DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT BĐKH: Biến Đổi Khí Hậu BQL PRH: Ban quản lý rừng phòng hộ CTLN: Công ty lâm nghiệp DVMTR: Dịch vụ môi trường rừng MARD: Bộ Nông nghiệp và phát triển
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC
ĐỖ DUY KHÔI
“THÚC ĐẨY CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI TỈNH LÀO CAI, GÓP PHẦN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU”
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Thanh Sơn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Võ Thanh Sơn, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tích xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Đỗ Duy Khôi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa học, Thầy giáo TS Võ Thanh Sơn là người đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, chỉnh sửa và động viên Tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ Khoa Sau đại học - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ các phòng ban các huyện/
xã và người dân các xã Lùng Sui, Cốc Ly, Lùng Phình,… đã cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Cảm ơn các đồng nghiệp tại Viện nghiên cứu Sinh thái Chính sách Xã hội (SPERI)
đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập thông tin và hoàn thiện Luận văn này
Lào Cai, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Đỗ Duy Khôi
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Mộ số khái niệm 4
1.1.2 Một số cơ chế chính sách liên quan đến PFES đã ban hành tại Việt Nam 5
1.2 Tổng quan nghiên cứu 6
1.2.1 Các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng 6
1.2.2 Mối tương tác giữa BĐKH và Hệ sinh thái rừng 12
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Nội dung nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp luận nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Nhóm phương pháp thu thập số liệu/thông tin 24
2.3.2 Nhóm phương pháp phân tích và xử lý thông tin 26
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên-KTXH của tỉnh Lào Cai 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1 2 Hiện trạng tài nguyên rừng 29
3.1.3 Điều kiện KT-XH 30
3.2 Thực trạng triển khai chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai 31
3.2.1 Tình hình xây bộ máy tổ chức và các văn bản pháp luật liên quan 31
3.2.2 Kết quả thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lào Cai 39
3.2 3 Những thuận lợi và khó khăn/ bất cập trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lào Cai 45
3.3 Thúc đẩy thực hiện chi trả DVMTR trong bối cảnh BĐKH tại Lào Cai 52
Trang 53.3.1 Mối quan hệ tác động giữa hệ sinh thái rừng và biến đổi khí hậu 52
3.3.2 Tác động của chính sách chi trả DVMTR tới công QLBVR tại tỉnh Lào Cai 61
3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính chi trả DMVTR tại tỉnh Lào Cai 68
3.4.1 Đối với tỉnh Lào Cai: 68
3.4.2 Đối với cấp Trung ương: 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
Kết luận: 71
Khuyến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHẦN PHỤ LỤC 77
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tổng hợp các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách chi trả DVMTR Bảng 3.2: Kết quả thu tiền chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai trong 03 năm
Bảng 3.3: Số tiền DVMTR thu đƣợc theo phân theo đơn vị sử dụng
Bảng 3.4: Kết quả thực hiện chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai từ 2011-2014
Bảng 3.5: Sự tham gia của các bên liên quan vào chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ mô phỏng các bên liên quan trong PFES tại Lào Cai
Hình 2.2: Sơ đồ mô phỏng sơ đồ phân tích DPSIR trong nghiên cứu
Hình 3.1: Bản đồn hành chính tỉnh Lào Cai
Hình 3.2: Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý tại tỉnh Lào Cai
Hình 3.3: Sơ đồ Bộ máy tổ chức quỹ BV&PTR tỉnh Lào Cai
Hình 3.4: Sơ đồ vị trí của bên sử dụng DVMTR trong chính sách chi trả DVMTR (trường hợp chi trả gián tiếp)
Hình 3.5: Sơ đồ mô phỏng các bên liên quan trong chính sách chi trả DVMTR tại Lào Cai Hình 3.6: Biểu đồ biểu diễn tiền thu từ DVMTR qua các năm tại tỉnh Lào Cai
Hình 3.7: Biểu đồ biểu diễn tiền thu từ DVMTR phân theo đối tượng sử dụng trên địa bàn Lào Cai
Hình 3.8: Biểu đồ biểu diễn kết quả thực hiện chi trả DVMTR qua các năm tại Lào Cai Hình 3.9: Các bên sử dụng DVMTR tại Lào Cai tham gia ký hợp đồng qua các năm
Hình 3.10: Diện tích và số vụ cháy rừng ở tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006-2014
Hình 3.11: Đóng góp của PFES trong ứng phó BĐKH tại tỉnh Lào Cai
Hình 3.12: Diện tích rừng có cung ứng DVMTR phân theo các chủ rừng
Hình 3.13: Diện tích rừng trồng mới tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010-2014
Hình 3.14: Diện tích rừng được khoán QLBV tại Lào Cai giai đoạn 2010-2014
Hình 3.15: Vi phạm quản lý bảo vệ rừng tại Lào Cai giai đoạn 2007-2014
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH: Biến Đổi Khí Hậu
BQL PRH: Ban quản lý rừng phòng hộ
CTLN: Công ty lâm nghiệp
DVMTR: Dịch vụ môi trường rừng
MARD: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PES: Payment for Evironmental Servieces/ Chi trả dịch vụ môi trường
PFES: Payment for Forest Evironmental Servieces/ Chi trả dịch vụ môi trường rừng QBV&PTR: Quỹ bảo vệ và phát triển rừng
RCFEE: Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng
REDD: Reducing Emissions from Deforestation and forest Degradation/ Giảm phát thải
khí nhà kính từ việc chống mất rừng và suy thoái rừng
UBND: Ủy ban nhân dân
UNFCCC: Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu
VQG: Vườn Quốc Gia
VNFF: Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, Biến đổi khí hậu (BĐKH) được xác định là một trong những thách thức lớn toàn cầu mà con người phải đối mặt và giải quyết Bên cạnh việc nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm thích ứng với những tác động đang ngày càng mạnh mẽ do BĐKH gây ra, các nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) đã và đang tích cực thúc đẩy các cơ chế chính sách và hành động nhằm giảm thiểu nguyên nhân gây ra BĐKH toàn cầu
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy: Giữa BĐKH và hệ sinh thái rừng có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau, BĐKH tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học và cháy rừng Ở chiều ngược lại cháy rừng và mất rừng làm gia tăng biến BĐKH Việc quản lý bảo vệ rừng tốt sẽ góp phần tích cực vào việc giảm những tác động tiêu cực từ BĐKH, cũng như những hiện tượng thời tiết cực đoan Việc mất rừng và suy
bầu khí quyển, thông qua đó gây nên BĐKH toàn cầu Vì vậy, nỗ lực chống mất rừng và suy thoái rừng là một trong những hoạt động quan trọng của các quốc gia trên thế giới, trong bối cảnh cùng nhau ứng phó với BĐKH toàn cầu Trong nỗ lực đó, việc ban hành và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, được xác định là một hướng đi mang lại hiệu quả tích cực tại nhiều quốc gia trên thế giới
Nằm ở khu vực được xác định sẽ chịu nhiều tác động từ BĐKH, Việt Nam đã xây dựng các chương trình ứng phó với BĐKH ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương, với nhiều giải pháp đồng bộ được đưa ra, trong đó việc xây dựng các cơ chế chính sách nhằm quản lý bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng là một nhiệm vụ trọng tâm Việc ban hành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được xác định là một bước tiến quan trọng, phù hợp với xu thế chung trên thế giới, đồng thời hướng tới sự công bằng, trong chiến lược chung về xã hội hóa nghề rừng và quản lý bền vững tài nguyên rừng, góp phần ứng phó với hiện tượng BĐKH toàn cầu
Lào Cai là tỉnh miền núi, đặc trưng cho khu vực miền núi phía Bắc, hàng năm chịu nhiều thiệt hại từ các hiện tượng thời tiết cực đoan gây ra (mưa lũ, sạt lở đất, hạn hán, rét đậm rét hại,…) Với tổng diện tích rừng 327.755,1 ha1
, diện tích đất lâm nghiệp được phân bố đều trên địa bàn các huyện trong tỉnh Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững là một trong những yếu tố then chốt để phát triển sinh kế bền vững cho người dân trên địa
Trang 10
bàn tỉnh, đồng thời góp phần phòng chống thiên tai xảy ra Để thực hiện hóa mục tiêu này, tỉnh Lào Cai đã xúc tiến nhiều hoạt động tích cực nhằm thúc đẩy ngành lâm nghiệp của tỉnh phát triển, trong đó xúc tiến thực hiện hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng
là một chiến lược được ưu tiên
Là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng
dịch vụ Tỉnh Lào Cai đã tích cực trong việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn toàn tỉnh, ngay sau khi Chính phủ ban hành chính sách này Sau
3 năm thực hiện triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại nhiều hiệu quả tích cực, góp phần quan trọng vào công tác quản lý bảo vệ rừng, ứng phó với BĐKH trên địa bàn tỉnh Tuy vậy, hiệu quả triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn còn chậm và còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng/cơ hội về thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện có của tỉnh Lào Cai Có nhiều nguyên nhân được đưa ra xung quanh việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng còn hạn chế ở tỉnh Lào Cai, tuy nhiên việc xác định các nguyên nhân này vẫn còn mang tính chung chung, chưa cụ thể, nên rất khó xây dựng được các giải pháp phù hợp nhằm thực hiện tốt hơn hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh trong những năm tiếp theo, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người dân số gắn bó với rừng, đảm bảo quản lý bền vững tài nguyên rừng, góp phần ứng phó với BĐKH
Xuất phát từ những lý do trên, Tôi thực hiện nghiên cứu “Thúc đẩy chi trả dịch vụ
môi trường rừng tại tỉnh Lào Cai, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu” Nghiên cứu
này, nhằm chỉ ra những thuận lợi và khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai, đóng góp các khuyến nghị cho những nhà quản lý địa phương
về những giải pháp trong quá trình thực hiện chi trả DVMTR được hiệu quả hơn trong những năm tiếp theo
Trang 11Nghiên cứu này được thực hiện nhằm chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân tồn tại bất cập trong thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Lào Cai, đồng thời nghiên cứu cũng đi tìm kiếm những giải pháp đóng góp những khuyến nghị chính sách cho các nhà quản lý tại địa phương nhằm thúc đẩy việc thực hiện chi trả DVMTR được hiệu quả hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Lào Cai; Các đối đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng, các đối tượng được chi trả DVMTR (chủ rừng, cộng đồng )
Chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn địa phương: Sở nông nghiệp,
Sở tài nguyên, Chi cục kiểm lâm, Chi cục phát triển lâm nghiệp, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng,
Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Lào Cai, trong thời gian từ tháng 5 năm
2014 đến tháng 5 năm 2015
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu: Có những thuận lợi và khó khăn, bất cập gì ảnh hưởng tới
thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Lào Cai? Tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách trả dịch vụ môi trường rừng có góp phần ứng phó với BĐKH hay không?
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn có cấu trúc theo quy định của Đại Học Quốc Gia Hà Nội, bao gồm các phần chính sau:
Phần mở đầu: Nêu nên tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nêu giả thuyết nghiên cứu
CHƯƠNG I: Tổng quan nghiên cứu: Bao gồm nêu nên cơ sở lý luận của đề tài và nêu tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam
CHƯƠNG II: Nội dung, phương pháp nghiêu cứu: Trình bày về các nội dung chính, phương pháp luận và phương pháp triển khai nghiên cứu
CHƯƠNG III: Kết quả và phân tích: Trình bày chi tiết và phân tích những kết quả nghiên cứu theo những nội dung nghiên cứu đã đề ra
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đồng thời đánh giá
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Mộ số khái niệm
Chi trả dịch vụ môi trường (PES): Là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự
nguyện có ràng buộc pháp lý và với hợp đồng này thì một hay vài người mua chi trả cho
hệ sinh thái xác định bằng cách trả tiền mặt hay các hỗ trợ cho một hoặc nhiều người bán
và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thỏa thuận (xem [29, trang 12])
Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi
sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác (xem [6, trang 2])
Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường
rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm: (i) Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; (ii) Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; (iii) Hấp thụ và lưu trữ các bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển bền vững; (iv) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; (v) Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản (xem [6, trang 2])
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng
dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng Theo quy định tại Điều 6 của Nghị định 99/2010/NĐ-CP sẽ có 02 hình thức chi trả được áp dụng là chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp (xem [6, trang 2])
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận
biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người,
Trang 13đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (xem [1, trang 6])
Ứng phó với BĐKH: Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ
BĐKH Như vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (xem [1, trang 6])
Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí
nhà kính (xem [1, trang 6])
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với
hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (xem [1, trang 6])
1.1.2 Một số cơ chế chính sách liên quan đến chi trả DVMTR đã ban hành tại Việt Nam
Việc thành lập và quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) được quy định chi tiết trong Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ Một trong những nhiệm vụ cơ bản của Quỹ là tiếp nhận và quản lý các nguồn tài chính theo quy định, trong đó bao gồm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) Hệ thống Quỹ BVPTR được thành lập theo 03 cấp: Cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã ở những xã có rừng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 về chính sách chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng năm 2008 và 2009 Đây là hai tỉnh làm thí điểm thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng, làm cơ sở để triển khai nhân rộng trên cả nước
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/ND-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và có hiệu lực thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/1/2011 Theo các điều khoản của Nghị định (Điều 4, 7 và 11) bắt đầu từ 1/1/2011, ba loại dịch vụ môi trường rừng sẽ được chi trả gồm: (a) bảo tồn đất, chống xói mòn và hạn chế bồi lắng lòng sông, suối, hồ; (b) điều tiết và duy trì nguồn nước; (c) bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng Có ba đối tượng chi trả cho các dịch vụ môi trường rừng, gồm: (a) các cơ sở sản xuất thủy điện; (b) doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch; và (c) tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch dựa vào
Trang 14Ở cấp địa phương (tỉnh Lào Cai)
Thực hiện Nghị định 99/2010/ND-CP ngày 24/9/2010, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai được thành lập tại Quyết định số 3719/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh Lào Cai Theo đó, Quỹ BV&PTR là cơ quan đầu mối, kết nối giữa những chủ thể thực hiện chi trả dịch vụ môi trường (nhà máy thủy điện, công ty du lịch, ) và những chủ thể nhận chi trả dịch vụ môi trường rừng (Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng, chủ rừng là hộ nông dân, )
Quyết định số: 31/2013/QĐ-UBND ngày 13 tháng 08 năm 2013 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai Quy định này quy định về hồ sơ thanh toán, trình tự, thủ tục đối với các chủ rừng thuộc lưu vực các nhà máy thủy điện đã phát điện và ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR)
1.2 Tổng quan nghiên cứu
1.2.1 Các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for ecosysterm servieces - PES) hay còn gọi là chi trả dịch vụ môi trường Trên thế giới PES đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20 và đến nay đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới
PES triển khai sớm nhất ở Mỹ la tinh, châu u, châu Phi PES cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại nhiều nước châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal…đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về PES đối với quản lý lưu vực đầu nguồn Ở châu u, chính phủ một số nước đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình PES Ở châu Úc, Australia đã luật hóa quyền phát thải Carbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ carbon của rừng (xem [7, trang 11])
PES ở châu u: Tại Pháp, công ty nước đóng chai Perrier Vittel đã cung cấp tài chính cho nông dân ở vùng đầu nguồn và vùng lọc nước để xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp và chuyển đổi sang hoạt động nông nghiệp hữu cơ Chính phủ Đức đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho các chủ đất tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng cường hoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái Những dự án này bao gồm trợ cấp cho sản xuất cà phê và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo
Trang 15tồn đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nước Mỹ La tinh, gồm Honduras, Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hoà Dominica (xem [11, trang 14]) Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương trình PES quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ Carbon và tạo cảnh quan đẹp…
Một số nghiên cứu khác tập trung vào việc phát triển thị trường carbon như: Cái nhìn từ tương lai: Hiện trạng của thị trường các bon tự nguyện; Hiện trạng và xu thế thị trường carbon hoặc các công trình nghiên cứu về cách đo đạc, thẩm tra và xác định chất lượng dịch vụ hệ sinh thái rừng như: Hướng dẫn đo carbon rừng Điều tra rừng và sổ tay các phương pháp phân tích đất; Những nghiên cứu này đã đóng góp phần không nhỏ trong quá trình xây dựng hệ phương pháp luận về cách đo đạc, giám sát, thẩm tra chất lượng rừng và dịch vụ môi trường rừng
Thông qua kết quả các chương trình, dự án kể trên, PES được đánh giá là một cơ chế
có sự gắn kết với các mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs), được xem như một cơ chế tài chính góp phần giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học vì một thế giới phát triển bền vững hơn, trong bối cảnh BĐKH
Ở Bakun (Philippines), Chính phủ công nhận các quyền sở hữu không chính thức về đất đai do tổ tiên để lại BITO (một tổ chức của người dân bản địa) đã được giao đất và thực hiện kế hoạch quản lý Việc được giao đất ở Bakun được xem là một hoạt động chi trả cho việc quản lý đất bền vững Về phía cộng đồng, việc chi trả vì người nghèo có nghĩa là tất cả mọi người đều được lợi trong việc trao đổi để tiếp tục cung cấp các dịch vụ đầu nguồn (xem [11, trang 14])
Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nông - Lâm thế giới (ICRAF) đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái niệm PES bằng Chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao dịch vụ môi trường (RUPES) ở châu Á RUPES đang tích cực thực hiện các chương trình thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal Từ năm 2001-2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các chương trình PES ở châu Á (xem [7, trang 11])
Bài học kinh nghiệm từ dự án RUPES có thể được chia ra thành 5 hợp phần như sau: (1) Hiểu được rằng chi trả dịch vụ môi trường nhằm xoá đói giảm nghèo; Dự án RUPES cho thấy hiệu quả xoá đói giảm nghèo thể hiện rõ rệt nhất tại điểm mà dự án sử
Trang 16dụng giải pháp “hưởng dụng có điều kiện” tại vùng “phòng hộ đầu nguồn”; (2) Xây dựng các chính sách và thể chế để thúc đẩy hoạt động chi trả dịch vụ môi trường ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế; (3) Liên kết người cung cấp dịch vụ môi trường với người mua dịch vụ môi trường trong các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường thử nghiệm; (4) Xây dựng tiêu chí và chỉ số để thực hiện các kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường được công bằng và hiệu quả; (5) Thành lập đối tác và mạng lưới: Thành công của dự án RUPES phần lớn là do có sự tham gia của các mạng lưới quốc tế của dự án này Có một số những lựa chọn lý thú về các giải pháp đa quy mô mà ở đó chính quyền địa phương có được thu nhập từ các thị trường quốc tế như việc tham gia vào các thị trường kinh doanh khí các bon mới được thiết lập nhằm đảm bảo lợi ích môi trường của địa phương và xoá đói giảm nghèo
Trên thế giới phần lớn các dịch vụ môi trường như bảo vệ đầu nguồn, hấp thụ các bon, bảo tồn đa dạng sinh học,… không thể đem ra mua bán do chúng được coi là “hàng hóa công cộng” Thị trường về dịch vụ môi trường của rừng trên phạm vi toàn cầu đã được xem xét và đánh giá Theo đó rừng có tác dụng cung cấp các dịch vụ môi trường gồm: Bảo tồn đa dạng sinh học, hấp thụ các bon, bảo vệ đầu nguồn, vẻ đẹp cảnh quan, vv Nghiên cứu đã xác định cơ cấu giá trị cho các loại dịch vụ môi trường của rừng là: Hấp thụ các bon chiếm 27%; Bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; Bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%; Vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17% và giá trị khác chiếm 10% (xem [29, trang 17]) Như vậy có thể thấy, giá trị của rừng là rất to lớn mà đặc biệt là giá trị môi trường và dịch vụ môi trường của rừng Với tầm quan trọng này nhiều tổ chức, quốc gia đã hình thành các cơ chế khác nhau nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng trên quan điểm coi dịch vụ môi trường là một loại hàng hoá Một số quốc gia đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường - PES (Payment for Environment Services - PES) nhằm quản lý bền vững các dịch vụ môi trường rừng Theo đó, các khái niệm và thuật ngữ được thừa nhận để chỉ sự thương mại các dịch vụ môi trường như: chi trả (Payments), đền đáp (Reward), thị trường (Market), Bồi thường (Compensation) [29] Đây được coi là những xu hướng mới nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng và hướng tới phát triển bền vững
Nhìn chung các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã tập trung mô tả và làm rõ những mặt tích cực của chi trả DVMTR đối với các vấn đề bảo tồn tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, giúp cải thiện sinh kế của người dân thông qua việc tham gia cung ứng các dịch vụ môi trường rừng Nhiều nghiên cứ đã đi sâu vào những
Trang 17khía cạnh khó của vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng như: xác địch cơ chế thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các kiểu rừng ứng với các loại dịch vụ môi trường rừng khác nhau; hoặc một số nghiên cứu khác lại tập trung nghiên cứu về lượng giá các dịch vụ môi trường rừng
1.2.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam đã có một số hoạt động chi trả cho người dân để trồng và bảo vệ rừng từ nhiều năm nay, trong các chương trình của Chính phủ bắt đầu từ chương trình 327 vào giữa những năm 90 của thế kỷ 20, tiếp đó là chương trình 661 từ năm 1998 đến 2010 Nghiên cứu đầu tiên về chi trả dịch vụ môi trường (PES) ở Việt Nam do các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng (RCFEE) và các đối tác nước ngoài như tổ chức Winrock Quốc tế, Trung tâm lâm nghiệp thế giới, thực hiện và
xuất bản ấn phẩm Chi trả dịch vụ môi trường cho người dân v ng cao về dịch vụ môi
trường mà h cung cấp-RUPES” Nghiên cứu này đã góp phần lồng nghép PES vào Luật
đa dạng sinh học, xây dựng các chính sách hỗ trợ cho PES Chương trình này đã chứng minh rằng chi phí và lợi ích từ bảo vệ nguồn nước là yêu cầu thiết yếu nhằm thuyết phục người mua tham gia; các thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận rõ ràng và sự tham gia của cộng đồng và nông dân địa phương là chìa khóa dẫn tới thành công của dự án… Các nghiên cứu thử nghiệm sẽ xác định các đối tượng hưởng lợi của hoạt động chi trả cho các dịch vụ này đồng thời xác định số tiền trả cho dịch vụ môi trường để đảm bảo có được các dịch vụ này trong thời gian dài (xem [33, trang 8])
Tại Việt Nam hơn 10 năm qua, khái niệm PES và ứng dụng của nó đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà ngiên cứu môi trường, các nhà khoa học và nhà hoạch định hính sách Đầu năm 2008, Chính phủ đã yêu cầu Bộ NN&PTNT (MARD) xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho Ngành Lâm nghiệp Để thực hiện chính sách này trên phạm vi toàn quốc, Chính phủ đã ban hành QĐ số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 về chính sách chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng năm
2008 và 2009 Ngày 24/9/2010 Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP Về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Nghị định gồm 5 chương và 25 điều và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2011
Nghiên cứu về PFES thông qua quyết định 380/2008/QĐ-TTg về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam Mục đích của nghiên cứu này là tạo
ra cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trang 18tượng sử dụng dịch vụ, xác định được xuất phí phải chi trả cho mỗi đơn vị dịch vụ môi trường và thành lập được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng với số tiền chi trả ở tỉnh Sơn La
và Lâm Đồng năm 2009 là 62 tỷ đồng và 98,2 tỷ đồng [11][29]
Các loại rừng được chi trả DVMT rừng bao gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Công thức xác định số tiền chi trả cho chủ rừng được đề xuất theo Quyết định 380 như sau:
Diện tích rừng do người được chi trả dịch vụ quản lý, sử
Các đối tượng hưởng lợi từ DVMTR và chi trả DVMTR: Ở cả hai tỉnh, các đối tượng
hưởng lợi được xác định là các công ty cấp nước và nhà máy thủy điện Tổng số tiền các công ty này chi trả bằng tiền mặt trong hai năm là 60,84 tỉ đồng ở tỉnh Sơn La Thêm vào
đó, 9 công ty du lịch đã được xác định là đối tượng chi trả DVMTR Các đối tượng cung cấp DVMTR và diện tích thí điểm chi trả: các hộ gia đình là đối tượng cung cấp DVMTR/nhận chi trả DVMTR chủ yếu [11]
Bên trung gian chi trả DVMTR: cả hai tỉnh đều thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển
rừng (Quỹ BVPTR) và Ban giám sát chi trả DVMTR Nhiều sở ban ngành trong tỉnh đã tham gia vào quá trình này
Quản lý tiền chi trả DVMTR: tỉnh Lâm Đồng áp dụng cách chi trả gián tiếp, các đối tượng hưởng lợi từ DVMTR chuyển tiền tới quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR), sau
đó quỹ BVPTR chuyển tiền tới các chủ rừng Các chủ rừng chuyển tiền tới các hộ gia đình có hợp đồn giao khoán Mức chi trả ở tỉnh Lâm Đồng thay đổi đối với từng lưu vực khác nhau Năm 2009, mức chi trả nằm trong khoảng từ 10 đến 290 nghìn đồng/ha/năm Năm 2010, mức chi trả tăng thêm từ 40 đến 130 nghìn đồng/ha/năm Tỉnh Sơn La áp
Trang 19dụng hình thức chi trả trực tiếp trong năm 2009, nhưng đến năm 2010 thì chuyển sang chi trả gián tiếp: bên chi trả chuyển tiền cho quỹ BVPTR, sau đó quỹ BVPTR chuyển tiền cho Ngân hàng Chính sách xã hội, và cuối cùng ngân hàng chuyển tiền cho các chủ rừng [30]
Tác động của chi trả DVMTR: kết quả khảo sát ở thôn Liêng Bông (Lâm Đồng) và
thôn Khua (Sơn La) cùng với quá trình thảo luận giữa các bên liên quan đã cho thấy chi trả DVMTR giúp nâng cao đáng kể nhận thức của người dân về rừng và các DVMTR Thu nhập từ quản lý bảo vệ rừng của các hộ nhận giao khoán ở Lâm Đồng đã tăng thêm 3-4 lần so với trước khi áp dụng chi trả DVMTR, trong khi ở Sơn La mức tăng không đáng kể Các vụ việc vi phạm lâm luật có xu hướng giảm so với những năm trước khi áp dụng chi trả DVMTR, và chi trả DVMTR đã đem lại nguồn tài chính mới (thay thế cho ngân sách Nhà nước) để xã hội hóa việc bảo vệ và phát triển rừng [33]
Theo Nghị định 99 thì rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trường rừng gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất với 5 loại dịch vụ môi trường: Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông; Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ và lưu giữ các bon; Bảo vệ cảnh quan tự nhiên của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên cho nuôi trồng thuỷ sản Và 2 hình thức chi trả: Chi trả trực tiếp: là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo nguyên tắc thỏa thuận; Chi trả gián tiếp: là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng Mức chi trả đặt ra là 20 đ/KWh điện thương phẩm của các công ty thủy điện, 40 đ/m3 nước thương phẩm của các công ty cấp nước và khoảng 1-2% tổng doanh thu của “những người hưởng lợi từ rừng hoặc những người tác động đến rừng Mức cụ thể do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quy định
Nhìn chung, các nghiên cứu về PFES tại Việt Nam khá đa dạng, tập trung vào một
số khía cạnh: (1) Các cơ hội và thách thức trong thực hiện PFES tại Việt Nam, trong các nghiên cứu này có thể kể đến các nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ như của
thể về các cơ chế chính sách cũng như những vấn đề thực tiễn trong thực hiện PFES tại
3 Tổ chức Phát triển Hà Lan
Trang 20Việt Nam; (2) Một nhóm nghiên cứu khác đi sâu tập trung phân tích những vướng mắc trong thực hiện PFES tại một số địa phương, điển hình có thể kể đến các nghiên cứu của tác giả Phạm Thu Thủy (2012), Đỗ Tiến Dũng (2011), Huỳnh Thị Mai (2008), nghiên cứu
đã chỉ ra: thực tiễn việc triển khai thực hiện PFES theo Nghị định số 99/NĐ-CP/2010 tại các địa phương rất chậm, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được tác giả chỉ ra gồm nhiều nguyên nhân, từ vấn đề về thể chế chính sách ở cấp địa phương, vấn đề năng lực cán bộ kỹ thuật thực hiện, đặc biệt tác giả nhấn mạnh tới các vướng mắc về chồng lấn ranh giới giữa các chủ rừng như là một nguyên nhân cơ bản làm chậm tiến trình thực hiện PFES Tuy nghiên, các nghiên cứu được tập trung nhiều ở 02 tỉnh là thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là Sơn La và Lâm đồng Mặt khác, các vấn đề về sự bất cập trong chính sách-pháp luật ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện PFES, mối quan hệ giữa thúc đẩy PFES với vấn đề quản lý bảo vệ rừng và ứng phó với biến đổi khí hậu, cơ chế xác định thu phí DVMTR từ việc hấp thụ carbon,… còn chưa có nhiều nghiên cứu
1.2.2 Mối tương tác giữa BĐKH và Hệ sinh thái rừng
1.2.2.1 Tác động của BĐKH đến HST rừng
Hai yếu tố liên quan chặt chẽ tới biến đổi khí hậu (BĐKH) là nhiệt độ và lượng mưa, đây cũng chính là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới rừng và nghề rừng Theo IPCC (2010), rừng có độ nhạy cảm với biến đổi khí hậu rất cao Các quan sát trong quá khứ, nghiên cứu thực nghiệm và các mô hình đã cho thấy điều này Một số kết luận được rút ra bao gồm:
tăng trưởng và phục hồi của nhiều loại cây Ở một số khu vực, thay đổi nhiệt độ có thể làm biến đổi đáng kể chức năng và thành phần rừng hoặc có thể khiến cho rừng biến mất hoàn toàn
Biến đổi khí hậu khiến cho nhiều loài hoặc loại rừng chuyển dịch nhanh hơn tỷ lệ tối đa xảy ra trong tự nhiên mà nhiều loài dịch chuyển Kết quả là các loài phát triển chậm hoặc có sự phát tán hạt hạn chế sẽ bị thay thế bởi các loài phát triển nhanh hơn, có độ thích nghi cao hơn
Rừng đặc biệt dễ bị tổn thương trước các yếu tố khí hậu, thời tiết cực đoan về nước
và sẽ suy giảm nhanh chóng nếu các điều kiện về nước hướng tới xu hướng cực đoan
Trang 21 Sự gia tăng nồng độ CO2 có thể khiến cho sản lượng ban đầu tăng; tuy nhiên sinh khối rừng có thể không tăng do xuất hiện sự bùng phát mang tính thường xuyên hơn và phạm vi được mở rộng của các loại côn trùng và sâu bọ cũng như gia tăng tần xuất và mức độ cháy rừng
Tác động tới phân bố lại các kiểu rừng, đa dạng sinh h c và tăng trưởng rừng
Theo kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2050 của IPCC, biến đổi khí hậu tác động đến từng loại rừng như sau: Rừng nhiệt đới bị tác động mạnh bởi sự thay đổi của nước trong đất (do tác động kép của thay đổi nhiệt độ và lượng mưa) Sự suy giảm độ ẩm trong đất có thể thúc đẩy nhanh hơn quá trình mất rừng ở nhiều khu vực có lượng nước nằm trong giới hạn biên Ở những khu vực khác, lượng mưa gia tăng vượt mức bốc hơi có thể dẫn đến xói lở đất Đối với rừng ôn đới: khu vực rừng ôn đới có sự thay đổi ít nhất Tuy nhiên, nhiều loại rừng hiện tại vẫn sẽ bị biến đổi đáng kể về thành phần loài (xem [30, trang 26])
Về đa dạng sinh học: Khoảng 50% đa dạng sinh học của rừng Châu Á sẽ chịu tác động tiêu cực của BĐKH Tính đa dạng của các loài ở nhiều vùng sẽ thay đổi do phải thay đổi nơi cư trú, bị xâm hại hoặc biến mất do BĐKH (xem [15, trang 6] Rừng Bắc Á sẽ di chuyển tiếp lên phía Bắc Diện tích lớn rừng taiga sẽ thay thế các vùng vốn trước đây vẫn đóng băng, trong khi diện tích đóng băng sẽ tiếp tục chuyển về phía Bắc Phần lớn quần thể nhiều loài khác sẽ có thể bị tuyệt chủng do tác động tổng thể của BĐKH và môi trường sống bị phá vỡ Kịch bản sử dụng GCMs cho thấy 105 trong tổng số 1522 loài thực vật và 5 trong 77 loài động vật có xương sống ở Trung Quốc và 133 trong tổng số 2.835 loài thực vật và 10 trong 213 loài động vật có xương sống ở vùng Ấn Độ-Miến Điện có thể sẽ tuyệt chủng (xem [15, trang 7]
Đối với Việt Nam, BĐKH làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, làm giảm năng suất cây trồng và ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của rừng BĐKH làm tăng nguy cơ mất rừng, nguy cơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp Việt Nam là nước có giá trị đa dạng sinh học cao (xếp thứ 16 trên thế giới, WCMC 1992) với nhiều loại hệ sinh thái khác nhau BĐKH đe dọa tới đa dạng sinh học rừng, làm thay đổi tổ thành loài, phân bố và khả năng sinh trưởng của các loài sinh vật rừng (xem [10, trang 17]) Diện tích cây rụng lá (cây họ dầu) và nửa rụng lá với nhiều loài cây chịu hạn sẽ tăng Nhiều loài nhiệt đới ưa sáng sẽ di cư cao hơn và các loài cá nhiệt đới mất dần Số lượng quần thể các loài sinh vật quý hiếm sẽ suy kiệt đồng thời nguy cơ xuất hiện các loài sinh
Trang 22nghi với điều kiện sống mới hay cạnh tranh với các loài khác sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi hành tinh [10]
Trong điều kiện BĐKH xảy ra như trong kịch bản, cả ba loại rừng là rừng Khộp, rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và rừng kín rụng lá ẩm nhiệt đới đều bị suy giảm
về diện tích và thay đổi phân bố Rừng Khộp sẽ không còn là vùng “đặc hữu” của Tây Nguyên nữa Kiểu rừng này có thể sẽ mở rộng phạm vi phân bố ra phía Bắc Diện tích rừng Khộp ở một số tỉnh Nam Trung Bộ sẽ gần như biến mất toàn bộ và chỉ còn tập trung
ở 2 khu vực chính là các tỉnh Tây Nguyên có rừng Khộp hiện nay và một số tỉnh phía Bắc như Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hòa Bình Từ các kết quả nghiên cứu, phân bố và diện tích của rừng Khộp sẽ biến đổi theo mỗi kịch bản khí hậu và có xu hướng di chuyển sang các vùng sinh thái khác (Bắc và Bắc Trung Bộ) Nơi phân bố chính của rừng Khộp hiện nay có thể sẽ không còn tồn tại hệ sinh thái này, diện tích bị giảm đi khá lớn nếu BĐKH diễn ra gay gắt hơn Trong điều kiện khí hậu thay đổi lớn và khắc nghiệt, diện tích rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới sẽ bị giảm đi một nửa, ở cả hai khu vực phân bố hiện nay là Nam Trung Bộ và Nam Bộ Hệ sinh thái rừng kín rụng lá ẩm nhiệt đới có thể sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Cụ thể là ranh giới và diện tích không ngừng giảm ở tất cả các khu vực theo xu hướng tăng dần của nhiệt độ và lượng mưa (xem [22, trang 4])
Đối với rừng trồng, kết quả nghiên cứu cho thấy, theo kịch bản BĐKH khá khắc nghiệt với sự gia tăng nhanh về nhiệt độ, lượng mưa thì diện tích và khu vực phân bố của lát hoa cũng như Thông nhựa vào 2050 và 2100 sẽ suy giảm mạnh, mặc dù theo kịch bản của năm 2020 thì các số liệu này có gia tăng chút ít Khu vực phân bố của Lát hoa thu hẹp dần, dịch chuyển từ khu vực Tây Bắc và giáp Thanh Hóa lên phía Bắc và cuối cùng tập trung lại trên khu vực cao nguyên Đồng Văn và một số tỉnh như Cao Bằng, Hà Giang Diện tích Thông nhựa ở khu vực Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên dần biến mất, một phần diện tích nhỏ dịch chuyển lên phía Bắc, khu vực phân bố chính là một số tỉnh ở phía Bắc và rải rác ở khu vực Nam Trung Bộ (xem [22, trang 4])
Do sự thay đổi môi trường sinh thái, đặc biệt sự dịch chuyển lên cao dần các vành đai nhiệt đã dẫn đến sự xâm nhập của các cây nhiệt đới lên các vùng có độ cao cao hơn cao, xuất hiện bước đầu những thay đổi trong hệ sinh thái núi cao Hoàng Liên Sơn và các vùng núi cao khác trong tỉnh Tính đa dạng sinh học, đặc biệt một số loài cây quý hiếm, nhất là cây dược liệu bản địa đã có dấu hiệu suy giảm (xem [26, trang 9])
Tác động của biến đổi khí hậu đến cháy rừng
Trang 23BĐKH gắn liền với nhiệt độ tăng, lượng bốc hơi tăng và do đó dẫn tới nguy cơ hạn hán sẽ tăng cả về mức độ lẫn tần suất ảnh hưởng Hạn hán luôn gắn liền với hoang mạc hóa và cháy rừng Một nghiên cứu liên tục trong vòng 20 năm qua cho thấy, cường độ và quy mô cháy rừng ở Bắc Á và Đông Nam Á ngày càng tăng là hậu quả của nhiệt độ tăng, lượng mưa giảm và áp lực về chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác tăng Trong tương lai, rất khó có thể đánh giá chính xác tần suất cũng như mức độ nghiêm trọng của các vụ cháy rừng khi nhiệt độ tiếp tục tăng và lượng mưa tiếp tục giảm
ở Bắc Á và Đông Nam Á
Khí hậu ấm lên, làm quá trình tan chảy băng diễn ra sớm hơn và hậu quả là mùa hè trở nên khô hanh hơn, là yếu tố chính dẫn đến hàng loạt các vụ cháy rừng trên diện rộng Tuyết bắt đầu tan sớm vào mùa xuân trong khi lượng mưa ngày một giảm Sự kết hợp này
là điều kiện thuận lợi để cháy rừng xảy ra trên phạm vi rộng hơn
Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cường độ các đám cháy rừng, bùng nổ sâu
bọ, bệnh dịch, các hiện tượng thời tiết cực đoan như gió mạnh Trong hai thập kỷ qua đã cho thấy sự gia tăng các khu vực bị cháy tại Canada, miền tây Hoa Kỳ và Nga Do khí hậu thế kỷ này ấm hơn, giai đoạn không có tuyết kéo dài và sự gia tăng về tần suất và cường độ hạn hạn khiến cho tần suất cháy rừng ở nhiều khu vực gia tăng Tại Canada, khu vực bị cháy có thể tăng gấp đôi vào cuối thế kỷ này Thiệt hại có thể có đối với cây trồng lấy gỗ và ngành sản xuất giấy cũng như tác hại đối với sức khỏe và các sản phẩm rừng phi gỗ do cháy rừng gia tăng chưa có số liệu chắc chắn như thiệt hại do cháy rừng có thể xảy ra tại những khu vực ít tiếp cận Tại Hoa Kỳ, các đám cháy rừng gây ra thiệt hại
337 triệu USD trong năm 2003
Hạn hán và nắng nóng đã gây ra cháy rừng ở Việt Nam, huỷ hoại nhiều cánh rừng trên đất nước Khoảng 5 triệu ha rừng dễ cháy ở bất cứ mùa nào trong năm Trong số diện tích rừng hiện có, 56% dễ bị cháy trong mùa khô Rừng Thông ở vùng cao nguyên Trung
Bộ và rừng tràm ở châu thổ sông Mê Công là những loại rừng có nguy cơ cháy cao nhất Trong mùa khô 1997-1998, do thời tiết khô nóng, đã có 1.681 đám cháy rừng trên toàn quốc làm mất khoảng 19.819 ha, trong đó có 6.293 ha rừng tự nhiên, 7.888 ha rừng trồng,
494 ha rừng tre nứa và 5.123 ha cỏ và cây bụi ở Quảng Ninh và Lâm Đồng, các vụ cháy rừng Thông đã làm tê liệt nhiều nhà máy sản xuất nhựa thông (xem [30, trang 33]) Riêng
6 tháng đầu năm 1998 có 60 vụ cháy rừng ở Đồng Nai (làm mất 1.200 ha) và ở Đắk Lắk (làm mất 316 ha) Đợt khô hạn từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1998 đã làm 11.370 ha rừng bị cháy Theo ước tính, thiệt hại tổng cộng trong cả nước lên tới trên 5.000 tỷ đồng Các loại
Trang 24rừng bị cháy thường là các loại rừng non mới tái sinh, rừng trồng từ 3-5 tuổi, trảng cỏ và cây bụi Trong tất cả các vụ cháy rừng, vụ cháy rừng U Minh Thượng năm 2002 là vụ cháy rừng nghiêm trọng nhất, đã phá huỷ trên 5.000 ha rừng ngập mặn có giá trị đa dạng sinh học cao, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng (xem [ 22, trang 5])
Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Tác động của BĐKH mà cụ thể là các hiện tượng thời tiết cực đoan đến hệ sinh thái rừng là rất nghiệm trọng và đang ngày càng gia tăng ĐBKH đang tác động sâu rộng đến hệ sinh thái rừng, làm gia tăng nguy cơ cháy rừng, suy giảm đa dạng sinh học, sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa đã và sẽ dẫn đến sự phân bố lại một số loài thực vật tại một số khu vực trên trái đất
1.2.2.2 Tác động của HST rừng đến BĐKH
trong các tác dụng của hệ sinh thái rừng tập trung vào đối mặt với tương lai là việc cô lập
thành phần carbon là tối đa trong suốt quá trình trưởng thành), như việc cô lập mạng lưới
của rừng là 50% bao gồm carbon Xét trên phạm vi toàn cầu, số liệu thống kê năm 2003 cho thấy lượng các bon lưu giữ trong rừng là khoảng 800 – 1.000 tỷ tấn Trong một năm
[13, trang 28]) Nếu quy đổi thành tiền theo cơ chế phát triển sạch thì giá trị cố định/lưu
khoảng 1.835 tỷ USD (ước tính theo giá 5 USD/tấn CO2)
Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ, hay hấp thụ một lượng lớn carbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật và các
hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu và ổn định khí hậu Theo thống kê, toàn bộ diện tích rừng thế giới lưu giữ khoảng 283 Gt (Giga tấn) các bon trong sinh khối và trong trong toàn hệ sinh thái rừng là 638 Gt (gồm cả trữ lượng các bon trong đất tính đến độ sâu 30cm) Lượng carbon này lớn hơn nhiều so với lượng carbon trong khí quyển Với chức năng này của rừng, hoạt động trồng rừng, tái trồng rừng và quản lý bền vững các hệ sinh thái rừng hiện có được coi là một trong các giải pháp quan trọng trong tiến trình cắt giảm khí nhà kính nêu ra trong Nghị định thư Kyoto để tiến tới mục tiêu ngăn ngừa sự biến đổi khí hậu toàn c;ầu và bảo vệ môi trường (xem [14, trang 3])
Trang 25Việc mất rừng và suy thoái rừng làm giảm đi đáng kể khả năng hấp thụ và lữu trữ Carbon trên trái đất, qua đó đã góp phần không nhỏ vào việc gây nên biến đổi khí hậu trên trái đất Không có rừng khiến cho hàng năm có 860 triệu ha đất bị hoang mạc hóa, các cơn mưa rừng nhiệt đới bị phá hủy và biến mất hoàn toàn, nhiệt độ mặt đất đã tăng thêm
từ 0,3 - 0,60C và có khoảng 25.000 triệu tấn đất màu mỡ bị mất đi Ngoài ra, diện tích
ngày càng làm cho tầng ozon bị phá mỏng dần và thủng, làm ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu
Cháy rừng sẽ làm đẩy nhanh tốc độ biến đổi khí hậu Theo Giám đốc Trung tâm theo dõi cháy rừng toàn cầu thuộc Đại học Freiburg (Đức) Johann Goldammer, các khu rừng ở Bắc bán cầu có chứa than bùn chiếm khoảng 1/3 lượng carbon tích trữ trong Trái
lên của khí hậu và khi đó sẽ gia tăng các vụ cháy rừng
Ngoài ra, rừng có các chức năng khác nhau về môi trường và đảm bảo nhu cầu sinh
kế, giúp người dân điều chỉnh chiến lược sinh kế của họ để thích ứng với biến đổi khí hậu Hơn 1,6 tỷ người trên toàn thế giới phụ thuộc vào tài nguyên rừng về mặt sinh kế Rừng trở nên đặc biệt quan trọng như một nguồn dinh dưỡng và thu nhập trong thời gian khí hậu bất lợi và mất mùa
Rừng có ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước ở môi trường xung quanh và giữ cân bằng
làm giảm tác nhân gây ra Hiệu ứng nhà kính
Rừng đầu nguồn có tác dụng chủ yếu bảo vệ nguồn nước, hạn chế thiên tai Mất rừng đầu nguồn gây nên nạn thiếu nước trong mùa khô, nhưng lại gây lũ lụt, lũ quét trong mùa mưa Rừng có vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói mòn đất, nhất là xói mòn trên sườn đất dốc, vì thế lớp đất bề mặt được bảo vệ, đồng thời chống được bồi lấp lòng sông, lòng hồ
Lượng giá giá trị của rừng trong phòng hộ đầu nguồn cũng đã được nghiên cứu Giá trị của rừng trong hạn chế xói mòn là rất đáng kể Xói mòn đất ở nơi phát rừng làm rẫy cao gấp 10 lần ở những khu vực có 3 rừng tự nhiên Song song với quá trình xói mòn là
sự tích tụ chất lắng đọng tại các vùng lòng chảo gây ra thiệt hại cho các công trình thuỷ lợi, ước tính khoảng 4USD/ha/năm (xem [14, trang 3]) và các hồ nhân tạo ước tính lên tới
Trang 266 tỷ USD/năm Trong khi đó, nếu được rừng bảo vệ, lợi ích về chống xói mòn, rửa trôi, kiểm soát dòng chảy có thể lên tới 80 USD/ha/năm (xem [13, trang 42])
Tổng quan các nghiên cứu cho thấy: tác động của hệ sinh thái rừng tới BĐKH được thể hiện thông qua các giá trị của rừng, trong đó đặc biệt quan trọng là giá trị hấp thụ và
có liên quan tới khí hậu/ biến đổi khí hậu Nhiều nghiên cứu nhận định rằng việc ứng phó với BĐKH dựa vào hệ sinh thái sẽ là một hướng lựa chọn phù hợp và mang tính bền vững đối các quốc gia, các địa phương và các ngành
1.2.2.3 Ứng phó với Biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái
Thực tiễn hoạt động ứng phó với BĐKH được xem xét trên hai khía cạnh là thích ứng và giảm nhẹ BĐKH:
Thích ứng với BĐKH: Theo IPCC (2001) thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh của
hệ thống tự nhiên hoặc con người để ứng phó những tác động thực tại hoặc tương lai của khí hậu do đó làm giảm tác hại hoặc tận dụng những lợi ích mang lại Trong đó, tăng cường khả năng thích ứng là một phương thức giảm mức độ tổn thương và định hướng
phát triển bền vững
Mục tiêu của thích ứng với BĐKH được đề cập đến hai nội dung chính: (i) nâng cao năng lực thích ứng và giảm nhẹ khả năng dễ bị tổn thương do tác động BĐKH; (ii) tận dụng những lợi ích của môi trường khí hậu để duy trì và phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Mỗi lĩnh vực đều phải thích ứng theo mức độ tác động khác nhau và phù hợp với các điều kiện mới của BĐKH Hơn nữa, thích ứng trong từng lĩnh vực đồng thời phải có
sự thích ứng tổng hợp liên kết với các lĩnh vực khác trong hệ thống tự nhiên - xã hội hay phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh BĐKH (xem [28, trang 354]) Ví dụ, trong lĩnh vực nông nghiệp, sự thích ứng của người nông dân cần được liên kết với sự thích ứng của những các bên cung cấp và tiêu thụ nông sản, những nhà hoạch định chính sách nông nghiệp Do đó, thích ứng cần yêu cầu các đặc điểm sau:
Thích ứng đòi hỏi sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều thành phần và được thực hiện ở các quy mô khác nhau theo một qui trình thống nhất và lâu dài
Thích ứng cần được thực hiện có hiệu quả nhất và phù hợp nhất, không ảnh hưởng, thay đổi đến sinh kế người dân cũng như các hoạt động phát triển kinh tế -
xã hội của khu vực
Trang 27 Thích ứng mang tính chủ động theo ý chí con người nhằm giảm thiểu mức độ tổn thương và hướng tới sự phát triển bền vững
Thích ứng là một quá trình mang tính liên ngành và tính liên vùng rất cao Không một ngành nào, một quốc gia nào hoặc một nhóm quốc gia nào có thể hành động đơn phương trong thích ứng
Giảm nhẹ BĐKH: Theo IPCC (2007) Giảm nhẹ BĐKH là những thay đổi về kỹ
thuật và các giải pháp thay thế nhằm giảm nguồn phát thải khí nhà kính Mặc dù một số chính sách về xã hội, kinh tế và kỹ thuật có thể giảm sự phát thải khí nhà kính, giảm nhẹ BĐKH mang nghĩa thực thi các chính sách nhằm giảm nhẹ khí nhà kính và tăng bể chứa các khí nhà kính
Giảm nhẹ là sự can thiệp của con người nhằm giảm nguồn phát thải hoặc tăng bể chứa các khí nhà kính Ví dụ việc sử dụng năng lượng hóa thạch một cách hiệu quả hơn cho các hoạt động công nghiệp hoặc sản xuất điện, chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời và năng lượng gió) và mở rộng diện tích rừng và các bể
Nhìn chung, các khái niệm giảm nhẹ BĐKH được đưa ra đều tập trung vào 2 mục tiêu chính là giảm nguồn phát thải khí nhà kính và tăng bể chứa khí nhà kính Trong đó, khái niệm giảm nhẹ BĐKH do IPCC (2007) đề xuất là khái niệm đầu tiên tổng quát nhất
và đầy đủ nhất về các mặt của giảm nhẹ cũng như việc thực thi chiến lược giảm nhẹ BĐKH
Có rất nhiều giải pháp giảm nhẹ BĐKH được thực hiện thông qua các cam kết giữa các bên liên quan với UNFCCC và hiệu lực thực thi Nghị định thư Kyoto tháng 2 năm
2005, tuy nhiên điều này vẫn chưa đủ để đảo ngược lại xu thế phát thải khí nhà kính (IPCC, 2007) Kinh nghiệm thực thi ở Châu u cho thấy trong khi các chính sách về BĐKH có thể có hiệu quả thì việc thực thi toàn bộ chính sách và điều phối thường rất khó khăn, đòi hỏi phải bổ sung và cải tiến liên tục (xem [30, trang 441])
Theo Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (2005) dịch vụ hệ sinh thái (HST) là những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con người được hưởng lợi từ các chức năng của hệ sinh thái, bao gồm: (i) Dịch vụ cung cấp (thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu ); (ii) Dịch vụ điều tiết (phòng hộ vùng đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hòa khí hậu ); (iii) Dịch vụ văn hóa (giá trị thẩm mỹ, giải trí và du lịch sinh thái, khoa học và giáo dục ); và (iv) Dịch vụ
hỗ trợ (hình thành đất, điều hòa dinh dưỡng )
Trang 28Giảm áp lực của con người lên hệ sinh thái và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững hơn có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các nỗ lực giảm nhẹ BĐKH và làm giảm tình trạng dễ bị tổn thương do các hiện tượng khí hậu cực đoan Sự suy thoái của các hệ sinh thái đang làm giảm khả năng cung cấp sản phẩm và dịch vụ mà con người
và xã hội đang cần và giảm khả năng chống chịu của chúng trước rủi ro thiên tai Nếu được bảo tồn tốt, dịch vụ hệ sinh thái sẽ đem lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội
Các hệ sinh thái có thể hoạt động như một rào cản tự nhiên chống lại các hiện tượng khí hậu cực đoan, đồng thời làm giảm rủi ro thiên tai Nhưng trong trường hợp bị tác động mạnh (cú sốc) của hiện tượng khí hậu cực đoan, hiện trạng hệ sinh thái có thể bị thay đổi
và những thay đổi đó phụ thuộc vào khả năng chống chịu của hệ sinh thái (xem [28, trang 462])
Các hệ sinh thái và cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái cũng có thể thúc đẩy thích ứng trong điều kiện khí hậu thay đổi làm giảm những áp lực và tác động lên việc cung cấp nước, bảo tồn rừng của các bể chứa cacbon (xem [28, trang 462) Ở Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây đã xem xét mối quan hệ tương hỗ giữa BĐKH và các hệ sinh thái đặc biệt là hệ sinh thái ven biển cũng như đối với hệ sinh thái đất ngập nước Cơ sở khoa học
và những áp dụng cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
và thích ứng với BĐKH ở Việt Nam đã được tổng kết (xem [10, trang 57]), đặc biệt là trong việc áp dụng tiếp cận hệ sinh thái vào các khu đất ngập nước tại Việt Nam Trong những năm gần đây, các chương trình nghiên cứu về thích ứng với BĐKH ít nhiều đã áp dụng cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái
Chính phủ Việt Nam đã sớm xây dựng chính sách và áp dụng thí điểm mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng, bằng việc đưa ra một lộ trình cụ thể, bao gồm những bước nghiên cứu thực tiễn, tổng kết đánh giá đến việc lồng ghép và xây dựng chính sách thông qua triển khai thực hiện nhiều hoạt động và áp dụng thí điểm ở một số địa phương Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng và được áp dụng trên phạm vi toàn quốc đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Sự phát triển chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam là một ví dụ tích cực trong chính sách bảo tồn đa dạng sinh học gắn với chính sách giảm phát thải khí nhà kính Việc lồng ghép dịch vụ hệ sinh thái vào quá trình lập kế hoạch, đặc biệt là đối với vùng đất ngập nước cũng đang được triển khai thực hiện và đạt được những kết quả bước đầu tại đồng bằng sông Cửu Long (xem [28, trang 361])
Trang 29Hiện nay, Việt Nam bắt đầu chú ý đến việc gắn kết bảo vệ rừng, các vùng đất ngập nước, các khu dự trữ sinh quyển và các dịch vụ hệ sinh thái Một số dự án đã thực hiện như chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam, Chương trình 327 và Chương trình 661 Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á (ARBCP), đánh giá tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm chi trả DVMTR
ở tỉnh Lâm Đồng, Sơn La Các chương trình chi trả dịch vụ môi trường biển và đất ngập nước đã được tiến hành như: Dự án thí điểm Khu bảo tồn biển Hòn Mun, Nha Trang, Việt Nam
Trang 30CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
1 Phân tích mối quan hệ giữa chi trả DVMTR, quản lý bảo vệ rừng và BĐKH tại tỉnh Lào Cai;
2 Phân tích hiện trạng, những thuận lợi và những khó khăn, bất cập trong việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Lào Cai;
3 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc thực hiện chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai trong thời gian tới;
2.2 Phương pháp luận nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách tiếp cận hệ thống để xem xét vai trò và các mối liên hệ giữa các bên liên quan trong việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lào Cai
Khái niệm về tiếp cận hệ thống: Theo cuốn từ điển bách khoa Việt Nam 4 (2005) có
đề cập: Tiếp cận hệ thống là cách xem xét đối tượng trong hệ thống như một hệ toàn vẹn phát triển động, trong quá trình sinh thành thông qua giải quyết những mâu thuẫn bên trong, do những tương tác hợp quy luật giữa các thành tố của hệ Vạch ra được bản chất toàn vẹn của hệ thống qua việc phát hiện ra được: a) cấu trúc của hệ, b) quy luật tương tác giữa các thành tố của hệ, c) tính toàn vẹn (tính tích hợp) Thuộc loại phương pháp triết học, là sự cụ thể hoá của phép biện chứng duy vật, sự khái quát hoá của các phương pháp điều khiển học
Cách tiếp cận hệ thống sẽ được sử dụng để xem xét và phân tích các mối quan hệ liên đới trong hệ thống các cơ chế chính sách về chi trả DVMTR theo các cấp độ từ Trung ương đến địa phương (TW=> cấp tỉnh=> cấp huyện=>cấp xã=>cấp thôn) Xem xét mối tương tác giữa các cấp chính quyền (theo hướng từ trên xuống và từ dưới lên), cũng như với bên cung ứng và bên sử dụng DVMTR trong tổng thể việc thực hiện triển khai chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai
Trang 31Hình 2.1: Sở đồ mô phỏng các bên liên quan trong PFES
Cách tiếp cận hệ thống sẽ đƣợc sử dụng để nhìn nhận và phân tích các vấn đề liên quan tới chi trả DVMTR thông qua công cụ đánh giá tổng hợp DPSIR (UNEP, 2009): Động lực-Áp lực-Hiện trạng-Tác động-Ứng phó (Driver-Pressure-State-Impact-Response
Cụ thể đƣợc mô phỏng quan sơ đồ sau:
Chi trả DVMTR
Các chính cấp TW
Chính sách cấp tỉnh
Chính sách cấp huyện
Chính sách cấp xã
Bên Sử dụng DVMTR
Bên cung ứng DVMTR
Cty thủy điện
Trang 32(Nguồn: UNEP, 2009)
Hình 2.2: Sơ đồ mô phỏng sơ đồ phân tích DPSIR trong nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nhóm phương pháp thu thập số liệu/thông tin
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Phương pháp này được sử dụng để thu thập các thông tin/tư liệu về vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng, bao gồm: Các chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng, các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các thông tin về lâm nghiệp, Biến đổi khí hậu, điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội của địa phương,
Các thông tin sẽ được thu thập từ các nguồn khác nhau như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài Nguyên Môi trường, Tổng cục lâm nghiệp, Viện điều tra quy hoạch rừng, các tổ chức quốc tế, các sở ban ngành của tỉnh Lào Cai, Cục thống kê,
Hiện trạng quản lý rừng tại Lào Cai Những thuận lợi
PPFES Những khó khăn, vướng mắc
Tác động
- Quản lý tài nguyên rừng: Tốt hơn hoặc xấu hơn?
- Nghèo đói
- Bất công bằng xã hội
- Góp phần ứng phó với BĐKH
Đáp ứng
- Các biện pháp thúc đẩy thực hiện PFES
- Các cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý rừng đầu nguồn
-
Trang 33các phòng ban chuyên môn của huyện (nơi thực hiện nghiên cứu sâu), UBND của các xã nơi thực hiện nghiên cứu, các nguồn dữ liệu thông qua mạng internet,
Phương pháp điều tra, phỏng vấn cộng đồng/hộ gia đình:
Phương pháp này được sử dụng để thực hiện các khảo sát sâu tại cộng đồng, nhằm
có được những thông tin (câu chuyện, hình ảnh, ) cụ thể, rõ ràng ở cấp hộ gia đình và cấp cộng đồng về các vấn đề liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa phương Việc điều tra, nghiên cứu sâu sẽ được tiến hành tại 03 huyện đại diện cho 03 vùng lâm nghiệp khác nhau của tỉnh Lào Cai, bao gồm: Huyện Bảo Yên (nơi có diện tích đất rừng lớn, bao gồm cả rừng phòng hộ và rừng sản xuất), huyện Văn Bàn- nơi là vùng đệm của VQG Hoàng Liên Sơn và khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Văn Bàn, và huyện Bắc Hà-Si Ma Cai-nơi có độ che phủ rừng thấp nhất tỉnh Lào Cai
Đối với phỏng vấn hộ gia đình: Nghiên cứu này đã phỏng vấn tại 5 xã bao gồm: xã Cốc Ly + Lùng Phình-huyện Bắc Hà, xã Lùng Sui-huyện Si Ma Cai,
xã Dần Thàng-huyện Văn Bà, xã Minh Tân-huyện Bảo Yên Tại mỗi xã nghiên cứu này phỏng vấn 15 người/hộ gia đình, tương ứng với 75 người/hộ gia đình trên tổng số 5 xã điều tra Việc phỏng vấn được thực hiện theo hình thức phỏng vấn mở, hạn chế/hoặc không phụ thuộc vào câu hỏi/bảng hỏi chuẩn bị trước
diện cho các nhóm hộ khác nhau (hộ giàu, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ trung bình dựa theo tiêu chuẩn phân loại hộ nghèo của Chính phủ); ii) Đảm bảo các nhóm đối tượng theo độ tuổi và giới tính (thanh niên, trung niên, nam giới, phụ nữ,…); iii) Đảm bảo hộ có rừng đã được hưởng tiền DVMTR và hộ có rừng chưa được được hưởng tiền DVMTR
cho các nội dụng nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra, đó là: Thực trạng việc thực hiện chính sách chi trả DMVTR tại Lào Cai đang diễn ra như thế nào? Nhận thức, sự tham gia và mong đợi của người dân địa phương trong tiến trình thực hiện chính sách chi trả DMVTR ra sao? Những khó khăn, vướng mắc gì đang gặp phải có liên quan tới người dân/cộng đồng trong tiến trình triển khai chính sách chi trả DMVTR
Phương pháp phỏng vấn thông tin viên chủ chốt
Trang 34Phỏng vấn hộ gia đình/phỏng vấn cộng đồng nhằm có được các thông tin về vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng ở cấp cộng đồng, nhận thức của người dân về vấn đề này, nguyện vọng của người dân/cộng đồng trong vấn đề này là gì?,
Việc phỏng vấn thông tin viên chủ chốt (bao gồm chính quyền xã, huyện, tỉnh, các
cơ quan chuyên môn) nhằm: có được một bức tranh chung về hiện trạng việc triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng ở địa phương đang diễn ra như thế nào? các thuận lợi, khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện là gì? các giải pháp/định hướng giải quyết trong thời gian tới của địa phương
Nghiên cứu này đã phỏng vấn đại diện chính quyền của 5 xã (chủ tịch hoặc Phó chủ tịch phụ trách nông lâm nghiệp xã, cán bộ lâm nghiệp xã, một số trưởng thôn) Chủ đề được phỏng vấn liên quan tới công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn xã, nhận thức/hiểu biết và đánh giá về chính sách chi trả DVMTR, những khó khăn và thuận lợi khi triển khai chi trả DVMTR tại địa phương
lâm, phòng nông nghiệp của 3 huyện (tương ứng với 6 đơn vị); Phỏng vấn đại diện quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai, đại diện chi cục lâm nghiệp
và chi cục kiểm lâm tỉnh Lào Cai Ngoài việc thu thập các thông tin từ các báo cáo, tài liệu (từ các đơn vị này), nghiên cứu này đã đi sâu tìm hiểu (thông qua trao đổi) với đại diện các đơn vị này các vấn đề như: Đánh giá về việc triển khai chính sách sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh, những thuận lợi và khó khăn khi triển khai, vấn đề ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách chi trả DVMTR, đánh giá về đóng góp và hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR đối với công ta quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh,…
2.3.2 Nhóm phương pháp phân tích và xử lý thông tin
Các thông tin/số liệu sơ cấp và thứ cấp sau khi thu thập được từ các nguồn khác nhau sẽ được xử lý và phân tích bằng các phương pháp khác nhau:
tổng hợp và phân tích các số liệu mang tích chất thống kê, tổng hợp như các
số liệu về diện tích đất/rừng, số liệu về tài chính trong các hoạt động thu-chi
Trang 35tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, số liệu về các vụ cháy rừng, các vi phạm
về quản lý bảo vệ rừng, các số liệu về thiệt hại do các hiện tượng thời tiết khí hậu cực đoan gây ra… Các số liệu thống kê sau khi được tổng hợp, xử lý và phân tích sẽ được trình bày dưới dạng các bảng biểu, đồ thị trong phân kết quả nghiên cứu và thảo luận
Với các thông tin không mang tính thống kê như: Các bên tham gia trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR, những khó khăn bất cập trong việc triển khai thực hiện chi trả DVMTR, nhận thức, mong đợi/ đề xuất của người dân và các bên liên quan tại tỉnh Lào Cai trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR, Các thông tin không mang tính chất thông kê này đã được phân tích theo hình thức đánh giá các mối quan hệ tương tác liên quan bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc ma trận tương tác,… sau đó sẽ được trình bày tại phần kết quản nghiên cứu và thảo luận
Trang 36CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên-KTXH của tỉnh Lào Cai
Tỉnh Lào Cai là tỉnh vùng cao,
biên giới phía Bắc, có tọa độ địa lý từ
22009’ đến 22052’ vĩ bắc, từ 103031’
- Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam -
Trung Quốc;
- Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang;
- Phía Nam giáp tỉnh Yên Bái;
- Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu
(Nguồn: Sở Tài nguyên môi trường
tỉnh Lào Cai)
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: Nằm trong vùng có
độ cao cao nhất khu vực Đông
Dương, do đó địa hình chia cắt rất
phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh, có hai dãy núi chính, dãy Hoàng Liên Sơn ở phía Tây, dãy Con Voi ở phía Đông, hai dãy cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam, với việc kiến tạo địa hình như vậy đã tạo ra các vùng đất thấp, trung bình ở giữa, kiểu dạng địa hình phía Tây thoải dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và phần phía Đông thoải dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, ngoài ra còn tạo nên các vùng núi thấp phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau
- Khí hậu: Vùng khí hậu lục địa vùng núi cao: gồm các huyện Sa Pa, Bắc Hà và một
số xã vùng cao huyện Mường Khương, Bát Xát, đây là vùng mùa đông rất lạnh, nhiệt độ
cá các huyện còn lại, nhiệt độ trung bình năm từ 230C - 250C
Hình 3.1: Bản đồn hành chính tỉnh Lào Cai
Trang 37- Chế độ mưa: Lào Cai có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; đây là vùng có lượng mưa khá lớn so
- Thủy Văn: Lào Cai là tỉnh nằm trong vùng đầu nguồn của lưu vực hai con sông
lớn: (1) Sông Hồng có lưu vực bao gồm các huyện phía Tây của tỉnh; (2) Sông Chảy có lưu vực gồm các huyện Si Ma Cai, Bắc Hà và một phần diện tích phía Đông huyện Mường Khương, Bảo Yên
Trên lưu vực hai dòng sông chính, còn có hệ thống sông suối dày đặc với hàng nghìn sông, suối lớn nhỏ (trong đó có 107 sông, suối dài từ 10 km trở lên) và được phân
bố khá đều trên địa bàn Theo số liệu điều tra, nguồn nước nguồn ước tính có trữ lượng
Như vậy có thể nhận thấy: Tỉnh Lào Cai có địa hình phức tạp núi cao và bị chia cắt mạnh, có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là về mùa đông, có lương mưa hàng năm tương đối lớn, nhiều sông suối phân bổ ở khắp các huyện Các đặc điểm này, có thể sẽ chịu những thiệt hại lớn khi có những tác động tiêu cực từ các kiểu thời tiết cực đoan như mưa lớn gây lũ quét sạt lở đất, rét đậm rét hại kéo dài, hạn hán
3.1 2 Hiện trạng tài nguyên rừng
Lào Cai có tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là: 638.389,6 ha, trong đó đất quy hoạch lâm nghiệp của tỉnh năm 2010 là: 417.755,14 ha
Đến hết năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp có rừng 327.755,1 ha, trong đó:
- Rừng tự nhiên 258.450,0 ha
- Rừng trồng 69.305,11ha
- Đất trống: 90.000,03 ha
(Nguồn: Quyết định số 3947/QĐ-UBND ngày 31/12/2010)
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã cơ bản được quy hoạch cho các chủ rừng quản lý để tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng, cụ thể như sau:
Có thể nhận thấy: Hiện nay các ban quản lý rừng phòng hộ và UBND các xã đang quản lý một điện tích rừng khá lớn, chiếm đến hơn 70% diện tích đất lâm nghiệp của toàn tỉnh, cụ thể: Ban quản lý rừng phòng hộ các huyện, thành phố quản lý: 156.157,7 ha, UBND xã và các chủ rừng khác quản lý: 145.128,3 ha Diện tích đất lâm nghiệp do nhóm
Trang 38vực tập trung nhiều lực lượng lao
động lâm nghiệp nhất, điều này dễ
dẫn đến xung đột về lợi ích trong
quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Tóm lại: Tỉnh Lào Cai là tỉnh
có thế mạnh về phát triển lâm nghiệp,
với khoảng 2/3 diện tích đất tự nhiên
được quy hoạch cho đất lâm nghiệp
Vì vậy phát triển lâm nghiệp vừa là
một lợi thế, nhưng cũng là yêu cầu bắt
buộc trong chiến lược phát triển của
tỉnh, nhằm hướng đến sự phát triển bền vững Cộng với những đặc điểm về địa hình và thời tiết khí hậu, sẽ là những điều kiện thuận lợi để tỉnh Lào Cai thúc đẩy thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, qua đó đóng góp vào việc quản lý, bảo về và phát triển rừng bền vững, góp phần ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu
3.1.3 Điều kiện KT-XH
Tổng dân số toàn tỉnh đến năm 2009, có trên 615.620 người, dân số thành thị chiếm
cùng chung sống; trong đó, dân tộc thiểu số chiếm 64,05% dân số toàn tỉnh Dân tộc kinh chiếm 35,91% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là dân tộc H’Mông: 22,21%, Tày: 15,84%, Dao: 14,05%, Nùng: 4,4%, còn lại là các dân tộc khác: Dáy, Phù Lá, Mường, Hà Nhì, La Chí, Thái,
Giai đoạn 2006-2009 tốc độ tăng trưởng kinh kế đạt bình quân là 12,91%/năm; thu nhập bình quân đầu người năm 2009, đạt 7,28 triệu đồng/người/năm; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch nhanh, nông lâm nghiệp chiếm 30,78%, Công nghiệp - xây dựng chiếm 34,96%, dịch vụ 34,25% Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 23,02% (Nguồn: Niên giám thống kế tỉnh Lào Cai năm 2009)
Từ đặc điểm trên cho thấy: Lào Cai là tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số và hộ nghèo cao, hầu hết các hộ gia đình là người dân tộc thiểu số và hộ nghèo sinh sống ở các khu vực vùng núi/ vùng sâu/ vùng xa, và có cuộc sống gắn bó trực tiếp với các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Do vậy, để xóa đói giảm nghèo đồng thời gắn với mục tiêu
Hình 3.2: Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý tại tỉnh Lào Cai
Trang 39quản lý, bảo về và phát triển rừng bền vững trên địa bàn tỉnh, cần thiết phải có giải pháp,
cơ chế chính sách để huy động sự tham gia của người dân địa phương (đặc biệt là người nghèo và người dân tộc thiểu số) sống gắn bó với rừng Trong bối cảnh đó, cùng với các chính sách hỗ trợ phát triển lâm nghiệp khác, việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai là thực sự cần thiết
3.2 Thực trạng triển khai chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh Lào Cai
3.2.1 Tình hình xây bộ máy tổ chức và các văn bản pháp luật liên quan
3.2.1.1 Bộ máy tổ chức hoạt động
Để thực hiện triển khai chính sách chi trả DVMTR, tỉnh Lào Cai đã ban hành các văn bản hướng dẫn, đồng thời xúc tiến thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai Theo đó, Quỹ BV&PTR tỉnh Lào Cai được thành lập theo Quyết định số 3719/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh Lào Cai
Hội đồng quả lý Quỹ được UBND tỉnh thành lập tại Quyết định số 466/QĐ-UBND ngày 12/3/2012 Hội đồng gồm có 10 thành viên, trong đó: Phó chủ tịch UBND tỉnh làm Chủ tịch hội đồng, giám đốc sở NN&PTNT làm phó chủ tịch thường trực, 01 phó chủ tịch
hộ đồng kiêm giám đốc Quỹ (chuyên trách); đại diện lãnh đạo các sở, ngành: Tài chính,
Kế hoạch và đầu tư, Tài nguyên và môi trường, Công thương, Văn hóa Thể thao và Du lịch, Cục thuế, Kho bạc nhà nước tỉnh là ủy viên
Trang 40(Nguồn: http://laocaifpdf.vn/574/KenhTinChiTiet/So-do-bo-may.pvd)
Hình 3.3: Sơ đồ Bộ máy tổ chức quỹ BV&PTR tỉnh Lào Cai
Theo mô hình hoạt động này: Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Lào Cai trực thuộc quản
lý trực tiếp từ UBND tỉnh Lào Cai, đây là mô hình tương đối khác so với các tỉnh khác trong cả nước (ở nhiều tỉnh, Quỹ BV&PTR sẽ trực thuộc sở nông nghiệp phát triển nông thôn hoặc chi cục lâm nghiệp) Quỹ BV&PTR tỉnh Lào Cai hoạt động dưới sự quản lý, chỉ đạo điều hành của Hội đồng quản lý quỹ với 01 Phó chủ tịch tỉnh làm chủ tịch hội đồng, các thành viên là đại diện lãnh đạo các sở ngành liên quan như: sở Tài nguyên môi trường, sở Nông nghiệp phát triển nông thôn, sở Tài chính, sở Văn hóa Thể thao và Du lịch…
Hội đồng quản lý quỹ
Sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh
BV&PTR tỉnh Lào Cai
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ
Phòng tổ chức hành chính
Phòng kế hoạch tổng hợp
Phòng kế toán