1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trong điểm phía bắc. thực trạng và giải pháp

88 932 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Các Khu Công Nghiệp Tại Vùng Kinh Tế Trong Điểm Phía Bắc. Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Nguyễn Xuân Thủy
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Trần Thị Mai Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đầu Tư
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 716 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trong điểm phía bắc. thực trạng và giải pháp

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Đảng và nhà nước ta đã và đang chủ trương phát triển đất nước,tạobước nhảy lớn để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại

Trong thời điểm hiện nay,tình hình đầu tư nước ngoài vừa gián tiếp vừa trựctiếp đều tăng lên rất đáng kể.Tuy nhiên kết quả thu hút này vẫn chưa đáp ứngđươc yêu cầu huy động vốn để đảm bảo kinh tế tăng trưởng nhanh và bềnvững Để làm đươc điều đó chúng ta phải luôn luôn phấn đấu trong mọi khíacạnh xã hội mà đặc điểm quan trọng nhất là tốc độ phát triển kinh tế.Trongnăm 2008 là giai đoạn khủng hoảng thế giới toàn cầu đang diễn ra,băt đầu từ

Mỹ và cuộc khủng hoảng dã lan rộng ra toàn thế giới với quy mô và múc độrất nghiêm trọng.Vì thế, Việt Nam của chúng ta cũng phải chịu ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng này làm cho đất nước ta lại càng khó khăn và để thưchiện mục tiêu đến năm 2020 trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.Tuy rất khókhăn nhưng không phải la không thể,nó đòi hỏi chung ta phải nỗ lực và thậntrọng trong từng bước đi,các nhà quản lý kinh tế phải đưa ra nhưng chích sách

và đường lối phát triển đúng đắn để đưa nước ta hoàn thành mục tiêu vào năm

2020 trở thành một nước công nghiệp

Trong thời gian thưc tập và nghiên cứu tại Vụ quản lý các khu kinhtế_Bộ Kế Hoạch và Đầu tư.Em nhận thấy KCN,KCX,KCNC đóng gópkhông nhỏ vào quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.Vìvậy,KCN,KCX,KCNC cần được ưu tiên đầu tư và quản lý để tạo ra môitrường thu hút đầu tư tốt nhất nhằm thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệpnước ngoài một cách có hiệu quả

Vì vậy tôi xin chọn đề tài: “ TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯTRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VÙNGKINH TẾ TRONG ĐIỂM PHÍA BẮC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”làm báo cáo thực tập tốt ngiệp với mong muốn đươc nâng cao tầm hiểu biết

về thực trạng phát triển các KCN_KCX.Đồng thời từ đó từng bước đề ra cácgiải pháp nhằm xử lý các vấn đề còn tồn tại và tạo đà phát triển mạnh mẽ cho

Trang 2

các KCN cả nước nói chung và vùng KTTĐ phía Bắc nói riêng Kết cấu đềtài gồm 3 chương:

CHƯƠNG1: KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC

CHƯƠNG3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI KHU CN VÙNG KT TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC

Trong quá trình ngiên cứu không tránh khỏi nhưng thiếu sót và hạn chế dolượng thông tin hạn chế,kinh nghiệm và trình độ có hạn Vì vậy,rất mong cô(thạc sĩ) Trần Thị Mai Hoa chỉ bảo góp ý để em hoàn thành đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn quá trình hướng dẫn,chỉ bảo tận tình của cô(thạcsĩ) Trần Thị Mai Hoa cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cô chú,anh chị tại

Vụ Quản lý các khu kinh tế_Bộ kế hoạch và đầu tư đã giúp em hoàn thànhchuyên đề này!

Sinh Viên:

Nguyễn Xuân Thủy

Trang 3

CHƯƠNG1: KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1.1.Khái niệm và đặc điểm khu CN

1.1.1 Khái niệm khu CN và đặc điểm của khu công nghiệp

1.1.1.1 Quá trình hình thành KCN trên Thế giới và khái niệm KCN ở Việt Nam

Khu công nghiệp( Industrial Zone ) là một kiểu tổ chức lãnh thổ côngnghiệp ra đời từ cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX ở một số nước tư bản pháttriển như Mĩ, Đức, Anh , Ý

Các nước tư bản cho rằng để thực hiện được mục tiêu “ cực đại hoá lợinhuận và cực tiểu hoá chi phí” thì việc phân bố và hình thành KCN phải tậptrung vào khu vực nhất định Họ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng (đườnggiao thông, đường ống dẫn nước, đường dây điện, đường dẫn khí và cácđường dây liên lạc…) sau đó xây dựng các xí nghiệp để bán nhằm mục đíchtập trung và đầu tư tích tụ tư bản Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các KCNphát triển mạnh về số lượng, quy mô, loại hình và phạm vi hoạt động CácKCN không chỉ được xây dựng ở Châu Âu, Châu Mĩ mà còn được xây dựng

ở các châu lục khác như Châu Á, Châu Phi, Châu Úc Riêng khu vực châu Áhiện nay có khoảng trên 3200 KCN đang hoạt động và xây dựng

Trong xu thế toàn cầu hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ, các nước đangphát triển đã nhanh chóng nhận ra sự khó khăn Thực tế đó làm xuất phát nhucầu thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng lớn Tuynhiên, ý tưởng này gặp trở ngại là bản thân các nước phát triển ko đủ sức tạo

ra một môi trưởng đầu tư thông thoáng, hấp dẫn trên toàn quốc để thu hút cácnhà đầu tư Do đó, các nước này đã tập trung phát triển, liên kết vào một khuvực nhất định Đó là nguồn gốc khách quan cho ra đời các KCN tập trung Tạiđây, ngoài các yếu tố tự nhiên thuận lợi như gần các đầu mối giao thông, gầnnguồn nguyên liệu…Chính phủ còn cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầngtương đối đồng bộ, áp dụng các thủ tục hành chính đơn giản … làm tăng thêmtính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 4

Như vậy, KCN thực sự là nơi gặp gỡ và thoả mãn các nhu cầu, lợi ích của cácnhà đầu tư và nước nhận đầu tư.

Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, mô hình KCN cũng ngàycàng đa dạng và phong phú Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và yêu cầu củamỗi quốc gia, trong những giai đoạn nhất định mà có các quan niệm khácnhau vể KCN Ví dụ như Trung Quốc và một số nước phương Tây quan niệmKCN như khu hành chính kinh tế, ở đó có đầy đủ các phân khu chức năng:hành chính, dịch vụ, sản xuất thương mại, khu vui chơi giải trí…hoặc như ởThái Lan, Philippin quan niệm KCN như một thành phố công nghiệp vì ngoàiviệc cung cấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và

xử lí nước thải, các KCN còn bao gồm khu thương mại, trường học, bệnhviện, dịch vụ ngân hang, khu vui chơi giải trí, nhà ở cho công nhân…Tuy vậy,các mô hình KCN đã hình thành có thể được khái quát thành hai mô hìnhchính:

Thứ nhất, các KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tậptrung các doanh nghiệp công nghiệp và dich vụ sản xuất công nghiệp, không

có dân cư sinh sống như các khu công nghiệp ở Indonexia, Maylaxia và một

số các nước khác

Thứ hai, KCN là khu vực lãnh thổ rộng va có nền tảng là sản xuất côngnghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dich vụ, kể cả dịch vụ sàn xuất côngnghiệp, dich vụ sinh hoat, khu thương mại, khu vui chơi giải trí, văn phòng,nhà ở… Thực chất, mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như cáckhu công nghiệp batam ( Indonexia), các công viên công nghiệp ở Đài Loan

và một số nước Tây Âu

Ở Việt Nam, vào thập niên 60, 70 của thế kỉ XX, được sự trợ giúp củaTrung Quốc, Cộng hoà Dân chủ Đức, Liên Xô… Một số KCN đã được xâydựng ở các tình phía Bắc như KCN Việt Trì, KCN Thái Nguyên, KCNThượng Đình Hà Nội… Ở phía Nam có các khu công nghiệp Biên Hoà, KCNTrà Nóc… đây là các KCN ban đầu ban đầu hình thành theo mô hình cũ, cóđặc điểm là chưa có tường bao riêng và hệ thống xử lí nước thải Chỉ từ năm

1991 trở lại đây, các KCN theo mô hình mới được hình thành và phát triển

Trang 5

Khởỉ đầu là KCN Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh, đến nay đã trải qua

19 năm phát triển Các KCN đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển,tăng trưởng kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với pháttriển đô thị, đẩy nhanh quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng CNH– HDH, góp phần giải quết công ăn việc làm cho lao động địa phương, đàotạo cán bộ quản lí, công nhân lành nghể, tạo điểu kiện để xử lí các tác độngtới môi trường một cách tập trung Các KCN thực sự đóng vai trò tích cựctrong công cuộc CNH – HDH

Theo luật đầu tư năm 2005, định nghĩa về KCN, KCX như sau: “ Khu

công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch

vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, được thành lập theo quy định của Chính Phủ”.

Như vậy, KCN của Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp (mô hình 2), chỉ

là nơi tập trung các cơ sở sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp.Trong giai đoạn đầu, mô hình này là tương đối thích hơpj, nó phù hợpvới khả năng của công ty phát triển hạ tầng, tuy nhiên qua một quá trình pháttriển mô hình này đã bộc lộ khá nhiều bất cập: các KCN hoặc biệt lập với khudân cư hoặc nằm quá gần các trục quốc lộ và thường không được phát triểnđồng bộ với hệ thống kết cấu hạ tầng ngoài hang rào KCN nên gặp rất nhiềukhó khăn trong các vấn để cung ứng lao động, cung cấp các tiện ích côngnghiệp và phục vụ đời sống, bảo vệ môi trường và thu hút đầu tư Mô hìnhnày chưa đáp ứng được yêu cầu công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và cần được hoàn thiệntrong thời gian tới

1.1.2 Đặc điểm các KCN.

Cho đến nay, các KCN đã được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốcgia, đặc biệt là các nước đang phát triển Tuy có sự khác nhau về quy mô, địađiểm va phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng các KCN vẫn có các đặcđiểm chung Các đặc điểm chủ yểu của các KCN ở VIệt Nam là:

- Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuấtcông nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mà không có dân cư, là

Trang 6

nưoi xây dưng để thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc cácđơn vị kinh doanh dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp Theo điều 6,quy chế KCN, KCX ban hành kèm Nghị định 36Cp thì doanh nghiệp KCN

có thể là các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên tham gia hợp tác kinh doanh,các doanh nghiệp này được quyền kinh doanh các lĩnh vực:

+ Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu vàtiêu dung trong nước; phát triền và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹthuật, quy trình công nghệ

+ Nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng vàtạo sản phẩm mới

+ Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp

+ Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng

- Về tổ chức quản lí: mỗi KCN đều thành lập hệ thống ban quản líKCN cấp tỉnh tại các tỉnh, thành phố trực thuộc TW để trực tiếp thực hiện cácchức năng quản lí nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong khucông nghiệp KCN Ở tầm vĩ mô, quản lí các KCN còn gồm có nhiều Bộ như

Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Thương mại Bộ công nghiệp, Bộ xây dựng

- Về cơ sở hạ tầng kĩ thuật: các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạtầng tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường, hệ thốngđiện nước, điện thoại…Thông thường việc phát triển cơ sở hạ tầng trongKCN do một công ty xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm Ở ViệtNam, những công ty này là các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước thực hiện Các công ty pháttriển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau đó cho phép chocác doanh nghiệp thuê lại

1.1.3.Những tác động của các KCN trong quá trình phát triển.

Quá trình phát triển các KCN đã và đang tạo ra các lợi ích to lớn khôngthể phủ nhận đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, đặc biệt là Việt Nam Tuy vậy,bên cạnh những lợi ích mang lại, quá trình phát triển các KCN cũng để lạikhông ít những tiêu cực trong mỗi bước đi Do đó, để có một cái nhìn toàn

Trang 7

diện khi xem xét quá trình phát triển các KCN, ta cần nhìn nhận những tácđộng trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực.

1.1.3.1.Những tác động tích cực.

- KCN là nơi tiếp nhận và tập trung nguồn vốn, công nghệ và kinhnghiệm quản lí từ các nhà đầu tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, nâng caosức cạnh tranh Với ưu điểm về vị trí địa lí, kết cấu hạ tầng, các ưu đãi về tàichính và thủ tục hành chính là môi trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tưtrong nước và nước ngoài Đặc biệt khi các nước phát triển luôn thiếu hụt cácnguông lực để phát triển kinh tế thì việc hợp tác với nhà đầu tư nước ngoàichính là chìa khoá để bổ sung, tiếp thu hai nguồn lực là vốn và công nghệ

- Các KCN được xây dựng và phát triển tạo ra nguồn hàng hoá dồi dàophục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ vàongân sách, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phẩn chuyển dich cơcấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ CNH-HDH, tạo điều kiện để phát triển ngànhcông nghiệp theo quy hoạch và có kế hoạch, sử dụng hiểu quả vốn đầu tư, tiếtkiệm chi phí sản xuất và đất đai

- KCN phát triển thúc đẩy các vùng kinh tế mới của đất nước, tạo lập

và thúc đẩy các quan hệ liên kết tích cực, trực tiếp và gián tiếp giữa các cơ sởkinh doanh và ngoài KCN để tạo ra những xung lực mới cho phát triển kinh tếtoàn đất nước Sự liên kết này tạo cho các KCN khả năng tận dụng các nguồnlực trong nước, các nguồn lực được sử dụng kém hiệu quả ở nơi khác KCN lànơi tập trung nhân tài, vật lực của quốc gia và được xây dựng tập trung thànhnhững điểm nổi bật trong bộ mặt kinh tế cả nước KCN là đẩu tầu tăng trưởngkéo theo sự phát triển của vùng lân cận và các vùng khác của đất nước Tácđộng lan toả của KCN với các vùng lân cận giúp tăng trưởng và phát triển củanền kinh tế

- Tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phầnchuyển đổi cơ cấu lao động Các KCN ra đời kéo theo sự phát triển các ngànhcông nghiệp và các ngành dịch vụ khác Điều đó giúp tạo thêm nhiều việc làmcho người lao động Vì vậy, phát triển KCN tạo nhiều hơn chỗ làm cho người

Trang 8

lao động là một trong những mục tiêu quan trọng của những nước đang pháttriển.

- KCN là môi trường tốt nhất để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho

sự nghiệp CNH – HDH đất nước KCN là nơi mà người lao động và các nhàquản lí có điều kiện học hỏi và nâng cao tay nghề, tiếp thu và nắm bắt côngnghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí tiên tiến, tính kỉ luật lao động và tác phongcông nghiệp Ở đó, họ phải biết tự giác tham gia vào quá trình đào tạo và tựđào tạo để luôn luôn thích ứng của yêu cầu phát triển mỗi doanh nghiệp Mặtkhác, để đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp trong KCN buộc cácnhà quản lí phải nâng cấp khả năng để luôn đáp ứng được các đòi hỏi của nhàđầu tư KCN còn là kênh lớn và trực tiếp nhất để thực hiện chuyển giao côngnghệ, kinh nghiệm quản lí tiên tiến của nước ngoài để phát triển kinh tế

- KCN là nơi xử lí nước thải tập trung, phục vụ mục tiêu phát triểncông nghiệp bền vững, điển hình là các KCN Biên Hoà 2, KCN Bắc ThăngLong, KCN Dung Quất

- KCN đóng vai trò rất quan trọng trong chính sách kinh tế đối ngoạicủa quốc gia Có thể nói KCN là nơi đi đầu trong việc phát triển kinh tế đốingoại và thường thể hiện xu hướng của chính sách đối ngoại của toàn nềnkinh tế

1.1.3.2.Những tác động tiêu cực.

Mặt trái trong việc phát triển các KCN cũng luôn tồn tại song song vớinhững vai trò mà các KCN mang lại Những tác động tiêu cực cơ bản trongquá trình phát triển các KCN là:

- Sự tập trung các KCN ở những vùng lãnh thổ nhiều tiểm năng tạo ra

sự mất cân đối giữa các vùng miền trong cả nước Điều này làm gia tăngkhoảng cách phát triển giữa các vùng, mất đi tính bển vững của sự phát triển

- Sự tập trung nhiều đơn vị sản xuất làm tăng nguy cơ ôi nhiễm môitrường nếu hệ thống xử lí nước thải ko tốt,

- Do sự tập trung hoá các cơ sở sản xuất vào khu vực nhất định tao ra

sự di cư tự nhiên lao động tử các vùng nông thôn ra các đô thị và KCN làmsức ép về nhà ở, các công trình công cộng dẫn tới hiện tượng tắc nghẽn giao

Trang 9

thông, mất trật tự xã hội và gia tăng tệ nạn xã hội nếu không có biện phápquản lí tốt.

- Sự phát triển các KCN làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên trongnước cạn kiệt, nhất là các tài nguyên khan hiếm như đất, nước, khoáng sản…nếu không có biện pháp khai thác và bảo tồn hợp lí

- Các KCN nếu không được quản lí tốt và không có hiệu quả sẽ trởthành gánh nặng nợ nần cho quốc gia

- Phát triển KCN đồng nghĩa tăng các nhà đầu tư nước ngoài và nhân tốquốc tế bên cạnh những tác động tích cực cũng mang theo những pha trộn vănhoá, sự xâm nhập các luồng tư tưởng chính trị khác nhau làm phức tạp thêmtình hình xã hội trong nước, gây khó khăn trong việc bảo tồn các giá trị vănhoá dân tộc

1.2 Vai trò của khu CN

1.2.1 Vai trò của các khu công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ và gắn liện với nó là ngàycàng có nhiều nước hội nhập và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực vàthế giới, ở nước ta, tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế cũng được hình thành

và phát triển tích cực qua các kì Đại hội Đảng Quan điểm “sẵn sàng mở rộngquan hệ kinh tế với tất cả các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở hai bêncùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng buộc, nhưng phải chủ độngphòng ngừa, tránh bị lệ thuộc”(Đại hội Đảng khoá VI,1986) đã nâng caothành “đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế” (Đại hội Đảng khoá VII,1991), “trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sáchthu hút các nguồn lực bên ngoài; tích cực chủ động thâm nhập, mở rộng thịtrường quốc tế” (Đại hội Đảng khoá IX, 2001), “lấy phục vụ lợi ích đất nướclàm mục tiêu cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo; đồng thời linh hoạt, mềmdẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế” (Đại hội Đảng khoá X, 2006) Như vậy,quan điểm chấp nhận hội nhập đã được nâng lên “chủ động và tích cực hộinhập kinh tế quốc tế Đây là bước đột phá trong quan điểm của Đảng, đóngvai trò tích cực đối với phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trong nhữngnăm qua

Trang 10

Để hội nhập và phát triển trong điều kiện nền tích luỹ nội bộ còn thấpthì thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng Khu côngnghiệp, khu chế xuất là một mô hình quản lý kinh tế hiện đại, tập trung, hiệuquả, là giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn đầu tư nước ngoài, cũng làđiểm giao thoa của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới Từ đóchúng ta có thể từng bước học hỏi, nâng cao nhận thức và chuẩn hoá luậtpháp, các quy trình và thông lệ theo tiêu chuẩn quốc tế, đưa đất nước từngbước hội nhập, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm

2020 Theo đường lối đổi mới đó của Đảng, khu công nghiệp (KCN), khu chếxuất (KCX) ở Việt Nam ra đời và phát triển mạnh mẽ

Từ khi khu công nghiệp đầu tiên (KCN Tân Thuận, thành phố Hồ ChíMinh) được thành lập năm 1991, sau 19 năm, việc xây dựng và phát triểnKCN đã được Nhà nước đặc biệt quan tâm Tính đến hết năm 2009, cả nước

có 172 KCN nằm ở 44 tỉnh, thành phố, với tổng diện tích đất tự nhiên trên

22256 ha (không kể các khu kinh tế tổng hợp như Chu Lai, Dung Quất, NhơnHội…) Trong đó, 90 KCN đã đi vào hoạt động, các khu còn lại đang trongquá trình giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng Trong quy hoạch từnay đến năm 2010, cả nước sẽ thành lập và xây dựng mới gần 100 KCN, đồngthời mở rộng thêm gần 30 KCN khác, đưa tỷ trọng giá trị sản xuất côngnghiệp của các KCN (trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước) từ26,4% hiện nay lên 35% và tỷ lệ xuất khẩu (trong giá trị xuất khẩu cả nước)tăng 18,7% lên 32% vào 2010 Các KCN tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc 3vùng kinh tế trọng điểm, là các mũi nhọn phát triển công nghiệp của địaphương và của vùng Số lượng các KCN được phân bố như sau :

lao động Việt Nam 116.668 người

lao động Việt Nam 592.109 người

lao động Việt Nam 83.204 người

Trang 11

 Các khu vực khác có 39 khu, diện tích 5.731 ha, lao động ViệtNam 126.273 người.

Như vậy, riêng 3 vùng KTTĐ đã chiếm tới 77% số KCN, 81% diện tíchđất KCN và 86% lao động trong tổng số KCN trong cả nước Hơn nữa, 3vùng KTTĐ lại có điều kiện về cơ sở hạ tầng và kinh tế- xã hội thuận lợi hơncác vùng khác Do vậy, thu hút đầu tư vào các KCN tại 3 vùng KTTĐ đóngvai trò then chốt trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tạo đà cho tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới

Điển hình như tỉnh Đồng Nai tại vùng KTTĐ phía Nam, - địa phươngnổi lên là một trong những tỉnh có các KCN phát triển mạnh nhất - đặt mụctiêu: đến năm 2010, thu hút 30 tỉ USD vốn đầu tư vào các KCN, trong đó đầu

tư mới là 20 tỉ USD và đầu tư mở rộng 10 tỉ USD Đã có 26 quốc gia và vùnglãnh thổ đầu tư vào tỉnh Đồng Nai, trong đó Đài Loan 2,47 tỉ USD, Hàn Quốc1,13 tỉ USD, Nhật Bản 1,06 tỉ USD, Mỹ 203 triệu USD, Liên minh châu Âu

601 triệu USD, các nước ASEAN 1.470 triệu USD Tính đến hết năm 2009,các KCN Đồng Nai đã thu hút được 928 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký10,34 tỉ USD Trong đó, 210 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đầu tưkhoảng 632 triệu USD, chiếm 7% tổng vốn đầu tư vào các KCN, doanhnghiệp liên doanh có khoảng 58 dự án, tổng vốn đăng ký trên 900 triệu USD,chiếm 11%, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trên 480 dự án, tổng vốnđăng ký hơn 7500 triệu USD, chiếm 83%

Theo các nhà quản lý kinh tế, nhờ tốc độ tăng trưởng và hiệu quả hoạtđộng của các KCN trên toàn quốc tiếp tục được giữ vững nên dòng vốn đầu tưcủa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong nước đều tăng đềuđặn, trong đó có nhiều dự án công nghiệp công nghệ cao Vì vậy, nhiều KCN

đã được Chính phủ cấp phép thành lập mới hoặc mở rộng, như KCN TânTrường (199,3 ha, thuộc tỉnh Hải Dương); KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn (230

ha, tỉnh Bắc Ninh) KCN Ninh Phúc (Ninh Bình) giai đoạn 1 được mở rộngthêm 40,8 ha Chỉ tính riêng năm 2009, đã có 12 KCN được cấp phép và bắtđầu xây dựng cơ sở hạ tầng trên cả nước với tổng diện tích là 2500 ha bằng7,9% so với tổng diện tích KCN trước 2009

Trang 12

Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11 năm 2006, triểnvọng thu hút đầu tư nước ngoài nói chung vào các KCN từ nay đến năm 2010được mở rộng hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử phát triển các KCN.Việt Nam trở thành điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoàiđặc biệt là các thành viên của WTO Các đoàn doanh nghiệp lớn, công nghệcao liên tục đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội đầu tư Nhiều dự án lớn với vốnđầu tư trên 500 triệu USD đã và đang được cấp phép và đi vào hoạt động như

dự án nhà máy sản xuất thép của Tập đoàn Posco (Hàn Quốc) tại Khu côngnghiệp Phú Mỹ 2, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1,2 tỷ USD, dự án của Tậpđoàn Intel vốn đầu tư 605 triệu USD Đối với đầu tư trong nước, Luật Doanhnghiệp và Luật đầu tư tiếp tục phát huy hiệu quả, được đánh giá là có tiềmnăng to lớn trong việc huy động vốn Theo dự báo, những lĩnh vực có triểnvọng hơn cả trong việc thu hút đầu tư vào các KCN trong 5 năm tới sẽ làngành công nghiệp năng lượng (điện, than và dầu khí); tiếp đến là côngnghiệp ô tô; công nghiệp dệt may, da giày; cơ khí đóng tàu; sản xuất máymóc, thiết bị điện tử, thiết bị thông tin, phần mềm và vật liệu xây dựng

1.2.2 Đóng góp của các khu CN vào thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của cả nước:

Nhờ việc tích cực thực hiện cải cách kinh tế và chủ động hội nhập kinh tếquốc tế theo chủ trương của Đại hội Đảng đề ra, trong 23 năm đổi mới vừaqua(1986-2009), Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng về kinh

tế cũng như đời sống văn hoá, xã hội

- Tỷ lệ tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm (trung bình giaiđoạn 2001-2009 đạt 7,1%), riêng năm 2009 đạt 5,32%, tổng GDP toàn xã hộiước tính đạt 91 tỷ USD, GDP đầu người đạt 1055 USD giảm so với năm 2008

là 6,23%,GDP khoảng 89tỷ USD

- Cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa(chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản) Tỷ trọng khuvực công nghiệp và xây dựng từ 40% năm 2008 lên 41,7% trong năm 2009 và

Trang 13

khu vực dịch vụ tăng từ 38,% lên 38,08%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷsản giảm từ 22% xuống còn 20,22%.; tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh (gấp 3,2 lần,

từ 11% GDP năm 1986 lên 41% năm 2009)

- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức xấp xỉ 56,5 tỷ USD,giảm 7,6% so với năm 2008 Số mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt giá trị từ 1,1

tỉ USD trở lên tăng từ 0 mặt hàng năm 1981 lên 11 năm 2006, trong đó 4 mặthàng chủ lực là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim ngạch mỗi mặthàng đạt trên 3,4 tỷ USD

- FDI và ODA ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh

tế, góp phần cung cấp vốn, cải thiện công nghệ và phương thức quản lý tiêntiến, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, thị trường xuất khẩu lớnhơn, đa dạng hơn, tăng tính cạnh tranh và tạo việc làm cho người lao động.Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm mạnh so với những năm trước, đạtkhoảng 11 tỷ USD, tỷ suất FDI/GDP tăng từ cuối thập kỷ 1980 lên 6,41%năm 1994 lên 16,5% năm 2009 Tổng lượng vốn ODA đạt giá trị 2.966 triệuUSD, trong đó vốn vay đạt 3.425 triệu USD và vốn viện trợ đạt 294 triệu

USD, cam kết năm 2008 là 5,5 tỷ USD Xuất khẩu hàng hoá năm 2009 ước

tính đạt 37,6 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp14,5 tỷ USD, tăng 27,1% so với năm 2008, đóng góp 44,3% vào tổng giá trịxuất khẩu cả nước

Trong sự phát triển rất mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, KCN làđiểm then chốt, đóng góp to lớn cho tăng trưởng kinh tế, giữ vai trò quantrọng trong định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăngcường khả năng tiếp nhận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến,tạo việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo, thúc đẩyxuất nhập khẩu, thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:

- Trong năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp trongcác KCN cả nước (không kể doanh thu dịch vụ) đạt 19,8 tỷ USD, tăng 17% sovới năm 2008 và chiếm khoảng 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cảnước

Trang 14

- Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 9,4 tỷUSD, tăng hơn 15% so với năm 2006 và chiếm 28% tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng công nghiệp xuất khẩu của cả nước

- Trong năm, các doanh nghiệp KCN đã nộp ngân sách Nhà nướckhoảng 1 tỷ USD, tăng 32,4% so với năm 2008

- Thu hút lượng khá lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước Riêng đầu tưtrực tiếp nước ngoài, tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn bổ sung vào cácKCN trong năm 2009 đầu tư đạt 10,5792 tỷ USD tăng gần 2 lần so với năm

2008, chiếm 56% tổng vốn FDI đăng ký mới và bổ sung trong năm của cảnước Đầu tư trong nước cũng diễn biến khả quan với hơn 110 dự án đầu tưtrong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 101414 tỷ đồng (tươngđương 540 triệu USD) Tổng hợp đến cuối năm 2009, các KCN đã thu hútđược 2839 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 24,79 tỷ USD,số dự ántrong nước là 2723 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 175.790 tỷ đồng(tương đương khoảng 10 tỷ USD) Tỷ lệ so sánh giữa hai nguồn vốn này là0,4033 thể hiện nguồn vốn đầu tư trong nước đã có vai trò quan trọng nhấtđịnh trong phát triển các KCN những năm qua Như vậy, các KCN trên cảnước có 5548 dự án còn hiệu lực, bao gồm 2733 dự án đầu tư nước ngoài,

2815 dự án đầu tư trong nước,đã có gần 4048 dự án đã đi vào sản xuất kinhdoanh và trên 1500 dự án đang triển khai xây dựng cơ bản

Tại Hà Nội, vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN chiếm tỷ trọng lớn,đạt tới 98% tổng vốn đầu tư Nguồn vốn này đóng góp 7,5% vào tổng vốn đầu

tư phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và được coi là xung lực, tạo sựđột phá cho sự tăng trưởng kinh tế của Hà Nội Năm 2005, có 76 doanhnghiệp hoạt động trong 3 KCN tập trung đã đạt tổng doanh thu 915,4 triệuUSD, xuất khẩu 550,52 triệu USD, nộp ngân sách Nhà nước 26,55 triệu USD

và tạo thêm 31.160 việc làm cho người lao động Mặc dù các KCN của HàNội chỉ chiếm 17% tổng số dự án và 18,4% tổng vốn đăng ký của các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn nhưng lại chiếm tới 41% tổngdoanh thu, 85% tổng kim ngạch xuất khẩu và 18,2% tổng mức nộp ngân sáchNhà nước của các dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tạo ra

Trang 15

- Tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.Năm 2009 các KCN đã thu hút thêm gần 100.000 lao động trực tiếp, tăng13% so với năm trước, đưa tổng số lao động trực tiếp trong KCN lên1042.000 người, không kể hơn 2 triệu lao động gián tiếp khác Tại Hà Nội,chỉ tính 76 doanh nghiệp đi vào hoạt động, đã thu hút gần 46.000 lao độngtrực tiếp và khoảng 47.000 lao động gián tiếp, bằng 40% số lao động làm việctại các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn, phần lớn các lao động đều đượcđào tạo huấn luyện để nhanh chóng nắm bắt và sử dụng các dây chuyền sảnxuất mới, làm gia tăng chất lượng nguồn nhân lực kể cả lao động quản lý và

kỹ năng lao động trực tiếp

- Thúc đẩy việc đổi mới và hoàn thiện môi trường kinh doanh, nâng caonăng lực cạnh tranh Các doanh nghiệp trong các KCN, đi tiên phong trongviệc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng công nghệ, dây chuyền sảnxuất tiên tiến, là mô hình thử nghiệm thích hợp nhất để cải thiện môi trườngđầu tư trong nước, đã đem lại nhiều bài học kinh nghiệm góp phần quan trọngvào việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, thủ tục hànhchính, nhất là thể chế tiền tệ và tín dụng, ngoại hối của các địa phương nóiriêng và cả nước nói chung Các doanh nghiệp này cũng góp phần làm thayđổi bộ mặt và mạng lưới thương mại hàng hoá và dịch vụ, cơ cấu hệ thốngthương mại cũng như toàn bộ lĩnh vực phân phối, lưu thông và dịch vụ xã hộicủa cả nước

- Tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù củamình, đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong vùng,miền và toan bộ lãnh thổ

- Các KCN góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghềmới và công nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố vàkhu vực toàn tuyến hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theohướng một nền kinh tế công nghiệp hoá, thị trường, hiện đại Nhiều KCN nóichung đã phát triển các ngành công nghiệp hoàn toàn mới có hàm lượng vốnlớn, công nghệ cao như thiết bị văn phòng (Canon), điện tử (Orion -Hanel ),phụ tùng ôtô,dây chuyền sản xuầt và lắp ráp xe máy, vật liệu xây dựng, sản

Trang 16

phẩm thép Theo đánh giá, những công nghệ đang sử dụng ở các dự án FDItrong các KCN đều hiện đại hơn công nghệ vốn có của nước ta, là cơ hội đểcác doanh nghiệp trong nước học hỏi và áp dụng, nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp

- KCN còn góp phần quan trọng vào mở rộng thị trường, đẩy mạnh kinh

tế đối ngoại và tăng kim ngạch xuất khẩu cho khu vực hành lang kinh tế Do

đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, các doanhnghiệp trong các KCN có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu Giá trị xuất khẩu hànghóa của doanh nghiệp KCN đạt khoảng 9,5 tỷ USD, chiếm 30% tổng kimngạch xuất khẩu hàng công nghiệp xuất khẩu của cả nước Các doanh nghiệptrong các KCN còn góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và cơcấu nhập khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ trong khu vực và trên toàn thếgiới

1.2.3 Hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng:

Việc phát triển các KCN trong những năm vừa qua không nhữngthúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấukinh tế, mà còn đẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH, góp phần đáng kể vào việc hiệnđại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN, tạo thuận lợi cho vậnchuyển hàng hoá, mở rộng thị trường tiêu thụ Điều này được thể hiện quamột số khía cạnh sau:

- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích

sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triểngiữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhândân Điều này có thể dễ dàng nhận nhất ở những vùng có KCN phát triểnmạnh như Dung Quất(Quảng Nam), Biên Hòa, Nhơn Hội(Bình Định),NhơnTrạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương), Tiên Sơn (Bắc Ninh)… cùng vớiquá trình phát triển KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đãđược cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, đã góp phần thúc đẩyhoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng,miền khắp cả nước

- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuậnlợi của nhà nước việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và

Trang 17

đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thuhút đầu tư nước ngoài Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế(doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanhnghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCNkhông những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạtđộng hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham giaxúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp côngnghiệp vào KCN.

- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thuhút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộngquy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi cáckhu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ônhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụcác mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (TP.HồChí Minh), Việt Hương (Bình Dương),khu công nghiệp bắc Vinh(Nghệ An)

- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN cònđảm bảo sự liên thông giữa các vùng và định hướng cho quy hoạch phát triểncác khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệpphụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người laođộng và cư dân trong khu vực như: trường học, bệnh viện, khu giải trí,nhà ở

và khu dân cư…

Nguồn vốn Ngân sách không thể đáp ứng hết nhu cầu cải tạo kết cấu hạtầng,vì thế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư cácngành như giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạtđộng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thịtrường bất động sản và nhà ốc là giải pháp thiết yếu để đáp ứng nhu cầuhoạt động và phát triển của các KCN

1.2.4 Nâng cao trình độ công nghệ,hiện đại hoá cách thức quản lý sản xuất:

KCN là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng vớinhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng nên đây chính là điểm đến lý

Trang 18

tưởng của các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài Một số công nghệtiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộdoanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đãđược áp dụng tại Việt Nam Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp phần

để nước ta thực hiện việc quan điểm của Đảng về chủ động hội nhập kinh tếquốc tế

- KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghềmới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH Vốn đầu

tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhàđầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiêntiến, hiện đại, trong đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuật cao (phần lớncủa Nhật Bản,Hàn Quốc), như Công ty TNHH Canon Việt Nam, MabuchiMotor, Orion Hanel , những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém và cầnkhuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử,công nghệ ôtô,xe máy

- Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành côngnghiệp nhẹ như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếmtrên 50% tổng số dự án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuấtkhẩu cao và đã góp phần nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ,chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, các KCN cũng đã thu hút được các dự án

có quy mô và yêu cầu vốn lớn, công nghệ cao như dầu khí, sản xuất ôtô, xemáy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng Mặc dù sốlượng các dự án này trong KCN mới chiếm khoảng 6-10% số dự án, nhưngcũng đã góp phần phát triển và đa dạng hoá cơ cấu ngành nghề công nghiệp

- Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sửdụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất,nắm vững công nghệ, có tác động lan toả và nâng trình độ tay nghề của độingũ lao động Việt Nam lên một bước Một lượng đáng kể người lao động ViệtNam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc vớiphương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing,quản lý tài chính, tổ chức nhân sự Việc được trực tiếp làm việc trong môi

Trang 19

trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện được những kỹ năng

và tác phong làm việc giúp người lao động Việt Nam sớm thích ứng với mộtnền công nghiệp tiên tiến, hiện đại

1.3 Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam.

Các KCN Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam

lần thứ VI (1986) Đại hội đã đánh dấu bước đổi mới căn bản về nhận thức về

tư duy về kinh tế mà trọng tâm là chủ trương là chuyển tử cơ chế kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế hang hoá tập trung nhiều thành phần.Việc hình thành mô hình KCN kiểu mới đang được áp dụng hiện nay là nơitập trung và thu hút các thành phần kinh tế đã thay thế dần mô hình KCN kiểu

cũ là nơi tập trung các doanh nghiệp quốc doanh thuộc các ngành công nghiệpnặng bắt nguồn từ tư duy đổi mới về kinh tế tại Đại hội VI

sự sụp đổ của Liên Xô đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế và đời sốngkinh tế xã hội nước ta, là một trong những đòi hỏi thực tiễn khách quan để đạihội VII đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toandiện,thưc hiện CNH-HĐH đất nước trên cơ sở yêu cầu của đất nước và điềukiện của thời đại đượ cụ thể hoá bằng Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế

xã hội 1991-2010 Hàng loạt các chương trình kinh tế -xã hội đươc triển khai

để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, trong đó các chính sách phát triểnKCN, KCX với sự ra đời của KCX Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh(1991) và ban hành quy chế KCX (Nghị định 322/HDBT ngày 18/10/1991)

và quy chế KCN ( Nghị định 129/CP ngày 28/12/1994)

Tiếp đó, định hướng chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bốKCN, KCX đã được Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ tạiHội nghị giữa nhiệm kì khoá VII tháng 1/1994: “Quy hoạch các vùng, trướchết là các địa bàn trọng điểm, các KCX, khu kinh tế, KCN tập trung” ĐếnNghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, đinh hướng này đượcphát triển cụ thể: “Hình thành các KCN tập trung ( bao gồm cả KCX và khu

Trang 20

công nghệ cao), tạo địa bản thuân lợi cho việc xây dựng các cơ sở côngnghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị Ở cácthành phố, thị xã, nâng cấp và cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các

cơ sở không có khả năng xử lí ôi nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xâydựng các KCN mới xen lẫn với khu dân cư “ Lộ trình thực hiện được nêungắn gọn và tổng quát trong Hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành TW khoáVII là: “ phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả các KCN” Đây cũng lànhững định hướng quan trọng của Đảng và Nhà nước về xây dựng và pháttriển các KCN, KCX nhằm thúc đẩy tiến trình CNH – HDH đất nước Báocáo chính trị của Ban chấp hành TW khoá VIII tại Đại hội IX của Đảng vềchiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 – 2005 tiếp tục khẳng định:

“quy hoạch phân bố hợp lí công nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quảcác KCN, KCX, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụmcông nghiệp lớn và các khu kinh tế mở” Báo cáo chính trị tại Đại hội X mộtlần nữa khẳng định chủ trương “phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khukinh tế, nâng cao hiệu quả các KCN, KCX”, đồng thời khằng định tư tưởngtăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững, trong đó phát triển bềnvững KCN, KCX được thể hiện ở những mục tiêu cụ thể trong báo cáophương hướng, nhiệm vụ để kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010

Nghị quyết của Đảng tại các kì Đại hội tử năm 1986 đã hình thành hệthống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển KCN, KCX; khẳngđịnh vai trò của KCN trong việc “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơbản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” như Nghị quyết Đại hội

X đã nêu rõ; đây chính là cơ sở để triển khai xây dựng, quy hoạch, cơ chế,chính sách phát triển KCN, KCX 19 năm qua và trong giai đoạn tới

Trong năm 2008 là năm đầu tiên triển khai Nghị định số 29/2008/NĐ –

CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và khu kinh tế.Trong năm 2008, Việt Nam triển khai các cam kết với tổ chức thương mại thếgiới (WTO) trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại…Mặc dù tình hình khủnghoảng tài chính thế giới chưa được ngăn chặn và có những diễn biến phức tạp

ở những nền tài chính lớn như Hoa Kì, Nhật Bản và một số nước EU nhưng

Trang 21

các KCN trong nước một mặt vẫn duy trì được đà tăng trưởng như những nămtrước, mặt khác có những nét phát triển mới mang tính đột phá.

Trong năm 2009 đã có 52 dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCNđược cấp giấy chứng nhận đầu tư, thành lập mới 43 KCN với tổng diện tíchđất tự nhiên 18675,6 ha (tăng 71% so với năm 2008) và mở rộng 9 KCN vởitổng diện tích đất tự nhiên 3010,8 ha ( tăng 39% so với năm 2008) Năm

2009 là năm có số lượng KCN được thành lập mới và được mở rộng nhiềunhất trong gần 19 năm xây dựng và phát triển KCN Kết quả này xuất phát từnhu cầu phát triển KCN của các địa phương nhằm tận dụng cơ hội thu hút đầu

tư hiện đang tăng cao trên cả nước Mặt khác do nhiệm vụ cấp giấy chứngnhận đầu tư cho dự án phát triển kết cấu hạ tầng KCN đã được phân cấp vềđịa phương, nên đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động và đẩy nhanhthực hiện các thủ tục đẩu tư Tính đến cuối tháng 12 năm 2009 cả nước đã có

312 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 70472,6 ha, phân

bố trên 54 tỉnh, thành phố trên cả nước Trong đó diện tích đất công nghiệp cóthể cho thuê theo quy hoạch đạt gần 42000 ha, chiếm 67% diện tích đất côngnghiệp Theo quy hoach từ nay đến năm 2015 sẽ thành lập them 91 KCN vớitổng diện tích 20839 ha và mở rộng thêm 22 KCN với tổng diện tích 3473 ha

Dự kiến đến hết năm 2015 sẽ có thêm 26385 ha đất KCN

Về phân bố các KCN: mặc dù sự phân bố KCN đã được điều chỉnhtheo chiều hướng tạo điều kiện cho một số địa bàn đặc biệt khó khăn ở TâyBắc (Yên Bái, Tuyên Quang, Hoà Bình, Sơn La, Bắc Cạn), Tây Nguyên (ĐắkLắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng), Tây Nam Bộ ( Hậu Giang,

An Giang, Sóc Trăng) phát triển KCN để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, songcác KCN vẫn tập trung ở các địa phương thuộc ba vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ Đến cuối tháng 12/2009 với 159 KCN và tổngdiện tích đất tự nhiêm 53232 ha, ba vùng kinh tế trọng điểm chiếm 69% tổng

số KCN và 81% tổng đất tự nhiên cac KCN cả nước

Như vậy sau 19 năm hình thành và phát triển, đến nay các KCN đã vàđang có các đóng góp to lớn vào quá trình chuyển biến của nền kinh tế Từ đó

Trang 22

Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy được tầm quan trọng và việc thúc đẩy pháttriển hơn nữa các KCN trong tương lai

1.4 Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư tại khu công nghiệp ở Việt Nam đến hết năm 2009

Cùng với những chuyển biến mới của nền kinh tế trong quá trình đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,hoạt động của các KCN cả nước trong năm 2009 đã đạt được những thành tựunổi bật về nhiều mặt

Tổng diện tích đất quy hoạch tăng thêm trong năm là 1864 ha, từ 9

KCN mới được thành lập và 3 KCN được phép mở rộng Đến hết năm 2009,

cả nước có 149 KCN với tổng diện tích quy hoạch là 31.392 ha, trong đó diệntích đất công nghiệp có khả năng cho thuê đạt 20.953 ha So với cuối năm

2008, quỹ đất tự nhiên (gồm cả đất đã được phân định cho sản xuất côngnghiệp) của toàn bộ các KCN được thành lập (đến thời điểm này) tăng 10,6%

Ngoài ra, đến nay có 9 khu kinh tế (KKT) đã được hình thành theoQuyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất tự nhiên là 384.230

ha Đó là các KKT mở Chu Lai, KKT Dung Quất, Nhơn Hội, NghiSơn(Thanh Hóa), Vũng áng, Vân Phong, Phú Quốc và Chân Mây-LăngCô,Lao Bảo Từ đó, đã và đang mở ra tiềm lực về quỹ đất dồi dào để pháttriển kinh tế, phát triển công nghiệp trên nhiều vùng khác nhau

Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN được đẩy nhanh hơn, số cácKCN được xây dựng xong và đưa vào vận hành trong năm là 13 KCN Trongtổng số 149 KCN đã được thành lập đã có 98 KCN cơ bản hoàn thành xâydựng cơ sở hạ tầng và thực tế đã vận hành, với tổng diện tích công nghiệp14.783 ha, tăng 20% so với năm 2008 (năm 2008 có 78 KCN đi vào hoạtđộng với 12.850 ha đất công nghiệp đã hoàn tất xây dựng cơ sở hạ tầng) Tỷ

lệ KCN đã vận hành, hoạt động trong năm chiếm 68% tổng các KCN hiện có.Trong đó, có 19/23 dự án xây dựng hạ tầng có vốn ĐTNN và 79/132 xâydựng hạ tầng của DN trong nước

Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cácKCN, tính đến cuối năm 2009 đạt khoảng 685 triệu USD và 16,578 tỷ đồng

Trang 23

So với tổng vốn dự toán, vốn thực hiện FDI đạt 62,5% với trình độ xây dựngcác công trình hạ tầng đạt chất lượng khá cao Tổng vốn đầu tư thực hiện xâydựng hạ tầng của các dự án trong nước đạt 37,5%.

Năng lực thu hút dự án đầu tư nước ngoài (FDI) tăng vượt trội so với năm 2009

Năm 2009, các KCN đã thu hút 326 dự án FDI với tổng vốn đầu tưđăng ký mới là 4024 triệu USD khoảng 2 lần so với năm trước; đồng thời có

343 lượt dự án mở rộng sản xuất, tăng vốn với tổng số vốn đầu tư đăng kýtăng thêm 1.257 triệu USD, tăng 28,5% so với năm 2008 Tính chung cả vốnđăng ký mới và vốn bổ sung vào các KCN trong năm 2009 đầu tư đạt 10579,2triệu USD tăng gần 2 lần so với năm 2008 chiếm 52% tổng vốn FDI đăng kýmới và bổ sung trong năm của cả nước

Tổng hợp đến cuối năm 2009, các KCN đã thu hút được 2733 dự ánFDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 24,79 tỷ USD

Các dự án ĐTNN có quy mô lớn hơn năm trước

Quy mô vốn đầu tư bình quân mỗi dự án ĐTNN đăng ký mới vào KCNtrong năm là 12,18 triệu USD/dự án, gấp hơn 2 lần năm 2008 Bình quân mỗilượt dự án mở rộng sản xuất có mức vốn đầu tư bổ sung là 4 triệu USD/dự án,tăng 36% so với năm trước Có mức tăng trưởng cao như vậy là do trong năm

có nhiều dự án ĐTNN có quy mô vốn lớn đầu tư vào KCN, khu kinh tế ở cácvùng kinh tế trọng điểm Nhờ đó, một số địa phương có KCN tiếp nhận đượcnhững dự án này đã trở thành đơn vị có năng lực thu hút đầu tư thuộc diện

TNHH TA Assiociates Vietnam là liên doanh giữa Công ty cổ phần Côngnghệ Viễn thông Sài Gòn với Công ty TA Assiociates International Pte.Ltd.(Singapore) đầu tư 1,2 tỷ USD để xây dựng khách sạn 5 sao, cao ốc cho thuê;sản xuất vi mạch và gia công phần mềm tại Thủ Thiêm, TP Hồ Chí Minh,Công ty Gang thép Hưng nghiệp Formosa do Tập đoàn Formosa (Đài Loan)đầu tư 7,879 tỷ USD tại Vũng Áng, Hà Tĩnh; Công ty Lọc dầu Nghi Sơn cótổng vốn đầu tư 6,2 tỷ USD để xây dựng nhà máy lọc dầu tại Thanh Hóa;Công ty TNHH dự án Hồ Tràm do Tập đoàn Asian Coast Development

Trang 24

(Canada) Ltd đầu tư 4,23 tỷ USD để xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng, cáckhách sạn 5 sao tại Bà Rịa - Vũng Tàu.Công ty TNHH một thành viênStarbay Việt Nam do Tập đoàn Starbay Holding Ltd (B.V.Island) đầu tư Tổhợp nghỉ dưỡng, sân golf, căn hộ cho thuê tại Kiên Giang với vốn đầu tư là1,648 tỷ USD; Công ty TNHH Good Choice USA - Việt Nam do tập đoànGood Choice (Hoa Kỳ) đầu tư 100% vốn để xây dựng khách sạn 5 sao, khuvui chơi giải trí, ẩm thực tại Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư là 1,299

tỷ USD

Đặc biệt, một số dự án đăng ký mở rộng sản xuất, tăng vốn bổ sungcũng với số vốn lớn như: Công ty TNHH Hoàng Trà (Hà Nội) tăng thêm 120triệu USD, nhà máy sản xuất máy in Canon (Bắc Ninh) với mức tăng 70 triệuUSD

Năng lực thu hút nguồn đầu tư trong nước vào KCN cũng có chuyển biến khá

Trong năm 2009, các KCN, KKT tiếp tục thu hút được hơn 256 dự ánđầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 16.000 tỷ đồng (tươngđương 842 triệu USD) So với năm 2008, tuy giảm về số dự án nhưng tổngvốn đầu tư trong nước của năm 2008 lại tăng 50% với khoảng 7000 tỷ đồng,

do cũng có nhiều dự án đầu tư trong năm có lượng vốn đăng ký lớn hơn Tổnghợp đến cuối năm 2009, tổng số dự án trong nước còn hiệu lực là 2723 dự án,với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 142.690 tỷ đồng (tương đươngkhoảng 7,5 tỷ USD) Tỷ lệ so sánh giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tưnước ngoài tại KCN-KCX là 0,41 thể hiện nguồn vốn đầu tư trong nước đã cóvai trò quan trọng nhất định trong phát triển các KCN những năm qua

Tổng diện tích đất công nghiệp thực tế cho thuê lại trong năm đạt 1826

ha, tăng 17% so với năm 2008, đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho nhà

đầu tư trong năm Tính chung cả nước đến cuối năm 2009, các KCN đã chothuê khoảng 14494.9 ha đất công nghiệp, đạt tỷ lệ diện tích đất cho thuê57,3% trong tổng diện tích công nghiệp có thể cho thuê của các KCN đãthành lập (gồm cả diện tích của những KCN mới thành lập chưa khởi côngxây dựng) Nếu tính riêng diện tích công nghiệp của những KCN đã vận hành

Trang 25

(cơ sở hạ tầng đủ điều kiện tiếp nhận, thực hiện dự án) thì diện tích đất côngnghiệp thực tế cho thuê đạt 72,2%, thể hiện tốc độ thu hút đầu tư tăng nhanh,tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng được đẩy nhanh hơn và sớm thựchiện nhiều dự án đầu tư.

Gia tăng tốc độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Tính đến cuối năm 2009, tổng số các dự án đầu tư trong và ngoài nướccòn hiệu lực đã tăng 12% so với cuối năm 2008, trong đó dự án đã và đangtriển khai thực hiện đầu tư là 4500 dự án, tăng 26% so với năm 2008 và chiếm83% tổng số các dự án còn hiệu lực (năm 2008, tỷ lệ này đạt 75%)

Trong tổng số dự án đang thực hiện phân theo nguồn vốn đầu tư có tìnhhình như sau:

Dự án có vốn ĐTNN còn hiệu lực trong năm là 2623 dự án, trong đónhững dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh trong KCN là 1800 dự án và 428

dự án đang xây dựng nhà xưởng Tổng vốn đầu tư thực hiện đến cuối năm

2009 đạt 15,32 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn đăng ký

Trong 2933 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký175.690 tỷ đồng, hiện đã có 1920 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và gần

500 dự án đang xây dựng nhà xưởng Tổng vốn đầu tư thực hiện của những

dự án này đạt 95.000 tỷ đồng chiếm khoảng 61% tổng vốn đăng ký

Kết quả sản xuất kinh doanh của các DN trong các KCN đạt mức tăng trưởng khá cao và toàn diện Trong năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp của

DN trong các KCN cả nước (không kể doanh thu dịch vụ) đạt 16,8 tỷ USD, tăng 17% và chiếm khoảng 33% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước

Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,8 tỷUSD, tăng hơn 2o% so với năm 2008 và chiếm 28% tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng công nghiệp xuất khẩu của cả nước

Trong năm, các doanh nghiệp KCN đã nộp ngân sách Nhà nướckhoảng 1 tỷ USD, tăng 35,4% so với năm 2005

Số lao động trực tiếp làm việc tại KCN cuối năm 2008 là 87 vạn người, đến

cuối năm 2009 là 98,8 vạn người Như vậy, cả năm tăng thêm 11,8 vạnngười, tăng 13,5% so với cuối năm 2008

Trang 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG

ĐIỂM PHÍA BẮC 2.1.Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp cả nước

2.1.1.Tổng quan tình hình thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp ở Việt Nam(tính theo vốn đăng kí)

Sau 19 năm xây dựng và phát triển, các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đã

có đóng góp quan trọng vào việc thu hút vốn đầu tư Tổng số vốn đầu tư thựchiện thu hút được đến hết năm 2009 là :

Bảng 2.1: Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước

Chỉ tiêu

Tổng vốn (tr.USD)

Vốn đầu

tư xây dựng CSHT (tr.USD)

Vốn đầu tư sản xuất kinh doanh

Số dự án (dự án)

Tỷ trọng

Số vốn (triệu USD)

Tỷ trọng

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lí KCN-KCX, Bộ Kế hoạch Đầu tư

Các KCN, KCX tại Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và pháttriển ban đầu nên lượng vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định

và chiếm tỷ trọng lớn nhưng theo thời gian lượng vốn này có xu hướng giảmtương đối so với lượng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh tăng mạnh tại cácKCN đã hoàn thành xây dựng cơ bản Tính đến năm 2009, cả nước có 98KCN đã cơ bản xây dựng xong cơ sở hạ tầng và 52 khu đang thực hiện xâydựng cơ bản theo hình thức cuốn chiếu, cho thuê để sản xuất kinh doanhnhững phần đã hoàn thành xây dựng cơ bản

Trang 27

Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Vốn trong nước chiếm 51.62%, giai

đoạn đầu chủ yếu là nguồn vốn ngân sách, hiện nay đã áp dụng chính sáchgiao đất cho doanh nghiệp thầu xây dựng cơ sở hạ tầng nên tỉ trọng đầu tư củacác doanh nghiệp ngoài quốc doanh bắt đầu tăng, tuy còn nhiều bất cập về giátrị gia tăng sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng và hiệu quả xây dựng Vốn nướcngoài chiếm 48.38% tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chiếm và có

xu hướng tăng lên trong thời gian tới, giữ vai trò quan trọng trong việc hiệnđại hoá cơ sở hạ tầng các KCN, KCX theo quy chuẩn quốc tế, làm tăng sứchấp dẫn của KCN, KCX đối với các nhà đầu tư

Về đầu tư vào sản xuất kinh doanh:

USD/dự án, chiếm tỷ trọng vốn 28,3% tổng vốn đầu tư vào sản xuất kinhdoanh tại các KCN, KCX trên cả nước Các doanh nghiệp trong nước đầu tưvào KCN, KCX thuộc mọi thành phần kinh tế, đa số là các doanh nghiệpthành lập từ trước, do nhu cầu mở rộng sản xuất, cần di dời từ ngoài KCN vàotrong KCN, hoặc thành lập thêm cơ sở sản xuất trong KCN Tuy chỉ giữ vaitrò khiêm tốn nhưng nguồn vốn này là nhân tố nội lực, có ý nghĩa quyết định.Những năm đầu xây dựng KCN, do chưa nhận thức được tầm quan trọng củaKCN trong việc huy động nguồn vốn bên trong, chúng ta đã xem nhẹ việc thuhút các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN Điều này thể hiện ở số dự

án và tổng vốn đầu tư của thành phần kinh tế trong nước vào KCN thời giannày còn rất hạn chế Chỉ vài năm gần đây, vai trò của khu vực trong nước mớiđược chú trọng, dòng vốn đầu tư trong nước trong KCN tăng đáng kể, số dự

án trong nước trong các KCN hai năm gần đây đã vượt so với khu vực có vốnđầu tư nước ngoài Kết quả là đã có hơn 2.600 dự án với tổng vốn đầu tư đăng

ký là 155.900 tỷ đồng Điều đã cho thấy rõ tiềm lực của khu vực kinh tế trongnước, tiềm lực này cần được kích thích tăng trưởng mạnh mẽ để nâng cao khảnăng sản xuất và tỷ trọng đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trongnước Hiện nay, KCN đã trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trongnước, ngoài những doanh nghiệp di chuyển từ các đô thị vào đã xuất hiện cácdoanh nghiệp thành lập mới tại KCN

Trang 28

 Đầu tư nước ngoài: Cách thức đầu tư nước ngoài tại KCX là đầu tư trực tiếp Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, khi nói đếnĐTNN vào SXKD tại KCN, ta chỉ đề cập đến ĐTTTNN vào SXKD, khôngbao hàm đầu tư gián tiếp Quy mô vốn trung bình của các dự án FDI là 4,83triệu USD/ dự án, chiếm 72,4% tỷ trọng về vốn so với tổng đầu tư vào sảnxuất kinh doanh, chiếm 95% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX.

KCN-Có thể nói, KCN là nơi chính sách ưu đãi đối với khu vực đầu tư nước ngoàiđược thể hiện rõ nhất, các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng đầu tư vàoKCN, bởi KCN có một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và sẵn có, một môitrường pháp lý thuận lợi và thống nhất, có cơ chế “một cửa, tại chỗ” đượcthực thi Vì vậy, vốn đầu tư nước ngoài trong KCN chiếm tỷ trọng lớn và giữvai trò chủ đạo đối với KCN và tổng vốn ĐTTTNN trong cả nước

2.1.2.Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu CN phân theo từng thời kì

Nhờ các yếu tố thuận lợi trên, lượng vốn ĐTNN qua các năm phát triểnrất tích cực Bảng số liệu sau sẽ thể hiện chi tiết tình hình tăng giảm vốn đầu

tư nước ngoài vào KCN qua các năm trong giai đoạn 1991-2009:

Trang 29

Bảng 2.2:Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX

cả nước so sánh theo trung bình năm giai đoạn 1991-2006(tính theo vốn

đăng ký của các dự án được cấp giấy phép đầu tư)

vị

TB giai đoạn 1991- 1995

TB giai đoạn 1996- 2000

TB giai đoạn 2001- 2006

TB giai đoạn 2007- 2009

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong 5 năm đầu (1991-1995), tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàivào KCN, KCX là 4.220 triệu USD, trung bình 844 triệu USD/năm, số vốn

Trang 30

đầu tư vào cơ sở hạ tầng là 370 triệu USD chiếm 8,8%, còn lại 91,2% là vốnđầu tư vào sản xuất kinh doanh.

Giai đoạn 1996-2000, do tác động của khủng hoảng kinh tế khu vựcchâu Á đặc biệt là khu vực ASEAN, số vốn ĐTTTNN vào KCN, KCX giảm4,2% so với giai đoạn trước xuống 4.042 triệu USD (trung bình năm 808,4triệu USD) trong đó đầu tư vào sản xuất kinh doanh giảm 6,9% (3.586 triệuUSD), nhưng do nhu cầu thành lập và xây dựng KCN, vốn đầu tư vào cơ sở

hạ tầng vẫn tăng 23% lên 456 triệu USD, chiếm 11,3% tổng vốn đầu tư nướcngoài của cả giai đoạn

Giai đoạn 2001-2009 đánh dấu sự phục hồi của nền kinh tế khu vực vàthế giới sau khủng hoảng kinh tế ở châu Á, đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoKCN, KCX tăng vượt bậc với tổng vốn thu hút được lên tới 10.056 triệu USD(tăng 149%), Tổng số vốn vào sản xuất kinh doanh đạt 9.841 triệu USD,chiếm tỷ lệ 97,9% tổng số vốn và tăng 174,4% so với thời kỳ 1996-2000,

trung bình năm thu hút 4.031,2 triệu USD Tuy nhiên lượng vốn đầu tư vào cơ

sở hạ tầng giảm xuống thấp nhất chỉ còn 215 triệu USD, do các KCN cũ đãhoàn thành và đi vào hoạt động, các KCN chưa được thành lập hoặc gặp khókhăn trong đền bù giải phóng mặt bằng

Riêng năm 2009, nhờ tích cực cải cách môi trường đầu tư, tăng cường các hoạt động đối ngoại, chú trọng quảng bá các cơ hội đầu tư ở Việt Nam, đặc biệt là việc gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư vào KCN, KCX tăng đột

biến, đạt 10.682 triệu USD chiếm 56% tổng vốn FDI của cả nước, chiếm tỷ

trọng lớn trong tổng lượng vốn FDI kỷ lục 12,2 tỷ USD vào Việt Nam trong năm

2.2.Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

2.2.1.Điều kiện tự nhiên ,kinh tế,xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và tại vùng KT trọng điểm phía Bắc nói riêng

Trang 31

Theo Quyết định số 145/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về

“Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đếnnăm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gồm

8 tỉnh: tp Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây,

Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Trước năm 2003, vùng KTTĐ Bắc Bộ chỉ gồm 5 tỉnh là

Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương Sau Hội nghị cáctỉnh vùng KTTĐ Bắc Bộ ngày 14 – 15/7/2003, Thủ tướng Chính phủ ra quyếtđịnh mở rộng ranh giới vùng KTTĐ Bắc Bộ, bổ sung thêm 3 tỉnh Hà Tây,Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Tổng diện tích vùng KTTĐ Bắc Bộ sau khi bổ sung là15.286,7 km2, bằng 3,8% diện tích cả nước và dân số (ước tính đến năm2006) là 13,8 triệu người, chiếm 16,4% dân số cả nước Đây là trung tâm kinh

tế năng động và là một đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc và của cảnước Việt Nam

và Hạ Long Vùng có Hà Nội - thủ đô của cả nước - là đầu não chính trị, kinh

tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật của nước ta, là trung tâm lớn về văn hoá, khoahọc, giáo dục, kinh tế vào giao dịch quốc tế; có các cửa ra biển lớn dọc venbiển Bắc Bộ phục vụ cho cả vùng Bắc bộ, có các tuyến đường bộ thôngthương lên vùng Tây Nam Trung Quốc ở phía Bắc (quốc lộ 1) , sang Bắc Lào,Bắc Thái Lan ở phía Đông, quốc lộ 5 nối liền tam giác Hà Nội - Hải Phòng -Quảng Ninh là trục đường xương sống cho toàn Bắc Bộ Với sân bay quốc tếNội Bài, sân bay Cát Bi cùng với cụm cảng Hải Phòng - Cái Lân là cửa mởvào - ra của toàn vùng Bắc Bộ và hệ thống đường quốc lộ, đường sắt, đườngsông (sông Hồng và các nhánh) toả đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc

tế, vùng KTTĐ Bắc Bộ là đầu mối giao thương bằng cả đường biển, đườngsắt và đường hàng không lớn thứ hai cả nước Vùng KTTĐ Bắc Bộ có mặttiền hướng ra biển Đông, thuận lợi trong việc thông thương với ASEAN, là

Trang 32

một trong những khu vực phát triển năng động nhất thế giới, nhờ đó các mốiquan hệ giao lưu hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hoá của vùng đã được mởrộng nhanh chóng

Vùng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước: là vùng có đủ điều kiện và lợi thế để phát triển mạnh về

công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, các ngành công nghiệp công nghệcao, có ưu thế để hình thành các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệlớn trên cả nước nhờ nguồn nhân lực đã qua đào tạo bài bản; dân số đông vàđiều kiện tự nhiên lí tưởng thuận lợi cho phát triển dịch vụ và du lịch

Với số dân đông, mật độ dân số lớn nhất cả nước, vùng có ưu thế nổi

trội về nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là nguồn lao động kĩ thuật, lao động

có chuyên môn cao, cán bộ đầu ngành của hầu hết mọi lĩnh vực, có hệ thống

đào tạo và nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế trình độ ca, giữ vai trò quyếtđịnh trong việc đào tạo và chăm sóc sức khoẻ cho cả vùng và cả nước Vùng

có số lao động trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học cao nhất so với cácvùng khác, chiếm tới 32% cả nước (2005) Vùng cũng là nơi tập trung các cơ

sở nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng đầu ngành có các trang thiết bịhiện đại Trong tương lai ưu thế này vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển,

là thế mạnh nổi trội, một tiềm năng lớn cần phát huy tối đa để thúc đẩy pháttriển vùng và tác động tích cực tới các vùng lân cận

Vùng KTTĐ Bắc Bộ là nơi phát triển công nghiệp sớm nhất cả nước,

hiện nay đã và tiếp tục hình thành hệ thống đô thị phát triển hơn hẳn so vớicác vùng khác, tạo cục diện mới cho tổ chức không gian lãnh thổ, cho tăngtrưởng và giao lưu giữa các vùng trong nước và quốc tế Hai thành phố thuộcvùng là Hà Nội và Hải Phòng đều là các thành phố lớn trực thuộc trung ương

và có vai trò quan trọng trong hệ thống quốc gia, cùng với hai thành phốthuộc tỉnh (trong tổng số 21 thành phố trên cả nước), 7 thị xã (trong tổng số61), 77 thị trấn ( trong tổng số 565) Tỷ lệ đô thị hoá của vùng đạt khoảng 27,45% (lớn hơn trung bình cả nước là 24,8%) Vùng là khởi nguồn của vănminh đô thị của cả nước Nhờ đô thị phát triển mạnh tạo nên sự thịnh vượng

Trang 33

chung cho cả vùng, tạo sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài đếnvùng và các vùng lân cận.

Đây cũng là trung tâm công nghiệp từ rất sớm và hiện đã hình thành hệthống các KCN lớn và các cụm công nghiệp nhỏ trên cả 8 tỉnh thành, thu hútlực lượng lao động đông đảo và có trình độ kĩ thuật cao hơn nhiều vùng khác.Năm 2005, vùng KTTĐ Bắc Bộ có 17 vạn doanh nghiệp công nghiệp,chiếm26% số doanh nghiệp công nghiệp cả nước, riêng số doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 15,8% cả nước tạo ra 13,8% giá trị côngnghiệp và xây dựng cả nước

Tuy không phong phú về khoáng sản, vùng có một số khoáng sản quan

trọng như than đá, trữ lượng chiếm 98%, than nâu, đá vôi làm xi măng trữ

lượng hơn 20%, cao lanh làm sứ trữ lượng khoảng 40% so với cả nước…Khai thác có hiệu quả các khoáng sản này sẽ tạo nguồn nguyên nhiên vật liệucho các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp nặng, tạo điều kiện pháttriển công nghiệp và dịch vụ của vùng

Vùng KTTĐ Bắc Bộ còn có tiềm năng lớn về du lịch với các địa điểm

du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế như vịnh Hạ Long được UNESCOcông nhận là di sản thiên nhiên của thế giới Nhờ lịch sử hơn một nghìn nămphát triển, vùng còn lưu giữ nhiều danh thắng và di tích lịch sử, văn hoá, làngnghề truyền trống Ngoài ra vùng có rất nhiều bãi biển và khu du lịch thiênnhiên, có tiềm năng lớn để phát triển thành địa điểm du lịch văn hoá và sinhthái hấp dẫn trong và ngoài nước

Vùng KTTĐ Bắc Bộ là cái nôi của nền văn minh lúa nước, có ưu thế

về điều kiện khí hậu đặc thù có mùa đông lạnh để phát triển các vùng rau, hoaquả, chăn nuôi (diện tích đất nông nghiệp của vùng hiện có khoảng 585 nghìnha), nhất là các vùng xung quanh các đô thị, các thành phố lớn, các khu côngnghiệp tạo ra giá trị gia tăng lớn trên một đơn vị diện tích

Vùng KTTĐ Bắc Bộ có dải đất chuyển tiếp giữa miền núi trung du Bắc

Bộ với đồng bằng sông Hồng thuận tiện cho phân bố các khu công nghiệp,các đô thị mà không ảnh hưởng nhiều đến quỹ đất nông nghiệp

Trang 34

ở những ga đầu mối thiếu và lạc hậu; sân bay Nội Bài chưa đạt tiêu chuẩnquốc tế; hệ thống giao thông nội thị ở các thành phố lớn còn lạc hậu, gây áchtắc giao thông); mạng lưới điện nhiều nơi cũ nát, hư hỏng thất thoát điện cònlớn (tới 25%); mạng lưới cấp và đặc biệt thoát nước tại các đô thị yếu kém,lạc hậu, bất cập (nhiều đô thị thiếu nước, nhất là vào mùa hè, trong khi đólượng nước thất thoát rất lớn tới khoảng 50%); nếu có mưa lớn kéo dài 1, 2ngày là nhiều điểm ngập úng; nhiều nơi ở khu vực nông thôn chưa có hệthống nước sạch; cơ sở vật chất của các ngành giáo dục, y tế và nhất là vănhoá, thể dục, thể thao còn yếu kém, xuống cấp nhiều Hơn nữa chất lượng thicông trong xây dựng cơ bản thấp gây thất thoát lãng phí vốn Ngân sách, kìmhãm sự phát triển của vùng.

Trình độ trang thiết bị kĩ thuật của các cơ sở công nghiệp còn kém phát triển, thiếu tác phong sản xuất công nghiệp, tình hình quy hoạch còn chưa

hợp lý gây chi phí tốn kém nhưng sản phẩm sản xuất ra kém chất lượng, khócạnh tranh trên thị trường Tình trạng gây ô nhiễm môi trường phổ biến Bắtđầu từ điểm xuất phát thấp, sự phát triển của vùng chưa tương xứng với tiềmnăng Vì vậy, tỷ trọng đóng góp vào GDP cả nước còn khiêm tốn so với vùngKTTĐ Nam Bộ

Do mật độ dân số đông, giá thuê đất ở VKTTĐBB cao nhất trong cả nước, công tác quy hoạch đất cho KCN gặp nhiều khó khăn Dân số chủ yếu

sống bằng nghề nông, mức tiêu dùng thấp nên cầu thị trường thấp, lấy đất choKCN dẫn tới việc người nông dân mất đất canh tác, nhưng hiệu quả sử dụngđất không cao tác động xấu tới đời sống người dân và độ hấp dẫn của môitrường đầu tư

Trang 35

2.2.2.Thưc trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu CN tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

So với các KCN, ở vùng KTTĐ Nam Bộ, số lượng các KCN, ở vùngKTTĐ Bắc Bộ ít hơn, các KCN phát triển chậm hơn và có quy mô nhỏ hơn

do nhu cầu tiêu dùng thấp, giá thuê đất cao nên sản xuất kinh doanh hiệu quảthấp, kém hấp dẫn hơn khu vực phía Nam Lượng vốn đầu tư trung bình hàngnăm vào các KCN thuộc vùng KTTĐ Bắc Bộ chỉ chiếm khoảng gần 20%tổng lượng vốn đầu tư vào các KCN trên cả nước

Tính đến hết tháng 12/2009, vùng KTTĐ Bắc Bộ hiện có 28 KCN đãthành lập, chủ yếu là các KCN có quy mô nhỏ và trung bình, trong đó có 19KCN đã cơ bản xây xong cơ sở hạ tầng và đang triển khai sản xuất kinhdoanh và 9 KCN đang trong thời gian xây dựng cơ sở hạ tầng Tổng số vốnđầu tư các KCN, KCX tại vùng là 5.219,5 triệu USD, chiếm tỷ lệ 15,55%tổng số vốn thu hút được vào KCN cả nước Trong đó đầu tư trực tiếp nướcngoài giữ vai trò chủ đạo với 385 dự án chiếm 50,8% tổng số dự án đầu tưvào KCN tại vùng và số vốn 3552 triệu USD, chiếm 68% tổng số vốn đầu tưvào các KCN của vùng

Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng dự án đầu tư

trực tiếp nước ngoài vào KCN,

KCX của vùng

50%

50%

ĐTTTNN Đt trong nước

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài vào KCN,

KCX của vùng

68% 32%

ĐTTTNN Đt trong nước

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 36

So với đầu tư trong nước thì đầu tư trực tiếp nước ngoài có số lượng dự

án tương đương nhưng gấp hơn 2 lần về số vốn Điều này cho thấy sự vượttrội về lượng vốn và quy mô vốn bình quân 1 dự án đầu tư nước ngoài so vớicác lượng vốn và quy mô bình quân của các dự án trong nước (vốn bình quânmỗi dự án ĐTTTNN là 9,89 triệu USD/dự án gần gấp 3 lần vốn bình quânmỗi dự án đầu tư trong nước là 3,57 triệu USD/dự án)

Hiện cả nước có 228 khu công nghiệp, phân bổ tại 56 tỉnh, thành phố,với tổng diện tích khoảng 58,4 nghìn ha Trong con số này, 145 khu côngnghiệp đã đi vào hoạt động, còn lại đang thực hiện giải phóng mặt bằng vàxây dựng kết cấu hạ tầng.

Đối với đầu tư trong nước, đến hết năm 2009, các KCN của vùng đãthu hút được 362 dự án, chiếm tỷ lệ 50,2% tổng số dự án và số vốn 20652 tỷđồng (khoảng 1290,75 triệu USD) chiếm tỷ lệ 32% tổng số vốn đầu tư vàoKCN của vùng

Các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN của Vùng thuộc mọithành phần kinh tế, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp có sẵn tại các khu đôthị lớn trước khi các KCN được thành lập (đa phần là doanh nghiệp Nhànước) có xu hướng di dời sản xuất từ nội thành hay khu vực dân cư vào KCN,

ít đơn vị thuê đất để thành lập mới, vì vậy quy mô vốn đầu tư bình quân củađầu tư trong nước không cao

Do hạn chế về lượng vốn, trình độ công nghệ và thị trường tiêu thụ nêncác doanh nghiệp trong nước ít có nhu cầu đầu tư vào KCN đặc biệt trongđiều kiện cơ sở hạ tầng còn thấp, chi phí vận chuyển cao, giá thuê đất tại cácKCN cao do giá đền bù giải phóng mặt bằng lớn Vì vậy các dự án đầu tưtrong nước thường là các dự án mở rộng vốn, tuy bằng về số dự án nhưng vẫnthấp hơn về lượng vốn so với các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu là thànhlập mới

Từ khi KCN đầu tiên của Vùng là KCN Nội Bài (Hà Nội) được thànhlập năm 1993, các KCN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ đã trải qua 16 năm xây dựng

Trang 37

và phát triển, thu hút một lượng vốn đáng kể bổ sung vào nguồn vốn pháttriển kinh tế-xã hội của vùng và cả nước.

Bảng 2.3 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX

vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (so sánh theo trung bình năm) giai đoạn

1993-2009 (tính theo vốn đăng ký của các dự án được cấp

giấy phép đầu tư)

TB giai đoạn 1993- 1995

TB giai đoạn 1996- 2000

TB giai đoạn 2001- 2005

TB giai đoạn 2006_2009 Tổng vốn ĐTNN vào

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong giai đoạn 1993-1995, các KCN tiến hành song song việc đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng và cho thuê đất kinh doanh Tổng số vốn đầu tư nướcngoài thu hút vào KCN, KCX của vùng giai đoạn này là 421,47 triệu USD,

Trang 38

bao gồm đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng là 152,64 triệu USD, chiếm36,2% và đầu tư vào sản xuất kinh doanh là 268,83 triệu USD, chiếm 63,8%tổng vốn.

Giai đoạn 5 năm tiếp theo, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khuvực, tổng lượng vốn và thay đổi về chính sách đầu tư, tổng lượng vốnĐTTTNN vào các KCN, KCX của vùng là 659,55 triệu USD, lượng vốntrung bình hàng năm giảm chỉ bằng 94% so với vốn trung bình năm giai đoạntrước Trong đó lượng vốn vào sản xuất kinh doanh giảm 41,5% còn lượngvốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn tiếp tục tăng 56,2% do nhu cầu đầu tưxây dựng hạ tầng cơ sở các KCN mới thành lập Tuy nhiên, nhiều dự án đangthực hiện bị ngừng hoặc rút vốn do không có khả năng thanh toán sau cuộckhủng hoảng tài chính

Trong 5 năm tiếp theo (2001-2005), nền kinh tế thế giới phục hồi saukhủng hoảng, đồng thời chính quyền các cấp đã có những biện pháp tích cực

để tăng cường thu hút đầu tư nên tình hình thu hút vốn ĐTTTNN đã khởi sắctrở lại Thời kỳ này lượng vốn ĐTTTNN tăng nhanh lên 1163,91 triệu USD,tăng hơn 3 lần so với giai đoạn trước Trong đó lượng vốn sản xuất kinhdoanh chiếm tỷ lệ 100% (tăng 256,9%), không có đầu tư vào cơ sở hạ tầng

Từ 2006_2009, với những cải cách lớn về chính sách và các động tháitích cực của chính phủ trong hội nhập quốc tế, lượng vốn ĐTTTNN tiếp tụctăng mạnh gần gấp 3 lần vốn đầu tư trung bình năm của giai đoạn 2001-2005,vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh là chủ yếu, chiếm 94,3%, đầu tư vào cơ

sở hạ tầng tăng do thành lập mới nhiều KCN làm tăng nhu cầu ngành xâydựng cơ bản

Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, tỷ lệ vốn đầu tư vào sản xuấtkinh doanh và cơ sở hạ tầng liên tục thay đổi phụ thuộc vào việc thành lậpmới các KCN, nhưng có xu hướng giảm dần tỷ trọng đầu tư vào cơ sở hạtầng, nâng cao đầu tư vào sản xuất kinh doanh Đây là xu hướng tích cựcchứng tỏ sự hiệu quả của đầu tư sản xuất kinh doanh tại KCN, KCX vùngKTTĐ Bắc Bộ

Trang 39

Với điều kiện thuận lợi như hiện nay, trong những năm tới lượng vốn

sẽ tiếp tục tăng mạnh và cơ cấu vốn sẽ dịch chuyển theo hướng tích cực tậptrung vào sản xuất kinh doanh Vì vậy sau đây là nghiên cứu cụ thể thực trạngthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào từng lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng

và sản xuất kinh doanh để làm rõ tình hình thu hút ĐTTTNN vào KCN, KCX

2.2.2.1.Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng khu công nghiệp của vùng giai đoạn 1993-2009

Từ năm 1993 đến cuối 2006, vùng KTTĐ Bắc Bộ đã thành lập 25KCN, trong đó hoàn thành về xây dựng cơ bản, đưa vào sản xuất kinh doanhđối với 16 KCN và đang tiếp tục đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở

hạ tầng 9 khu Trong các KCN đã hoàn thành có nhiều khu đã đạt tỷ lệ lấpđầy là 100% như KCN Nội Bài (Hà Nội), Thăng Long (Hà Nội), Sài Đồng B(Hà Nội và Quang Minh (Vĩnh Phúc) Tuy nhiên, số KCN có vốn đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn FDI là tương đối cao, 5/16 KCN đã hoànthành và 2/9 KCN đang xây dựng cơ bản, chiếm tỷ lệ 28% Tuy nhiên, việctiến hành xây dựng các KCN thực hiện chậm, nhìn chung, việc xây dựng cơ

sở hạ tầng các KCN ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thường kéo dài từ 5đến 7 năm (trừ KCN Nomura - Hải Phòng) Trừ KCN Nomura - Hải Phòng,giai đoạn I (50 ha) của KCN Nội Bài (Hà Nội) có cơ sở hạ tầng đã được xâydựng hoàn chỉnh, còn các KCN, KCX khác trong vùng triển khai xây dựng hạtầng chậm do giải phóng mặt bằng, việc đền bù giải toả phức tạp, tốn kémthời gian và do khả năng thu hút đầu tư hạn chế, do vậy, các chủ đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng cầm chừng Có trường hợp, tuy được thành lập từ 4 - 5năm, nhưng chủ đầu tư vẫn chưa thực hiện dự án như KCN Daewoo – Hanel

Giai đoạn tiếp theo, các KCN đã cơ bản hoàn thành chủ yếu nhờ nguồnvốn Ngân sách hoặc vốn địa phương, vốn ĐTTTNN vào Vùng đều là đầu tưvào sản xuất kinh doanh

Trang 40

Bảng 2.4: Tình hình ĐTTTNN vào cơ sở hạ tầng tại KCN-KCX vùng

KTTĐ Bắc Bộ giai đoạn 1993-2009 (theo giấy phép đầu tư)

(tr.USD)

Vốn thực hiện (tr.USD)

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Như vậy, vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, KCX của Vùng

là tương đối cao, tuy nhiên hiệu quả đầu tư của các dự án này không cao, thờigian thực hiện dài, khả năng hồi vốn thấp, không hẫp dẫn các nhà đầu tư nướcngoài Do vậy, lượng vốn đầu tư không ổn định, dễ bị ngừng thực hiện hoặcrút vốn khi gặp điều kiện không thuận lợi

Về vốn đầu tư thực hiện, các KCN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ thu hút lượng

vốn lớn hiệu quả thấp hơn so với vùng KTTĐ Nam Bộ, các dự án triển khaichậm, tỷ lệ thực hiện vốn tương đối thấp

Ngày đăng: 19/12/2012, 15:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước - Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trong điểm phía bắc. thực trạng và giải pháp
Bảng 2.1 Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước (Trang 26)
Bảng 2.2:Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX - Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trong điểm phía bắc. thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX (Trang 29)
Bảng 2.3. Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX - Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trong điểm phía bắc. thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3. Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX (Trang 37)
Bảng 2.4: Tình hình ĐTTTNN vào cơ sở hạ tầng tại KCN-KCX vùng - Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trong điểm phía bắc. thực trạng và giải pháp
Bảng 2.4 Tình hình ĐTTTNN vào cơ sở hạ tầng tại KCN-KCX vùng (Trang 40)
Bảng 2.7: Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất - Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trong điểm phía bắc. thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w