1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chính sách sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của hàn quốc và bài học kinh nghiệm cho việt nam

16 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả Trịnh Ngọc Anh, Dương Trí Dũng, Lê Duy Linh, Bùi Minh Hằng, Phạm Minh Tâm, Lim Chill Ilk, Đào Thị Liên
Trường học Đại Học Ngoại Thương Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 37,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài chính sách sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Thành viên 1 Trịnh Ngọc Anh 2 Dương Trí Dũng 3 Lê Duy Linh 4 Bùi Minh Hằng 5 Phạm Minh Tâm 6 Lim[.]

Trang 1

Đề tài: chính sách sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn

Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

6 Lim Chill Ilk

7 Đào Thị Liên

I Bối cảnh trong nước của Hàn Quốc và bối cảnh quốc tế

1 Tổng quan về kinh tế Hàn Quốc

• Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ 3 ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006 Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những nước giầu nhất

• Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại.GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhẩy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007 Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc Sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn Quốc được coi như

là "Huyền thoại sông Hàn"

Trang 2

• Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, với tốc độ t ăng trưởng GDP bình quân là 5% mỗi năm Một phân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs năm 2007 đã chỉ ra Hàn Quốc sẽ trở thành nước giầu thứ 3 trên thế giới vào năm 2025 với GDP bình quân đầu người là 52.000 USD và tiếp 25 năm sau nữa sẽ vượt qua tất cả các nước ngoại trừHoa Kỳ để trở thành nước giàu thứ hai trên thế giới, với GDP bình quân đầu người là 81.000 USD

• Năm 1996, Hàn Quốc trở thành thành viên của OECD, một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của đất nước Giống như các quốc gia phát triển khác, ngành dịch vụ đã tăng nhanh, chiếm khoảng 70% GDP Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống của nhân dân được nâng cao rất nhanh trở nên ngang bằng thậm chí cao hơn các quốc gia phát triển khác ở châu Âu và các nước Bắc Mỹ Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,912 vào năm 2006

• Hiện nay, thu nhập và tài sản của Hàn Quốc đang tăng một phần là do sự đầu tư và xuất khẩu công nghệ cao sang các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, và Indonesia

• Hàn Quốc là một nước có số giờ làm việc cao nhất thế giới

2 Bối cảnh quốc tế

Một số hiệp định Hàn Quốc đã ký kết vào có lợi cho Hàn Quốc khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

 Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần giữa Hàn Quốc và một số nước trên thế giới như Việt Nam (năm 1994), Thổ Nhĩ Kỳ (1983), Indonesia Australia,…

Lợi ích: Miễn, giảm số thuế phải nộp tại các nước sở tại cho các đối tượng cư trú của Hàn Quốc Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa cơ quan thuế của Hàn Quốc với cơ quan thuế các nước/vùng lãnh thổ ký kết hiệp định trong công

Trang 3

tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản

 Hiệp định thương mại tự do với 15 nước và khu vực trên thế giới (số liệu năm 2017) trong đó có khu vực ASEAN, EU, Việt Nam, Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Campuchia, …

Lợi ích từ FTA :

- Loại bỏ hầu hết thuế, giảm các hạn chế phi thuế quan, và loại bỏ các rào cản đối với thương mại dịch vụ và đầu tư đã kích thích thương mại hàng hoá, dịch vụ và nước ngoài đầu tư trực tiếp của Hàn quốc

- FTA đóng vai trò quan trọng trong việc “nâng cao chuỗi giá trị” của đất nước để tăng khả năng cạnh tranh ở các ngành công nghiệp tiến tiến và hỗ trợ những việc làm có chất lượng cao

- Tạo lợi thế để đàm phán các FTA khác

 Hiệp định về tự do xúc tiến bảo hộ đầu tư giữa Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ, Paraguay, Philipines…

II Mô hình định hướng chính sách đầu tư trực tiếp ra nước

ngoài

Chính sách đầu tư quốc tế của HQ có sự kết hợp giữa tích cực thu hút FDI

từ nước ngoài và hỗ trợ đầu tư nước ngoài:

Nhìn lại chặng đường đầu tư ra nước ngoài trước kia của HQ, trước 1975 vốn đầu tư ra nước ngoài của HQ chưa có tầm quan trọng, chỉ khoảng 6 triệu USD trong khi điều luật về đầu tư ra nước ngoài đã được ban hành từ tháng 12 năm

1968 Tuy nhiên đầu tư ra nước ngoài của HQ buốc sang một giai đoạn mới từ

1975 khi phần lớn các cơ chế liên quan đến đầu tư ra nước ngoài do thống đốc ngân hàng HQ đảm nhận thay vì xin phê duyệt của chính phủ như trước Từ năm

Trang 4

1980, chính phủ nới lỏng, bãi bỏ các đạo luật, điều lệ gây hạn chế đầu tư ra nước ngoài trước đây khiến đầu tư ra nước ngoài của HQ tăng nhanh

Từ năm 1991 đến nay, chính phủ đã mở rộng vai trò hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các công ty HQ đầu tư ra nước ngoài thông qua việc cung cấp thông tin về thị trường đầu tư, đặc biệt với những nước mà HQ chưa có quan hệ ngoại giao Trong việc cải cánh hành chính, để tạo sự thuận lợi, nhanh chongsm tránh làm lỡ mất các cơ hội đầu tư của các công ty chính phủ đã ủy quyền phê chuẩn cấp giấy phép đầu tư cho ngân hàng

HQ đối với những dự án có quy mô vốn từ 100.000 USD trở xuống, còn những dự

án trên mức đó thì vẫn do chính phủ xem xét và phê duyệt Để đưa ra các chính sách thích hợp với nhu cầu thực tế của các cty, chính phủ HQ đã thành lập các ủy ban hợp tác đầu tư song phương và hiệp hội các nhà đầu tư HQ nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các cty HQ đầu tư ra nước ngoài bằng cách hàng năm tổ chức các diễn đàn gặp mặt giữa ủy ban, hiệp hội, các nhà đầu tư, nhằm đánh giá và nắm bắt những vướng mắc, khó khắn của các nhà đầu tư ở thị tường nước ngoài để có các biện pháp khắc phục, giải quyết kịp thời

Từ năm 2005, để giảm bớt áp lực lên hoạt động xuất khẩu do sự tăng giá của đồng won, HQ đang có nhều động thái để khuyến khích các doanh nghiệp nước này tăng cường đầu tư ra nước ngoài Cụ thể là chính phủ sẽ miễn thuế 3 năm cho các đầu tư vào BĐS; đồng thời nới lỏng mức hạn chế trong việc thành lập các chi nhánh nước ngoài của các DN tài chính trong nước

Chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, hợp tác khu vực và tiến tới toàn cầu hóa đã là động lực thúc đẩy nguồn vốn đầu tư ở HQ ngày càng tăng Tóm lại, chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của HQ có những điểm như sau:

Trang 5

+ Năm 2005 chuyển từ chính sách tập trung thu hút FDI vào trong nước và hạn chế đầu tư ra nước ngoài, sang thúc đẩy các cty và các cá nhân đầu tư mạnh mẽ ra nước ngoài

+ Hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài

+ Mở rộng các lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài

+ Mở rộng thị trường đầu tư nước ngoài

III Nội dung và công cụ chính sách chính sách đầu tư trực

tiếp ra nước ngoài của HQ

+ Nhà nước hỗ trợ vốn cho các nhà đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài + Nhà nước tăng cường thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư cùng các hoạt động xúc tiến thương mại: Mở rộng mạng lưới của các tổ chức xúc tiến

+ Thành lập các Ủy ban hợp tác kinh tế song phương, tổ chức các diễn đàn gặp mặt giữa các ủy ban, hiệp hội, các nhà đầu tư, nhằm đánh giá và nắm bắt những vướng mắc, khó khan của các nhà đầu tư ở thị trường nước ngoài

+ Chính phủ HQ nới lỏng các quy định về đầu tư ra nước ngoài cho phép gia tăng mức đầu tư vào BĐS

+ Chính phủ đã ủy quyền phê chuẩn cấp giấy phép đầu tư cho NHTW đối với những dự án quy mô từ 100.000 USD trở xuống

+ Miễn thuế 3 năm cho các nhà đầu tư địa phương khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài

+ Nới lỏng trong việc thành lập các chi nhánh nước ngoài của các DN tài chính trong nước

IV Thực trạng tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của

Hàn Quốc trong những năm gần đây

Trang 6

Khu vực ASEAN là khu vực quan trọng thứ 3 về đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc sau Trung Quốc và Hoa Kỳ với số vốn đăng ký đầu tư lũy kế đạt khoảng 71,422 tỷ USD (chiếm 17,1% tổng vốn FDI) qua 9,989 dự án (chiếm 16,3% số dự án) với giá trị giải ngân khoảng 42,7 tỷ USD đạt khoảng 59,7% thấp hơn giá trị giải ngân chung là khoảng 70%

Theo con số thống kê do Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc công bố ngày 13/3/2018, vốn đầu tư trực tiếp của nước này ra nước ngoài trong năm ngoái đã lên mức kỷ lục 43,7 tỷ USD, tăng 11,8% so với con số 39,1 tỷ USD được ghi nhận trong năm trước đó, nhờ các khoản đầu tư đổ vào lĩnh vực tài chính

Số liệu thống kê cho thấy vốn đầu tư của các công dân và công ty Hàn Quốc

đổ vào Mỹ đã tăng 12,8% lên mức 15,3 tỷ USD, trong khi vốn đầu tư vào Hong Kong (Trung Quốc) tăng 90,2% lên 2,97 tỷ USD Tuy nhiên, vốn đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Trung Quốc đại lục đã giảm 11,9% xuống còn 2,97 tỷ USD.  Xét về từng lĩnh vực, trong năm ngoái đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc vào bất động sản giảm 43,3% so với năm trước đó xuống còn 3,76 tỷ USD, còn đầu tư vào ngành sản xuất chế tạo cũng giảm 3,4% xuống còn 7,84 tỷ USD

Tuy nhiên, vốn đầu tư vào ngành bảo hiểm và tài chính tại các nước khác của Hàn Quốc lại tăng 47,5% lên 12,7 tỷ USD

- Về đối tác đầu tư: Hàn Quốc đã có dự án đầu tư ra tất cả các khu vực trên thế giới với dự án tại 188 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, tập trung vào các quốc gia như Trung Quốc với tổng vốn đăng ký đạt 86,9 tỷ USD (bao gồm Hong Kong), Hoa Kỳ (83 tỷ USD), Việt Nam (20,635 tỷ USD), Úc (17,38 tỷ USD), Hà Lan (15,26 tỷ USD), Cayman Island (14,83 tỷ USD), Canada (13,91 tỷ USD), Indonesia (12,92 tỷ USD), Anh Quốc (12,5 tỷ USD), Malaysia (11,063 USD)

Ngoài Việt Nam, Indonesia, Malaysia đứng trong TOP 10, các nước trong khu vực ASEAN như Singapore, Myanmar, Campuchia, Philippines, Thái Lan,

Trang 7

Lào đều nằm trong TOP 40 thị trường đầu tư ra của Hàn Quốc với tổng vốn đăng

ký từ khoảng từ 1 đến 10 tỷ USD

Khu vực ASEAN là khu vực quan trọng thứ 3 về đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc sau Trung Quốc và Hoa Kỳ với số vốn đăng ký đầu tư lũy kế đạt khoảng 71,422 tỷ USD (chiếm 17,1% tổng vốn FDI) qua 9,989 dự án (chiếm 16,3% số dự án) với giá trị giải ngân khoảng 42,7 tỷ USD đạt khoảng 59,7% thấp hơn giá trị giải ngân chung là khoảng 70%

- Về lĩnh vực đầu tư: Trước đây, đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc vào

ASEAN chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp chế tạo thâm dụng lao động để xuất khẩu sang thị trường nước thứ 3 Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của các nước trong khu vực cũng như sự lớn mạnh

về sức cạnh tranh về vốn, công nghệ của các doanh nghiệp Hàn Quốc, đầu tư vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng, dịch vụ, tài chính, bảo hiểm, giải trí, CNTT, xây dựng, bất động sản, logistic, bán buôn, bán lẻ, qua hình thức M&A  với mục tiêu thâm nhập thị trường các nước bản địa và trong khu vực ASEAN có xu hướng gia tăng mạnh từ đầu thế kỷ 21

- Về mục đích đầu tư: Hàn Quốc đầu tư ra nước ngoài với các mục tiêu

tiếp cận thị trường (chiếm 36% mục đích đầu tư); tiết giảm chi phí sản xuất (31%);

và tiếp cận nguồn nguyên liệu; tiếp cận công nghệ nguồn; tránh rảo cản thương mại

và đầu tư kết hợp phát triển thương mại Ngoài ra, gần đây xu hướng các nhà đầu

tư Hàn Quốc đón đầu các ưu đãi về thuế quan khi các nước ASEAN tham gia các FTA thế hệ mới (TPP, EU ) với mục tiêu gia công - xuất khẩu

Tóm lại, Chính phủ Hàn Quốc không xây dựng những chính sách, định hướng cụ thể cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài mà để thị trường tự động

điều tiết (invisible hand) các hoạt động đầu tư, kinh doanh của khối doanh nghiệp

tư nhân Nhằm khuyến khích và hỗ trợ việc đầu tư ra nước ngoài tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs,) chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng 4 nhóm chính

Trang 8

sách lớn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp: (1) Hỗ trợ về tài chính, chủ yếu thông qua Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc Korea Eximbank; (2) Hỗ trợ cho vay tối đa 90% tổng vốn đăng ký đầu tư đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ; Tổng công ty bảo hiểm xuất khẩu nhà nước bảo lãnh các khoản đầu tư trực tiếp và gián tiếp; (3) Hỗ trợ về thuế và thúc đẩy ký các hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và bảo hộ đầu tư; Và (4) hỗ trợ xúc tiến đầu tư thông qua Cơ quan xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) chủ yếu cung cấp thông tin và thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và nới lỏng và đơn giản hóa các quy định về đăng ký đầu tư ra nước ngoài.Ngoài ra, làn sóng văn hóa Hàn Quốc (KOREAN WAVE) cũng được triển khai một cách có chiến lượng, hệ thống, không chỉ quảng bá văn hóa Hàn Quốc, tạo doanh thu trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân tham gia mà gián tiếp xây dựng hình ảnh tích cực về đất nước Hàn Quốc, qua

đó thúc đẩy giao thương thương mại và đầu tư, đặc biệt trong các sản phẩm tiêu

dùng, điện tử (sản phẩm đầu cuối) tại thị trường các nước đang phát triển.Đồng

thời, Chính phủ Hàn Quốc cũng trực tiếp hỗ trợ các Công ty, Tập đoàn trong nước

về việc tiếp cận các lĩnh vực như năng lượng nguyên tử - năng lượng, đường sắt cao tốc, hạ tầng giao thông quy mô lớn, thiết bị quốc phòng, hàng không - vũ trụ

(nhưng lĩnh vực mới, Hàn Quốc còntương đối kém cạnh tranh và ít kinh nghiệm

hơn các nước đi trước như Pháp, Đức, Nhật, Mỹ  ) tại các thị trường hải ngoại

thông qua vận động chính trị, kết hợp ODA với đầu tư tư nhân để hỗ trợ các doanh nghiệp ngày xuất khẩu công nghệ ra nước ngoài, đưa Hàn Quốc sánh ngang nhóm các nước dẫn đầu, đi trước

V Đánh giá những thành công và hạn chế trong chính sách

đầu tư của Hàn quốc.

1 Thành công

Nhờ những chính sách thích hợp, luôn biến đổi một cách uyển chuyển, linh hoạt và vẫn duy trì mạnh mẽ và định hướng dứt khoát mục tiêu ban đầu của chính

Trang 9

phủ Hàn Quốc, tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc đã đạt đựơc những thành tựu vô cùng to lớn

Giai đoạn 1976-1979 là thời kỳ xuất phát về vốn đầu tu ra nuớc ngoài của Hàn quốc, đầu tu vào thuơng mại, xây dựng phát triển nhanh do quy mô buôn bán đuợc mở rộng ra toàn cầu Năm 1977 là lần đầu tiên Hàn quốc du thừa tài khoản hiện hành với tổng vốn đầu tu nuớc ngoài là 77 triệu USD

Năm 1986 Hàn quốc rơi vào tình trạng du thừa ngoại tệ, giá nhân công trong nuớc tăng vọt là cho chi phí sản xuất trong nuớc tăng theo Truớc tình hình đó các công ty Hàn quốc đựơc khuyến khích đầu tu ra nuớc ngoài mạnh mẽ Tất cả các ràng buộc về vốn đầu tu, các quyết định khác đối với các công ty đầu tu ra nuớc ngoài đều đựơc dỡ bỏ

Chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phuơng hoá, hợp tác khu vực và tiến tới toàn cầu hoá đã là động lực thúc đẩy nguồn vốn đầu tu ở Hàn Quốc ngày càng tăng Giữa những năm 1980 đầu tu ra nuớc ngoài tăng đột ngột: 1,2 tỉ USD (1988) năm 1995 đạt xấp xỉ 2,9 tỉ USD

Xét về cơ cấu khu vực đầu tu, Hàn Quốc đầu tu vào Mĩ nhiều nhất, sau đó đến Nhật bản, EU, Trung Quốc và ASEAN Còn về cơ cấu ngành và lĩnh vực đầu

tu thì Hàn quốc đầu tu chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, sau đó đến bán buôn bán lẻ

và dịch vụ

Tuy nhiên từ năm 1997, các công ty Hàn quốc bận rộn cải tổ lại cơ cấu kinh

tế trong nuớc sau khủng hoảng nên đầu tu ra nuớc ngoài có giảm đôi chút

Theo Báo cáo đầu tư toàn cầu 2015 của UNCTAD, Hàn Quốc đứng thứ 13 trong số 20 nền kinh tế có mức đầu tư nước ngoài lớn nhất trên thế giới trong năm

2013 và 2014 Doanh nghiệp Hàn Quốc chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp chế tạo, dịch vụ và tài chính - ngân hàng, xây dựng - kinh doanh bất động sản

Trang 10

+ Về đối tác đầu tư: Hàn Quốc đã có dự án đầu tư ra tất cả các khu vực trên thế giới với dự án tại 188 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, tập trung vào các quốc gia như Trung Quốc với tổng vốn đăng ký đạt 86,9 tỷ USD (bao gồm Hong Kong), Hoa Kỳ (83 tỷ USD), Việt Nam (20,635 tỷ USD), Úc (17,38 tỷ USD), Hà Lan (15,26 tỷ USD), Cayman Island (14,83 tỷ USD), Canada (13,91 tỷ USD), Indonesia (12,92 tỷ USD), Anh Quốc (12,5 tỷ USD), Malaysia (11,063 USD)

+ Ngoài Việt Nam, Indonesia, Malaysia đứng trong TOP 10, các nước trong khu vực ASEAN như Singapore, Myanmar, Campuchia, Philippines, Thái Lan, Lào đều nằm trong TOP 40 thị trường đầu tư ra của Hàn Quốc với tổng vốn đăng

ký từ khoảng từ 1 đến 10 tỷ USD

+ Khu vực ASEAN là khu vực quan trọng thứ 3 về đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc sau Trung Quốc và Hoa Kỳ với số vốn đăng ký đầu tư lũy kế đạt khoảng 71,422 tỷ USD (chiếm 17,1% tổng vốn FDI) qua 9,989 dự án (chiếm 16,3% số dự án) với giá trị giải ngân khoảng 42,7 tỷ USD đạt khoảng 59,7% thấp hơn giá trị giải ngân chung là khoảng 70%

+ Về lĩnh vực đầu tư: Trước đây, đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc vào ASEAN chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp chế tạo thâm dụng lao động để xuất khẩu sang thị trường nước thứ 3 Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của các nước trong khu vực cũng như sự lớn mạnh

về sức cạnh tranh về vốn, công nghệ của các doanh nghiệp Hàn Quốc, đầu tư vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng, dịch vụ, tài chính, bảo hiểm, giải trí, CNTT, xây dựng, bất động sản, logistic, bán buôn, bán lẻ, qua hình thức M&A  với mục tiêu thâm nhập thị trường các nước bản địa và trong khu vực ASEAN có xu hướng gia tăng mạnh từ đầu thế kỷ 21

+ Về mục đích đầu tư: Hàn Quốc đầu tư ra nước ngoài với các mục tiêu tiếp cận thị trường (chiếm 36% mục đích đầu tư); tiết giảm chi phí sản xuất (31%); và tiếp cận nguồn nguyên liệu; tiếp cận công nghệ nguồn; tránh rảo cản thương mại và

Ngày đăng: 06/03/2023, 15:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w