, giây, lần, mét, kg thậm chí có cả chỉ số vềsinh lý giải phẫu nh: Công năng tim hoặc cm3, độ Vì vậykhó có thể so sách đánh giá trực tiếp đợc Hơn nữa dù là kếtquả nào đi nữa cũng khó có thể phản ánh đầy đủ mức độcủa ngời tập Vì vậy cần phải tiến hành phân loại kết quảcủa lập test để đánh giá Hay nói cách khác là tiến hànhphân loại thành tích của VĐV chính là quá trình đánh giá
Theo các nhà khoa học về đo lờng và đánh giá thể dụcthể thao nh Auslic, Hình Văn Hoa, Dơng Nghiệp Chí,… đánhgiá phân loại trong thể thao có sự khác biệt với phân loại họcsinh trong giảng dạy Đánh giá phân loại trong thể thao phứctạp hơn nhiều và cần phải sử dụng số lợng lớn các đối tợng đợc
đánh giá và đảm bảo tính tiện ích trong sử dụng
Trong thể thao quá trình đánh giá đợc phân thành 2giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất là các kết quả kiểm tra của các test
đợc lập theo thang điểm (đây là đánh giá trung gian)
Trang 31- Giai đoạn thứ hai là so sánh thang điểm lập đợc với cáctiêu chuẩn cũ để đánh giá tổng hợp Tuy nhiên ở nhiều trờnghợp giai đoạn đánh giá tổng hợp và giai đoạn lập thang điểmchỉ là một [1; 11; 46]
Trang 32Quá trình đánh giá có thể theo quy trình sau:
Bảng điểm và thang đánh giá:
Các nhà đo lờng thể thao nh Aulic, Hình Văn Hoa,
D-ơng Nghiệp Chí,… dùng bảng điểm để biểu đạt trình độ
Trang 33(mức độ) thành tích của thể thao đợc gọi là thang đánh giá.Trong thể thao các nhà đo lờng thờng sử dụng 4 loại thang
Thang dạng xích ma khuyếch đại kết quả lập test ởphạm vi rất thấp và rất cao Trong thể thao ít sử dụng loạithang độ này nhng nó đợc sử dụng để đánh giá trình độthể lực chung
Loại thang độ chuẩn tơng đối phổ biến là thang độ T
Trong đó: T là thang độ chuẩn
X là thành tích cần quy ra điểm
là giá trị trung bình của tập hợp mẫu
Trang 34 là độ lệch chuẩn.
Thang độ C:
C = 5 + 2 Z Thang độ C có điểm tối đa là 10 Khi sử dụng thang
độ C để đánh giá cần chú ý: Khi tính Z sẽ dùng giá trị ± dovậy C sẽ có giá trị thuận và nghịch
Ngoài ra còn có thể sử dụng các thang độ khác nhau nhthang độ H (H = 3 - Z), thang độ E (E = 500 + 100Z) đểtuyển sinh, thang độ Bine (B = 100 + 16Z) để nghiêncứu tâm lý thang điểm dạng xích ma (hàm phân phốichuẩn) Thang điểm của Nga (trờng Đại học TDTTMatxcơva).v.v
* Tiêu chuẩn đánh giá:
Các nhà khoa học đo lờng thể thao cho rằng: Tiêu chuẩn
đánh giá là việc xếp loại VĐV đợc dựa trên cơ sở giới hạn củathành tích Trong tiêu chuẩn đánh giá thể thao thờng baogồm:
- Tiêu chuẩn so sánh trên tổng thể đối với loại này ngời
ta thờng xác định tiêu chuẩn nhờ thang đánh giá hoặc cóthể trực tiếp định ra tiêu chuẩn nhờ giá trị trung bình và
độ lệch chuẩn
- Tiêu chuẩn so sánh trên cá thể
Việc xây dựng tiêu chuẩn cần đợc tiến hành với phơngpháp sử dụng công thức toán học, giải phơng trình bằng đồthị nh toán đồ lới, toán đồ dóng thẳng và toán độ tổng hợp.[10]
Trang 35Kết luận chơng:
Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảngcộng sản và Nhà nớc Việt Nam luôn có quan điểm đúng
đắn và hết sức coi trọng công tác TDTT Từ đó đã có chỉthị, chủ trơng, nghị quyết chỉ đạo đúng hớng cho sự pháttriển TDTT ở 2 mặt: TDTT quần chúng và TDTT thành tíchcao
Pencaksilat là môn thể thao mới du nhập vào Việt Namsau Seagames 15 (1989) nhng đã có sức vơn lên mạnh mẽ vàtrở thành môn thể thao mũi nhọn của Việt Nam MônPencaksilat có đặc điểm kỹ thuật và thi đấu riêng của nó,
đồng thời nó có những đòi hỏi về thể lực tơng đối riêngbiệt của nó Việc xây dung chỉ tiêu đánh giá thể lực phảixuất phát từ đặc điểm này
Trong quá trình tập luyện nâng cao thành tích thi đấuthể thao của môn Pencaksilat, thông thờng phải trải quahuấn luyện 6- 8 năm và qua các giai đoạn huấn luyện khácnhau Từ gian đoạn huấn luyện ban đầu đến giai đoạnhuấn luyện chuyên môn sâu
VĐV Pencaksilat ở tuổi 15- 17 là tuổi rơi vào thời kỳhuấn luyện chuyên môn hoá ban đầu nên đòi hỏi phát triểncả thể lực chung và thể lực chuyên môn Để có thể xây dựng
đợc tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho VĐV Pencaksilat 15- 17tuổi đòi hỏi phải dựa vào cơ sở lý luận lập test và lý thuyết
đánh giá nhằm chọn đợc các chỉ tiêu có tính thông báo và có
độ tin cậy để dựa vào kết quả đo lờng thực tế và các thang
đánh giá để xây dựng tiêu chuẩn mới có thể xây dựng đợc
Trang 36hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thể lực một cách khoa học,
đảm bảo tính khả thi và độ tin cậy, tính thông báo trong
đánh giá thể lực chung và chuyên môn cho Pencaksilat 15- 17tuổi đội tuyển trẻ quốc gia
chơng II phơng pháp và tổ chức nghiên cứu
2.1 Phơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết đợc các nhiệm vụ nghiên cứu trên, đề tài
đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau:
2.1.1 Phơng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Đây là phơng pháp đợc sử dụng rộng rãi trong các côngtrình nghiên cứu khoa học Sử dụng phơng pháp này trongquá trình nghiên cứu nhằm hệ thống hoá các kiến thức có
Trang 37liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lýluận, xây dựng giả định khoa học, xác định mục đích,nhiệm vụ nghiên cứu, kiểm chứng kết quả trong thực hiện
đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan đợc lấy từ cácnguồn tài liệu khác nhau với số lợng thu nhập đợc là 50 tàiliệu, trong đó có 5 tài liệu nớc ngoài Với mong muốn tìmhiểu những vấn đề có liên quan đến công tác giảng dạy,huấn luận thể lực, các test đánh giá trình độ thể lực, cáctiêu chuẩn kiểm tra đánh giá trình độ thể lực
2.1.2 Phơng pháp phỏng vấn.
Là phơng pháp đợc chúng tôi sử dụng trong quá trình
điều tra thực trạng, trình độ phát triển thể lực của VĐVPencaksilát 15 - 17 tuổi ở các CLB Pencaksilát ở các tỉnh,thành, ngành và các VĐV trẻ đội tuyển quốc gia Mặt khác,thông qua hình thức dùng phiếu phỏng vấn chúng tôi có thêmcơ sở thực tiễn để lựa chọn các test nghiên cứu ứng dụngtrong quá trình nghiên cứu
Đối tợng phỏng vấn của chúng tôi là 24 nhà khoa học,giáo viên, HLV, các nhà chuyên môn đang làm công tác giảngdạy tại các trờng Đại học TDTT, các trung tâm huấn luyệnPencaksilát trên miền Bắc Kết quả của việc sử dụng các ph-
ơng pháp nghiên cứu này đợc chúng tôi trình bày ở phần kếtquả nghiên cứu của luận văn
2.1.3 Phơng pháp quan sát s phạm.
Là phơng pháp đợc chúng tôi sử dụng nhằm mục đíchkiểm tra, thu thập các t liệu liên quan giúp cho việc đánh giá
Trang 38trình độ phát triển thể lực của VĐV Pencaksilát 15 - 17 tuổi
ở các CLB và đội dự tuyển trẻ quốc gia với hệ thống các test
đã lựa chọn Đồng thời, với phơng pháp này chủ yếu đợc sửdụng trong quá trình nghiên cứu kiểm nghiệm các test trongthực tiễn, các thông số quan sát s phạm mà chúng tôi quantâm
2.1.4 Phơng pháp kiểm tra s phạm.
Trong đề tài này đã xây dựng phơng pháp kiểm tra sphạm dới dạng ứng dụng các test đã lựa chọn nhằm xây dựngcác tiêu chuẩn để đánh giá trình độ phát triển thể lực củaVĐV Pencaksilát 15- 17 tuổi ở các CLB và đội dự tuyển quốcgia Pencaksilát
Quá trình kiểm tra s phạm trên đối tợng nghiên cứuthông qua các test sau:
1/ Chạy 30m xuất phát cao.
Cách tiến hành: Trên đờng chạy kẻ 2 vạch đích và xuấtphát cách nhau 30m Khi kiểm tra VĐV đứng t thế xuất phátcao sau vạch xuất phát, ngời phát lệnh (phất cờ) đứng ởngang vạch xuất phát, ngời bấm giờ đứng ngang vạch đích.Tuỳ theo số lợng ngời bấm giờ mỗi đợt có thể kiểm tra từ 1- 4ngời Yêu cầu VĐV không đợc phạm lỗi xuất phát, đồng thờidùng tốc độ tối đa để chạy
Đồng hồ bấm giờ cần có độ chính xác 1% giây trở lên,khi VĐV chạy cản đích thì đồng hồ bấm giờ dừng cùng lúc
2/ Nằm sấp chống đẩy tối đa.
Cách thực hiện: Chọn một vùng đất phẳng cho từng tốp2- 4 ngời, cùng vào chỗ, chống 2 tay xuống đất ở cạnh thân 2
Trang 39chân duỗi thẳng ra sau, toàn bộ thân ngời thẳng (khônghóp mông hoặc ỡn bụng) khi có khẩu lệnh hô bắt đầu thìchống đẩy theo nhịp hô Ngời kiểm tra đứng cạnh đếm sốlần hoàn thành chống đẩy tối đa Ngời bị kiểm tra cố tranhphạm lối (ví dụ co tay quá ít đã đảy lên) để không bị trừ sốlần VĐV dùng hết sức để chống đẩy, ngời kiểm tra đếm vàghi số lần tối đa (đúng luật) mà VĐV thực hiện đợc.
3/ Bật xa tại chỗ.
Cách tiến hành: Chuẩn bị một hố cát có bục dậm nhảy,
đồng thời chuẩn bị 1 thớc dây 5m, khi kiểm tra lần lợt từngsinh viên đứng vào bục dậm nhảy dùng sức nhún ngời bậtnhảy ra xa vào hố cát Sau mỗi lần nhảy ngời, kiểm tra đokhoảng cách từ mép trớc bục nhảy đến điểm chạm (của bất
cứ bộ phận cơ thể nào) gần nhất Mỗi ngời nhảy 3 lần lấythành tích tốt nhất
4/ Chạy tuỳ sức 1.500m nam (800m nữ).
Cách tiến hành: Trên đờng chạy sân điền kinh, kẻ vạchxuất phát và một số mốc đánh dấu 10m hoặc 5m kẻ từng
đoạn 800m với nữ và 1500m với nam Sau đó lần lợt 4 ngời 1
đợt chạy theo lệnh xuất phát Tuỳ theo sức của mình để
điều chỉnh tốc độ chạy mỗi ngời chạy lại có ngời bấm giờ.Khi VĐV chạy chạm vạch đích thì ngời bấm giờ hô dừng
Yêu cầu ngời kiểm tra không đợc chạy tắt hoặc chạyvào trong sân
5/ Chạy luồn cọc 30m.
Cách thực hiện: trên đờng chạy kẻ 2 vạch xuất phát và
đích Trên đoạn 30m đó bố trí 6 chiếc cọc, mỗi cọc cách
Trang 40nhau 4m, 2 cọc 2 đầu cách vạch đích và xuất phát đều là5m, cách kiểm tra giống nh chạy tốc độ cao 30m.
6/ Đi trên cầu thăng bằng.
Có thể đi trên cầu thăng bằng hoặc một tấm ván rộng12cm, dài 4m, VĐV đi hết cầu hoặc ván thì quay lại đi tiếp.Tính số m đi đợc trong 45”
7/ Dẻo gập thân.
Dụng cụ đo gồm: 1 bục cao 30cm có chia thành cáckhoảng 1cm Sau đó đặt bục lên mặt sân hoặc nềnphẳng, khi kiểm tra ngời bị kiểm tra đứng trên bục, 2 ngónchân cái mím vào mép trớc của bục, sau đó cúi ngời xuống,với tay vào cạnh bục (đã chia cm) tới mức độ tối đa Ngờikiểm tra đọc số cm mà ngời bị kiểm tra tới sân đợc ở mứctối đa
Yêu cầu khi đo không đợc chùng gối, đầu và ngực cúi
9/ Test lực bóp tay tơng đối.
Cách thực hiện: VĐV đứng thẳng ngời tay thuận cầmlực kế (phần thân lực kế nằm sát ngón cái) Sau đó bóp thử