ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH NGUYỄN LAN PHƯƠNG NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG VIỆC DUY TRÌ BỀN VỮNG HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN CẤP NƯỚC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN LAN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG VIỆC DUY TRÌ BỀN VỮNG HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN CẤP NƯỚC VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG XÃ DIỄN YÊN, HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN LAN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG VIỆC DUY TRÌ
BỀN VỮNG HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN CẤP NƯỚC VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
XÃ DIỄN YÊN, HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG
Mã số: chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Hoàng Bá Thịnh
Trang 3HÀ NỘI –2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Hoàng Bá Thịnh, không sao
chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách Các dữ liệu lấy từ các Báo cáo khảo sát nền, Báo cáo tiến độ các quý của dự án từ năm 2012 đến 2015 và đã được sự cho phép của Trung tâm quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Nguyễn Lan Phương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ
trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường
xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” đã được hoàn thành tại Khoa Các
khoa học liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội tháng 1 năm 2017 Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, học viên đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Học viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Hoàng Bá Thịnh
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn Học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Các khoa học liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội và toàn thể các thầy cô giáo đã giảng dạy lớp Khoa học bền vững – Khóa 1, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho học viên trong thời gian học tập cũng như khi thực hiện luận văn
Học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các anh chị đang làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn, Ban quản lý dự
án Cấp nước và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nghệ An, UBND xã Diễn Yên, các thành viên Ban nước sạch và vệ sinh xã cùng Đội tuyên truyền viên xã Diễn Yên đã hỗ trợ và cung cấp các thông tin và số liệu khảo sát hộ gia đình trong vùng
dự án hàng quý và hàng năm
Bên cạnh đó, học viên cũng xin gửi lời cảm ơn tới các chuyên gia xã hội học Nguyễn Thị Khánh Hòa, chuyên gia đào tạo và truyền thông Nguyễn Thị Hà, chuyên gia về Giới Lê Thị Mộng Phượng của đoàn Tư vấn hỗ trợ thực hiện dự án Cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn vùng miền Trung đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn của học viên
Do thời gian cũng như điều kiện thực hiện còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót H ọc viên rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Lan Phương
Trang 6MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NCERWASS Trung tâm quốc gia Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn PCERWASS Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn cấp tỉnh
M&E Giám sát và đánh giá
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
PRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
O&M Vận hành và bảo dưỡng
WSCC Ban nước sạch và vệ sinh xã
TK-TD Tiết kiệm – tín dụng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 54
DANH MỤC VIẾT TẮT 65
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 2
4 Dự kiến những đóng góp của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Một số lý thuyết tiếp cận 9
1.2 Tổng quan tài liệu 15
1.2.1 Các nghiên cứu trên Thế giới 15
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 21
1.3 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 31
2.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Cách tiếp cận 31
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 36
3.1 Thực trạng vai trò tham gia của phụ nữ tại Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 36
3.1.1 Vai trò của phụ nữ trong quá trình chuẩn bị dự án 36
3.1.2 Vai trò của phụ nữ trong quá trình thực hiện dự án 43
3.1.3 Vai trò của phụ nữ trong trong giai đoạn kết thúc dự án 56
3.2 Các yếu tố tác động đến vai trò của phụ nữ tại Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 65
Trang 83.2.1 Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam 65
3.2.2 Nhận thức của cán bộ quản lý và cộng đồng 65
3.2.3 Sự đa dạng về văn hóa và hệ tư tưởng phong kiến 65
3.2.4 Trình độ học vấn, nhận thức, khả năng giao tiếp của phụ nữ 66
3.3 Giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.66 3.3.1 Giải pháp 1: Xây dựng cơ chế tham gia cho phụ nữ 68
3.3.2 Giải pháp 2: Lồng ghép truyền thông trong các hoạt động đoàn thể 69
3.3.3 Giải pháp 3: Nâng cao chất lượng tham gia của phụ nữ 69
3.3.4 Giải pháp 4: Nâng cao quyền làm chủ và kiểm soát công trình của phụ nữ 70 3.3.5 Giải pháp 5: Tăng cường sự tham gia của cả nam và nữ giới vào các hoạt động phát triển tại cộng đồng 70
3.3.6 Giải pháp 6: Tập huấn và đào tạo nâng cao năng lực cho cả nam giới và nữ giới 71 3.3.7 Giải pháp 7: Tập huấn và nâng cao năng lực về giới cho các cán bộ của các cơ quan quản lý dự án 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 80
PHỤ LỤC 1 Hướng dẫn phỏng vấn sâu 80
PHỤ LỤC 2 Bảng hỏi khảo sát hộ gia đình 82
PHỤ LỤC 3 Bảng thu thập thông tin cấp xã 91
PHỤ LỤC 4 Giấy xin xác nhận đồng ý cho sử dụng số liệu của dự án 95
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Vị trí xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 25
Hình 3 1 Số hộ vay vốn từ quỹ tín dụng vệ sinh quay vòng lũy kế đến hết quý 4/2014 45
Hình 3 2 Giờ trao đổi, thảo luận nhóm trên hội trường 55
Hình 3 3 Đại diện nhóm tham gia tập huấn trình bày kết quả thảo luận 55
Hình 3 4 Nhà máy nước đã đưa vào vận hành 56
Hình 3 5 Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước máy sau khi Nhà máy nước đi vào hoạt động tại thời điểm quý 4/2015 59
Hình 3 6 Số hộ sử dụng các loại hình nhà tiêu hợp vệ sinh trong khu vực dự án 60
Hình 3 7 Tỷ lệ phụ nữ tham gia ngày thứ 7 xanh năm 2015 63
DANH MỤC BẢNG Bảng 2 1 Số lượng người được phỏng vấn 34
Bảng 3.2 Khả năng chi trả nước tiêu thụ theo giới tính của chủ hộ 38
Bảng 3.3 Phụ nữ đảm nhiệm các công việc liên quan đến nước và vệ sinh (%) 39
Bảng 3.4 Tần suất rửa tay bằng xà phòng 40
Bảng 3.5 Các kênh người dân mong muốn nhận được thông tin nhiều nhất (%) 42
Bảng 3.6 Hoạt động của Quỹ tín dụng vệ sinh quay vòng 45
Bảng 3.7 Tình hình tiếp cận nước hợp vệ sinh trong giai đoạn thực hiện dự án 46
Bảng 3.8 Tình hình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh trong giai đoạn thực hiện dự án 47
Bảng 3.9 So sánh sự cải thiện về nhận thức thực hành hành vi vệ sinh và sức khỏe của công đồng trong giai đoạn thực hiện dự án với giai đoạn chuẩn bị dự án(%) 48
Bảng 3.10 Tỷ lệ phụ nữ tham gia trong các đơn vị của dự án(%) 49
Bảng 3.11 Phụ nữ nhiệt tình tham gia các hoạt động CBA-IEC trong giai đoạn thực hiện dự án 50
Bảng 3.12 Phụ nữ tham gia các khóa tập huấn nâng cao năng lực của dự án 53
Bảng 3.13 Kết quả bài kiểm tra trước và sau khóa tập huấn về Chính sách an toàn xã hội về Giới và Tái định cư (23-24/4/2014) 54
Bảng 3.14 So sánh Hoạt động của Quỹ tín dụng vệ sinh quay vòng trong gia đoạn kết thúc dự án với các giai đoạn khác 57
Bảng 3.15 So sánh tình hình tiếp cận nước hợp vệ sinh trong giai đoạn kết thúc dự án với giai đoạn thực hiện (%) 58
Bảng 3.16 So sánh tình hình tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh trong giai đoạn kết thúc dự án với giai đoạn thực hiện 59
Bảng 3.17 So sánh sự cải thiện về nhận thức thực hành hành vi vệ sinh và sức khỏe của công đồng trong giai đoạn kết thúc dự án với các giai đoạn khác (%) 61 Bảng 3.18 So sánh tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động CBA-IEC trong gia đoạn kết thúc dự án với giai đoạn thực hiện dự án 62 Bảng 3.19 Phụ nữ tham gia các khóa tập huấn và đào tạo nâng cao năng lực của dự án64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm qua, nhất là trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kể về bình đẳng Giới Tuy nhiên, sự phân biệt về Giới vẫn còn phổ biến trong mọi mặt cuộc sống Khoảng cách về Giới vẫn còn rất sâu rộng trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, cơ hội kinh tế, quyền lực và tiếng nói chính trị Thực tế cho thấy, bất bình đẳng giới làm chậm bước tiến trình phát triển Nhận thức được vấn đề đó từ vào thập niên cuối của thế kỷ 20 , huy động sự tham gia của người dân (trong đó có phụ nữ, người nghèo và trẻ em) đã trở thành một nội dung quan trọng trong các chương trình và dự án phát triển, đặc biệt là trong các chương trình và dự án của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế Giới (Worldbank), Tổ chức hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA), Cơ quan Phát triển Quốc tế Ốtxtrâylia (AUSAID), Cơ quan Phát triển Quốc tế Canađa (CIDA),
Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA), Đặc biệt, các dự án cấp nước và
vệ sinh nông thôn tại các nước đang phát triển được các tổ chức trên tài trợ trong một vài thập kỷ qua cho thấy mối quan hệ giữa vai trò tham gia của phụ nữ với mức độ thành công của dự án và sự bền vững trong việc duy trì các hiệu quả mà dự án đem lại
Trong quá trình phát triển của Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ, đảm bảo bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Tuy nhiên, công tác đấu tranh vì bình đẳng giới và trao quyền hay phát huy vai trò của phụ nữ tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập đặc biệt là tại những nơi mà nguồn lực tiếp cận còn hạn chế hay bị ảnh hưởng nặng nề bởi yếu tố văn hóa như miền núi và nông thôn Khoảng 15 năm lại đây, cùng với sự nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc xoá đói, giảm nghèo, các tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) đã đưa vào các vùng nông thôn nghèo rất nhiều dự án/ chương trình, với mục đích hỗ trợ các cộng đồng nghèo phát triển kinh tế – xã hội bền vững Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng: không phải tất cả các chương trình/ dự án trên đều mang tính phát triển bền vững Một trong nhiều nguyên nhân gây ra tính thiếu bền vững của dự án là: dự án chưa xem xét thấu đáo đến yếu tố giới trong quá trình thực hiện; chưa xác định đúng vai trò tham gia và hưởng lợi của phụ nữ và nam giới trong dự án, chưa đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến quan hệ giữa nam giới và phụ nữ, để từ đó có hướng cải thiện tốt hơn cho mỗi giới
Trang 11Qua quá trình tham gia thực hiện Dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ngay từ khâu chuẩn bị đến khi kết thúc dự án, tác giả nhận thấy một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của dự
án cấp nước và vệ sinh môi trường là vai trò tham gia của phụ nữ Phụ nữ là những người đi lấy nước, vận chuyển, sử dụng và quản lý nước ăn, thực hiện các hoạt động
vệ sinh trong gia đình và ngoài cộng đồng là chính Do vậy khi phụ nữ tham gia vào
dự án sẽ giúp cho dự án đáp ứng được đúng nhu cầu của người hưởng lợi Thông qua việc tham gia các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực, quỹ tiết kiệm tín dụng, giám sát hoạt động xây dựng và vận hành công trình cấp nước hay các hoạt động giữ gìn vệ sinh tổng thể tại dự án giúp chị em nâng cao trình độ, có điều kiện cải thiện đời sống,
tự tin góp tiếng nói của mình trước cộng đồng và bảo vệ môi trường sống
Xuất phát từ tính cấp thiết nói trên và sự nhận thức sâu sắc về tiềm năng của
phụ nữ, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu là “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và
vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định vai trò của phụ nữ tại dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, tỉnh Nghệ An
- Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, tỉnh Nghệ An
3 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Trang 12Giả thuyết nghiên cứu
- Phụ nữ được tham gia trực tiếp vào các hoạt động trong vòng đời của dự án (chuẩn bị dự án, thực hiện dự án, kết thúc dự án) và góp phần duy trì bền vững hiệu quả của dự án cấp nước và vệ sinh
- Quan niệm về giới, phong tục tập quán, văn hóa vùng miền và trình độ, nhận thức của phụ nữ là những yếu tố cản trở phụ nữ phát huy vai trò của mình trong việc tham gia các hoạt động của dự án
- Truyền thông, tập huấn nâng cao năng lực và trao quyền sẽ phát huy vai trò của phụ nữ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, tỉnh Nghệ An
4 Dự kiến những đóng góp của đề tài
- Đóng góp các giải pháp để phát huy vai trò của phụ nữ một cách hiệu quả hơn trong các dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn
- Đóng góp vào việc nghiên cứu thực hiện chiến lược quốc gia về nước sạch và
vệ sinh
Trang 13Giới tính là chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ (điều 5, giải thích từ ngữ,
Luật bình đẳng Giới 2006) Trong lĩnh vực Xã hội học về Giới, giới tính đề cập đến những khác biệt sinh học căn bản nhất giữa đàn ông và đàn bà, khác biệt về cơ quan sinh dục và khả năng sinh sản (Hoàng Bá Thịnh, 2008)
Giới được hiểu là cấu trúc xã hội và văn hóa, liên quan đến tương quan vị trí
của nam và nữ (Razavi & Miller 1995) hay Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam
và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội (điều 5, giải thích từ ngữ, Luật bình đẳng Giới 2006) Trong lĩnh vực Xã hội học về Giới, khái niệm Giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi và sự mong đợi mà xã hội quy định cho mỗi giới Những quy định xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có sự khác biệt giữa các
xã hội (Hoàng Bá Thịnh, 2008) Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa giới là kết quả của các ý tưởng được xây dựng mang tính xã hội về hành vi, hành động và đóng vai trò thực thi giới tính đặc thù (WHO)
Công bằng giới là sự đối xử công bằng với cả nam giới và phụ nữ Để bảo đảm
có sự công bằng, luôn phải có nhiều biện pháp để điều chỉnh những khuyết thiếu của lịch sử và xã hội mà đã cản trở phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội dưới hình thức này hay hình thức khác Công bằng sẽ dẫn tới sự bình đẳng
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau; được tạo điều kiện
và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình
và thụ hưởng như nhau của sự phát triển đó (Luật bình đẳng giới 2006)
Trang 14- Về Quyền: Cả hai giới đều có quyền như nhau trong việc ra quyết định, bầu cử, thừa kế và các quyền khác;
- Về Cơ hội tham gia vào các hoạt động xã hội, và được tạo điều kiện để tham gia tốt nhất;
- Không có sự phân biệt nào về cơ hội tiếp cận đến các nguồn lực cho sự phát triển;
- Về Vị thế: phụ nữ có địa vị bình đẳng và không lệ thuộc vào nam giới, ý kiến của cả hai giới đều đươc xem trọng;
- Về Hưởng lợi: Bình đẳng trong chia sẻ phúc lợi là thành quả của sự phát triển
Định kiến giới là nhận thức của mọi người trong xã hội về những gì mà phụ nữ
và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với tư cách họ là nam hay nữ Có nhiều biểu hiện khác nhau về định kiến giới song phổ biến hơn cả là những quan niệm về đặc điểm, tính cách và khả năng của phụ nữ và nam giới Ví dụ: Nam giới thì mạnh mẽ, độc lập, quyết đoán Phụ nữ thì rụt rè, tình cảm, bị động Nam giới thì giỏi về kỹ thuật hay sáng tạo Phụ nữ thì thiên về các hoạt động xã hội và công việc
tỉ mỉ Định kiến giới có tác động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nhân và quan niệm của những người xung quanh Những đặc điểm liên quan đến nam giới và nữ giới thường dập khuôn và mang tính cố định, được lặp đi lặp lại qua các thế hệ , do đó nam giới và nữ giới không có sự lựa chọn nào khác (Lê Thị Quý, 2009)
Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ
những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được
xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường (https://vi.wikipedia.org)
Vai trò: Theo từ điển Xã hội học, vai trò là một trong số ít khái niệm xã hội học
được chấp nhận và vận dụng rộng rãi Tuy nhiên, vai trò là một trong số ít khái niệm không rõ nét và đa nghĩa Lý thuyết vai trò được “phát triển từ hai hướng tiếp cận của một quan sát xã hội học vi mô và của một quan sát xã hội học vĩ mô” và bề mặt khoa học được hình thành như là một bộ phận của một tiếp cận “Lý thuyết hành động – Tương tác” và của một tiếp cận “lý thuyết hệ thống chức năng” Có thể hiểu vai trò là một “tập hợp những kỳ vọng ở trong xã hội gắn với các hành vi của những người mang các địa vị khác nhau” (Ralf Dahrendorf, 2002) Nhà nhân học Ralph Linton, đã
có công đầu trong việc xây dựng nội dung xã hội học của khái niệm vị thế và vai trò
Trang 15Ông định nghĩa, vị thế được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa trừu tượng, vị thế là một
vị trí trong một khuôn mẫu tương tác nhất định Theo nghĩa này, một người hay một nhóm người có nhiều vị thế do tham gia nhiều khuôn mẫu hành vi Theo nghĩa cụ thể,
vị thế của một người là tập hợp tất cả những vị thế mà người đó nắm giữ trong các mối tương tác xã hội Do đó theo hai nghĩa này vị thế xác định vị trí cụ thể của một người trong những mối tương tác xã hội với những người khác và vị thế tổng hợp xác định vị trí của người đó với tổng thể xã hội (Ralph Linton, 1956) Tuy nhiên, khái niệm vị thế chỉ nói đến xuất phát điểm của hành vi chứ chưa nói đến mặt hoạt động của nó Khái niệm vai trò mới nói đến mặt động thái của hành vi Một vị thế xã hội cụ thể thông thường có một số các vai trò, người ta gọi là tập hợp các vai trò Có các vị trí khác nhau thì mức độ phức tạp của các vai trò gắn liền với chúng cũng khác nhau Một cá nhân ở một vị trí cụ thể luôn có nhiều quan hệ liên quan, trong đó có vai trò chính và vai trò phụ Những vai trò của một cá nhân ở một vị trí cụ thể không mâu thuẫn nhau
mà chúng có quan hệ tương tác nhau, giúp các cá nhân đó thể hiện được vai trò tổng quát của mình Vậy có thể hiểu rằng: Vai trò là những gì mà một cá nhân phải làm để giữ vị thế của mình có giá trị, là những hành vi mà xã hội mong chờ, kỳ vọng một
cá nhân thực hiện phù hợp với vị thế xã hội của họ Như vậy, các cá nhân và nhóm người thông qua vị thế và vai trò gắn kết với nhau và gắn kết với toàn bộ xã hội
Vai trò giới: Là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ
liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó
Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội Theo Lê Thị Quý (2009) phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau:
- Vai trò sản xuất là bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền
hoặc hiện vật để tiêu thụ hoặc trao đổi Ví dụ: công việc đồng áng, làm công nhân, làm thuê, buôn bán, viên chức
- Vai trò tái sản xuất ( sinh sản, nuôi dưỡng) bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi
con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động (không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn cả chăm lo, duy trì lực lượng lao động hiện tại
và lực lượng lao động trong tương lai)
Trang 16- Vai trò cộng đồng: bao gồm các công việc thực hiện ngoài cộng đồng nhằm
phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người Ví dụ như tham gia Hội đồng nhân dân, tham gia các cuộc họp xóm, bầu cử, làm vệ sinh đường làng ngõ xóm, quyên góp, vận động kế hoạch hóa gia đình Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng Có lúc nó đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và thường không nhìn thấy ngay được
Cả nam và nữ đều có khả năng tham gia vào cả ba loại vai trò trên Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, phụ nữ hầu như đều phải đảm nhiệm vai trò tái sản xuất đồng thời cũng phải tham gia tương đối nhiều vào các hoạt động sản xuất Gánh nặng công việc gia đình của phụ nữ cản trở họ tham gia một cách tích cực và thường xuyên vào các hoạt động cộng đồng Kết quả là, đàn ông có nhiều thời gian và cơ hội hơn để đảm nhận vai trò cộng đồng và rất ít khi tham gia vào các hoạt động tái sản xuất
Sự hiểu biết sâu sắc về vai trò giới giúp chúng ta thiết kế các hoạt động phù hợp cho cả nam và nữ, từ đó thu hút được sự tham gia một cách hiệu quả của họ và đồng thời góp phần làm giảm sự bất bình đẳng trên cơ sở giới trong việc phân chia lao động xã hội Thực tế cho thấy sự phân công lao động trong một xã hội nhất định thường có xu hướng dựa vào đặc điểm giới tính Theo đó, công việc đảm nhiệm có tác động tới vị thế của mỗi người, cơ hội và chất lượng sống của họ Khi xem xét vai trò giới chính là xem xét phụ nữ và nam giới trong 3 vai trò: vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng
Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong
một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến Thực chất, Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật (https://vi.wikipedia.org)
Dự án phát triển: là những dự án được xây dựng nhằm phục vụ cho đời sống
của một bộ phận hay cộng đồng dân cư
Dự án phát triển nông thôn là các dự án đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau
để phát triển kinh tế xã hội ở các khu vực nông thôn nhằm nâng cao đời sống vật chất
và văn hóa của nhân dân
Trang 17Hệ thống cấp nước tập trung hoàn chỉnh là một hệ thống bao gồm các công
trình khai thác, xử lý nước, mạng lưới đường ống cung cấp nước sạch đến khách hàng
sử dụng nước và các công trình phụ trợ có liên quan (Nghị định 117/2007/NĐ-CP)
Công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn (gọi tắt là công trình cấp nước
nông thôn) là công trình hạ tầng kỹ thuật nhằm khai thác nguồn nước ngầm, nước mặt
tự nhiên để phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân nông thôn
Vệ sinh là những quy tắc giữ gìn sự sạch sẽ cho bản thân và môi trường xung
quanh nhằm phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe
Hoạt động vệ sinh môi trường nông thôn là các hoạt động nhằm giữ gìn sạch
sẽ cho bản thân và môi trường xung quanh tại địa bàn nông thôn Các hoạt đông này bao gồm như thực hành hành vi vệ sinh đúng cách (rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi đi vệ sinh), sử dụng và bảo quản nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng nước máy và các nguồn nước hợp vệ sinh, quét dọn đường làng ngõ xóm, nạo vét cống rãnh nhằm giữ gìn sạch sẽ cho bản thân và môi trường xung quanh, phòng tránh bệnh tật và tăng cường sức khỏe
Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn bền vững khi nó hội tụ
đầy đủ các tiêu chí như sau:
- Bền vững về nguồn nước: Đảm bảo nguồn nước không bị khai thác quá mức
có điều kiện phát triển kinh tế khi không mất thời gian đi lấy nước, giảm chi phí thuốc men và thăm khám các bệnh liên quan đến nước,được vay vốn từ quỹ tiết kiệm khi tham gia Nhóm tiết kiệm- tín dụng của Quỹ Tín dụng vệ sinh quay vòng vốn để sản xuất kinh doanh
- Có sự tham gia của cộng đồng: Cộng đồng tham gia vào lập kế hoạch, thiết kế
và quản lý vận hành công trình Thông qua việc tham gia các hoạt động của dự án sẽ
Trang 18phát huy sức mạnh tập thể của người dân, gắn kết tình đoàn kết nội bộ rất phù hợp với
“ văn hóa làng xã” tại Việt Nam Người dân phát huy được quyền làm chủ của mình
- Bền vững về tổ chức: Bộ máy quản lý có đủ năng lực và được hỗ trợ về xây dựng, trợ giúp kỹ thuật và hệ thống pháp lý
- Bền vững về mặt môi trường: Việc sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện các hành vi vệ sinh đúng cách, hoạt động vệ sinh tổng thể cộng đồng giúp cho môi trường tại nông thôn được cải thiện, sức khỏe của người dân được nâng cao
Phụ nữ thông qua việc phát huy các vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò
xã hội khi tham gia dự án cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn sẽ đóng góp vào việc duy trì tính bền vững của dự án
1.1.2 Một số lý thuyết tiếp cận
1.1.2.1 Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” gọi tắt là WID (Women in Development)
và “giới và phát triển” gọi tắt là GAD (Gender and Development)
Trong nghiên cứu phụ nữ xuất hiện lý luận của nhà nữ quyền và nội dung của hai quan điểm nổi tiếng ở hai giai đoạn khác nhau đó là “Phụ nữ trong phát triển” gọi tắt là WID (Women in Development) và “giới và phát triển” gọi tắt là GAD (Gender and Development) Đây chính là nguồn lý luận cơ bản hình thành lên lý thuyết về giới Vấn đề bình quyền được hình thành từ các phong trào của hiệp hội đấu tranh đòi quyền lợi và sự công bằng của phụ nữ Anh, sau đó lan rộng và trở thành làn sóng chính trị quan trọng ở Hoa Kỳ và các nước khác, thì cuộc tranh luận WID và GAD lại bắt nguồn từ thực tế tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở các nước đang phát triển Tiếp cận WID và GAD được đặt trong những khía cạnh khác nhau trong mối quan hệ giữa vai trò của phụ nữ trong sự phát triển
- Phụ nữ trong Phát triển (WID)
Sau chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống Liên hiệp quốc được hình thành với các hoạt động điều phối hỗ trợ phát triển ngày càng được mở rộng Tuy nhiên, thời gian đầu chưa có bất cứ một luận điểm nào chú ý hoặc đề cập đến phụ nữ bởi quan niệm bất kỳ sự phát triển kinh tế xã hội nào cũng đều đem lại đổi thay cho mọi người, trong đó có phụ nữ Sự thay đổi được xuất hiện trong Chiến lược phát triển quốc tế cho thập kỷ thứ hai do Đại hội đồng Liên hiệp quốc nhấn mạnh: Khuyến khích sự hòa nhập của phụ nữ và nỗ lực phát triển một cách đầy đủ và vấn đề của phụ
nữ là vấn đề phát triển Thuật ngữ “phụ nữ trong phát triển” được ra đời từ đó Quan
Trang 19điểm “phụ nữ trong phát triển” chú trọng vào phụ nữ, vào các vấn đề nảy sinh đối với phụ nữ trong phát triển như cơ hội được học hành, có việc làm, được bình đẳng trong gia đình và tham gia cac hoạt động xã hội, được hưởng các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe và trong đời sống Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã hội và quyền lợi cho phụ nữ
Các quan niệm trước đây chỉ nhìn nhận phụ nữ trong vai trò người mẹ, người vợ nên chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn ở phúc lợi xã hội và sinh đẻ Với quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có việc làm trong sản xuất và tham gia công tác xã hội là biện pháp nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ Quan điểm này khẳng định, việc không thừa nhận và sử dụng vai trò sản xuất của phụ
nữ trong gia đình và ngoài xã hội là những sai lầm dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực
Cách tiếp cận WID dựa vào cơ sở nội bật là các quá trình phát triển sẽ được tiến hành tốt hơn nếu phụ nữ được coi là trọng tâm trong nghiên cứu và trong chuyển giao các nguồn lực của các dự án Cách tiếp cận này cũng thách thức quan điểm trước đây cho rằng: những lợi ích thu được từ dự án phát triển sẽ tự động làm lợi cho phụ nữ và các yếu thế khác trong các quốc gia phát triển và hiện đại hóa sẽ
tự động làm tăng sự bình đẳng giới Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” đã nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, coi trọng vai trò của phụ nữ với tư cách là người hưởng thụ thành quả của sự phát triển, nắm giữ được các nguồn lực như chìa khóa mở đường giúp cho phụ nữ thoát khỏi sự lệ thuộc
Tuy nhiên, cách tiếp cận này mới chỉ đặt phụ nữ trong khuôn khổ phát triển đã được định sẵn chứ chưa coi phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế xã hội,
do đó không chỉ hạn chế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ mà có thể làm giảm hiệu quả của các quá trình kinh tế Điểm yếu của WID là đã bỏ qua yếu
tố giới, và chỉ xem xét vai trò của phụ nữ „không bao gồm bất cứ sự thay đổi tương ứng hoặc sự tương tác từ nam giới‟ (Young 1997) Hơn nữa, việc nhấn mạnh vào (giảm) nghèo đói và yếu tố kinh tế dẫn đến những tác động tiêu cực của việc „che khuất cấu trúc bất bình đẳng giới‟ (Tasli 2007) Do đó, mặc dù WID đã đưa vấn đề
Trang 20phụ nữ vào những thảo luận chính sách phát triển, vẫn còn rất khó để phụ nữ thực sự tham gia vào tiến trình phát triển trong thực tế
Hơn nữa, Cách tiếp cận WID còn xem xét vấn đề phụ nữ một cách tách biệt, quá nhấn mạnh đến khía cạnh sản xuất trong công việc và lao động của phụ nữ, nhất là việc tạo ra thu nhập, trong khi đó đã bỏ qua khía cạnh tái sản xuất (Trần Vân Anh và
Lê Ngọc Hùng, 2000)
- Giới và Phát triển (GAD)
Tiếp cận “giới và phát triển ” ra đời sau tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển” nên
có được kinh nghiệm từ những thất bại của nhiều chương trình phát triển Giới và Phát triển (GAD) xuất hiện từ khoảng những năm 1980, đã dịch chuyển từ khái niệm „phụ nữ‟ sang khái niệm „giới‟, một trong những yếu tố quan trọng nhất của GAD Phương pháp này đặt trọng tâm vào „cấu trúc xã hội cơ bản của sự khác nhau gữa nam giới và
nữ giới‟; thử thách mối quan hệ về giới khi đó (Reeves & Baden 2000); và thúc đẩy giải phóng phụ nữ (Tasli 2007) Giới được xem xét trong mối quan hệ xã hội, sự liên
hệ giữa nam giới và nữ giới, hơn là chỉ tập trung vào giới nữ (Razavi & Miller 1995) Hơn nữa, nó cũng làm rõ nhu cầu cần có sự tham gia của nam giới trong việc cải thiện vai trò của người phụ nữ trong hoạt động kinh tế xã hội Trong phương pháp tiếp cận này, phụ nữ nên tham gia vào quá trình ra quyết định như một nhân tố chủ động, tích cực Cùng với đó, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do nữ quyền, thông qua các chính sách ưu tiên phụ nữ (Tasli 2007) Một chiến lược quan trọng của GAD là xu hướng giới chủ đạo xác định vấn đề lồng ghép giới ở mọi cấp độ phát triển và lĩnh vực công (Reeves & Baden 2000) Phương pháp tiếp cận “giới và phát triển” quan tâm đến mối tương quan giữa phụ nữ và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tiếp cận giới và phát triển quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng giới và các chương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu cả nam và nữ Tức là GAD tạo sự chuyển biến trong suy nghĩ, cũng như nhìn nhận
về vai trò, trách nhiệm, các quyền tiếp cận, kểm soát nguồn lực kinh tế của phụ nữ và nam giới, điều chỉnh các yếu tố cơ cấu tác động ảnh hưởng nhằm cải thiện tình trạng, vai trò của phụ nữ và cân bằng các quan hệ giới Theo phương pháp tiếp cận này, phụ
nữ được nhìn nhận, đánh giá như là những nhân tố tích cực chứ không phải là những
Trang 21người thừa hưởng thành quả của sự phát triển Mục tiêu phát triển theo phương pháp này là sự tự lực, sức mạnh của bản thân phụ nữ, tức là phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với nam giới Sự tham gia của phụ nữ và phát huy hết tiềm năng, kinh nghiệm của họ trong hoạt động kinh tế, xã hội hay quản lý cộng đồng có ý nghĩa chính trị - xã hội tích cực, vừa tăng cường năng lực cá nhân, vừa tạo quyền cho chính họ, vừa thúc đẩy tốc độ phát triển chung của xã hội Phương pháp tiếp cận này còn cho rằng, mỗi nam và nữ giới sẽ thường được đảm nhận các vai trò quyền lực khác nhau, nên họ có nhu cầu thực tế khác nhau Chính vì vậy, phân tích theo quan điểm GAD đã đề xuất được các hướng giải quyết không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt mà cả những nguyên nhân sâu xa của vấn đề nghiên cứu Đây là một phương pháp tiếp cận được ưa chuộng và được đánh giá là phương pháp có hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong thời gian hiện nay Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng xã hội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau Cần đánh giá những đóng góp của phụ nữ đối với cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy được năng lực của mình, chủ động cùng nam giới tham gia các hoạt động phát triển kinh tế gia đình và cộng đồng, các hoạt động văn hóa, chính trị, chăm sóc sức khỏe sinh sản… Quan trọng là hình thành được thói quen, các chuẩn mực và giá trị mới về vai trò phụ nữ trong cộng đồng ở trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập và phát triển (Trần Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)
Tuy nhiên, quan điểm phê phán phương pháp tiếp cận GAD, e ngại tính khả thi của việc ra quyết định chính sách phát triển vì phụ nữ với chiến lược từ trên xuống Chiến lược này đòi hỏi ý chí, quyết tâm chính trị Trong khi đó, lĩnh vực này nam giới thường chiếm số đông, nên có thể sẽ không đạt được các mục tiêu đề ra Thêm nữa, phía phê phán cho rằng, giả thiết cải thiện điều kiện kinh tế của phụ nữ sẽ đóng gióp cho thúc đẩy bình đẳng giới, sau tất cả, chỉ là phương tiện hỗ trợ tăng trưởng kinh tế (Signe 2001)
Ngoài ra, GAD vẫn còn chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa khái niệm giới và phụ nữ Giới không được giải thích nhất quán và là một yếu tố trung tính, gồm cả nam
Trang 22và nữ Thậm chí, có những lo ngại sự dân chủ hóa vấn đề nữ quyền dường như mang lại những tác động ngược (Signe 2001)
Sự khác nhau giữa WID và GAD, chủ yếu dựa trên cách tiếp cận về vai trò và
vị trí của phụ nữ trong xã hội Trong khi WID chủ yếu tập trung vào nhu cầu chủ động tham gia vào quá trình phát triển của phụ nữ (một cách riêng biệt); GAD tiếp cận vai trò và vị trí của giới nữ đặt trong mối tương tác với giới nam Về lý thuyết thì WID và GAD là phân biệt nhau Mặc dù vậy, nó ít có ranh giới phân biệt rõ ràng trong thực tế,
và số dự án phát triển thường bao gồm các yếu tố của cả 2 phương pháp tiếp này (Reeves & Baden 2000)
1.1.2.2 Lý thuyết tiếp cận có sự tham gia
Sự tham gia có nghĩa là cùng thực hiện một hoạt động nào đó Theo nghĩa
chung nhất, sự tham gia là sự gắn kết một cách lâu dài, chủ động và có vai trò ngày càng cao của cộng đồng vào quá trình phát triển, từ việc xác định vấn đề đến việc lập
kế hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động nhằm nâng cao đời sống cộng đồng và bảo đảm sự phân chia công bằng các lợi ích của sự phát triển
Sự tham gia, không chỉ là một mục đích tự thân, góp phần cải thiện các kết quả phát triển Bằng cách làm cho các bên liên quan hiểu rõ hơn và tham gia vào các quyết định, phân bổ nguồn lực và các hoạt động có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, sự tham gia còn đảm bảo người tham gia đạt được lợi ích gì từ sự tham gia này (ADB, 2006)
Các cấp độ tham gia:
Sherry Arnstein (1969) mô tả quá trình tham gia của cộng đồng như là một
chiếc thang với tám bước:
- (1) Sự vận động, lôi kéo
- (2) Liệu pháp: chưa tạo ra sự tham gia, chỉ có mục đích đào tạo người tham gia Giả sử kế hoạch kiến nghị là tốt nhất và phải giành được sự ủng hộ từ cộng đồng thông qua quan hệ công chúng
-(3) Cung cấp thông tin Đây là bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia nhưng thường thông tin chỉ mang tính một chiều mà không có phản hồi
- (4) Tham vấn Khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc họp khu dân cư và tham khảo ý kiến cộng đồng Thường lại chỉ là những nghi thức
- (5) Động viên Bầu những thành viên xứng đáng vào tổ chức
Trang 23- (6) Hợp tác Dàn xếp để phân phối lại quyền lực giữa công dân và chính quyền Cả hai đều phải có trách nhiệm trong lên kế hoạch và ra quyết định
- (7) Ủy quyền Các công dân phải nắm giữ đa số các vị trí trong tổ chức và có quyền quyết định
- (8) Quần chúng đã có thể chịu trách nhiệm
Sarah White (1996) nêu rõ bốn hình thức tham gia: danh nghĩa, phương tiện,
đại diện và chuyển hóa Cô lập luận rằng mỗi hình thức có chức năng khác nhau, và lập luận các tác nhân có quyền lực và ít quyền lực có nhận thức khác nhau và có lợi ích trong mỗi hình thức
- Tham gia danh nghĩa thường được sử dụng bởi các tác nhân có quyền lực ạnh
mẽ hơn để cung cấp cho tính hợp pháp cho kế hoạch phát triển Người ít quyền lực tham gia vào nó thông qua một mong muốn thu nhận Nhưng đó chỉ mang tính hình thức và không dẫn đến sự thay đổi
- Tham gia phương tiện xem sự tham gia của cộng đồng được sử dụng như một phương tiện hướng tới một kết thúc - thường sử dụng hiệu quả các kỹ năng và kiến thức của các thành viên cộng đồng trong việc thực hiện dự án
- Đại diện tham gia liên quan đến việc cho các thành viên cộng đồng có tiếng nói trong việc ra quyết định và thực hiện quá trình của dự án hay chính sách có ảnh hưởng đến họ Đối với những người có quyền lực mạnh hơn, sự tham gia của đại diện làm tăng cơ hội của sự can thiệp bền vững của họ; đối với những người có quyền lực kém hơn, nó có thể là một cơ hội thúc bẩy
- Kết quả tham gia chuyển hoá trong việc trao quyền cho những người tham gia, và như là kết quả làm thay đổi cấu trúc và tổ chức dẫn đến việc loại trừ hay không cho hưởng quyền
Ngân hàng thế giới xem sự tham gia của người dân như là một quá trình, nhờ
đó người dân và đặc biệt là phụ nữ, người nghèo và trẻ em được tham gia vào quá trình ra quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ Sự tham gia của người dân nhằm các mục đích:
-(1): Trao quyền- một sự chia sẻ quyền lực hợp lý với người tham gia để nâng cao nhận thức về khả năng tham gia của họ vào quá trình thực hiện dự án
- (2): Xây dựng và nâng cao năng lực của người dân trong phát triển của chính
họ và cộng đồng của họ
Trang 24- (3): Tăng cường hiệu lực của dự án, thúc đẩy sự đồng thuận, sự hợp tác cũng như tương tác giữa những người hưởng lợi của dự án và giữa họ với các cơ quan thực hiện dự án
- (4): Chia sẻ chi phí của dự án với người hưởng lợi, do đó giảm được chi phí cũng như thời gian thực hiện dự án
Sự tham gia của phụ nữ tại các dự án phát triển
Sự tham gia của phụ nữ là một khái niệm hẹp của sự tham gia của cộng đồng
Sự tham gia ở đây chỉ xét giới hạn đối tượng là phụ nữ với các bước tham gia và mục tiêu tham gia tương tự như sự tham gia của cộng đồng
Tại sao phải có sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động phát triển?
- Để giải quyết vấn đề bất bình đẳng về Giới
- Để phụ nữ không chỉ được coi là đối tượng của các hoạt động mà là người chủ thực sự của các hoạt động đó
- Để thực hiện dân chủ cơ sở
- Để hạn chế sự thất bại của các hoạt động có thể xảy ra
- Để tăng tính bền vững của các hoạt động
- Để khai thác hiệu quả các nguồn lực của cộng đồng
- Để tạo cơ hội cho phụ nữ có thể tự nâng cao năng lực
1.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Các nghiên cứu trên Thế giới
Trên thế giới đã có nhiều học giả và tổ chức nghiên cứu về giới, phụ nữ, vai trò cũng như sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Vai trò của phụ nữ trong các dự án phát triển, trong đó có các dự án về cấp nước và vệ sinh cũng đã xuất hiện trong nhiều nghiên cứu Cụ thể như sau:
1.2.1.1 Các nghiên cứu về giới, vai trò của phụ nữ nói chung
Quá trình phân tích địa vị phụ nữ và vai trò giới ở các nước đang phát triển tập trung không chỉ trong sản xuất mà cả trong lĩnh vực tái sản xuất; không chỉ trong phát triển kinh tế mà cả trong cấu trúc văn hóa xã hội Có thể chỉ ra một số chủ đề chính được khai thác trong các nghiên cứu này là ở hộ gia đình, việc thực hiện vai trò trong sản xuất và tái sản xuất Địa vị và vai trò thường được xác định trong các thiết chế xã hội như gia đình, cộng đồng Phát triển và biến đổi xã hội dẫn đến biến đổi trong các thiết chế Đặc điểm của những biến đổi này thể hiện trong sự thay đổi địa vị và vai trò
Trang 25gắn liền với các thiết chế “Gia đình và cộng đồng là những tổ chức xã hội ảnh hưởng đến địa vị và vai trò của phụ nữ Hộ gia đình là một đơn vị đa chức năngmà ở đó diễn
ra các quá trình từ tái sản xuất về mặt sinh học cũng như tái sản xuất về mặt xã hội, đến quá trình xã hội hóa, nuôi dưỡng và ra các quyết định” (Lynne Brydon.1989)
Andersen (2005) đã đưa ra nghiên cứu về Phụ nữ một cách đầy đủ từ khái niệm,
vị trí trong gia đình và xã hội
Overholt, Anderson, Cloud and Austin (1984) nghiên cứu vai trò giới trong các
dự án phát triển
Bàn về nhận thức giới, Longwe, S H (1991) xem xét nhận thức về giới trong các chương trình phát triển Nhận thức về giới là một nhận thức cần thiết cho khả năng xác định nhu cầu của phụ nữ trong quá trình phát triển Nó cũng quan trọng để nhận ra rằng muốn phát triển phải tìm cách đáp ứng nhu cầu và tăng cường sự tham gia và bình đẳng cũng như tăng năng suất và phúc lợi Ba yếu tố thiết yếu trong nhận thức về giới là , phụ nữ có nhu cầu khác nhau và đặc biệt, phụ nữ là một nhóm bị thiệt thòi so với nam giới, và sự phát triển của phụ nữ có nghĩa là làm việc hướng tới tăng bình đẳng và trao quyền cho phụ nữ so với nam giới
1.2.1.2 Vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển
Bari (2005) trong cuộc họp các chuyên gia của Ủy ban vì sự tiến bộ của phụ nữ tại Băng Cốc, Thái Lan từ ngày 8-11/11/2005 đã có báo cáo nghiên cứu về các yếu tố
tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, vốn xã hội và năng lực chính trị ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong chính trị và vạch ra các chiến lược để tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong phát triển thông qua một môi trường thuận lợi cho đạt được bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ
Một đánh giá về Giới và nước sạch của Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế IFAD (2012) đã nghiên cứu phụ nữ với vai trò là người sử dụng và quản lý nước và tác động của các dự án cung cấp nước tới cuộc sống của người phụ nữ Đánh giá này xem xét tác động của các dự án liên quan đến nước đối với phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên nước và các ràng buộc phụ nữ phải đối mặt trong việc tiếp cận với nước Nó cũng trình bày bài học kinh nghiệm trong việc thúc đẩy sự tham gia của phụ
-nữ trong việc ra quyết định về quản lý nước sử dụng kinh nghiệm từ một số chương trình nước và dự án IFAD hỗ trợ Nó làm nổi bật các hoạt động sáng tạo và yếu tố thúc đẩy đã góp phần giải quyết vấn đề giới trong các chương trình và dự án nước Và nó
Trang 26cung cấp các khuyến nghị về làm thế nào để cải thiện tiếp cận của phụ nữ với các nguồn tài nguyên nước thông qua phát triển công bằng và lồng ghép giới
Bàn vệ sự tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển Manderson, Mark and Woelz (1996) đã nghiên cứu sự tham gia và các yếu tố tác động đến sự tham gia của
nữ giới trong các dự án về sức khỏe và dự án phát triển Yudelman, S W (1987) đã chỉ ra các tổ chức phi chính phủ (NGO) trên khắp thế giới đã chậm chạp trong việc giải quyết sự nghèo khó của phụ nữ Các dự án nông nghiệp và tạo thu nhập của các tổ chức NGO tập trung vào vai trò gia đình của phụ nữ và ít khi đề cập đến tăng sự tiếp cận của phụ nữ với tài nguyên hoặc nâng cao kỹ năng lãnh đạo và quản lý của họ Tác giả cũng đề xuất NGO cần phải phát triển các chiến lược mới để giúp phụ nữ thanm gia vào nền kinh tế Để làm như vậy, các tổ chức này sẽ phải vượt qua những định kiến văn hóa của riêng mình và nhìn vào những gì phụ nữ thực sự làm, chứ không phải là những gì các NGO nghĩ rằng họ nên làm
Về vai trò của phụ nữ trong dự án cấp nước, Ray, I (2007) cho rằng phụ nữ đóng một vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước là một trong bốn nguyên tắc quốc tế chấp nhận về quản lý nước Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, nơi hàng triệu phụ nữ không được tiếp cận với nước cho các nhu cầu cơ bản của họ Tác giả cho thấy rằng việc thiếu các dữ liệu tách biệt về giới đối với các tác động của chính sách về nước, và những bất đồng
cơ bản về quan điểm về giới và phát triển gây khó khăn để đạt được các chính sách đảm bảo tốt nhất cho phụ nữ nghèo được tiếp cận với nước sạch truy cập đáng tin cậy phải tưới nước cho đời sống và sinh kế của họ
Về trao quyền cho phụ nữ UN Women và UN Global Compact (2010) đã nghiên cứu và vạch ra các nguyên tắc trao quyền cho phụ nữ với mục tiêu Bình đẳng
là thịnh vượng Ngân hàng thế giới -WorldBank (2012) đã phát hành báo cáo phát triển thế giới năm 2012 trong đó nêu lên các thành tựu và hạn chế về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị… trên toàn thế giới
Wijk-Sijbesma, C V (1998) đã nghiên cứu tìm hiểu về giới có mặt trong những nguyên tắc mới về quản lý bền vững tài nguyên nước Cuốn sách cũng đánh giá những nguyên tắc về giới hiện đang áp dụng trong lĩnh vực cấp nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh thế nào Sự tham gia của phụ nữ bên cạnh người đàn ông trong quy hoạch, thiết kế, bảo trì và quản lý đã mang lại lợi ích rõ ràng về chức năng và việc sử
Trang 27dụng các hệ thống cấp nước và tạo cơ hội bình đẳng hơn cho việc đào tạo và vai trò của phụ nữ và nam giới
Các tổ chức tài trợ cũng có nhiều nghiên cứu giới và phụ nữ trong các dự án phát triển AusAID (2000) đưa ra những hướng dẫn về lồng ghép giới trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh ADB (2006) Đã phát hành tài liệu hướng dẫn về các chính sách
và luật về Giới trong cơ chế hoạt động của ADB ADB (2006) phát hành tài liệu hướng dẫn Tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong đó có phụ nữ vì kết quả phát triển của các dự án
1.2.1.3 Các bài học kinh nghiệm về vai trò, sự tham gia của phụ nữ trong các dự án
phát triển cũng như các dự án nước sạch và vệ sinh
Manderson, L., & Mark, T (1997) mô tả kinh nghiệm của các NGO (tổ chức phi chính phủ) và các tổ chức dựa vào cộng đồng trong việc thực hiện các dự án nhằm cải thiện sức khỏe của phụ nữ Nghiên cứu bao gồm 16 dự án, phản ánh kinh nghiệm NGO Úc ở châu Phi, Trung Quốc, Đông Nam Á, Thái Bình Dương và Nam Mỹ Tác giả đã minh họa các giá trị của phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong việc xác định nhu cầu ưu tiên, và giá trị của sự tham gia tiếp tục của phụ nữ trong việc thực hiện, giám sát và đánh giá
Prokopy, L S (2004) đã nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ đã ảnh hưởng cải tiến thế nào đối với các dự án cung cấp nước sạch nông thôn quy mô lớn Nghiên cứu không giới hạn trong một vài trường hợp cá biệt mà tiến hành từ từ 45 ngôi làng ở hai
dự án Ngân hàng Thế giới hỗ trợ ở Ấn Độ Dữ liệu được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả các thành viên ủy ban nước, các cuộc điều tra hộ gia đình và các nhóm tập trung, sự tham gia của phụ nữ được định lượng - bao nhiêu phần trăm thực
sự tham dự các cuộc họp hoặc tham gia ở mức độ tham gia cao hơn như ra quyết định? Kết quả cho thấy trong một số trường hợp, các thành viên ủy ban nữ là danh nghĩa mặc dầu bằng chứng cho thấy là trong một ủy ban nước ở địa phương giúp phụ nữ phát triển kỹ năng và sự tự tin.
Nghiên cứu về giới, nước sạch và vệ sinh của Liên hợp quốc năm 2006 dựa trên 15 dự án thực hành tốt nhất trong việc đảm bảo nước uống an toàn bền vững và vệ sinh môi trường cho cộng đồng bằng cách tham gia cả nam giới và phụ nữ như các bên liên quan quan trọng Các nghiên cứu trường hợp được rút ra từ 14 quốc gia ở châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh và Trung Đông Nghiên cứu này đã minh họa những gì sẽ xảy
Trang 28ra khi các cộng đồng tham gia và tích cực tham gia trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường từ góc độ giới Quan điểm này đảm bảo rằng các mối quan tâm của phụ nữ là những người có trách nhiệm chính trong việc đi lấy nước, vận chuyển, sử dụng và quản lý nước không chỉ giải quyết vấn đề mà còn trở thành một phần của giải pháp Các trường hợp nghiên cứu chứng minh rằng ở cấp cộng đồng, các giải pháp để làm sạch nước và vệ sinh môi trường thích hợp là có bối cảnh cụ thể Một bối cảnh đó phải được giải quyết liên quan đến các hệ thống giới hiện hành và sự phân chia lao động theo giới Nghiên cứu cho thấy rằng trong theo đuổi các mục tiêu chung và thông qua đối thoại, sự đổi mới, sự tham gia và hợp tác, câu trả lời
có thể đáp ứng được các lợi ích khác nhau của đàn ông và phụ nữ trong việc đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường, và phá vỡ nhiều rào cản dựa trên các quan niệm truyền thống về giới Thành công đó sẽ đóng góp vào việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
Ali (2009) đã nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ vào Ban nước sạch và vệ sinh cộng đồng trong các chương trình về nước và vệ sinh tại Bangladesh Nghiên cứu này
mô tả sự tham gia của phụ nữ trong quá trình ra quyết định trong đánh giá nông thôn
có sự tham gia (PRA), Ban nước sạch và vệ sinh làng/thôn (VWC) và các cuộc họp cộng đồng của các chương trình về nước và vệ sinh Nghiên cứu này xác định những thách thức các thành viên nữ phải đối mặt trong tham gia và trong quá trình ra quyết định, và vai trò của Ban hỗ trợ cộng đồng nông thôn trong việc đối phó với bất kỳ vấn
đề đối với phụ nữ Bảy làng được lựa chọn cho nghiên cứu này thuộc huyện Balaganj, Srimongal, Gajipur và Feni Dữ liệu được thu thập thông qua quan sát, tham dự các cuộc thảo luận nhóm tập trung và các cuộc phỏng vấn sâu người dân cộng đồng, các thành viên VWC, trợ lý chương trình, cán bộ quản lý chương trình Kết quả cho thấy rằng hầu như trong tất cả các trường hợp thành viên nữ tham gia trong cuộc họp là bằng hoặc cao hơn so với nam giới Hầu hết các thành viên nữ không tự nguyện bày tỏ
ý kiến của họ, đặc biệt là các thành viên siêu nghèo và thanh thiếu niên nữ Kết quả là
họ không có ảnh hưởng đến việc ra quyết định Thành viên nam luôn nói về nhiều vấn
đề, tự nguyện thể hiện tiếng nói của họ phần lớn thời gian trong cuộc họp mặc dù họ không có nhiều ảnh hưởng về quyết định, ngoại trừ một vài trường hợp Các quyết định chủ yếu được thực hiện bởi đại diện Ban hỗ trợ cộng đồng nông thôn
Trang 29Dorcas Syombua Philip (2011) khi nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong các dự án dựa vào cộng đồng của dự án cấp nước và vệ sinh thượng vùng sông Manda, Kenya cho thấy rõ ràng rằng chế độ gia trưởng là thủ phạm chính trong sự phân biệt giới tính, cả nam giới và phụ nữ và cả xã hội như một toàn thể đều đổ lỗi cho quyền cố
vị của nó Điều đó dẫn đến phụ nữ tự hạ thấp phẩm giá mình và đóng vai trò ngoại vi trong phát triển dự án và quản lý Trong nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ né tránh việc tình nguyện và để mất vị trí hàng đầu, do đó để mất lợi ích của việc kiểm soát các nguồn lực của dự án Nghiên cứu cũng khuyến nghị phải có phụ nữ tham gia phát triển dự án trong việc đánh giá nhu cầu, lập dự án, thực hiện, giám sát và đánh giá Điều này sẽ đảm bảo sự cân bằng giữa kiểm soát giữa đàn ông và phụ nữ, vì vậy mà không bên nào chiếm ưu thế
ADB trong cuốn Sổ tay hướng dẫn về Giới trong các Dự án cung cấp nước và
vệ sinh nông thôn (2006) đã nêu rõ lý do tại sao cần đề cập đến vấn đề giới trong các
dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn, Sự tham gia của những người hưởng lợi trong đó
có phụ nữ và tập trung vào giảm nghèo là 2 yếu tố quyết định chính đến hiệu quả và tính bền vững trong quản lý các dự án cấp nước và vệ nông thôn Trong số các bài học chính rút ra, gồm có các bài học sau đây:
- Phụ nữ là những người đi lấy nước, vận chuyển, sử dụng và quản lý nước ăn, thực hiện các hoạt động vệ sinh trong gia đình và ngoài cộng đồng là chính Tuy vậy, trong nhiều xã hội cách nhìn nhận về phụ nữ không thể hiện được một cách có hệ thống trong các tổ chức ra quyết đinh
- Tập trung vào vấn đề giới sẽ có tác động theo cấp số nhân vì nó mang lại những lợi ích lớn hơn lợi ích một dự án cấp nước được thực hiện tốt mang lại như mua sắm, vận hành và bảo dưỡng tốt hơn, khả năng hoàn vốn Những lợi ích bổ sung khác
do việc tập trung vào giới bao gồm:
+ Lợi ích kinh tế: Phụ nữ đi lấy nước sẽ thuận tiện hơn và họ dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động tạo ra thu nhập, cho các thành viên trong gia đình hoặc cho các hoạt động sinh lời và giải trí của chính họ Trao quyền cho phụ nữ tham gia vào dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn, đặc biệt là khi hoạt động của dự án gắn liền với hoạt động tạo ra thu nhập và các nguồn lực sản xuất như tín dụng Vì vậy, nhìn tổng thể toàn nền kinh tế cũng có lợi
Trang 30+ Lợi ích về xã hội: Không phải đi lấy nước và trông coi nước, trẻ em nhất là trẻ em gái có thể đến trường Tỷ lệ mù chữ sẽ giảm và trình độ văn hóa của phụ nữ sẽ được nâng cao
+ Lợi ích về môi trường: Việc huy động phụ nữ tham gia vào các hoạt động vệ sinh cộng đồng, hay truyền thông về thực hành hành vi vệ sinh đúng cách sẽ góp phần giúp phụ nữ và những thành viên trong gia đình được họ lôi kéo sẽ biết cách giữ gìn
vệ sinh môi trường
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu khoa học về phụ nữ với tư cách là một ngành khoa học độc lập xuất hiện ở nước ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trước Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn đổi mới đất nước, của phong trào phụ nữ rộng khắp Vì vậy, sau khi ra đời, khoa học nghiên cứu về phụ
nữ đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo các nhà khoa học và hầu như của toàn xã hội Bàn về phụ nữ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lời của C.Mác: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc chắn không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ thế nào” Người cũng dẫn lời của Lênin: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, tr.288) Tư tưởng này được khẳng định trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 và được khẳng định lại trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi và bổ sung năm 2001): “Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63) Việc giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ, thực hiện “nam nữ bình quyền” là một trong những mục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp các mạng xã hội Việc phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là tất yếu của lịch sử phát triển con người và xã hội Một số nghiên cứu liên quan đến vai trò và sự tham gia của phụ nữ như:
Hoàng Bá Thịnh (2008) đã có các nghiên cứu giúp người đọc hiểu rõ tránh nhầm lẫn về cách hiểu liên quan đến giới và nữ quyền Về phòng trào đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ, nữ quyền và địa vị của phụ nữ, tác giả đã đặt ra nhiều
Trang 31câu hỏi, phân chia các làn sóng nữ quyền hay ảnh hưởng của các làn sóng nữ quyền
đến địa vị của người phụ nữ Việt Nam
Trần Thị Kim (2003) và Lê Thi (2008) nghiên cứu về vai trò của người phụ nữ
trong gia đình
Lê Thị Quý (2004) cho biết nguyên nhân cản trở phụ nữ tham gia vào chương
trình dự án là: nam giới làm chủ hộ, phong tục, phụ nữ chỉ họp về kế hoạch hóa gia
đình, phụ nữ bận các công việc gia đình, sự hạn chế về trình độ văn hóa và hiểu biết
Nguyễn Thu Nguyệt (2004) cho rằng các yếu tố cản trở phụ nữ tham gia xóa
đói giảm nghèo là tập quán, sự thiếu tôn trọng phụ nữ, địa vị thấp kém trong gia đình,
khối lượng công việc nhà lớn
Nguyễn Đình Tấn (2007) đã nhận diện và đưa ra những nét khái quát về vai trò nữ trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước, đặc biệt là trong công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập nền kinh tế
tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế
Về định kiến Giới đối với nữ lãnh đạo và quản lý đã được Nguyễn Thị Thu Hà
(2008) nghiên cứu tại 1 số xã phường tại Thái Nguyên, Hà Nội và Hưng Yên Tác giả
đã chỉ ra rằng mặc dù đã có nhiều tiến bộ về nhận thức bình đẳng giới nhưng rõ ràng
định kiến với phụ nữ trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý vẫn còn những biểu hiện rõ nét
Đây chính là một trong những yếu tố trực tiếp cản trở phụ nữ tham gia bình đẳng vào
các vị trí lãnh đạo
Các nghiên cứu tập trung địa vị của người phụ nữ trong xã hội, quyền của phụ
nữ, phụ nữ tham gia công tác quản lý và lãnh đạo cũng như các rào cản khiến phụ nữ
gặp khó khăn khi ứng cử vào các vị trí cao trong chính quyền địa phương (UNDP,
2012, Phạm Thu Hiền 2011)
Lồng ghép vấn đề bất bình đẳng giới trong các các giải pháp tổng thể để giải
quyết mối liên hệ giữa nghèo đói và môi trường đã được Nguyễn Thị Thanh Tâm
(2008) nghiên cứu tại xã Kỳ Lợi huyện Kỳ Anh và Hương Quang huyện Vũ Quang,
tỉnh Hà Tĩnh Nghiên cứu của tác giả cho thấy mặc dù nhận thức được các hậu quả ,
các nguy cơ có thể xảy ra nhưng vì sinh kế , vì cuộc sống gia đình, nhiều phụ nữ và
nam giới theo các cách khác nhau, vẫn tiếp tục hủy hoại các nguồn tài nguyên đất, đai,
rừng, biển và nguồn nước.Và để cho nỗ lực giảm nghèo và chiến lược bảo vệ tài
Trang 32nguyên thiên nhiên có thể thành công bền vững thì vấn đề bất bình đẳng giới cần được quan tâm lồng ghép trong các giải pháp tổng thể
Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2009) nghiên cứu hệ thống dịch vụ xã hội hỗ trợ gia đình, giới và công tác xóa đói giảm nghèo, vấn đề buôn bán phụ nữ và trẻ em, bạo hành chống phụ nữ trong gia đình và xã hội
Phan Thị Thanh Mai (2009) nghiên cứu thực trạng và vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong chăm sóc sức khỏe sinh sản Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng kinh tế nghèo khó, trình độ học vấn thấp và sự hạn chế trong nhận thức của phụ nữ dân tộc thiểu số cũng như các phong tục tập quán lạc hậu của cộng đồng chính là những trở ngại trong việc tiếp cận các biện pháp và phương tiện chăm sóc sức khỏe sinh sản hiện đại
Về địa vị của người phụ nữ trong gia đình, Trần Thị Cẩm Nhung (2009) đã tìm hiểu cán cân quyền lực của vợ và chồng trong việc quyết định các công việc gia đình
và đánh giá sự biến đổi của mối quan hệ này Kết quả phân tích cho thấy cán cân quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình có mối liên hệ chặt chẽ với sự phân bổ nguồn lực kinh tế - xã hội giữa họ Sự biến đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình
có sự tham gia của cả hai vợ chồng diễn ra nhiều hơn ở thành thị, ở nhóm dân cư có trình độ học vấn cao, ở những gia đình mà người vợ đóng góp quan trọng vào kinh tế gia đình
Nghiên cứu các yếu tố xã hội Quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam, Khuất Thu Hồng (2015) phát hiện thấy quan niệm truyền thống cứng nhắc về các giá trị và vai trò của nam giới và nữ giới là các nguyên nhân cơ bản của bất bình đẳng giới ở Việt Nam Vai trò chủ chốt của phụ nữ trong chăm sóc gia đình không giống nhau trong các khu vực khác nhau của đất nước do tác động của văn hóa vùng miền Trong khi tác động từ các khía cạnh khác của quan niệm lâu đời này đã giảm dần theo thời gian thì giá trị của vai trò chăm sóc gia đình gắn cho phụ nữ vẫn tiếp tục được duy trì một cách vững chắc trong tư tưởng cũng như hành vi của nam giới và phụ nữ Việt Nam của mọi tầng lớp xã hội Giá trị này đã ăn sâu trong tâm thức của phụ nữ nên trong nhiều trường hợp họ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc và cả sự tiến bộ của mình để thực hiện vai trò đó Quan niệm này cũng có thay đổi cùng với sự cải thiện trình độ học vấn và sự tác động của những tấm gương tích cực
Trang 33Trần Thị Minh Đức (2011) đã phân tích sự tham gia thực tế của phụ nữ và nam giới trong một số dự án / chương trình ở một số xã thuộc các cộng đồng nghèo tỉnh Hà Tây, Bắc Giang, Nam Hà, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Trị – Các vùng đang có những chương trình, dự án với sự giúp đỡ của các các tổ chức phát triển Việc phân tích này dựa đánh giá hiệu quả của dự án và các khoá tập huấn về Công tác xã hội và phát triển cộng đồng, về Phân tích Giới trong các dự án và tập trung phân tích một số
dự án chưa thật sự thành công do khi thực hiện đã không tính đến yếu tố giới, như: dự
án Tiết kiệm tín dụng; dự án Làm mẹ an toàn; dự án đưa Khoa học, Kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi; chương trình Câu lạc bộ không sinh con thứ ba; chương trình Tập huấn Giới và lồng ghép Giới trong các dự án Những phân tích đã xem xét sự hạn chế cụ thể của một dự án/chương trình mà khi thực hiện đã bỏ qua, hoặc xem nhẹ mức độ tham gia và hưởng lợi của cả phụ nữ và nam giới
Tóm lại vai trò tham gia của phụ nữ đã được các học giả và tổ chức trong cũng như ngoài nước đề cập đến nhiều trong các nghiên cứu Các nghiên cứu về vai trò hay
sự tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển tại Việt Nam đã có với các nội dung chủ yếu sau: 1) Các nghiên cứu về giới tương đối đa dạng, nhiều chủ đề, đặc biệt là vấn đề bất bình đẳng giới, định kiến giới, địa vị, vai trò và sự tham gia của phụ nữ 2) Đối với các nghiên cứu về cấp nước và vệ sinh chủ yếu đề cập đến vai trò tham gia của cộng đồng nói chung chứ chưa đi sâu nghiên cứu riêng vai trò giới của phụ nữ trong từng giai đoạn riêng biệt của dự án 3) Các nghiên cứu chưa cho thấy rõ mối quan
hệ chặt chẽ giữa tính bền vững của dự án cấp nước và vệ sinh môi trường với vai trò của phụ nữ đặc biệt là trong giai đoạn công trình cấp nước và vệ sinh đã hoàn thành, bàn giao đi vào sử dụng
Bằng việc kế thừa các kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước, học viên đã
đi sâu hơn vào việc nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong từng giai đoạn của dự án cấp nước và vệ sinh môi trường, các yếu tố ảnh hưởng đến họ và làm thế nào để phát huy được vai trò của họ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của dự án cấp nước và vệ sinh Do vậy nghiên cứu này là một bổ sung hợp lý và cần thiết cho việc nghiên cứu về vấn đề giới, phụ nữ trong các dự án cấp nước về vệ sinh môi trường bền vững Và nghiên cứu sẽ là một đóng góp hiệu quả cho việc thực hiện của các tiểu dự án còn lại thuộc Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường miền Trung đang diễn ra tại 5 tỉnh còn lại Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam và Bình Định
Trang 341.3 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng phát triển Châu Á ADB đã thống nhất triển khai Dự án Cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn vùng miền Trung dự kiến hoàn thành trước 31/12/2016 Dự án có tổng vốn đầu tư là 50 triệu USD, bao gồm 45 triệu USD vốn vay Ngân hàng ADB (90% tổng vốn), 10% vốn còn lại từ vốn đối ứng trong nước Dự án dự kiến cung cấp nước sạch và nâng cao điều kiện vệ sinh cho khoảng 350.000 người dân nông thôn ở 24 xã của 6 tỉnh vùng duyên hải miền Trung Việt Nam bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam và Bình Định Tiểu dự án Cấp nước và Vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An được lựa chọn là một trong sáu Tiểu dự án thí điểm thuộc Dự án CRRWSSSP
Khu vực dự án triển khai được xác định là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, có tổng diện tích 15,22 km2 nằm cách thành phố Vinh khoảng 50 km về phía Bắc, đường quốc lộ 1A và đường tàu Bắc – Nam đi qua, là ngã ba nơi bắt đầu của đường quốc lộ
số 48 nối với đường Hồ Chí Minh, nằm ở phía Tây Bắc huyện Diễn Châu
Hình 1 1 Vị trí xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Trang 35Dân số xã Diễn Yên theo số liệu khảo sát nền năm 2012 là 13.170 người (3.568
hộ gia đình), trong đó 7.637 người là nữ giới chiếm 51% Có 642 hộ do phụ nữ đứng tên chủ hộ ở xã Diễn Yên, chiếm 18%
Nền kinh tế xã Diễn Yên phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Thu nhập trung bình của hộ do nam giới đứng tên chủ hộ cao hơn thu nhập trung bình của hộ do phụ nữ đứng tên chủ hộ Tỷ lệ hộ do nữ giới đứng tên chủ hộ thuộc diện hộ nghèo cao hơn hộ do nam giới đứng tên chủ hộ
Tại thời điểm khảo sát nền xã Diễn Yên chưa có nước máy Nguồn nước chính ở
xã Diễn Yên là giếng đào (khoảng 95%) và một số giếng khoan Hệ thống thoát nước được xây dựng dọc theo trục đường giao thông Hệ thống thoát nước mặt tại xã được xây dựng đã lâu, do không được khơi thông, nạo vét thường xuyên nên các rãnh thoát nước này hiện bị tắc Theo số liệu thống kê của UBND xã năm 2012 chỉ có 567 hộ (chiếm 16%) trong xã có nhà vệ sinh hợp vệ sinh, trong đó có 231 hộ có nhà vệ sinh tự hoại Còn lại là các nhà vệ sinh tạm, xí thùng, nhà vệ sinh 1 ngăn hay 2 ngăn nhưng không hợp chuẩn Nhiều gia đình có nhà vệ sinh và nguồn nước quá gần nhau, không đạt tiêu chuẩn
Từ năm 2010, xã đã có đội thu gom rác thải, nhưng do lực lượng thu gom ít, lại thu lần lượt từng xóm, nên không thu gom được thường xuyên Nhiều người dân vẫn vứt rác bừa bãi ra môi trường xung quanh
Trẻ em trai và trẻ em gái đều có quyền bình đẳng đến trường học Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em gái đi học mẫu giáo và tiểu học , đă ̣c biê ̣t là tiểu ho ̣c thấp hơn nhiều so với trẻ em trai
Nhà cộng đồng là nơi tổ chức các cuộc họp thôn Hệ thống loa truyền thanh tại đều có ở tất cả các xóm Xã đã rất quan tâm đến việc phát triển các cụm phát thanh để tăng cường việc truyền tải các chính sách của nhà nước và chính quyền kịp thời đến cho người dân
Phụ nữ chịu trách nhiệm chủ yếu trong các hoạt động liên quan đến nước và vệ sinh Trong gia đình Phụ nữ và trẻ em gái đảm nhiệm phần lớn các công việc liên quan đến nước sạch như dùng nước để nấu ăn, giặt quần áo, vệ sinh nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi Việc đi lấy nước trong hầu hết các trường hợp là trách nhiê ̣m chính của phu ̣ nữ
Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào bộ máy chính quyền xã còn thấp và phụ nữ giữ các vị trí kém quan trọng hơn nam giới do tiếng nói của phụ nữ không được ngang bằng với
Trang 36nam giới trong quá trình ra quyết đi ̣nh Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Ban giám sát cộng đồng và Ban vâ ̣n hành và bảo dưỡng công trình cơ sở ha ̣ tầng thấp hơn nhiều so với nam giới
Mục tiêu của tiểu dự án cấp nước và vệ sinh xã Diễn Yên nhằm cải thiện sức khỏe và điều kiện sinh hoạt cho người dân
Tiểu dự án bao gồm 5 hợp phần sau:
Hợp phần 1: Xây dựng một hệ thống cấp nước hoạt động bền vững
Xây dựng một nhà máy xử lý nước với công suất 1.700m3/ngày và hệ thống ống dẫn và phân phối đấu nối với các hộ gia đình sẽ được xây dựng cho khoảng 14.540 dân sống tại xã Diễn Yên tính tới năm 2020
Hợp phần 2: Cung cấp các công trình vệ sinh cho các hộ gia đình và các công trình công cộng
- Hỗ trợ các hộ nghèo và hộ cận nghèo có phụ nữ làm chủ hộ được lựa chọn bởi Hội Liên hiệp phụ nữ xã xây dựng phần ngầm nhà vệ sinh;
- Dự án còn hỗ trợ xây dựng 2 nhà vệ sinh công cộng cho 2 trường mẫu giáo, 2 nhà vệ sinh cho 2 trường tiểu học, 1 nhà vệ sinh cho 1 trường trung học và 1 nhà vệ sinh cho trạm y tế xã Diễn Yên Các nhà tiêu công cộng đảm bảo có 2 khu vực cho nam và
nữ tách biệt
- Hỗ trợ các khoản vay có mức tín dụng tối đa bằng toàn bộ chi phí cho một nhà
vệ sinh cho các hộ không nghèo, để các hộ này mua sắm vật liệu và thực hiện xây dựng nhà vệ sinh Các hộ không nghèo sẽ được vay vốn để xây dựng nhà vệ sinh thông qua Quỹ quay vòng vệ sinh do Hội phụ nữ tỉnh Hội phụ nữ xã quản lý Mức vay vốn tối đa là
4 triệu đồng/hộ và 6 triệu đồng/hộ (tại vùng ngập lụt) với thời gian vay tối đa là 60 tháng, mức lãi suất là 0,5%/tháng Các hộ vay vốn tự chịu trách nhiệm mua vật liệu và thi công Sau khi kết thúc dự án, các quỹ tín dụng quay vòng sẽ được tiếp tục thực hiện bởi Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh và có thể mở rộng cho các khu vực dự án khác thuộc địa bàn tỉnh Các nhóm tiết kiệm/tín dụng sẽ được xem là phương thức hiệu quả gắn kết các thành viên vay vốn, kết hợp các khoản vay phát triển kinh tế với các khoản vay xây dựng mới/cải tạo nâng cấp nhà vệ sinh, giúp các hộ vay vốn có điều kiện trả gốc và lãi các khoản vay, giúp các hộ bị rủi ro, thiên tai cũng hoàn thành trách nhiệm trả gốc và lãi Các nhóm tiết kiệm/tín dụng sẽ được thành lập ở cấp tổ/thôn Mỗi nhóm sẽ có khoảng từ 10-20 hộ Khoảng thanh toán hàng tháng (gốc, lãi và tiết kiệm) là bắt buộc đối
Trang 37với tất cả các hộ tham gia tổ nhóm tín dụng/tiết kiệm Tất cả các thành viên trong nhóm tiết kiệm/tín dụng sẽ phải tiết kiệm một khoản bắt buộc tối thiểu là 50.000 đồng/tháng kể
từ tháng đầu tiên tham gia Những khoản tiết kiệm sẽ chỉ được hoàn trả lại cho người tham gia khi họ đã hoàn trả đầy đủ vốn và lãi vay Mỗi nhóm sẽ tự thảo luận và thống nhất về quy tắc hoạt động của nhóm, cách quản lý quỹ, bình bầu thứ tự các hộ gia đình được vay vốn, các khoản vay nhỏ lấy từ quỹ tiết kiệm do nhóm quản lý Mức lãi suất phải thấp hơn lãi suất ngân hàng để hỗ trợ các hộ phát triển sản xuất, phát triển kinh tế, nhưng không được dưới 0,4%/tháng Tiền tiết kiệm và lãi suất hàng tháng sẽ được thu và bình xét cho vay ngay tại các cuộc họp nhóm tiết kiệm/tín dụng, tổ chức định kỳ hàng tháng
Hợp phần 3: Cải thiện vệ sinh cộng đồng
-Tăng cường sự tham gia của cộng đồng đối với việc thực hiện tiểu dự án và các hoạt động IEC thông qua việc xây dựng kế hoạch hành động CBA-IEC riêng cho từng cộng đồng tham gia trong mỗi tiểu dự án Nhằm đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các công trình nước và vệ sinh sẽ được đầu tư, Dự án được thực hiện thông qua các Kế hoạch hành động dựa vào cộng đồng và thông tin - giáo dục - truyền thông cụ thể cho từng cộng đồng (xã) tham gia vào mỗi tiểu dự án Cộng đồng xã Diễn Yên cũng xây dựng một Kế hoạch hành động như vậy, có tên là “Kế hoạch hành động dựa vào cộng đồng và thông tin - giáo dục - truyền thông cho riêng xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” với mục tiêu như sau:
+ Đảm bảo dự án sẽ mang lại lợi ích tốt đẹp nhất cho người dân vùng dự án, bao gồm cả các nhóm dễ bị tổn thương như người nghèo, phụ nữ và dân tộc thiểu số (nếu có)
+ Đảm bảo có sự tham gia tích cực của cộng đồng trong tất cả các giai đoạn của
và giám sát các nhà thầu;
-Tuyển dụng và đào tạo các HSP để vận động cộng đồng thực hiện các hoạt động
xã hội và các hoạt động IEC;
Trang 38-Xây dựng năng lực triển khai các hoạt động CBA-IEC của các cán bộ cấp tỉnh, các PPMU, các thôn, các xã
Hợp phần 4: Nâng cao năng lực lập kế hoạch ngành
- Đào tạo các cán bộ vận hành các thiết bị của dự án trong giai đoạn vận hành và bảo trì
- Cải thiện công tác giám sát và đánh giá các dự án đầu tư cấp nước và vệ sinh thông qua khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào việc thu thập dữ liệu và đánh giá, và tổ chức các khóa “đào tạo cho đào tạo viên” cho chính quyền các tỉnh và xã có
Hợp phần 5: Nâng cao năng lực quản lý dự án
- Tổ chức các Hội thảo định hướng dự án ở mỗi tỉnh có dự án để trình bày với các bên liên quan chính về cách tổ chức thực hiện dự án, trách nhiệm của các bên, và các tiêu chí lựa chọn các xã tham gia vào dự án
- Xây dựng năng lực cho Ban quản lý dự án tỉnh (PPMU), Hội phụ nữ tỉnh và xã, WSCC và các HSP trong (i) kỹ thuật cấp nước và vệ sinh nông thôn và quản lý hợp đồng; (ii) thẩm định và phân tích tài chính; (iii) quản lý tài chính; (iv) nâng cao nhận thức vệ sinh; (v) kiểm soát chất lượng; (vi) đào tạo nâng cao nhận thức xã hội và giới; (vii) chuẩn bị, thực hiện và theo dõi các kế hoạch môi trường, tái định cư và dân tộc thiểu số; (viii) lập kế hoạch và dự thảo ngân sách; (ix) kế toán và sổ sách kế toán, và (x) đấu thầu, mua sắm
Để đảm bảo lồng ghép giới trong các hoạt động của dự án Kế hoạch Hành động
về Giới (GAP) được xây dựng dựa trên các chính sách của Chính phủ Việt nam và các
kế hoạch về giới và phát triển (GAD), Chiến lược về Giới cho ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tới năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông Thôn (2003),
và đồng thời cũng phù hợp với Chính sách về Giới và Phát triển của ADB (1998) và Sổ tay Hướng dẫn Hoạt động Phần C2/BP (2003)
Các mục tiêu của Kế hoạch Hành động về Giới bao gồm:
Trang 39- Nhâ ̣n thức xã hô ̣i đối với các vấn đề giới trong thể chế hóa và hiê ̣n đa ̣i hóa vê ̣ sinh cấp nước nông thôn;
- Nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động của dự án, và tạo điều kiện cho các hộ nghèo và các hộ cận nghèo do phụ nữ đứng tên chủ hộ tiếp cận với nước sạch và công trình vệ sinh hợp vệ sinh thông qua việc cung cấp đấu nối nước miễn phí và tài trợ xây dựng phần ngầm nhà vệ sinh
- Tăng khả năng tiếp câ ̣n và kiểm soát năng lực của phu ̣ nữ nông thôn đối với các nguồn lực trong cấp nước và các khoản vay tín du ̣ng quay vòng ;
- Lồng ghép các mu ̣c tiêu về giới và công cu ̣ đánh giá và giám sát không phân biê ̣t về giới trong quá trình thực hiê ̣n dự án;
- Để đa ̣t được các thói quen nha ̣y cảm về giới và bình đẳng giới trong công tác quản lý dự án cấp nước nông thôn; và
- Tăng cường trao quyền cho phụ nữ và quyền tiếp cận vào quá trình ra quyết định
Để đạt được những mục tiêu này, Kế hoạch Hành động Giới lồng ghép giới vào tất cả các hoạt động của dự án thông qua việc cung cấp các chỉ số về giới, xác định tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các hoạt động của dự án như : (i) bảo đảm ít nhất có 30% cán bộ nữ được tuyển dụng làm việc cho BQLDATW và BQLDA tỉnh ; (ii) ít nhất 40% thành viên
là phụ nữ trong Ban nước và vệ sinh xã, và 50% thành viên là phụ nữ trong đội Tuyên truyền viên
Hơn nữa, Kế hoạch Hành động về Giới (GAP) kết hợp chặt chẽ với Kế hoạch hành động dựa vào cô ̣ng đồng và Thông tin – giáo dục - truyền thông (CBA-IEC) nhằm huy đô ̣ng nam giới và phu ̣ nữ (đă ̣c biê ̣t là phu ̣ nữ đứng tên chủ hô ̣, nam nữ các hô ̣ nghèo) tham gia vào các hoa ̣t đô ̣ng cô ̣ng đồng và chiến di ̣ch truyền thôn g về nước và vê ̣ sinh trong khu vực tiểu dự án
Trang 40CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn xã Diễn Yên, tỉnh Nghệ An
Khách thể nghiên cứu: Ban quản lý dự án tỉnh, Ban nước sạch và vệ sinh xã, Đội
tuyên truyền viên nước sạch và vệ sinh, Hội phụ nữ tỉnh, Hội phụ nữ xã, các tổ chức đoàn thể, nam giới và nữ giới, hộ nghèo mà phụ nữ làm chủ, hộ cận nghèo mà phụ nữ làm chủ trong khu vực dự án
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào các chiều cạnh về xã hội và giới trong khuôn khổ Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường xã Diễn Yên, tỉnh Nghệ An
- Quy mô không gian: xã Diễn Yên, tỉnh Nghệ An
- Quy mô thời gian: từ tháng 1/2012 – tháng 12/2015
2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cách tiếp cận
Luận văn này thực hiện dựa trên cách tiếp cận liên ngành và cách tiếp cận hệ thống để phân tích và đánh giá vài trò của phụ nữ trong việc duy trì bền vững hiệu quả của Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn
2.3.1.1 Tiếp cận liên ngành
Tiếp cận liên ngành là cách tiếp cận một đối tượng bằng nhiều cách thức, dựa trên
dữ liệu của nhiều ngành Tính liên ngành trong nghiên cứu khoa học là đ ặc điểm nổi trô ̣i của sự phát triển khoa học hiện đại , là xu hướng chính trong thế kỷ này Trả lời câu hỏi tính liên ngành trong sự phát triển của khoa học hiện đại có nhiều cách giải nghĩa, nhưng về đa ̣i thể nó được hiểu là sự tích hợp , thâm nhâ ̣p giữa các khoa ho ̣c trong nghiên cứu
Vì vậy về bản chất đó là sự thay đổi “cách nhìn”đối tượng từ chỗ chỉ xuất phát từ một hệ quy chiếu sang hê ̣ phức hợp Sự thay đổi đó là không đơn giản , điều này được thể hiê ̣n không chỉ trong li ̣ch sử phát triển của khoa ho ̣c , mà cả trong chính thực hành nghiên cứu Với cách tiếp cận này, vai trò của phụ nữ trong bối cảnh mọt dự án phát triển không chỉ được nghiên cứu theo chiều cạnh của khoa học xã hội, giới mà còn được nghiên cứu dưới các chiều cạnh khác nhau của các ngành khoa học khác nữa như khoa học bền