Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói chung và sự phát triển kinh tế, đô thị hóa ngày càng cao ở Việt Nam nói riêng, việc sản xuất lúa gạo theo mô hình canh tá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG
CỦA SẢN XUẤT LÖA SỬ DỤNG BỘ TIÊU CHÍ NHÓM LÖA GẠO BỀN VỮNG (SRP) TẠI XÃ VIÊN NỘI VÀ VIÊN AN,
ỨNG HÕA, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG
CỦA SẢN XUẤT LÖA SỬ DỤNG BỘ TIÊU CHÍ NHÓM LÖA GẠO BỀN VỮNG (SRP) TẠI XÃ VIÊN NỘI VÀ VIÊN AN,
ỨNG HÕA, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thế Anh
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn tốt nghiệp này, trước hết, tôi
đã nhận được sự chỉ bảo ân cần, dạy dỗ tận tình, sự góp ý thẳng thắn, chân thành của các thầy cô giáo thuộc Khoa sau đại học (nay là khoa các khoa học liên ngành) - Đại học Quốc gia Hà Nội Xin cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành của mình tới quý thầy cô, đặc biệt là những thầy giáo, cô giáo đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và phương pháp làm việc, nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian tôi học tại lớp K1-Khoa học bền vững, Khoa Sau đại học - Đại học Quốc gia Hà Nội
Lời cảm ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi tới TS.Đào Thế Anhlà giáo viên hướng dẫn, thầy đã dành rất nhiều thời giờ quý báu và tâm huyết của mình để hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, tôi xin được cảm ơn lãnh đạo và các đồng nghiệp của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, đơn vị tôi đang công tác hiện nay, đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, phân công và hỗ trợ trong công việc để tôi có thể tham gia khóa học Khoa học bền vững cũng như tiến hành các điều tra, nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè của mình, những người đã luôn bên cạnh, hỗ trợ và động viên tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành khóa học cao học này
Mặc dù tôi đã hết sức cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm, nên luận văn này vẫn còn có nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô, bạn bè đồng môn và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
HỌC VIÊN
Nguyễn Văn Sơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn là của riêng cá nhân tác giả; các số liệu là trung thực; không sử dụng số liệu của các tác giả khác chƣa đƣợc công bố; các kết quả nghiên cứu của tác giả chƣa từng đƣợc công bố
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
HỌC VIÊN THỰC HIỆN LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Sơn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT LÚA GẠO 3
1.1 Cơ sở lý luận và tổng quan về tính bền vững của sản xuất lúa gạo 3
1.1.1 Các khái niệm 3
1.1.2 Tính bền vững trong sản xuất lúa gạo 7
1.2 Tổng quan về tính bền vững sản xuất lúa gạo tại Việt Nam và huyện Ứng Hòa 10
1.2.1 Nghiên cứu về tính bền vững của sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 10
1.2.2 Hiện trạng về sản xuất lúa của huyện Ứng Hòa - Hà Nội 17
1.3 Đặc điểm vùng nghiên cứu liên quan đến sản xuất lúa gạo ở Viên An, Viên Nội - Ứng Hòa - Hà Nội 24
1.3.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 24
1.3.2 Các điều kiện khí hậu liên quan đến sản xuất lúa gạo 33
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp luận 35
2.2.1 Bộ tiêu chí về tính bền vững của nhóm lúa gạo bền vững (SRP) 35
2.2.2 Các chỉ số thực hiện SRP áp dụng tại Viên An, Viên Nội - Ứng Hòa 38
A Các tiêu chí về kinh tế 38
B Các tiêu chí về sinh thái/môi trường 39
C Các tiêu chí về con người 41
2.3 Phương pháp nghiên cứu 43
2.3.1 Phương pháp kế thừa, phân tích, tổng hợp tài liệu 43
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 43
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 45
Trang 6CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA SẢN XUẤT LÚA TẠI CÁC XÃ
VIÊN AN VÀ VIÊN NỘI, ỨNG HÒA 46
3.1 Đánh giá tính bền vững về mặt kinh tế 46
3.1.1 Năng suất lúa 46
3.1.2 Chi phí sản xuất 47
3.1.3 Hiệu quả kinh tế khi áp dụng SRP tại Viên An, Viên Nội 49
3.2 Đánh giá tính bền vững về sinh thái/môi trường 51
3.2.1 Quản lý nước trên đồng ruộng của hai xã 52
3.2.2 Hiệu suất sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 53
3.3 Đánh giá tính bền vững về mặt con người/ văn hoá: Sức khoẻ và an toàn cho người lao động 55 CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO TÍNH BỀN VỮNG TRONG SẢN XUẤT LÚA TẠI XÃ VIÊN AN, VIÊN NỘI 62
4.1 Những khó khăn, thách thức chủ yếu 62
4.2 Khả năng áp dụng bộ tiêu chí SRP trong đánh giá tính bền vững của sản xuất lúa gạo tại hai xã Viên An, Viên Nội 63
4.3 Các giải pháp đảm bảo tính bền vững của sản xuất lúa gạo tại Ứng Hòa 64
4.3.1 Giải pháp về kinh tế: 64
4.3.2 Giải pháp về mặt con người 67
4.3.3 Giải pháp về văn hóa - xã hội 67
4.3.4 Giải pháp về sinh thái/môi trường: 68
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 75
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1.1: Quy mô ngày càng phát triển của SRI tại các tỉnh thành Việt Nam 15
Bảng 1.2 Tổng giá trị sản xuất của huyện Ứng Hoà giai đoạn 2012 - 2015 (giá so sánh 2012) 26
Bảng 1.3 Cơ cấu kinh tế của Ứng Hoà 27
Bảng 1.4 Thu - chi ngân sách và đầu tƣ phát triển 31
Bảng 2.3: Các kỹ thuật áp dụng cho 3 thí nghiệm tại 2 xã Viên An, Viên Nội 45
Bảng 3.2: Năng suất và thành phần năng suất của 3 thí nghiệm vụ mùa xã Viên Nội năm 2016 47
Bảng 3.3: Chi phí đầu vào của 3 thí nghiệmvụ mùa xã Viên An, Viên Nội năm 2016 48
Bảng 3.4: Hoạch toán kinh tế của 3 thực nghiệm vụ mùa xã Viên An năm 2016 50
Bảng 3.5: Hoạch toán kinh tế của 3 thực nghiệm vụ mùa xã Viên Nội năm 2016 50
Bảng 3.7: Dân số trẻ em theo tình trạng đi học và nhóm tuổi 56
Bảng 3.8: Các công việc của trẻ em đang làm chia theo nhóm tuổi 57
Bảng 3.9: Phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp 59
Bảng 3.10: Quyết định các công việc chính trong gia đình 59
Bảng 3.11: Quyết định vay vốn và sử dụng vốn trong gia đình 60
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững 5
Hình 1.2: Phát triển bền vững trong nông nghiệp 14
Hình 1.3: Nguyên lý của sản xuất lúa bền vững 27
Hình 1.4: Bản đồ huyện Ứng Hòa [16 ] 32
Hình 1.5: Vị trí vùng nghiên cứu [16] 33
Trang 9NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSNN : Ngân sách nhà nước
PTBV : Phát triển bền vững
SRP : Sản xuất lúa gạo bền vững
UBND : Ủy ban nhân dân
UNEP : Chương trình Môi trường liên hợp quốc
WCED : Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới
WWF : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế giới
Trang 10Lúa gạo là một trong những cây lương thực chủ yếu của thế giới và là cây trồng chủ lực trong nông nghiệp Việt Na
m Lúa gạo là mặt hàng chiến lược trong sản xuất nông nghiệp, không những chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm qua, hiện nay và cả trong các năm tới
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói chung và
sự phát triển kinh tế, đô thị hóa ngày càng cao ở Việt Nam nói riêng, việc sản xuất lúa gạo theo mô hình canh tác bền vững, vẫn duy trì năng suất, mà không làm hủy hoại tài nguyên đất, tài nguyên nước và không làm ảnh hưởng tới môi trường là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Mỗi quốc gia ở mỗi thời điểm khác nhau đều có những mục tiêu phát triển khác nhau nhưng về lâu dài đều hướng đến phát triển bền vững (PTBV).Vì thế phát triển bền vững là xu thế tất yếu mang tính toàn cầu và là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia.PTBV đòi hỏi sự phát triển hài hòa ở tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường Đối với Việt Nam PTBV luôn là định hướng chiến lược quan trọng.Sản xuất lúa gạo, yêu cầu phát triển hiệu quả và bền vững là vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với ngành sản xuất nông nghiệp lúa gạo nói riêng,
mà còn đối với cả nền kinh tế, nhất là xuất khẩu gạo.Các khái niệm PTBV được đưa
ra nhiều và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, như thường noi phát triển nông nghiệp - nông thôn bền vững, phát triển môi trường bền vững…
Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới trong sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, sản xuất nông nghiệp đã ứng dụng rất nhiều máy móc thay thế sức người Người nông dân ở các địa phương đã đẩy mạnh những giải pháp: mở rộng diện tích trồng lúa, thay thế giống lúa dài ngày năng suất thấp bằng giống lúa ngắn ngày năng suất cao, chống được sâu bệnh, quy trình canh tác phù
Trang 11hợp với từng vùng… Bởi vậy, diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Việt Nam tăng lên một cách nhanh chóng, đặc biệt là Đồng Bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cứu Long; thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ
Kết quả đó là thành tựu to lớn đối với ngành trồng lúa nước ta, song điều đặt
ra không chỉ là việc tiếp tục tăng năng suất mà còn phải tăng cả chất lượng Chất lượng lúa hiện nay đang là một vấn đề nan giải cho các cơ quan quản lý Vì tập quán sản suất của đại bộ phận nông dân dựa theo kinh nghiệm “cha truyền con nối”, vẫn chú trọng đến số lượng hơn chất lượng Người nông dân cũng chưa quan tâm đến an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, giảm phát thải, bảo vệ sức khỏe của người lao động; việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm ảnh hưởng tới chất lượng lúa gạo và gây ô nhiễm môi trường
Để an ninh lương thực, sản xuất lúa gạo vẫn phải tiếp tục phát triển; song
đảm bảo tính bền vững và bảo vệ được môi trường, tác giả chọn đề tài: “Nghiên
cứu, đánh giá tính bền vững của sản xuất lúa sử dụng bộ tiêu chí Nhóm lúa gạo bền vững (SRP) tại xã Viên Nội, Viên An, huyện Ứng Hòa, Hà Nội” Kết cấu
luận văn bao gồm các phần chính sau:
Mở đầu
Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan về sản xuất lúa gạo trong và ngoài nước
Chương II: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Đánh giá tính bền vững của sản xuất lúa theo tiêu chí SRP tại các xã Viên An và Viên Nội, Ứng Hòa, Hà Nội
Chương IV: Các giải pháp phát triển lúa gạo bền vững tại huyện Ứng Hòa Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT LÖA GẠO 1.1 Cơ sở lý luận và tổng quan về tính bền vững của sản xuất lúa gạo
1.1.1 Các khái niệm
Khái niệm về tính bền vững:
Bền vững là một sự duy trì được ( không phải mức độ duy trì) tiềm năng sản xuất của một hệ thống tự nhiên nào đó (một cách lâu dài, ít nhất là vài nhập niên) với một thực tế quản lý cụ thể (cường độ và loại hình hoạt động xã hội và kỹ thuật: năng lượng đưa vào, chất nuôi dưỡng, khác biệt gen, các thủ tục thu hoạch và những thay đổi tuần hoàn theo thời gian) [8]
Tính bền vững được định nghĩa là đặc trưng cho một quá trình hoặc một trạng thái tồn tại có thể được duy trì lâu dài Khái niệm đó không chỉ được các nhà khoa học sử dụng để lý giải tính liên tục và ổn định của các thuộc tính sinh thái mà còn bao gồm cả các thuộc tính kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đạo lý, thể chế, v.v… Một trong những thuộc tính đặc biệt quan trọng của tính bền vững là các điều kiện bền vững hệ thống [Bertalanffy, von Ludwig 1950, 1951, 1968, 1975, 1981] Nhà nghiên cứu ung thư Karl-Henrik Robèrt đã có đóng góp lớn trong việc phát hiện ra phương pháp đánh giá tính bền vững một cách khoa học dựa trên nguyên lý nhiệt động học Chính định nghĩa phát triển bền vững của Uỷ ban Brundtland đã dựa trên kết quả nghiên cứu của ông Theo ông “tính bền vững là đặc trưng cho một quá trình hoặc một trạng thái được duy trì một cách ổn định lâu dài”
Các giá trị cốt lõi của tính bền vững:
-Công bằng về KT: Sinh kế cần thiết, cơ hội cho mỗi người tạo ra nền tảng cơ sở vật chất đầy đủ để có cuộc sống nhân bản, sinh sôi và sáng tạo
-Văn hóa, xã hội: Sự đa dạng về văn hóa, kiến thức truyền thống/bản địa, sáng tạo,
tư duy toàn cầu, hành động địa phương, ; Văn hóa hòa bình thúc đẩy PT kinh tế bền vững, xã hội và dân chủ;
- Phát triển con người: An ninh, nhân quyền và nhu cầu cơ bản, công bằng xã hội,
hệ thống hỗ trợ môi trường sống, sức khỏe con người, điểm mạnh của người Việt
- Bảo vệ môi trường sinh thái: Sự đa dạng của tự nhiên, sinh học, tài nguyên thiên nhiên; khả năng chống chịu và điều kiện hỗ trợ các hệ thống xã hội và con người
Trang 13 Khái niệm về phát triển bền vững
Định nghĩa“Phát triển bền vững” được xuất hiện vào những năm 1970 của thế kỉ XX nhưng mãi cho đến đầu thập niên 80 “Phát triển bền vững” chính thức
được sử dụng trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) và Quỹ bảo vệ động vật hoang dã quốc tế (WWF) với nội dung rất đơn
giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà
còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”
Tuy nhiên khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland (Elliott, 1994:6) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) Kể từ sau báo cáo Brundtland, khái niệm PTBV trở thành một khái niệmđược nhắc tới nhiều, được ví như là một khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề trong phát triển Trong giai đoạn này cũng được xem là giai đoạn mở đường cho "Hội thảo về phát triển và môi trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá được
tổ chức tại Ri-ô đơ Gia-nê-rô (1992), và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Johannesburg (2002)
Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới cũng được gọi là Ủy ban
Brundtland được định nghĩa là: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng
những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng phát triển của các thế hệ tương lai”[15].Đó là sự phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái
tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của
nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ; nó không chỉ là sự hòa giải mối quan hệ kinh tế và môi trường mà còn bao hàm khía cạnh về chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Như vậy ba trụ cột phát triển bền vững là sự kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường
Cho tới nay, khái niện về PTBV trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện PTBV trở thành mục tiêu của thiên niên kỷ
Trang 14Ở Việt Nam, vấn đề PTBV cũng đã được chú ý đến nhiều trong giới nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định đường lối, chính sách Trong mục 4, Điều 3, Luật
bảo vệ môi trường (năm 2014), PTBV được định nghĩa: “Phát triển bền vững là
phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Đây là
định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của PTBV, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam
Khi xã hội ngày càng phát triển đặc biệt là từ khi cách mạng công nghiệp ra đời nó đã thay đổi bộ mặt thế giới, đóng góp những nguồn lực phát triển mới là kỹ thuật và khoa học công nghệ, nó làm thay đổi sâu sắc mối quan hệ giữa con người,
xã hội và tự nhiên Cùng với tốc độ của công nghiệp hóa, nền kinh tế phát triển, quá trình đô thị hóa nhanh, dân số gia tăng, mọi nhu cầu đều gia tăng… tất cả các yếu tố
đó làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác nhiều hơn, mức độ ảnh hưởng cũng trầm trọng hơn Và nếu như các quốc gia chỉ quan tâm đến tăng trưởng mà không chú ý đến mức độ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái thì đó chỉ là sự phát triển vội vã, không mang tính lâu dài, vì nếu trong tương lai khi mà môi trường đã
bị phá hủy, nguồn tài nguyên đã cạn kiệt thì sẽ không còn nguồn lực để phát triển nữa Chính vì thế các nước bây giờ đều đã quan tâm đến việc phải làm gì để phát triển có tính bền vững, tức là sự phát triển cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội
và bảo vệ môi trường
Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững
Trang 15 Nông nghiệp bền vững
Theo định nghĩa của TAC/CGIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường
và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên
Năm 1991, nhóm hoạt động về vấn đề lương thực thuộc Uỷ ban Hợp tác của các tổ chức phát triển Phi chính phủ (NGDOs) ở Cộng đồng châu Âu thống nhất đưa ra định nghĩa như sau: Nông nghiệp bền vững được thiết lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu của người dân cũng như các mặt hạn chế về tự nhiên và điều kiện sinh thái ở một vùng xác định Mục đích là đưa năng suất cây trồng lên mức cao trên cơ sở bền vững và lâu dài mà không huỷ hoại môi trường sống Cần ưu tiên xác định và phát triển các nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phương như nguồn lực lao động, nước, dinh dưỡng… hơn là dựa vào các nguồn đầu tư
từ bên ngoài Điều này không bao gồm việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ các nguồn bên ngoài nhưng cần giảm thiểu mức độ của nó để nó không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên cũng như sức khoẻ và điều kiện kinh tế của cộng đồng Nông nghiệp chỉ thực sự bền vững khi khía cạnh xã hội và văn hoá của những người sử dụng và thụ hưởng được tập trung một cách đầy đủ và các quyết định đều do họ thực hiện
Theo Tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WOED) đã định nghĩa
nông nghiệp bền vững như sau: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả
mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau
Ở Việt Nam nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu được nghiên cứu
từ khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX.Thể hiện cụ thể nhất là quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tướng chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Trong 8 nội dung chính của chương trình hành động thì nội dung thứ 4 đã đề cập đến các nội dung về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
Trang 16Từ việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đó và căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, có thể kết luận rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) là quá trình sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trên cơ sở đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của con người trong trong hiện tại và tương lai và được xã hội chấp nhận
Hình 1.2: Phát triển bền vững trong nông nghiệp
1.1.2 Tính bền vững trong sản xuất lúa gạo
1.1.2.1 Tính bền vững
Hoạt động sản xuất nông nghiệp là những tác động của con người lên các đối tượng thiên nhiên (cây lúa, đất đai…) để tạo ra những sản phẩm nông sản nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Những tác động đó của con người nếu phù hợp với điều kiện, các quy luật của tự nhiên sẽ thúc đẩy sự phát triển của tự nhiên và tạo
ra nhiều sản phẩm có lợi cho con người Ngược lại, nếu các tác động của con người trong hoạt động sản xuất và đời sống không phù hợp với các quy luật của tự nhiên thì thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng Trong những trường hợp như vậy, mọi cố gắng của con người đều vô nghĩa, thậm trí còn gây ra những tác động xấu tới sức khỏe, an ninh, môi trường sống của con người Như vậy, người nông dân và môi trường sinh thái rơi vào tình trạng không an toàn Bởi vậy, nếu không muốn hứng chịu những thiên tai nguy hiểm như hạn hán, sâu bệnh phát thành đại dịch, lũ lụt, ô nhiễm môi trường sinh thái… thì phải tiến hành sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững
Trang 17Chính vì vậy hoạt động sản xuất lúa gạo bền vững không những tạo ra các sản phẩm sạch, không gây hại đến sức khỏe và môi trường cho người tiêu dùng mà còn đảm bảo tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, tăng năng suất lao động và góp phần vào phát triển bền vững của xã hội Do đó, phát triển bền vững lúa gạo được thể hiện qua những đặc điểm cốt lõi như sau:
- Về kinh tế: Sản xuất lúa gạo bền vững phải đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định, hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân trong khu vực sản xuất lúa gạo Người trồng lúa được trả công xứng đáng với chi phí và công sức bỏ ra
-Về văn hóa, xã hội: Củng cố được văn hóa truyền thống của địa phương, duy trì sinh kế người dân gắn với văn hóa trồng lúa truyền thống Tăng tính gắn kết trong cộng đồng địa phương
- Phát triển con người: Quyền lợi và sức khỏe của người nông dân phải được đảm bảo và an toàn
- Bảo vệ môi trường sinh thái: Hoạt động sản xuất lúa gạo bền vững phải ngăn chặn được việc gây ô nhiễm môi trường, lạm dụng hóa chất trong sản xuất
Áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ các nguồn tài nguyên( đất,nước )
1.1.2.2 Sản xuất lúa gạo bền vững
Khái niệm sản xuất lúa gạo bền vững được xây dựng dựa trên các các yếu
tố cấu thành nên tính bền vững của sản xuất lúa gạo và được định nghĩa như sau:
“Sản xuất lúa gạo bền vững là việc khai thác sử dụng nguồn lực hiện tại để tạo ra
sản phẩm lúa gạo của thế hệ hiện nay không làm ảnh hưởng tới khả năng sử dụng nguồn lực đó của thế hệ tương lai”
Để đạt được các mục tiêu theo định nghĩa nói trên, sản xuất lúa gạo bền vững hiện nay cần đạt được một số tiêu chí khác nhau để đảm bảo tính bền vững của sản xuất lúa gạo Một trong số đó có bộ tiêu chí sản xuất lúa gạo bền vững của Nhóm Lúa gạo bền vững (SRP) Sản xuất lúa gạo bền vững (SRP) là một liên minh toàn cầu các bên tham gia do Tổ chức Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) phối hợp với Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) khởi xướng, bắt đầu từ 2011 SRP đẩy mạnh việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, cũng như sự ứng phó với BĐKH trong các hệ thống trồng canh tác lúa - kể cả trên đồng ruộng và xuyên suốt chuỗi giá trị
Trang 18Cánh đồng lúa bền vững (SRP), nhằm đạt được tính bền vững của sản xuất lúa gạo, là sự hợp tác nhiều bên liên quan nhằm thúc đẩy hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững, cả về nông nghiệp và trong suốt chuỗi giá trị lúa gạo SRP đã được đồng thực hiện bởi Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) trong tháng 12 năm 2011, và làm việc trong sự hợp tác với các đối tác trong khu vực nhà nước và tư nhân cũng như cộng đồng các
tổ chức phi chính phủ (NGO)
SRP theo đuổi phát triển chính sách công và các sáng kiến chuyển đổi thị trường tự nguyện nhằm cung cấp cho các cá nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và cộng đồng ngành lúa gạo toàn cầu với tiêu chuẩn sản xuất bền vững và cơ chế tiếp cận cộng đồng, góp phần vào việc tăng cung ứng toàn cầu của giá lương thực, cải thiện đời sống cho người sản xuất (trồng lúa) và giảm tác động môi trường của sản xuất lúa gạo SRP tập trung vào việc phát triển và thử nghiệm các hướng dẫn các thực hành về tính bền vững của sản xuất lúa gạo hiện nay để nhằm đạt phát triển bền vững trong tương lai, các tiêu chuẩn, công cụ và mô hình tiếp cận cộng đồng cho sản xuất lúa bền vững và xử lý, bao gồm các công cụ mang tính quyết định và chỉ số tác động bền vững định lượng Đến cuối năm 2016, mục tiêu SRP để cung cấp chuỗi cung ứng gạo toàn cầu một hệ thống đã được kiểm chứng của tiêu chuẩn bền vững, thực hành, và cơ chế khuyến khích thay thế để tạo thuận lợi cho việc áp dụng rộng quy mô của các thực hành tốt nhất bền vững trong gạo
Sáng kiến này đã có một số phản ứng tích cực từ các nước xuất khẩu khác nhau, chẳng hạn như Việt Nam và Thái Lan, những nước đang phải đối mặt với áp lực cả về bảo vệ môi trường và nâng cao thu nhập của người sản xuất lúa gạo
Chương trình SRP theo đuổi mục tiêu giảm thiểu các tác động môi trường do trồng lúa, chế biến và tiêu thụ lúa gạo gây ra là một trong những yếu tố của tính bền vững của sản xuất lúa gạo Mặt khác cũng chính là nâng cao thu nhập của nông hộ nhỏ trồng lúa và an ninh lương thực [10]
James Lomax, Chủ tịch SRP, cho biết hoạt động của SRP là thực hiện các yếu tố của tính bền vững của sản xuất lúa gạo và chuỗi giá trị lúa gạo, phát huy hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững ngành lúa gạo toàn cầu, thông qua việc thúc đẩy áp dụng bộ tiêu chuẩn toàn cầu và xây dựng hệ thống liên kết chặt chẽ từ nghiên cứu, sản xuất, xây dựng chính sách, đến thương mại và tiêu dùng [10]
Trang 191.2 Tổng quan về tính bền vững sản xuất lúa gạo tại Việt Nam và huyện Ứng Hòa
1.2.1 Nghiên cứu về tính bền vững của sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam, đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh - nền văn minh lúa nước Sông Hồng
Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt.Cây lúa là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc, lúa cũng là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói riêng
và người dân châu Á nói chung Cây lúa, hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của hạt lúa, chỉ có điều, nó được chế biến dưới dạng này hoặc dạng khác [5]
Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát triển dân tộc và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là nền kinh tế chủ yếu của đất nước.Trên thực tế, việc sản xuất ra lúa gạo là một hoạt động kinh tế đứng hàng đầu.Những cánh đồng lúa trải dài từ khắp miền núi, đồng bằng đến cao nguyên, hình thành nên nhiều vùng thâm canh cây lúa Những vựa lúa lớn của nước Việt Nam cả về diện tích, sản lượng và chất lượng có thể kể đến như đồng bằng sông Hồng thuộc khu vực phía bắc, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Nam Bộ [5]
Đồng bằng sông Hồng - một nền văn minh lúa nước đã hình thành từ nghìn năm, gồm 11 tỉnh thành với diện tích tự nhiên khoảng 15.000 km2 được bồi tụ bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình Ðây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, cũng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước.Vùng lúa đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đang có những biến đổi tích cực bước đầu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.Nếu như trước đây, sản xuất lúa ở ĐBSH chú trọng phát triển đáp ứng nhu cầu về số lượng, thì nay nhu cầu không còn là mục tiêu duy nhất.Chính
sự đòi hỏi về chất lượng của người tiêu dùng trong nước cũng như khả năng tham gia xuất khẩu, đang tạo ra những đổi thay ở vựa lúa lớn của các tỉnh phía Bắc này
Vùng lúa chất lượng cao với quy mô dự kiến 300.000 ha đang từng bước được hình thành ở 25 huyện thuộc 5 tỉnh, thành phố gồm Thái Bình, Nam Định, Hải
Trang 20Dương, Hưng Yên và Hải Phòng Theo các chuyên gia, với điều kiện đất đai, khí hậu, kinh nghiệm canh tác của người dân, những vùng đất này hoàn toàn có khả năng sản xuất lúa gạo chất lượng cao phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Diện tích gieo trồng lúa hàng năm ở khu vực này có thể tăng lên 500.000 ha, với sản lượng hơn 3 triệu tấn/năm, chiếm hơn 50% sản lượng thóc của toàn vùng
Trong những năm gần đây, Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới, sau Thái Lan về xuất khẩu gạo Tuy nhiên, thực
tế giá trị thương mại của hạt gạo vẫn chưa cao.Hạt gạo Việt Nam vẫn chưa có được chỗ đứng vững chắc của mình trên thị trường quốc tế so với Thái Lan, Malaysia và chưa thực sự trở thành một thứ hàng hoá có giá trị [4]
Có rất nhiều nguyên nhân như công nghệ chế biến sau thu hoạch của nước ta còn chưa đồng bộ, yếu kém, chưa coi trọng việc phát triển các giống lúa đặc sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu mà mới chỉ tập trung vào việc đạt được sản lượng cao Chính vì vậy, một vài năm gần đây, Nhà nước đã có những định hướng đúng đắn trong việc nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa chất lượng cao, kết quả là tạo được quỹ gen phong phú với nhiều giống lúa mới có giá trị thương phẩm
Sự phát triển rộng rãi của các giống cao sản dần dần đi đến độc canh một vài giống lúa trên một vùng quá rộng lớn đã làm suy giảm sự đa dạng và tính bền vững của hệ sinh thái ruộng lúa, sâu bệnh phát triển mạnh, khả năng phát triển thành dịch của các loại sâu bệnh cũng lớn hơn, lượng sử dụng phân vô cơ và thuốc hoá học bảo
vệ thực vật trên một đơn vị diện tích lớn Đây có thể được coi là một mặt trái của tiến bộ khoa học Cũng chính vì vậy, mà chúng ta cần phải bảo tồn quỹ gen cây lúa, đảm bảo sự đa dạng di truyền loài và dưới loài nhằm tạo nên sự phát triển cân bằng
và bền vững
Trong định hướng phát triển ngành nông nghiệp nói chung và lĩnh vực lúa nói riêng, khâu giống được quan tâm hàng đầu Ngay từ thời mới khai sinh ra nền văn minh lúa nước sông Hồng, nước Việt Nam đã có rất nhiều giống lúa hoang dại.Qua hàng ngàn năm, những giống lúa hoang dại đã được thuần chủng và trở thành những giống lúa truyền thống có giá trị
Tuy nhiên nó bộc lộ nhiều bất cập bởi khả năng kháng chịu sâu bệnh kém, chất lượng không còn đáp ứng được yêu cầu ăn ngon của người dân Những giống
Trang 21lúa mới được chọn tạo trên cơ sở công nghệ sinh học ra đời đã phần nào khắc phục được những nhược điểm đó bằng cách kết hợp với các đặc tính quý của các loại lúa hoang dại và lúa truyền thống.Những giống mới mang lại nhiều sự lựa chọn tốt hơn như các giống kháng sâu bệnh, các giống lúa có thể trồng ở nước mặn và có khả năng chịu hạn tốt hơn trong điều kiện hiện nay
Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã trở thành một trong các nước sản xuất và xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Tuy nhiên việc sản xuất vẫn ở dạng quy mô nhỏ, hoạt động sản xuất lúa gạo cũng gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng do việc lạm dụng phân đạm, thuốc trừ sâu Sản xuất lúa nước trong tình trạng khan hiếm nước gia tăng cũng trở thành một thách thức.[4]
Sản xuất nông nghiệp bị chi phối rất nhiều bởi điều kiện ngoại cảnh.Trong các yếu tố ngoại cảnh đó thì khí hậu là yếu tố tác động trực tiếp và thường xuyên nhất.Trong bối cảnh hiện nay, khí hậu đang bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi thì hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung cụ thể là hoạt động sản xuất lúa sẽ đứng trước nhiều thách thức lớn Sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất phần lớn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu
Sản suất lúa bị ảnh hưởng của nhiều nhân tố như độ ẩm và nhiệt độ, những nhân tố này quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm.Một số nghiên cứu cho thấy, khi nhiệt độ tăng thì đa số là ảnh hưởng xấu đến năng suất lúa, chất lượng lúa Khí hậu thay đổi là một trong những nguyên nhân làm tăng dịch bệnh trên cây lúa Khí hậu làm thay đổi môi trường sống của các loài sinh vật, làm mất đi (làm thay đổi) các mắt xích trong chuỗi thức ăn dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật Nhiệt độ tăng đã dẫn tới mùa đông ấm dần lên, đó là điều kiện tốt cho các loại sâu phát triển nhanh hơn và gây hại mạnh hơn Điều đó dẫn tới nguy cơ tăng các loại thiên địch
Theo báo cáo kiểm kê khí nhà kính quốc gia năm 2010 tại Việt Nam được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực kiểm kê quốc gia khí nhà kính tại Việt Nam” (2010 - 2014) do Cục khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu chủ trì thực hiện với sự hỗ trợ của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) Kết qủa kiểm kê KNK cho năm 2010 tại Việt Nam cho thấy tổng lượng phát thải là 150,8 triệu tấn CO2 trong đó nông nghiệp chiếm 43%, năng lượng chiếm 35%,
Trang 22LULUCF chiếm 10%.Các nguyên nhân chính gây phát thải KNK trong sản xuất lúa tại Việt Nam: Trong sản xuất lúa phát thải CO2 do thói quen đốt rơm rạ sau khi thu hoạch Khí CH4 phát thải từ những cánh đồng lúa thường xuyên ngập nước Sử dụng phân đạm không đúng cách, lãng phí là nguyên nhân gây phát thải khí N2O
Sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của con người mỗi quốc gia Ngành nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt do đối tượng của nó là các sinh vật sống được thực hiện chủ yếu trên đất, tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế Hoạt động nông nghiệp chủ yếu là thực hiện các công việc ở ngoài trời nên chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên và thời tiết Bởi vậy, sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều rủi ro do môi trường tự nhiên đem lại,
và rủi ro về dịch hại được coi là rủi ro lớn và thường xuyên nhất
Để phòng chống dịch bệnh hại mùa màng, để đảm bảo cho sản lượng và năng suất lúa người nông dân phải sử dụng các chất hóa học vì nó mang lại hiệu quả một cách nhanh chóng.Tuy nhiên, một thực trạng ở nhiều vùng trồng lúa là vấn đề bùng phát dịch hại, người nông dân càng dùng nhiều thuốc hóa học thì dịch hại càng bùng phát mạnh.Bên cạnh đó thuốc hóa học còn làm cho ô nhiễm môi trường, hủy hoại hệ sinh thái, gây ngộ độc cho con người do để lại dư lượng lớn thuốc BVTV trong sản phẩm.Việc lạm dụng thuốc BVTV gây hậu quả xấu đến việc PTBV ngành nông nghiệp
Từ việc tìm ra vấn đề sử dụng thuốc BVTV làm mất cân bằng sinh thái, làm hủy diệt mối quan hệ bền vững giữa cây trồng - sâu hại - thiên địch Các nhà khoa học đã định hướng ra một chiến lược phòng chống sâu bệnh, đó là giữ cho được mối quan hệ cân bằng tự nhiên trong hệ sinh thái, cân bằng không tác động các thuốc BVTV
Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là viết tắt từ cụm từ tiếng anh
“Integrated Pests Management”, có nghĩa là quản lý dịch hại một cách tổng hợp hay còn gọi là phòng trừ tổng hợp
Năm 1992 Việt Nam đã chính thức tham gia chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) network Từ đó đến nay có rất nhiều tỉnh đã ứng dụng đại trà chương trình này trong sản xuất, không chỉ sản xuất là mà còn áp dụng trong cả một
Trang 23số loại cây khác như: rau, bông, cây hoa màu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân
Ở Thái Bình, chương trình IPM được chính phủ Vương quốc Đan Mạch tài trợ về kinh phí dưới sự chỉ đạo của Cục bảo vệ thực vật, với chức năng giúp nông dân tự chủ trong sản suất, nâng cao kiến thức cải tiến tập quán canh tác và kỹ năng quản lý đồng ruộng cho bà con nông dân Từ đó giúp bà con nông dân sử dụng có hiệu quả các loại vật tư nông nghiệp trên cơ sở hiểu biết về sinh thái đồng ruộng, tạo điều kiện cho nông dân được chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm sản xuất Giúp bà con nông dân tự điều chỉnh phương thức sản xuất, đồng thời giải quyết tốt các vấn
đề đặc thù của tường địa phương
Người nông dân có thể sản xuất ra nhiều lúa gạo hơn trong khi tiết kiệm được nước, hóa chất, giống và mất ít công lao động hơn Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) đã giúp cải thiện thu nhập, đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường và tăng cường khả năng thích ứng của nông dân với biến đổi khí hậu và tính bền vững của môi trường.Thông qua
đó cải thiện tính bền vững của sản xuất lúa gạo ở Việt nam
Hệ thống thâm canh lúa cải tiến của SRI là hệ thống gồm 5 nguyên tắc giúp cây lúa phát triển một cách tốt nhất (Tuổi mạ - Số lượng dảnh và khoảng cách cấy - Quản lý nước - Quản lý cỏ và sâu bệnh - Quản lý dinh dưỡng)
SRI mới được giới thiệu vào Việt Nam từ năm 2003 và được thí nghiệm ở một số tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc Phương pháp canh tác SRI
đã phát huy hiệu quả, qua các kết quả nghiên cứu các nhà khoa học đã khẳng định biện pháp canh tác lúa theo SRI phù hợp với đồng ruộng Việt Nam
Đến vụ Đông Xuân năm 2011 số nông dân tại Việt Nam đã có kinh nghiệm
về việc áp dung SRI trong sản xuất lúa Có thể dễ dàng nhận thấy rằng SRI đã giúp tăng hiệu quả kinh tế và có tiềm năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 24Bảng 1.1: Quy mô ngày càng phát triển của SRI tại các tỉnh thành Việt Nam
SRI đến với nông dân 3 tỉnh Hòa Bình, Hà Nội, Quảng Nam qua các hoạt động lồng ghép IPM (Quản lý dịch hại tổng hợp) do Cục bảo vệ thực vật triển khai
2 2003 - 2005 SRI được áp dụng trên quy mô 2-5 ha ở 12 tỉnh thuộc Bắc Bộ, Bắc
Trung Bộ và Nam Trung Bộ, thu hút sự tham gia của 3.450 nông dân
3 2005 - 2006
SRI nhận được sự ủng hộ và tham gia của nhiều chương trình, dự
án Quốc tế, của các tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước
Với sự hỗ trợ của tổ chức Oxfam, Chi cục BVTV Hà Tây (cũ) đã phối hợp với HTX nông nghiệp xã Đại Nghĩa triển khai mô hình Cộng đồng ứng dụng SRI Huyện Mỹ Đức là huyện ứng dụng SRI đứng đầu trong toàn tỉnh, năm 2008 huyện đã áp dụng được 800
ha, các huyện khác xây dựng mô hình từ 100 ha -200 ha (theo Báo điện tử Hà Tây)
Kết quả của mô hình là cơ sở quan trọng để Bộ NN và PTNT ra Quyết định số 3062/QĐ-BNN-KHCN ngày 15/10/2007 công nhận SRI là tiến bộ kỹ thuật và khuyến khích áp dụng rộng rãi mô hình, trong đó các tỉnh có thể tiếp cận ngân sách hỗ trợ mở rộng mô hình
5 2009 Số nông dân áp dụng SRI là 264.000 người với diện tích áp dụng
SRI là 85.422 ha
6 2010 Số nông dân áp dụng SRI là 817.939 người với diện tích áp dụng SRI là 151.311 ha
7 2011 Số nông dân áp dụng SRI là 1.070.384 người với diện tích áp dụng
SRI là 185.065 ha
Nguồn: Oxfam
Thực tế đã chứng minh SRI có hiệu quả vượt trội so với phương pháp canh tác thông thường (canh tác lúa theo kiểu truyền thống) nhằm đạt được tính bền vững của sản xuất lúa gạo Lúa khỏe, ruộng thông thoáng, ít sâu bệnh.Tiền lãi tăng trung bình trên 2 triệu đồng/ha, giá thành/kg thóc giảm 342 đồng đến 520 đồng, tiết kiệm được khoảng 1/3 lượng nước tưới
Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) cùng với Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) đã hợp tác xây dựng Chương trình Sản xuất Lúa gạo Bền vững (SRP) và đưa ra khuyến nghị ứng dụng toàn cầu từ 2011
Trang 25Diễn đàn này hiện có 31 thành viên, bao gồm Bộ Nông nghiệp của các nước sản xuất lúa gạo hàng đầu thế giới, các tập đoàn nông nghiệp lớn, các tổ chức chứng nhận quốc tế, các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, các NGO Phía Việt Nam có 2 thành viên tham gia là Bộ NN & PTNT và Tập đoàn Lộc Trời (tiền thân là Công tycổ phần BVTV An Giang) là đơn vị đầu tiên của VN tham gia ứng dụng Bộ tiêu chuẩn 46 điểm của Chương trình SRP này
Tuy ở tầm thế giới cách làm này cũng chưa dày kinh nghiệm, nhưng vẫn hy vọng với sự tham gia đa biên, nhất là sự sáng tạo của nông dân, sự tham gia của khu vực tư nhân, các NGO, các trung tâm nghiên cứu & đào tạo, nghề trồng lúa của chúng ta sẽ thoát khỏi những bế tắc lưu niên để đủ sức cạnh tranh, đạt thứ hạng
xứng đáng, chứ không chỉ bán lúa thô, giá thấp, nông dân thiệt như hiện nay
Ngày 25-1-2016, tại An Giang, Tập đoàn Lộc Trời phối hợp cùng Diễn đàn lúa gạo bền vững (SRP) thuộc Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), tổ chức hội thảo triển khai áp dụng bộ tiêu chuẩn quốc tế SRP về sản xuất lúa gạo bền vững Tại đây, ông James Lomax, Chủ tịch của SRP, cho biết: “Hiện Việt Nam và 8 nước khác trên thế giới được chọn triển khai sản xuất lúa gạo theo tiêu chuẩn quốc
tế SRP [10]
Bộ tiêu chí SRP là bộ tiêu chuẩn đầu tiên trên thế giới về sản xuất lúa gạo bền vững với 46 tiêu chí và 8 vấn đề, hướng tới việc sản xuất lúa gạo hiện đại và bền vững như: Quản lý tốt đồng ruộng, sử dụng nguồn tài nguyên nước hợp lý, quản
lý sâu bệnh, quản lý dinh dưỡng, giảm thất thoát sau thu hoạch, nhấn mạnh các yếu
tố kinh tế- xã hội, môi trường với tầm nhìn bền vững; bộ tiêu chí cũng quan tâm đến
an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn sức khỏe cho người lao động, người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm lúa gạo chất lượng cao… Đến cuối năm 2016, diễn đàn lúa gạo thế giới sẽ cung cấp các bộ công cụ cho các bên tham gia bao gồm: các tiêu chuẩn, các hướng dẫn, các công cụ phân tích, các modul tập huấn, các mô hình, các
cơ chế trợ cấp phụ giúp[10]
Wyn Ellis, chuyên gia SRP cho rằng, thực hiện tiêu chuẩn SRP sẽ giúp hoạt động sản xuất lúa gạo có được 3 lợi ích quan trọng: Nông dân thực hành hiệu quả hơn, tiếp cận được chuỗi cung ứng minh bạch, việc sản xuất sạch giúp đảm bảo các yếu tố về y tế và môi trường Nhà sản xuất kiểm soát được chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, giảm thiểu rủi ro, gia tăng mức độ thu hồi sản phẩm Nâng cao
Trang 26thương hiệu, tăng cường lòng tin của khách hàng, nâng cao quyền thương lượng đối với nhà bán lẻ và nghiễm nhiên sẽ bán được sản phẩm với giá cao hơn.Từ đó đã góp phần cải tạo tính bền vững của sản suất lúa gạo
Tham gia sản xuất lúa gạo theo tiêu chuẩn SRP sẽ là cơ hội lớn cho lúa gạo Việt Nam vươn xa trên thị trường thế giới Đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để lúa gạo Việt Nam tiếp cận với nền sản xuất hiện đại, tiên tiến; tiếp cận với những đối tác lúa gạo hàng đầu Khi đạt được chứng nhận SRP, thì hạt gạo Việt Nam sẽ được tổ chức này giới thiệu đi nhiều nước trên thế giới, nâng tầm hạt gạo Việt Nam và giá bán cũng tăng lên Đồng thời, tăng sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thế giới
Tháng 10 năm 2015, gạo của giống lúa Lộc Trời 1 gửi đi đấu xảo tại Malaysia đã nằm trong Top 3 (các loại gạo ngon nhất thế giới).Cuộc đấu xảo được
tổ chức bởi The Rice Traders (Hiệp hội các nhà xuất nhập khẩu gạo thế giới) và Viện Hàng hóa quốc tế ICI Cũng theo ông Chín, còn có 3 giống lúa khác cũng vừa được Bộ Nông nghiệp -Phát triển nông thôn công nhận và cho sản xuất thử là Lộc Trời 2, Lộc Trời 3, và Lộc Trời 4 [23]
Tóm lại là SRP tích hợp các yêu cầu, ai tham gia, có "tín chỉ' của nó là có vị thế Ngược lại, vi phạm nó thì cả ngành lúa-gạo của 1 quốc gia cũng bị ảnh hưởng
Để nó vận hành xuôi xẻ hay không thì Chính phủ các nước phải lo cải thiện môi trường Với một LHQ thì chính sách của mỗi Chính phủ cũng được soi xét minh bạch, khách quan
1.2.2 Hiện trạng về sản xuất lúa của huyện Ứng Hòa - Hà Nội
1.2.2.1 Diện tích gieo trồng và năng suất
Ứng Hòa là một huyện thuần nông, đồng ruộng chủ yếu là vùng chiêm trũng nên sản xuất nông nghiệp của huyện gặp rất nhiều khó khăn cho bà con nông dân.Với diện tích đất nông nghiệp hơn 10.000 ha, việc tìm hướng đi nhằm khai thác triệt để tiềm năng của địa phương được lãnh đạo huyện Ứng Hòa đặc biệt quan tâm
Phó Chủ tịch UBND huyện Ứng Hòa Hoàng Thị Vân Anh cho biết: "Khắc phục
tình trạng ruộng đất manh mún để tạo ra các ô thửa lớn, xây dựng các vùng chuyên canh cho hiệu quả kinh tế cao, huyện Ứng Hòa luôn xác định công tác dồn điền đổi thửa phải gắn với đảm bảo quy hoạch, kết hợp với chỉnh trang đồng ruộng và tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, bền vững" Đến năm
Trang 272014 toàn huyện đã dồn đổi được hơn 5.200 ha, đạt 93,2% theo kế hoạch Điều đó còn được thể hiện ở cơ cấu giống cây trồng có sự thay đổi rõ rệt, ngày càng có nhiều giống lúa mới, năng suất cao, chất lượng tốt được đưa vào sản xuất
Theo báo cáo kế hoạch sử dụng đất - báo cáo kinh tế của huyện Ứng Hòa năm 2015 cho thấy: Tổng diện tích gieo trồng năm 2014 là 24.695 ha, tăng 513 ha
so với năm 2013 Tổng sản lượng quy thóc đạt 131.994 tấn
Sản xuất vụ xuân: Tổng diện tích sản xuất vụ xuân là 11.246 ha, trong đó diện tích sản xuất lúa xuân là 10.640, giảm 212 ha so với năm 2013 lúa chất lượng cao là 3.963 ha Năng xuất lúa bình quân đạt 64,99 tạ/ha, sản lượng 69.145,0 tấn
Sản xuất vụ mùa: Tổng diện tích sản xuất vụ mùa là: 10.915 ha Diện tích sản xuất lúa là 10.421 ha, giảm 413 ha so với năm 2013 Diện tích cây màu 494 ha, giảm 53,0 ha so với năm 2013 Diện tích lúa chất lượng cao 4.358 ha, năng suất lúa bình quân đạt 56,35tạ/ha, sản lượng đạt 58.722 tấn
Tổng diện tích cây vụ đông đạt 2.534 ha, đạt 61% kế hoạch, trong đó diện tích đậu tương đạt 1.474 ha, ngô 345 ha, khoai lang 95 ha, lạc 27,0 ha, rau các loại 549,0 ha, các cây khác 44,0 ha
Toàn huyện có 3 xã sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao quy mô tập trung
từ 100 ha trở lên.Đồng thời, huyện cũng có chính sách hỗ trợ đối với các vùng sản xuất lúa chất lượng cao có diện tích gọn vùng từ 20 ha trở lên.Tạicác vùng ven Đáy, một số cây ăn quả giá trị kinh tế cao như cam Canh, bưởi Diễn, chanh đào, táo, chuối tiêu hồng đã được đưa vào sản xuất thay thế các cây rau màu hiệu quả thấp Toàn huyện có hơn 38ha cây ăn quả tại các xã Phù Lưu, Đồng Tiến, Sơn Công
Bên cạnh đó tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp của huyện Ứng Hòa đạt khá cao.Toàn huyện hiện có 557 máy làm đất các loại, tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất đạt 100% diện tích Số máy phun thuốc trừ sâu là 183 chiếc, tỷ
lệ cơ giới hóa đạt 35,3% Diện tích lúa được tuốt bằng máy đạt 70% Bên cạnh cây lúa, huyện chủ trương đẩy mạnh trồng cây vụ Đông, từng bước đưa vụ Đông trở thành vụ chính nhằm nâng cao thu nhập cho người dân
Hệ thống thủy lợi đã cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh, tưới tiêu chủ động đạt 95% Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Trang 281.2.2.2 Cơ cấu giống, thời vụ sản xuất lúa ở Ứng Hòa
Cơ cấu giống
Vụ xuân: Khang dân18; Q5; VS1; VT13; XI23
Vụ mùa: KD18, VS1, Thiên ưu 08, BC15, TBR45, RVT, Nếp cái hoa vàng
Thời vụ
Vụ xuân: Xuân sớm gieo mạ từ 25/11 - 05/12, cấy 25/12 - 5/1
Xuân muộn gieo mạ từ 20 - 30/1, cấy 5 - 15/2
Theo phương án kế hoạch sử dụng đất năm 2015 đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt, diện tích đất nông nghiệp trên toàn huyện còn 12.686,60 ha Kết quả thực hiện đến ngày 31/12/2015 là 12.727,02 ha, còn 40,42 ha chưa thực hiện, đạt 99,68% Cụ thể:
- Năm 2014, diện tích đất trồng lúa là 11.170,78 ha; diện tích được duyệt đến năm 2014 là 10.908,91 ha, đạt 97,66% Như vậy, đến nay, diện tích đất lúa chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp chưa thực hiện hết, còn 261,87 ha do một số công trình không thực hiện được như đất chợ, đất cơ sở sản xuất kinh doanh, đất phát triển hạ tầng… Đặc biệt các công trình có diện tích lớn như cụm công nghiệp Bắc Vân Đình,
- Diện tích đất trồng cây hàng năm khác được phê duyệt là 341,13 ha; đến năm 2015 thực hiện được 330,91 ha, vượt chỉ tiêu là 10,22 ha, đạt 103,09%
- Diện tích đất trồng cây lâu năm được duyệt đến năm 2015 là 106,50 ha, năm 2015 thực hiện là 121,95 ha, còn 15,45 ha chưa thực hiện, đạt 87,33%
- Diện tích đất nuôi trồng thủy sản được duyệt đến năm 2015 là 1.210,63 ha; năm 2015 đạt 1.025,47 ha, đạt 118,06%, vượt chỉ tiêu được duyệt là 18,06%
Trang 29- Diện tích đất nông nghiệp khác được phê duyệt là 119,43 ha, đến năm 2015 thực hiện là 77,91 ha, vượt chỉ tiêu là 41,52 ha, đạt 118,06%
Như vậy, việc chuyển mục đích sử dụng trong nhóm đất nông nghiệp trong giai đoạn vừa qua chưa đạt chỉ tiêu quy hoạch đã đề ra, trong đó một số loại đất như đất lúa, đất trồng cây lâu năm chưa đạt chỉ tiêu, ngược lại một số loại đất như đất trồng cây hàng năm còn lại, đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây hàng năm còn lại vượt chỉ tiêu đề ra
Bảng 1.2 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 đã được phê
duyệt
TT Chỉ tiêu sử dụng đất
DT kế hoạch được duyệt năm 2015 (ha)
Kết quả thực hiện
Ước thực hiện đến 31/12/2015 (ha)
So sánh Tăng (+) Giảm (-) (ha)
Tỷ lệ (%) Đất nông nghiệp 12.686,60 12.727,02 40,42 99,68
Nguồn: Báo cáo kế hoạch sử dụng đất huyện Ứng Hòa, năm 2015
Về nguồn nhân lực lao động
Hiện nay, nguồn nhân lực lao động của ngành nông nghiệp chủ yếu là người nông dân, nguồn nhân lực lao động trong nông nghiệp còn gặp rất nhiều thuận lợi
và khó khăn Cơ cấu lao động trong ngành nông nghiệp so với nguồn nhân lực lao động ở các ngành khác trong nền kinh tế vẫn chiếm tỷ trọng cao
Theo số liệu thống kê, năm 2013 dân số của Ứng Hoà là 190.679 người, chiếm khoảng 3,0% tổng dân số của Thủ đô Hà Nội Trong giai đoạn 2009-2013, tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng tăng, năm 2009 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là
Trang 300,98% thì năm 2013 tăng lên 1,01%, tỷ suất sinh của Ứng Hoà trong giai đoạn 2009-2013 tương đối ổn định, năm 2009 là 16,7 % thì năm 2013 vẫn là 16,7 %
Cơ cấu dân số theo giới tính, kể từ năm 2009 đến nay, tỷ lệ nam luôn thấp hơn tỷ lệ nữ, tỷ lệ nam luôn ở mức từ 48 - 48,23% trên tổng số dân số Một trong những nguyên nhân là nhiều nam thanh niên đi học tập và lao động ở các tỉnh và huyện khác Cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn, tỷ trọng dân số thành thị tăng nhanh kể từ năm 2010 đến nay (thành thị từ 12.897 năm 2010 lên 13.442 năm 2013; Nông thôn 169.968 năm 2010 lên 177.237 năm 2013) (Chi tiết tại bảng 1.3)
Bảng 1.3 Dân số, cơ cấu giới tính và cơ cấu dân số thành thị - nông thôn
Năm Tổng số Phân theo giới tính
Tỷ lệ phân theo thành thị,
nông thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn
Nguồn: Niêm giám thông kê huyện Ứng Hoà
Dân số thành thị tăng nhanh là do dân số ở thị trấn Vân Đình tăng do kết quả phát triển tương đối nhanh của các ngành công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn huyện Tuy nhiên
so với mức bình quân chung của Thành phố Hà Nội thì tỷ lệ dân số ở thành thị của Ứng Hoà còn rất thấp
Trang 31Cơ cấu tuổi và giới tính của nguồn nhân lực phản ánh tình trạng nhân khẩu
và kinh tế xã hội của huyện trong những năm qua, đồng thời là kết quả của công tác dân số
Kết quả điều tra cho thấy, năm 2013 số người trong độ tuổi từ 0-14 tuổi chiếm 21,5% tổng dân số, số người trong đội tuổi lao động (nam: 15-60, nữ từ 15-55) là 125.312 người, chiếm 65,7% tổng dân số, số người già (trên 60 tuổi) là 24.374 người chiếm 12,8%, (bảng 1.4)
Bảng 1.4 Cơ cấu dân số chia theo tuổi của huyện Ứng Hoà năm 2013
Nguồn: Trung tâm Dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Ứng Hoà
Nhìn chung số người trong độ tuổi lao động của huyện tăng cả số tuyệt đối (nhưng mức tăng hàng năm sẽ giảm dần), tỷ trọng lao động trên tổng dân số dự báo đến năm 2015 là 64,8% và năm 2020 là 63,5% Nguyên nhân của tình trạng này là
do trong thời gian qua huyện làm tốt công tác dân số, đặc biệt là biến đổi cơ học về dân số, lao động đi khỏi huyện luôn lớn hơn lao động đến huyện làm việc
Tuy nhiên, với tỷ lệ lao động trên tổng dân số như vậy thì Ứng Hoà vẫn có tỷ
lệ lao động trên tổng dân số vẫn ở mức cao Đặc biệt là cơ cấu lao động của Ứng Hoà tương đối trẻ và đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng Theo tính toán của các chuyên gia, Ứng Hoà nói riêng và của Việt Nam nói chung thì cơ cấu dân số vàng sẽ tồn tại khoảng 30 năm Điều này cho phép Ứng Hoà đẩy nhanh phát triển kinh tế- xã hội Trong thời kỳ này, nếu Ứng Hoà không có chủ trương, chính sách phù hợp về giáo dục, đào tạo, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực thì sẽ mất cơ hội và khó có thể xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của huyện Đây là một yêu cầu cấp bách, đòi hỏi Ứng Hoà cần phải có những chính sách hợp lý nhằm tạo đột phá trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nhìn chung, dân số trong độ tuổi lao động của Ứng Hoà trong những năm vừa qua tăng nhanh và còn tiếp tục tăng trong những năm tới, tuy nhiên mức tăng
Trang 32có xu hướng giảm Đây vừa là lợi thế vừa là gánh nặng cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nếu Ứng Hoà biết phát huy lợi thế này, đầu tư nâng cao chất lượng toàn diện về cả thể lực, trí lực, tâm lực và tạo được nhiều việc làm mới cho lao động thì đây sẽ là lợi thế rất lớn của huyện trọng việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, xoá đói, giảm nghèo Ngược lại, nếu không thực hiện tốt vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp sẽ là áp lực lớn đối với sự phát triển của huyện, gây lãng phí sức lao động
Về tài nguyên văn hóa - nhân văn
Ứng Hoà mang đặc trưng vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng gắn liền với nền văn minh lúa nước, tập quán sản xuất nông nghiệp có từ lâu đời do vậy trong huyện có tới 131 điểm di tích lịch sử văn hoá công nhận Một số di tích đáng chú ý là: đình Hoàng Xá - di tích lịch sử thời Lê, bảo tàng chiếc gậy Trường Sơn, bảo tàng khu Cháy - quê hương vùng an toàn khu xứ uỷ Bắc Kỳ… Ngoài ra, còn có một số làng nghề truyền thống: làng dệt vải màn xã Hoà Xá, làng mây tre đan ở xã Trường Thịnh, Quảng Phú Cầu, Sơn Công Các làng nghề này không chỉ duy trì nét truyền thống trong văn hoá mà còn tạo thêm công việc cho người lao động nhất là trong những lúc nông nhàn, đồng thời tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống
Về tình hình kinh tế
Là huyện thuần nông, điểm xuất phát thấp, huyện Ứng Hòa thời gian gần đây đã tập trung chuyển đổi cơ cấu kinh tế kết hợp với khôi phục ngành nghề truyền
đồng, đạt 100,34% kế hoạch so với năm 2012 tăng 5,7% (theo giá so sánh 2010),
Trang 331.3 Đặc điểm vùng nghiên cứu liên quan đến sản xuất lúa gạo ở Viên An, Viên Nội - Ứng Hòa - Hà Nội
1.3.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu
Vị trí địa lý
Huyện Ứng Hoà nằm ở phía Nam của TP Hà Nội, có toạ độ địa lý: 20038’đến 20043’ vĩ độ Bắc và từ 1050 54’ đến 1050 49’ kinh độ Đông Huyện Ứng Hòa có
28 xã và 01 thị trấn Vân Đình, có đường ranh giới giáp với các địa phương:
- Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai
- Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên
- Phía Nam giáp huyện Kim Bảng (Tỉnh Hà Nam)
- Phía Tây giáp sông Đáy, huyện Mỹ Đức
Về địa hình
Ứng Hòa là huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của thành phố Hà Nội Là huyện nằm trong vùng sông Hồng, có điều kiện khí hậu đa dạng biến đổi theo thời gian trong năm, mang đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm
2 mùa rõ rệt Bởi vậy phải phân bố được giống cây trồng, con vật nuôi tương đối thích hợp với điều kiện tự nhiên, cơ cấu phân bố ngành nghề cho phù hợp với từng địa phương, quy hoạch các vùng sản xuất tập trung cho phù hợp với từng vùng, khí hậu, thủy văn… để khai thác đối đa các tiềm năng, các lợi thế, hạn chế tối đa các rủi
ro mang tới; đồng thời cũng không ngừng tái tạo tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ mội trường sinh thái
Ứng Hoà có dạng địa hình đồng bằng, có độ dốc từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Độ cao so với mực nước biển trung bình đạt ÷ 1,6 m Theo đặc điểm địa hình, lãnh thổ huyện Ứng Hoà có thể được chia làm 2 vùng:
- Vùng ven sông đáy gồm 13 xã là những xã nằm dọc sông Đáy: Viên An, Viên Nội, Cao Thành, Sơn Công, Đồng Tiến, Thị trấn Vân Đình, Vạn Thái, Hòa Xá, Hòa Nam, Hòa Phú, Phù Lưu, Lưu Hoàng, Hồng Quang Các xã vùng ven sông Đáy thường trồng cây công ngiệp ngắn ngày phía ngoài đê và trồng lúa phía trong đê
- Vùng vàn và trũng gồm 16 xã: Hoa Sơn, Trường Thịnh, Quảng Phú Cầu, Liên Bạt, Phương Tú, Tảo Dương Văn, Trung Tú, Đồng Tân, Minh Đức, Kim Đường, Đông Lỗ, Đại Hùng, Đại Cường, Hòa Lâm, Trầm Lộng, Đội Bình Do điều
Trang 34kiện địa hình vàn thấp và trũng, không được phù sa bồi đắp hàng năm nên đất đai có
Ứng Hoà có tổng diện tích đất tự nhiên là 18.375,25 ha, trong đó đất nông nghiệp là 12.730,16 ha, chiếm 69,27% tổng diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp
là 5.608,72 ha, chiếm 38,30%
Thời gian qua, quá trình đô thị hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đất nông nghiệp có xu hướng giảm nhẹ, từ 12.809 ha năm 2009 xuống còn 12.730 ha vào năm 2015.Đất phi nông nghiệp có xu hướng gia tăng mạnh, từ 5.566 ha năm 2011 tăng lên 5.609 ha năm 2015
Hầu hết toàn bộ diện tích đất của huyện được sử dụng vào các mục đích kinh tế, dân sinh.Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp, chỉ khoảng 667m2/người và 1.296 m2/lao động nông nghiệp Hiện hệ số sử dụng đất nông nghiệp của Ứng Hoà tương đối cao, khoảng 2,5 lần Vì vậy, để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp và tăng năng suất lao động, nhất thiết Ứng Hoà phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa vào sử dụng những loại giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao và năng suất cao Hầu hết diện tích đất của Ứng Hoà được tạo thành từ nguồn phù sa Sông Hồng, có độ phì cao, rất tốt cho việc trồng trọt, đặc biệt là các loại cây lương thực, rau và cây ăn quả
Về kinh tế
Thời gian qua, kinh tế của Ứng Hoà mặc dù đã có sự chuyển biến song mức tăng trưởng kinh tế còn ở mức thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện tăng nhanh liên tục qua các năm, từ 6.417.179 triệu
Trang 35đồng năm 2012 lên 7.433.141 triệu đồng năm 2015 (tính theo giá cố định năm 2012) Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2012 - 2015 là 5,2%/năm, trong đó ngành nông nghiệp tăng 6,14%/năm, công nghiệp- xây dựng tăng 2,61 %/năm và dịch vụ tăng 6,8 %/năm
Bảng 1.2 Tổng giá trị sản xuất của huyện Ứng Hoà giai đoạn 2012 - 2015
(giá so sánh 2012)
Tốc độ tăng BQ/năm
Nguồn: Niêm giám thống kê huyện Ứng Hoà các năm 2012- 2015
Cơ cấu kinh tế của huyện, ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng trong tổng giá trị liên tục giảm năm
2012 tỷ trọng của khu vực này là 36,92% thì năm 2013 là 33,29%; tỷ trọng của khu vực thương mại - dịch vụ giảm, năm 2012 là 25,52% thì đến năm 2015 là 23,9%
Trang 36Tỷ trọng nông nghiệp tăng, năm 2012 là 37,56% thì đến năm 2015 chiếm 42,81%, (bảng 1.3)
Bảng 1.3 Cơ cấu kinh tế của Ứng Hoà
Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội huyện Ứng Hoà các năm 2012 - 2015
Qua bảng trên cho thấy, mặc dù có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song nhìn chung kinh tế của Ứng Hoà vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, thể hiện ở chỗ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng giá trị Nếu so với cơ cấu kinh
tế của toàn Thành phố Hà Nội thì Ứng Hoà vẫn có sự khác biệt rất lớn Cụ thể, cơ cấu kinh tế của Thành phố Hà Nội năm 2015: tỷ trọng khu vực dịch vụ là 52,5%, khu vực công nghiệp - xây dựng là 41,4% và khu vực nông nghiệp chỉ có 6,1%
Do vậy, để muốn phát triển phù hợp với xu thế phát triển của Thành phố Hà Nội trong thời gian tới Ứng Hoà cần phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện
Thời gian qua, các ngành kinh tế của Ứng Hoà phát triển cụ thể là:
- Về nông nghiệp, thuỷ sản:
Sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản phát triển tương đối cao, có sự chuyển biến quan trọng về cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp Giá trị nông nghiệp năm 2015 đạt 2.850 tỷ đồng Tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2011 - 2015là 6,6%/năm Sản xuất nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hoá, chất lượng
Trang 37hàng hoá được nâng lên, ngày càng đáp ứng tốt với nhu cầu của thị trường Tỷ trọng ngành chăn nuôi và thuỷ sản trong tổng giá trị nông nghiệp tăng nhanh, tỷ trọng giá trị ngành trồng trọt giảm mạnh, đến nay chỉ còn 41,8% trong tổng giá trị nông nghiệp Mô hình kinh tế trang trại của huyện phát triển tương đối nhanh, toàn huyện
có 127 trang trại, vườn trại với tổng diện tích 298 ha, đặc biệt là huyện đang chuyển dần diện tích trồng lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản và trồng các cây ăn quả có hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của huyện chưa đáp ứng được với yêu cầu đặt ra, thiếu tính bền vững, chưa tạo ra được những vùng sản xuất hàng hoá tập trung hiệu quả cao, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp còn rất thấp
UBND huyện đã tập trung chỉ đạo làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho lúa (như phun phòng thuốc trừ sâu, diệt chuột, diệt ốc bươu vàng…), công tác tiêm phòng dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, phun, thuốc sát trùng, rắc vôi bột diệt trùng, tiêu độc để phòng trừ dịch bệnh Đẩy mạnh công tác làm thủy lợi nội đồng, tập trung đầu tư nâng cao hiệu quả và năng lực tưới tiêu của các công trình thủy lợi Thực hiện hiệu quả phương án phòng chống bão, lũ lụt bảo bệ sản xuất Huyện Ứng Hòa vốn là một huyện thuần nông, với cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn (chiếm 40,9%) Vì vậy vấn đề sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp đã và đang là vấn đề tạo ra những thách thức cho công tác quản lý môi trường tại địa phương
- Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển được duy trì ổn định Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn huyện có 98 doanh nghiệp và 5500 cơ sở sản xuất với khoảng 13.500 lao động
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã góp phần làm tăng GDP của huyện, giải quyết nhiều việc làm Đặc biệt giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh, đến hết năm 2015 giá trị sản xuất hàng hàng công nghiệp của huyện đạt 2832 tỉ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 11,5 %/năm Trên địa bàn huyện đã và đang hình thành, phát triển các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ Toàn huyện có 87 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó có
Trang 3820 làng nghề đã được công nhận Huyện đang xây dựng cụm công nghiệp Bắc Vân Đình với quy mô 50 ha và 2 điểm công nghiệp làng nghề ở Quảng Phú Cầu với diện tích 4,5 ha
Mặc dù tốc độ tăng trưởng công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp tương đối cao (11,5%/năm giai đoạn 2011 -2015), nhưng nhìn chung quy mô sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện còn nhỏ bé Trình độ kỹ thuật công nghệ còn thấp, trang thiết bị lạc hậu, năng suất thấp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm không cao Cơ cấu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn chủ yếu tập trung vào một số ngành nghề như chế biến lương thực- thực phẩm, sửa chữa cơ kim khí, tái chế vật liệu, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ gia dụng, dệt may Những hạn chế này đòi hỏi trong thời gian tới Ứng Hoà cần phải tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và phát triển mạnh công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Để làm được điều này, Ứng Hoà cần phải có sự đột phá về chất lượng nguồn nhân lực
- Về thương mại- dịch vụ:
Trong những năm qua, lĩnh vực thương mại- dịch vụ phát triển khá nhanh Tổng mức bản lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2015 trên địa bàn huyện đạt trên 1723 tỉ đồng, tốc độ tăng bình quân là 12,2% Thị trường được mở rộng, hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển đa dạng và phong phú với sự góp mặt của các thành phần kinh tế, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của khu vực thương mại tư nhân Các hoạt động thương mại- dịch vụ của huyện đã từng bước cung ứng được vật tư sản xuất
và hàng hàng hoá tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và tiêu dùng của huyện Một số sản phẩm xuất khẩu của huyện đã bước đầu khẳng định được thương hiệu trên thị trường như tre đan, tăm hương Đầu tư, cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại được nâng cấp và mở rộng, hệ thống chợ, hệ thống các cửa hàng, trung tâm thương mại phát triển mạnh, hiện toàn huyện có 31 chợ, trong đó 6 chợ xây dựng kiên cố được công nhận đạt tiêu chuẩn của Bộ Công thương, trong đó có 1 chợ đầu mối trung tâm, 1 siêu thị
Dịch vụ du lịch bước đầu được đầu tư mở rộng, nâng cấp một số cơ sở hạ tầng các điểm du lịch Hệ thống tài chính ngân hàng của huyện phát triển khá tốt,
Trang 39vừa huy động được tiền nhàn rỗi trong dân, vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế và góp phần giảm nghèo trên địa bàn huyện Các tổ chức dịch vụ tài chính không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng mở rộng hoạt động
Dịch vụ giao thông vận tải phát triển khá tốt.Toàn huyện có 6 cơ sở làm dịch vụ vận tải (1 doanh nghiệp tư nhân, 1 hợp tác xã và 4 công ty cổ phẩn).Dịch vụ vận tải về cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá và đi lại của nhân dân
- Về hạ tầng kinh tế kỹ thuật:
Trong những năm qua, trên địa bàn huyện đã đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng hệ thống giao thông, phát triển mạng lưới điện, thông tin liên lạc, công trình thuỷ lợi theo hướng liên thông và kết nối với các huyện khác của thành phố Hà Nội, tạo thành một hệ thống thông suốt để phục vụ phát triển kinh tế- xã hội và cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong huyện Các tuyến trục đường giao thông liên tỉnh kết nối huyện Ứng Hoà với bên ngoài được đầu tư nâng cấp, bước đầu tạo điều kiện giao lưu kinh tế thương mại thông suốt và thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện.Thời gian qua, huyện đã xây dựng nâng cấp một số tuyến đường tỉnh lộ, liên huyện và đường giao thông liên xã, đường dân sinh thôn
Mạng lưới bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc tiếp tục được mở rộng
và hiện đại hoá Toàn huyện hiện có 1 cơ sở bưu điện trung tâm huyện cấp II, 6 bưu cục cấp III và 23 điểm bưu điện - văn hoá xã, đảm bảo thông tin liên lạc kết nối trong phạm vi huyện, xã và thông suốt trong thành phố và cả nước Sử dụng Internet ngày càng phổ biến trong các cơ quan, doanh nghiệp, trường học
Nhìn chung kết cấu hạ tầng trong thời gian qua của Ứng Hoà phát triển tương đối tốt, song so với yêu cầu phát triển, nhất là trong điều kiện Hà Tây sáp nhập với Hà Nội thì còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của huyện
- Về thu, chi ngân sách và huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế-
xã hội:
Trang 40Do điều kiện kinh tế còn thấp nên nguồn thu ngân sách trên địa bàn huyện rất thấp Năm 2011 tổng số thu chỉ đạt 58.071 tỷ đồng, năm 2013 là 78.258 tỷ đồng
và năm 2015 là 103.337tỉ đồng Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội hàng năm trên địa bàn huyện liên tục tăng Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011 là 265.630 tỉ đồng, năm 2015 lên tới 619.450 tỉ đồng Tổng số vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn huyện trong 5 năm 2011 - 2015 đạt 1.952 tỉ đồng (bảng 1.4)
Bảng 1.4 Thu- chi ngân sách và đầu tư phát triển
Nguồn: UBND huyện Ứng Hoà
Qua số liệu thống kê trên cho thấy, tốc độ đầu tư phát triển của Ứng Hoà tương đối cao, góp phần quan trọng làm tăng trưởng kinh tế của huyện Tuy nhiên, đầu tư cho phát triển chưa tương xứng với yêu cầu, còn thiếu những công trình, dự
án có mức đầu tư lớn Nếu so với mức bình quân chung của Thành phố Hà Nội thì đầu tư của Ứng Hoà vẫn còn ở mức thấp