MỤC LỤC MỤC LỤC 2 MỞ ĐẦU 4 1. Lý do chọn đề tài 4 2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4 3. Mục đích nghiên cứu 4 4. Phương pháp nghiên cứu 4 NỘI DUNG 5 Chương I. Tính tất yếu và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam: 5 1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 5 2. Xu hướng hội nhập và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 5 2.1. Tính tất yếu và xu thế hội nhập kinh tế trên thế giới 5 2.2. Xu thế hội nhập kinh tế mới: 5 2.2.1. Xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại 5 2.2.2. Xu hướng chống bảo hộ thương mại 6 2.2.3. Xu hướng hợp tác song phương thay thế hợp tác đa phương 6 2.3. Tính tất yếu của xu thế hội nhập kinh tế ở Việt Nam 6 3. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 6 3.1. Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với Việt Nam trên phạm vi quốc tế 7 3.2. Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với việc xây dựng và phát triển Nhà nước 7 3.3. Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với đời sống của nhân dân 7 Chương II. Quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 20082013 8 1. Quan điểm, mục tiêu của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế 8 2. Quá trình hình thành và phát triển chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ 20082013 9 2.1. Thực tiễn thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ 2008 2013 9 2.2. Các thành tựu nổi bật 10 3. Thuận lợi và thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 11 3.1. Thuận lợi 11 3.2. Thách thức 11 Chương III. Đánh giá chung 12 1. Những hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 2008 2013, bài học kinh nghiệm cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay 12 1.1. Những hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 2008 – 2013 12 1.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sau này 13 2. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong tương lai 13 2.1. Phương hướng chung 13 2.2. Một số nhóm giải pháp cụ thể 14 2.1.1. Vai trò phát triển nguồn nhân lực 14 2.1.2. Vai trò quản lý của nhà nước 14 KẾT LUẬN 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18 MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Xét thấy giai đoạn này có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế quốc tế, chúng em đã lựa chọn đề tài “Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2008 đến năm 2013, một số hạn chế và bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế quốc tế Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu. Đề tài sẽ giúp ta hiểu cụ thể hơn cách Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó nhìn ra những hạn chế và nhận thức được bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế quốc tế Việt Nam. Do trình độ hiểu biết còn nhiều hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm chúng em rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp từ cô để hoàn thiện bài tiểu luận của mình. 2.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Bài tiểu luận của nhóm chúng em tập trung tìm hiểu về quá trình Đảng hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2008 đến năm 2013. 3.Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu sẽ cho chúng ta nhận thức rõ hơn về những cơ hội, hạn chế và bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế từ 2008 2013, qua đó giúp chúng ta đề xuất những định hướng, giải pháp về việc phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực từ đó thúc đẩy việc xây dựng cơ sở, nền tảng lâu dài cho việc thiết lập và phát triển các mối quan hệ song phương, khu vực, và đa phương để khẳng định vị thế Việt Nam. 4.Phương pháp nghiên cứu Bài tiểu luận sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp logic kết hợp lịch sử để tiến hành nghiên cứu đề tài. Với phương pháp luận là quan điểm của Đảng cộng sản đi tìm hiểu sâu giúp cho tư duy và góc độ nghiên cứu luôn đi đúng hướng và hiệu quả. Nghiên cứu xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử để từ đó hình thành các sách lược cụ thể nghiên cứu sâu nội dung quá trình Đảng hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2008 đến năm 2013. Từ đó rút ra những cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế quốc tế Việt Nam hiện nay. NỘI DUNG Chương I.Tính tất yếu và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam: 1.Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế được định nghĩa là quá trình gắn kết, giao lưu, hợp tác giữa nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế quốc gia khác hay tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những xu thế lớn và tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới. 2.Xu hướng hội nhập và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 2.1.Tính tất yếu và xu thế hội nhập kinh tế trên thế giới “Toàn cầu hoá” là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại, mà trước hết là tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếđang diễn ra sôi động. Cách đây hơn 150 năm, Các Mác đã dự báo xu hướng này và ngày nay đã trở thành hiện thực. Theo ông, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế mới của quá trình phát triển kinh tế thị trường, phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất xã hội mà ởđó, phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá sản xuất trở thành phổ biến. Từ sau Thế chiến 2, do tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học – kỹ thuật, lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hết sức nhanh chóng. Thêm vào đó là thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, làm cho hệ thống phân công lao động quốc tế theo lối áp đặt trực tiếp phải sụp đổ và thay thế bằng hệ thống phân công mới gọi là toàn cầu hoá kinh tế. Đến nay toàn cầu hoá kinh tế đã cuốn hút nhiều quốc gia ở khắp các châu lục, đã có 27 tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu ra đời và hoạt động. Những nước có tiềm năng và thị trường lớn như Trung Quốc, Nga, ấn Độ, Mỹ...và cả một số nước vốn khép kín, theo mô hình tự cung tự cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. 2.2. Xu thế hội nhập kinh tế mới: 2.2.1.Xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại Bảo hộ thương mại là thuật ngữ kinh tế học, theo đó quốc gia áp đặt thuế nhập khẩu cao hoặc áp dụng các hàng rào kỹ thuật đối với một hoặc một số mặt hàng ( hay dịch vụ ) mà mình có lợi thế để hạn chế nhập khẩu, bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa (hay dịch vụ) của mình. Mục đích là kích thích nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa nội địa, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của nước đó, đồng thời tránh được thâm hụt thương mại với các đối tác trao đổi thương mại. Tuy nhiên, một số nước ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ, trên thực tế lại hành động ngược lại, khi áp dụng biện pháp can thiệp hành chính, nổi bật là xung đột thương mại Mỹ Trung Quốc. 2.2.2.Xu hướng chống bảo hộ thương mại Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ thương mại có xu hướng gia tăng, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mạnh mẽ chống lại xu hướng bảo hộ đang nổi lên ở nhiều nơi, là rào cản đối với tăng trưởng thương mại toàn cầu. Sau khi có hiệu lực, hiệp định này sẽ tạo ra một khu vực tự do thương mại thuộc hàng lớn nhất thế giới, với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân. 2.2.3.Xu hướng hợp tác song phương thay thế hợp tác đa phương Sự ra đời của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là một hiệp định thương mại đa phương giữa các thực thể kinh tế độc lập. Từ năm 1995, GATT trở thành WTO. Có thể thấy rằng GATTWTO là một trong những thiết chế trụ cột trong trật tự thế giới từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay. 2.3.Tính tất yếu của xu thế hội nhập kinh tế ở Việt Nam Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động. hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này. Bởi khi đi ngược với xu hướng chung của thời đại, một đất nước sẽ trở nên lạc hậu và bị cô lập, sớm hay muộn nước đó sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế. Hơn thế nữa, một nước đang phát triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt thì việc chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ hết. Trong quá trình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn có cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời cơ phát triển kinh tế. Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được thúc đẩy mạnh mẽ dưới nhiều hình thức khác nhau với lộ trình hướng tới việc tiếp thu các quy tắc và tiêu chuẩn của nền kinh tế và thị trường toàn cầu. Việt Nam đã từng bước mở cửa nền kinh tế và thị trường bằng cách thiết lập quan hệ song phương về thương mại, đầu tư, tài chính và tham gia vào các cơ chế đa phương trong các lĩnh vực đó. Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của tất cả các tổ chức quốc tế lớn; đã tiếp cận, ký kết hoặc tham gia đàm phán tổng số 15 Hiệp định thương mại tự do (FTA). 3.Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam Là một tất yếu trong những xu thế lớn trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới, đặc biệt, đối với Việt Nam đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 thành nước phát triển, thu nhập cao, thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế lại càng có những vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Hội nhập kinh tế có vai trò quan trọng, tác động trên nhiều phạm vi, quy mô khác nhau trong đó có phạm vi cả nước trong mối quan hệ quốc tế, phạm vi Nhà nước và với cuộc sống của nhân dân. 3.1.Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với Việt Nam trên phạm vi quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, do đó trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Về kinh tế, hội nhập giúp phát triển kinh tế theo tính quy mô. Trên cơ sở các hiệp định được ký kết, Việt Nam có cơ hội và điều kiện thuận lợi để khai thác tối ưu các lợi thế quốc gia trong phân công lao động quốc tế, từng bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng hiệu quả hơn, tạo điều kiện và tăng cường phát triển các quan hệ thương mại và thu hút đầu tư từ nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu và nhập khẩu. Về chính trị, hội nhập quốc tế đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nước ta cũng có cơ hội tham gia chủ động và sâu hơn vào quá trình định hình và cải cách các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế có lợi cho ta và có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của các tổ chức, cá nhân; bảo đảm độc lập, tự chủ, củng cố và duy trì môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Về văn hóa xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế giúp nâng cao dân trí, trình độ nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Quá trình hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. 3.2.Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với việc xây dựng và phát triển Nhà nước Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách đường lối của Nhà nước. Quá trình hội nhập nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, giúp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật quốc gia về kinh tế phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế; từ đó tăng tính chủ động, tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện, hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền. 3.3.Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với đời sống của nhân dân Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ có ý nghĩa to lớn trên phạm vi quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của nhân dân, trong đó ảnh hưởng tích cực nhất là nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân và tạo thêm nhiều việc làm cho lao động tự do. ●Hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước. ●Hội nhập kinh tế quốc tế cho phép áp dụng những thay đổi công nghệ và di chuyển vốn dễ dàng hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cải thiện chất lượng trong sản xuất. Việc mở rộng sản xuất lớn với chi phí sản xuất thấp hơn sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đồng thời tạo ra việc làm cho nhiều lao động tự do. Chương II.Quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 20082013 1.Quan điểm, mục tiêu của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội VI mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: Cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của thế giới; đồng thời Đại hội đưa ra chủ trương hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật đối với các nước. Kể từ đó, quá trình hoàn thiện và dần đưa quan điểm, chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành qua từng bước cụ thể, rõ ràng: ●Tại Đại hội VII, Đảng đưa ra định hướng đa dạng hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế ●Đến Đại hội VIII, thuật ngữ “hội nhập” bắt đầu được đề cập trong Văn kiện của Đảng: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới” ●Văn kiện Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa” ●Tại Đại hội X, Đảng đã nhấn mạnh chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” ● Đại hội XI khẳng định chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” (không chỉ hội nhập về kinh tế), nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và phát triển nhanh, bền vững Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia. Hội nhập quốc tế nhằm thiết thực thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững và bảo đảm quốc phòng, an ninh; thúc đẩy mối quan hệ biện chứng giữa việc bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển nhanh, bền vững. Đồng thời khi đất nước phát triển nhanh, bền vững, quốc phòng, an ninh được đảm bảo sẽ thúc đẩy hội nhập quốc tế càng thêm sâu, rộng và hiệu quả. Có thể nói, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại”. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực đó chính là mục tiêu mà Đảng ta đã và đang thực hiện không chỉ trong giai đoạn 20082013 mà còn suốt cả chặng đường lãnh đạo từ xưa đến nay. 2.Quá trình hình thành và phát triển chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ 20082013 2.1.Thực tiễn thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ 2008 2013 Mặc dù tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp nhưng trong các kỳ đại hội của Đảng, Đảng ta luôn có những nhận thức xác đáng về thời đại, về thế giới và tình hình khu vực để trên cơ sở đó, định hướng những chỉ đạo chính sách đối nội và đối ngoại hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp, bám sát tình hình. Cụ thể, đối với quá trình hội nhập kinh tế, Đảng ta xác định: Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là do yêu cầu nội sinh, do yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền với việc giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước; khẳng định mở cửa, hội nhập để khai thác các mặt có lợi cho sự phát triển kinh tế của ta từ nền kinh tế thế giới. Thứ ba, chúng ta chủ động hội nhập, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả. Thứ tư, chúng ta phải nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu thị trường, xây dựng đồng bộ thị trường trong nước (thị trường hàng hoá, thị trường nhân lực, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản), để đủ sức hội nhập với khu vực và hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác. Thứ năm, song song với việc xây dựng, phát triển đồng bộ thị trường, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng các doanh nghiệp vững mạnh. Doanh nghiệp là đội quân xung kích vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế. Thứ sáu, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, tích cực tham gia đàm phán thương mại, tham gia các diễn đàn, các tổ chức, các hiệp định, định chế quốc tế một cách chọn lọc với những bước đi tỉnh táo và thích hợp. Thực hiện chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế 2008 2013 của Việt Nam đã đạt được những kết quả vững chắc. Năm 2015, Việt Nam cũng đang tích cực tham gia đàm phán 6 FTA khác, gồm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu Âu (EU), với Liên minh thuế quan Nga Bêlarút Kadắcxtan, với Khối Thương mại tự do châu Âu (EFTA) gồm các nước Thụy Sĩ, Nauy, Líchtânxten và Aixơlen, FTA với Hàn Quốc và FTA giữa khối ASEAN với Hồng Công, Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực chủ động tham gia sâu vào Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), đã đăng cai năm APEC 2006 và sẽ đăng cai APEC năm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao. 2.2.Các thành tựu nổi bật Dấu mốc đánh dấu một bước tiến lớn trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chính là trở thành thành viên chính thức của WTO (tổ chức thương mại thế giới) vào tháng 12007. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa phương về pháp luật và thể chế cũng như các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ.Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn ta hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Là thành viên của WTO, ta đã cố gắng tham gia tích cực các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam có liên quan đến Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, trợ cấp thủy sản và chương trình hỗ trợ thương mại của WTO. Việt Nam đã rất tích cực chuẩn bị cho phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu tiên của Việt Nam, diễn ra trong khoảng thời gian đầu năm 2013. Quá trình hội nhập của Việt Nam có cả ở các cấp độ, phạm vi từ khu vực (ASEAN) đến liên khu vực (APEC, ASEM) và tới toàn cầu (UN, WTO)... Với cương vị là thành viên hoặc gánh vác những trọng trách lớn hơn ví dụ điển hình chính là Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 20082009. Sau 16 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, 19952011), mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng phát triển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn hợp tác khu vực và thế giới. Trong 5 năm từ 2008 2013, Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương, nổi bật trong giai đoạn 2008 2013 chính là ký kết ASEAN Nhật Bản (2008), ký FTA song phương Việt Nam Nhật Bản (2008) và Việt Nam Chi Lê (2011). Đối với Việt Nam, ASEAN luôn là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất (riêng năm 2009, ASEAN là nhà đầu tư lớn thứ 2 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ). Năm 2010, một mốc son minh chứng cho sự nỗ lực và khẳng định sự phát triển và uy tín của Việt Nam đối với các quốc gia trong khu vực và quốc tế của Việt Nam chính là trở thành Chủ tịch luân phiên của ASEAN. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chủ tịch luân phiên của ASEAN vào năm 2010, trong năm 2011, Việt Nam đã tích cực tham gia các chương trình hợp tác nhằm thực hiện Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Cho tới nay, Việt Nam là một trong số các nước có tỷ lệ thực hiện cao các biện pháp và sáng kiến đề ra trong Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
***
TIỂU LUẬN NHÓM LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐẢNG LÃNH ĐẠO HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013, MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
Chương I Tính tất yếu và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam: 5
2 Xu hướng hội nhập và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 5 2.1 Tính tất yếu và xu thế hội nhập kinh tế trên thế giới 5
2.2.3 Xu hướng hợp tác song phương thay thế hợp tác đa phương 6 2.3 Tính tất yếu của xu thế hội nhập kinh tế ở Việt Nam 6
3 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 6 3.1 Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với Việt Nam trên phạm vi quốc tế 7 3.2 Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với việc xây dựng và phát triển Nhà
3.3 Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với đời sống của nhân dân 7
Chương II Quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2008-2013
8
1 Quan điểm, mục tiêu của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế 8
2 Quá trình hình thành và phát triển chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ
2.1 Thực tiễn thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ 2008 -
3 Thuận lợi và thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 11
Trang 33.2 Thách thức 11
1 Những hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 2008 - 2013, bài học kinh
1.1 Những hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm
1.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sau này 13
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xét thấy giai đoạn này có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát
triển kinh tế quốc tế, chúng em đã lựa chọn đề tài “Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế
quốc tế từ năm 2008 đến năm 2013, một số hạn chế và bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế quốc tế Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu Đề tài sẽ giúp ta hiểu cụ thể
hơn cách Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó nhìn ra những hạn chế và nhận thức được bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế quốc tế Việt Nam Do trình độ hiểu biết còn nhiều hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm chúng em rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp từ cô để hoàn thiện bài tiểu luận của mình
2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Bài tiểu luận của nhóm chúng em tập trung tìm hiểu về quá trình Đảng hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2008 đến năm 2013
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ cho chúng ta nhận thức rõ hơn về những cơ hội, hạn chế và bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế từ 2008 - 2013, qua đó giúp chúng ta đề xuất những định hướng, giải pháp về việc phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực từ đó thúc đẩy việc xây dựng cơ sở, nền tảng lâu dài cho việc thiết lập và phát triển các mối quan hệ song phương, khu vực, và đa phương để khẳng định vị thế Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp logic kết hợp lịch sử để tiến hành nghiên cứu đề tài Với phương pháp luận là quan điểm của Đảng cộng sản đi tìm hiểu sâu giúp cho tư duy và góc độ nghiên cứu luôn đi đúng hướng và hiệu quả Nghiên cứu xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử để từ đó hình thành các sách lược cụ thể nghiên cứu sâu nội dung quá trình Đảng hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2008 đến năm 2013 Từ đó rút ra những cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế quốc tế Việt Nam hiện nay
Trang 5NỘI DUNG Chương I Tính tất yếu và vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam:
1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế được định nghĩa là quá trình gắn kết, giao lưu, hợp tác giữa nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế quốc gia khác hay tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những xu thế lớn và tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới
2 Xu hướng hội nhập và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam
2.1 Tính tất yếu và xu thế hội nhập kinh tế trên thế giới
“Toàn cầu hoá” là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại, mà trước hết là tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếđang diễn ra sôi động Cách đây hơn 150 năm, Các Mác đã dự báo xu hướng này và ngày nay đã trở thành hiện thực Theo ông, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế mới của quá trình phát triển kinh tế thị trường, phản ánh trình
độ phát triển cao của lực lượng sản xuất xã hội mà ởđó, phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá sản xuất trở thành phổ biến.
Từ sau Thế chiến 2, do tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học – kỹ thuật, lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hết sức nhanh chóng Thêm vào
đó là thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, làm cho hệ thống phân công lao động quốc tế theo lối áp đặt trực tiếp phải sụp đổ và thay thế bằng hệ thống phân công mới gọi
là toàn cầu hoá kinh tế.
Đến nay toàn cầu hoá kinh tế đã cuốn hút nhiều quốc gia ở khắp các châu lục, đã
có 27 tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu ra đời và hoạt động Những nước có tiềm năng
và thị trường lớn như Trung Quốc, Nga, ấn Độ, Mỹ và cả một số nước vốn khép kín, theo mô hình tự cung tự cấp cũng dần dần mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
2.2 Xu thế hội nhập kinh tế mới:
2.2.1 Xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại
Bảo hộ thương mại là thuật ngữ kinh tế học, theo đó quốc gia áp đặt thuế nhập khẩu cao hoặc áp dụng các hàng rào kỹ thuật đối với một hoặc một số mặt hàng ( hay dịch vụ ) mà mình có lợi thế để hạn chế nhập khẩu, bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa (hay dịch vụ) của mình Mục đích là kích thích nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa nội địa, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của nước đó, đồng thời tránh được thâm hụt thương mại với các đối tác trao đổi thương mại.
Trang 6Tuy nhiên, một số nước ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ, trên thực tế lại hành động ngược lại, khi áp dụng biện pháp can thiệp hành chính, nổi bật là xung đột thương mại Mỹ -Trung Quốc
2.2.2 Xu hướng chống bảo hộ thương mại
Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ thương mại có xu hướng gia tăng, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mạnh mẽ chống lại xu hướng bảo hộ đang nổi lên ở nhiều nơi, là rào cản đối với tăng trưởng thương mại toàn cầu Sau khi có hiệu lực, hiệp định này sẽ tạo ra một khu vực tự do thương mại thuộc hàng lớn nhất thế giới, với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân.
2.2.3 Xu hướng hợp tác song phương thay thế hợp tác đa phương
Sự ra đời của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là một hiệp định thương mại đa phương giữa các thực thể kinh tế độc lập Từ năm 1995, GATT trở thành WTO Có thể thấy rằng GATT/WTO là một trong những thiết chế trụ cột trong trật tự thế giới từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay
2.3 Tính tất yếu của xu thế hội nhập kinh tế ở Việt Nam
Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này Bởi khi đi ngược với xu hướng chung của thời đại, một đất nước sẽ trở nên lạc hậu và bị
cô lập, sớm hay muộn nước đó sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế Hơn thế nữa, một nước đang phát triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt thì việc chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ hết Trong quá trình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn có cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời cơ phát triển kinh tế Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế
Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được thúc đẩy mạnh mẽ dưới nhiều hình thức khác nhau với lộ trình hướng tới việc tiếp thu các quy tắc và tiêu chuẩn của nền kinh
tế và thị trường toàn cầu Việt Nam đã từng bước mở cửa nền kinh tế và thị trường bằng cách thiết lập quan hệ song phương về thương mại, đầu tư, tài chính và tham gia vào các
cơ chế đa phương trong các lĩnh vực đó Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của tất cả các tổ chức quốc tế lớn; đã tiếp cận, ký kết hoặc tham gia đàm phán tổng số 15 Hiệp định thương mại tự do (FTA)
3 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam
Trang 7Là một tất yếu trong những xu thế lớn trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới, đặc biệt, đối với Việt Nam - đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 thành nước phát triển, thu nhập cao, thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế lại càng có những vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Hội nhập kinh tế có vai trò quan trọng, tác động trên nhiều phạm vi, quy mô khác nhau trong đó có phạm vi cả nước trong mối quan hệ quốc tế, phạm vi Nhà nước và với cuộc sống của nhân dân
3.1 Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với Việt Nam trên phạm vi quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, do đó trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia
Về kinh tế, hội nhập giúp phát triển kinh tế theo tính quy mô Trên cơ sở các hiệp
định được ký kết, Việt Nam có cơ hội và điều kiện thuận lợi để khai thác tối ưu các lợi thế quốc gia trong phân công lao động quốc tế, từng bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất và
cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng hiệu quả hơn, tạo điều kiện và tăng cường phát triển các quan hệ thương mại và thu hút đầu tư từ nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu và nhập khẩu.
Về chính trị, hội nhập quốc tế đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan
hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nước ta cũng có cơ hội tham gia chủ động và sâu hơn vào quá trình định hình và cải cách các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế có lợi cho ta và có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia
- dân tộc, lợi ích của các tổ chức, cá nhân; bảo đảm độc lập, tự chủ, củng cố và duy trì môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Về văn hóa - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế giúp nâng cao dân trí, trình độ
nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến Quá trình hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
3.2 Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với việc xây dựng và phát triển Nhà nước
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách đường lối của Nhà nước Quá trình hội nhập nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, giúp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật quốc gia về kinh tế phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế; từ đó tăng tính chủ động, tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện, hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền
Trang 83.3 Vai trò của hội nhập kinh quốc tế đối với đời sống của nhân dân
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ có ý nghĩa to lớn trên phạm vi quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của nhân dân, trong đó ảnh hưởng tích cực nhất là nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân và tạo thêm nhiều việc làm cho lao động tự do.
● Hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận
và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước.
● Hội nhập kinh tế quốc tế cho phép áp dụng những thay đổi công nghệ và di chuyển vốn dễ dàng hơn Điều này sẽ tạo điều kiện cải thiện chất lượng trong sản xuất Việc mở rộng sản xuất lớn với chi phí sản xuất thấp hơn sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đồng thời tạo ra việc làm cho nhiều lao động tự do
Chương II Quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2008-2013
1 Quan điểm, mục tiêu của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế
Đại hội VI mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: Cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có vai trò ngày càng quan
trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của thế giới; đồng thời Đại hội đưa ra chủ trương
hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật đối với các nước Kể từ đó, quá trình hoàn thiện và
dần đưa quan điểm, chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành qua từng bước
cụ thể, rõ ràng:
● Tại Đại hội VII, Đảng đưa ra định hướng đa dạng hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế
● Đến Đại hội VIII, thuật ngữ “hội nhập” bắt đầu được đề cập trong Văn kiện của Đảng: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”
● Văn kiện Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”
● Tại Đại hội X, Đảng đã nhấn mạnh chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác”
● Đại hội XI khẳng định chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” (không chỉ hội nhập về kinh tế), nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và phát triển nhanh, bền vững
Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là: Chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ quốc tế Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ
Trang 9thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia Hội nhập quốc tế nhằm thiết thực thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững và bảo đảm quốc phòng, an ninh; thúc đẩy mối quan hệ biện chứng giữa việc bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển nhanh, bền vững Đồng thời khi đất nước phát triển nhanh, bền vững, quốc phòng, an ninh được đảm bảo sẽ thúc đẩy hội nhập quốc tế càng thêm sâu, rộng và hiệu quả
Có thể nói, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại” Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực - đó chính là mục tiêu mà Đảng ta đã và đang thực hiện không chỉ trong giai đoạn 2008-2013 mà còn suốt cả chặng đường lãnh đạo từ xưa đến nay
2 Quá trình hình thành và phát triển chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ 2008-2013
2.1 Thực tiễn thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng từ 2008 - 2013
Mặc dù tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp nhưng trong các kỳ đại hội của Đảng, Đảng ta luôn có những nhận thức xác đáng về thời đại, về thế giới và tình hình khu vực để trên cơ sở đó, định hướng những chỉ đạo chính sách đối nội và đối ngoại hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp, bám sát tình hình Cụ thể, đối với quá trình hội nhập kinh tế, Đảng ta xác định:
Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là do yêu cầu nội sinh, do yêu cầu xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền với việc giữ vững độc lập dân tộc
và chủ quyền đất nước; khẳng định mở cửa, hội nhập để khai thác các mặt có lợi cho sự phát triển kinh tế của ta từ nền kinh tế thế giới
Thứ ba, chúng ta chủ động hội nhập, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi
đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả
Thứ tư, chúng ta phải nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu thị trường, xây dựng đồng
bộ thị trường trong nước (thị trường hàng hoá, thị trường nhân lực, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản), để đủ sức hội nhập với khu vực và hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác
Thứ năm, song song với việc xây dựng, phát triển đồng bộ thị trường, chúng ta
phải nhanh chóng xây dựng các doanh nghiệp vững mạnh Doanh nghiệp là đội quân xung kích vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế
Thứ sáu, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, tích cực tham gia
đàm phán thương mại, tham gia các diễn đàn, các tổ chức, các hiệp định, định chế quốc tế một cách chọn lọc với những bước đi tỉnh táo và thích hợp
Trang 10Thực hiện chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế 2008 - 2013 của Việt Nam đã đạt được những kết quả vững chắc
Năm 2015, Việt Nam cũng đang tích cực tham gia đàm phán 6 FTA khác, gồm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu Âu (EU), với Liên minh thuế quan Nga - Bê-la-rút - Ka-dắc-xtan, với Khối Thương mại tự do châu
Âu (EFTA) gồm các nước Thụy Sĩ, Na-uy, Lích-tân-xten và Ai-xơ-len, FTA với Hàn Quốc và FTA giữa khối ASEAN với Hồng Công, Trung Quốc Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực chủ động tham gia sâu vào Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), đã đăng cai năm APEC 2006 và sẽ đăng cai APEC năm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao
2.2 Các thành tựu nổi bật
Dấu mốc đánh dấu một bước tiến lớn trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chính là trở thành thành viên chính thức của WTO (tổ chức thương mại thế giới) vào tháng 1/2007 Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa phương về pháp luật và thể chế cũng như các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ.Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ nhằm tận dụng tốt các
cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn ta hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu Là thành viên của WTO, ta đã cố gắng tham gia tích cực các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam có liên quan đến Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, sở hữu trí tuệ, trợ cấp thủy sản và chương trình hỗ trợ thương mại của WTO Việt Nam đã rất tích cực chuẩn bị cho phiên rà soát chính sách thương mại lần đầu tiên của Việt Nam, diễn ra trong khoảng thời gian đầu năm 2013
Quá trình hội nhập của Việt Nam có cả ở các cấp độ, phạm vi từ khu vực (ASEAN) đến liên khu vực (APEC, ASEM) và tới toàn cầu (UN, WTO) Với cương vị
là thành viên hoặc gánh vác những trọng trách lớn hơn ví dụ điển hình chính là Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 Sau 16 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, 1995-2011), mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng phát triển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn hợp tác khu vực và thế giới.
Trong 5 năm từ 2008 - 2013, Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định Thương mại
tự do (FTA) khu vực và song phương, nổi bật trong giai đoạn 2008 - 2013 chính là ký kết ASEAN - Nhật Bản (2008), ký FTA song phương Việt Nam - Nhật Bản (2008) và Việt Nam - Chi Lê (2011).
Đối với Việt Nam, ASEAN luôn là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất (riêng năm 2009, ASEAN là nhà đầu tư lớn thứ 2 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ) Năm 2010, một mốc son minh chứng cho sự nỗ lực và khẳng định sự phát triển và uy tín của Việt Nam đối với các quốc gia trong khu vực và quốc tế của Việt Nam chính là trở thành Chủ tịch luân phiên của ASEAN Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chủ tịch luân phiên của