MỞ ĐẦU Pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một trong những chế định luật được hình thành khá sớm trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới Đây cũng là chế định pháp luật[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một trong những chế định luật được hình thành khá sớm trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới Đây cũng
là chế định pháp luật rất được các nhà luật học và xã hội quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu vì chế định này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển các giao lưu dân sự, gián tiếp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội Từ Bộ luật dân sự (BLDS) đầu tiên của Việt Nam năm 1995 đến nay (BLDS 2015), chế định này đã trải qua khá nhiều sự thay đổi cả về tư tưởng chủ đạo trong việc xây dựng chế định cũng như các quy định cụ thể trong lĩnh vực này Cùng với chế định về nghĩa vụ, chế định tài sản, chế định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đóng vai trò quan trọng trong luật dân sự không những của Việt Nam mà còn của hầu hết các quốc gia trên thế giới Chính vì vậy, em xin chọn Đề
số 6: “Phân tích và cho ví dụ minh họa về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của BLDS năm 2015” để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này
NỘI DUNG
I Khái niệm và đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
1 Khái niệm nghĩa vụ
Nghĩa vụ theo nghĩa chung nhất là việc mà theo quy định của pháp luật hay vì đạo đức
mà bắt buộc phải làm hoặc không được làm đối với xã hội, đối với người khác Theo cách hiểu này thì nghĩa vụ là mối liên hệ gữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia Những công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy định của pháp luật dân sự là nghĩa vụ dân sự
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghĩa vụ, theo Điều 274 BLDS năm 2015 đã định
nghĩa như sau: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoăjc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là
bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).”
Nếu nhìn nhận nghĩa vụ ở trạng thái là một quan hệ pháp luật dân sự thì so với các quan
hệ pháp luật dân sự khác, quan hệ nghĩa vụ có một số đặc điểm sau:
- Nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lí giữa ít nhất là hai người đứng về hai phái chủ thể khác nhau
- Quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập nhau một cách tương ứng va chỉ có hiệu lực trong phạm vi giữa các chủ thể đã được xác định Cụ thể, quyền của bên này
sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Bên này có bao nhiêu quyền với phạm vi bao nhiêu thì bên kia có bấy nhiêu nghĩa vụ với phạm vi tương ứng Đặc biệt, trong mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ, các chủ thể hoàn toàn được xác định và chỉ có quyền và nghĩa vụ với
Trang 2nhau Trường hợp, quyền và nghĩa vụ trong quan hệ này của các chủ thể liên quan đến người thứ ba thì người thứ ba đó cũng phải là người đã được xác định cụ thể trước
- Quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyền nên quyền của các bên chủ thể là quyền đối nhân Khác với quan hệ sở hữu, trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyền của bên này chỉ được đáp ứng khi bên kia đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ Mặt khác, trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, người mang quyền không được tác động trực tiếp đến tài sản của người mang nghĩa
vụ, hay nói cách khác, quyền của người này là đối với người có nghĩa vụ bên kia chứ không đối với tài sản của họ
Việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trước hết là dựa vào sự tự giác của họ nhưng trong thực tế, không phả bất cứ ai khi tham gia quan hệ nghĩa vụ đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình Việc người có quyền phải phụ thuộc và hành vi của người có nghĩa vụ có thể tạo ra rất nhiều khó khăn, vì vậy, pháp luật đã cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ
2 Khái niệm và đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
2.1 Khái niệm
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được hiểu theo hai phương diện:
Về mặt khách quan: là sự quy định của phá luật về các biện pháp để bảo đảm cho một
nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó
Về mặt chủ quan: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các bên về
việc lựa chọn sử dụng một trong các biện pháp đã được pháp luật quy định để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với tính chất tác động, dự phòng để bảo đảm; đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra
2.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm
Tất cả các biện pháp bảo đảm có các đặc điểm chung sau:
- Các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính Nghĩa vụ phát sinh từ các biện pháp bảo đảm thường được gọi là nghĩa vụ phụ vì nội dung, hiệu lực của biện pháp bảo đảm được thiết lập phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính
- Các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ
- Đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất Lợi ích vật chất ở đây thường là một tài sản - tài sản không có tranh chấp và phải hợp pháp và được phép giao dịch (vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản hoặc là một công việc phải làm)
- Phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính Về nguyên tắc, phạm vi bảo đảm theo thỏa thuận hoặc theo pháp luật quy định Trong trường hợp không có thỏa thuận và pháp luật không quy định khác thì phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ
Trang 3- Các biện pháp bảo đảm chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ.
- Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ sự thỏa thuận giữa các bên Đối với các hợp đồng dân sự mà pháp luật quy định buộc phải có biện pháp bảo đảm (hợp đồng cho vay mà bên cho vay là Ngân hàng Nhà nước), dù pháp luật quy định phải có thế chấp của người vay nhưng người vay vẫn có quyền lựa chọn thỏa thuận để cùng với bên cho vay xác định nội dung thế chấp
II Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Tại Điều 292 BLDS 2015 có quy đinh về 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao
gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản
1 Cầm cố tài sản
1.1 Khái niệm
BLDS 2015 đã có quy định tại Điều 309: Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là
bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Chủ thể của cầm cố tài sản bao gồm: bên cầm cố (thường là bên có nghĩa vụ, trong một
số trường hợp là người thứ ba) - phải giao tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; và bên nhận cầm cố (bao giờ cũng là bên có quyền) - nhận tài sản từ bên cầm cố để bảo đảm quyền
và lợi ích của mình
Đối tượng của cầm cố tài sản chỉ có thể là tài sản vì xét theo bản chất của cầm cố là việc bên cầm cố phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố giư nên tài sản cầm cố chỉ có thể là vật có sẵn vào thời điểm giao dịch cầm cố được xác lập Tài sản cầm cố có thể là động sản hoặc bất động sản đáp ứng các điều kiện sau:
- Vật cầm cố phải thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố Nếu tài sản cầm cố là tài sản
thuộc sở hữu chung của nhiều người thì việc cầm cố tài sản đó phải được sự đồng ý của tất
cả các đồng chủ sở hữu Vì khi người có nghĩa vụ giao tài sản cầm cố cho người có quyền thì từ thời điểm đó họ bị hạn chế một số quyền năng đối với tài sản của mình - bên nhận cầm cố chiếm hữu tài sản đó và có quyền định đoạt khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng Tuy nhiên, đối với tài sản không phải đăng ký sẽ rất khó để xác định người cầm cố có phải là chủ sở hữu của tài hay không, đây chính là khó khăn lớn nhất đối với người nhận cầm cố Đối với doanh nghiệp nhà nước được loại trừ điều kiện này vì đã được Nhà nước giao tài sản và quyền quản lí đối với tài sản đó nên mặc dù không phải chủ sở hữu nhưng vẫn có thể dùng tài sản đó để cầm cố
- Vật cầm cố phải là vật được phép chuyển giao Vì khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng
biện pháp cầm cố, đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố được quyền bán tài sản cầm cố
1.2 Nội dung
Tuy BLDS 2015 không xác định rõ về hình thức của cầm cố tài sản nhưng theo quy định
tại Điều 310 bộ luật này, có thể hiểu: Nếu cầm cố tài sản là động sản thì có thể bằng hình
thức miệng hoặc văn bản; nếu cầm cố bất động sản thì bắt buộc phải bằng văn bản Văn bản
Trang 4cầm cố không nhất thiết phải công chứng hoặc chứng thực hoặc đăng kí, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác
Hợp đồng cầm cố có hiệu lực đối với các bên trong hợp đồng từ thời điểm giao kết và có hiệu lực đối kháng vưới người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm
cố Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc càm cố
bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng kí (Điều 310 BLDS 2015).
Ngoài ra, BLDS 2015 cũng có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố (tại
Điều 311,312) và bên nhận cầm cố (tại Điều 313,314).
1.3 Mục đích
Việc cầm cố tài sản thường được đặt bên cạnh một hợp đồng dân sự nhưng cũng có thể được đặt ra bên cạnh một nghĩa vụ ngoài hợp đồng Nhưng dù ở trường hợp nào, cầm cố tài sản đều là kết quả của sự thỏa thuận từ hai phía và với mục đích bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba phải bằng tài sản của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền
1.4 Xử lý tài sản cầm cố
Khi đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố Nếu hai bên có thỏa thuận về cách xử lý tài sản cầm cố thì bên nhận cầm cố có thể chủ động tác động vào tài sản hoặc hai bên cùng nhau tiến hành xử lý tài sản cầm cố mà không cần đến
sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền – đây là biện pháp tiện lợi nhất nên thường được các bên áp dụng trong thực tế Trong trường hợp hai bên không có thỏa thuận
về cách xử lý tài sản cầm cố thì tài sản cầm cố sẽ được đem I đấu giá theo quy định của pháp luật – cách này vừa đảm bảo được quyền lợi của các bên, vừa tránh tình trạng người nhận cầm cố cố tình bán cho được tài sản miễn sao thu hồi được khoản nợ mà không tính đến sự thất thiệt của bên kia Và bên nhận cầm cố sẽ được thanh toán từ số tiền thu được do bán đấu giá sau khi trừ chi phí bảo quản tài sản và chi phí bán đấu giá
1.5 Ví dụ
Vì cần tiền gấp nên anh H đã cầm cố chiếc laptop của mình cho anh T để vay anh T
7 triệu đồng và hẹn đúng 1 tuần sẽ trả cho anh T đủ 7 triệu đồng, anh T đồng ý Và hai bên có thỏa thuận nếu sau 1 tuần anh H không trả đủ 7 triệu đồng cho anh T thì anh T
có toàn quyền định đoạt đối với chiếc laptop đó (sử dụng, bán, cho thuê,… tùy anh T quyết định).
Đối tượng để cầm cố trong trường hợp này là chiếc laptop Hai bên chủ thể hoàn toàn xác định: H là bên cầm cố phải giao chiếc laptop cho anh T và T là bên nhận cầm cố -được giữ chiếc laptop nhưng phải bảo quản, giữ gìn chiếc laptop đó đồng thời không -được
sử dụng cũng như bán, cho thuê, mượn,…chiếc laptop đó; trong quá trình chiếm hữu tài sản cầm cố là chiếc laptop, bất cứ ai chiếm hữu, sử dụng chiếc laptop đó anh T đều có quyền đòi lại với tư cách là người chiếm hữu hợp pháp đối với chiếc laptop đó Mục đích H cầm cố lại chiếc laptop của mình là để bảo đảm anh H sẽ trả lại cho anh T 7 triệu đã vay đó
Trang 5Nếu sau 1 tuần, anh H trả đủ 7 triệu cho anh T thì anh T phải trả lại chiếc laptop cho anh
H, trường hợp anh T đã phải chi ra 1 khoản tiền để bảo quản, bảo dưỡng chiếc laptop đó thì anh H phải thanh toán thêm cả chi phí đó cho anh T Nhưng nếu sau 1 tuần, anh H không trả hoặc không trả đủ 7 triệu cho anh T thì theo thỏa thuận anh T có thể toàn quyền xử lý chiếc laptop đó Hoặc trong trường hợp, anh T làm hỏng, làm mất hoặc cho người khác thuê, mượn, bán,…chiếc laptop đó thì anh T phải bồi thường thiệt hại cho anh H
2 Thế chấp tài sản
2.1 Khái niệm
Về phương diện ngữ nghĩa, thế chấp tài sản là việc một bên dùng một tài sản để thay thế,
chấp hành một nghĩa vụ trước đó Định nghĩa này được BLDS 2015 quy định tại Điều 317
như sau: Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc
sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).
Phạm vi tài sản được dùng để thế chấp rộng hơn so với tài sản được dùng để cầm cố Tài
sản thế chấp có thể là vật, quyền tài sản, giấy tờ có giá, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai Tài sản đang cho thuê, cho mượn cũng được dùng để thế chấp
BLDS 2015 cũng có quy định rất cụ thể về tài sản thế chấp tại Điều 318 Tuy nhiên, việc
pháp luật quy định tài sản thế chấp phải thuộc sở hữu của bên thế chấp – điều này chưa thực
sự thể hiện được tính linh hoạt khi điều chỉnh các quan hệ dân sự
Khác với cầm cố, bên thế chấp không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp mà các
bên sẽ áp dụng việc chuyển giao các loại giấy tờ cho nhau để ràng buộc trách nhiệm Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ - đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thế chấp với cầm cố tài sản Pháp luật cũng dự liệu cho phép các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp
2.2 Xử lý tài sản thế chấp
Về nguyên tắc, việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện thông qua phương thức bán đấu giá Tuy nhiên, nếu giữa các bên có thỏa thuận trước thì tài sản thế chấp được xử lý theo thỏa thuận Bên nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản thế chấp sau khi trừ chi phí bảo quản và các chi phí liên quan khác Quyền được ưu tiên thanh toán của những người nhận thế chấp (các chủ nợ) được xác định theo thứ tự giống như thanh toán nghĩa vụ đối với những người nhận cầm cố tài sản
2.3 Ví dụ
A vay B 500 triệu để mua đất ở huyện Đông Anh, Hà Nội Hai bên thỏa thuận A sẽ thế chấp ngôi nhà mình đang ở tại quận Ba Đình, Hà Nội A và B lập hợp đồng vay tài sản và có ghi rõ trong hợp đồng là A đã thế chấp ngôi nhà của A (không bao gồm quyền sử dụng đất, hoa lợi, lợi tức từ ngôi nhà) tại quận Ba Đình, Hà Nội, thời hạn là 1 năm (có công chứng), hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm hai bên giao kết và ký vào hợp đồng.
A là bên thế chấp – phải giao toàn bộ giấy toàn bộ giấy tờ về ngôi nhà của mình cho B, chứng minh quyền sở hữu của mình đối với ngôi nhà đó; bên cạnh đó A còn có nghĩa vụ
Trang 6phải bảo quản, giữ gìn căn nhà hiện tại, áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục nếu ngôi nhà có nguy cơ bị giảm giá trị,…Ngoài ra A có quyền được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ căn nhà thế chấp (trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận) B là bên nhận thế chấp – có quyền được xem xét, kiểm tra trực tiếp
ăn nhà, nhưng không được cản trở, gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khai thác căn nhà của A Đối tượng để thế chấp là toàn bộ ngôi nhà của A (không bao gồm quyền sử dụng đất, hoa lợi, lợi tức)
Sau 1 năm, nếu A trả đủ 500 triệu cho B thì biện pháp thế chấp đương nhiên chấm dứt, B phải trả lại giấy tờ cho A Nhưng nếu sau 1 năm, A chưa trả hoặc không trả đủ 500 triệu cho
B thì ngôi nhà của A sẽ được đưa ra bán đấu giá vì A và B không có thỏa thuận về phương thức xử lý ngôi nhà nếu A thực hiện không đúng hợp đồng (trường hợp A và B có thỏa thuận về biện pháp xử lý đối với ngôi nhà đó thì B sẽ xử lý ngôi nhà theo thỏa thuận) B được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán đấu giá sau khi trừ các chi phí liên quan
3 Đặt cọc
3.1 Khái niệm
Tại khoản 1 Điều 328 BLDS 2015 quy định: “Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia
một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn dể bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”
Như vậy, đặt cọc là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một bên giao cho bên kia một tài sản trong một thời hạn nhất định nhằm xác nhận các bên đã thống nhất sẽ giao kết hợp đồng hoặc đã giao kết hợp đồng và buộc bên phải thực hiện đúng nội dung đã cam kết
Đối với biện pháp bảo đảm này, BLDS 2015 đã liệt kê khá rõ ràng về đối tượng của đặt
cọc, có thể thấy, tài sản đặt cọc mang tính thanh toán cao Nếu như tài sản cầm cố, thế chấp
là bất kỳ tài sản nào đáp ứng được các yêu cầu luật định thì tài sản đặt cọc chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp gồm: tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác Như vậy, tài sản như quyền tài sản, bất động sản không trở thành đối tượng của đặt cọcTài sản mà một bên giao cho bên kia chỉ đưuọc coi là tài sản đặt cọc nếu trong văn bản đặt cọc đã xác định là tài
sản đặt cọc Tức là, việc đặt cọc phải được lập thành văn bản, trong đó xác định rõ số tiền
đặt cọc, số tài sản đặt cọc,… nếu các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hay tiền trả
trước thì số tiền này được coi là tiền trả trước
Chủ thể của hợp đồng đặt cọc gồm hai bên: Bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc Tùy vào sự
thỏa thuận của các bên mà mỗi bên có thể là bên đặt cọc hoặc bên nhận đặt cọc Nhưng thông thường thì bên nào nắm giữ phần tài sản có sẵn như bên có nhà để bán, cho thuê hay bên nào sẽ phải đầu tư công sức tiền bạc để thực hiện công việc nhất định thì sẽ trở thành bên nhận đặt cọc
3.2 Mục đích và hậu quả pháp lý
Đặt cọc thực hiện hai chức năng bảo đảm: đặt cọc có thể được giao kết nhằm mục đích bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng; cũng có thể nhằm bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng; hoặc nhằm cả hai mục đích trên Đây là điểm tạo ra sự khác biệt giữa biện pháp đặt cọc và các biện pháp bảo đảm khác Thông thường các biện pháp bảo đảm khác chủ yếu bảo
Trang 7đảm cho việc thực hiện hợp đồng nhưng biện pháp đặt cọc được giao kết trước hợp đồng chính thức lại nhằm mục đích bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, tránh sự bội tín trong giao kết hợp đồng
- Trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Trường hợp, bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối viêc giao kết hợp đồng dân
sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Ngoài ra, đặt cọc là hợp đồng thực tế Hay nói cách khác, hợp đồng đặt cọc chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên đã chuyển giao cho nhau tài sản đặt cọc
3.3 Ví dụ:
A mua 1 mảnh đất của B Vì chưa có đủ tiền và cần thời gian để gom tiền, mà A lại muốn giữ để B không bán cho người khác nên đã đề nghị với B là sẽ đặt cọc 200 triệu,
1 tuần sau sẽ quay lại trả tiền mua mảnh đất B cũng muốn A giữ lời và phải thực hiện hợp đồng mua bán nên đã đồng ý Ngày 13/3/2018, hai bên có lập một hợp đồng mua bán mảnh đất đó, trong đó ghi rõ A đã đặt cọc trước 200 triệu đồng và ngày 20/3/2018
sẽ thanh toán cho B toàn bộ số tiền mua mảnh đất đó.
- 200 triệu đồng A đặt để giữ mảnh đất đó đã được xác định và ghi nhận rõ bằng văn bản (trong hợp đồng mua bán) nên 200 triệu này là tiền đặt cọc và chính là đối tượng để bảo đảm hợp đông mua bán được thực hiện
- A là bên đặt cọc, B là bên nhận đặt cọc – trong thời gian từ 13/3 đến 20/3/2015 B phải giữ mảnh đất đó cho A Nếu đến ngày 20/3/2018 A thanh toán đầy đủ số tiền mua mảnh đất thì B phải trả lại cho A 200 triệu đã đặt cọc trước đó, hoặc 200 triệu đó có thể được coi là số tiền A đã thanh toán trước và A chỉ phải thanh toán nốt phần tiền còn lại khi mua mảnh đất Nhưng nếu qua ngày 20/3/2015 A vẫn không thanh toán tiền mua đất cho B thì 200 triệu đó thuộc về B và B không cần giữ mảnh đất đó nữa, có thể bán cho người khác Hoặc trong trường hợp, ngày 17/3/2018, C đến mua chính mảnh đất mà A đã đặt cọc trước
đó, vì C trả giá cao hơn nên B đã bán mảnh đất đó cho C Trong trường hợp này B phải trả lại 400 triệu cho A, bao gồm: 200 triệu A đã đặt cọc và B còn phải trả cho A số tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc tức là trả thêm 200 triệu (trừ trường hợp 2 bên có thỏa thuận khác)
4 Ký cược
4.1 Khái niệm
Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản ký cược)trong một thời
han để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê – Điều 329 BLDS 2015.
Theo đó, ký cược chỉ áp dụng đối với những hợp đồng thuê tài sản trong trường hợp tài sản thuê là “động sản” và tài sản ký cược không phải là quyền tài sản Theo nguyên tắc và
để đảm bảo quyền lợi cho bên thuê, giá trị tài sản ký cược phải tương đương hoặc cao hơn giá trị tài sản cho thuê (nếu các bên không có thỏa thuận khác) Vì vậy, ký cược thường
Trang 8được áp dụng đối với những hợp dồng có giá trị nhỏ Về hình thức ký cược, BLDS 2015 không quy định bắt buộc ký cược phải theo một hình thức nhất định nào: có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói
4.2 Mục đích
Mục đích củ ký cược là nhằm buộc bên thuê phải trả lại tài sản và để bảo vệ các quyền lợi của bên cho thuê tài sản
4.3 Hậu quả pháp lý
Trong việc xử lý tài sản ký cược có một số vấn đề như sau:
- Nếu bên thuê trả lại tài sản thuê theo như thỏa thuận thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trừ tiền thuê hoặc tiền thuê 2 bên sẽ thỏa thuận thanh toán riêng Bên thuê (bên ký cược) phải thanh toán cho bên cho thuê (bên nhận ký cược) chi phí hợp lí (nếu có) để bảo quản giữ gìn tài sản ký cược (trừ trường hợp các bên có quy định khác); và bên cho thuê có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản ký cược, không được khai thác, sử dụng tài sản đó và không được xác lập giao dịch với tài sản ký cược trừ trường hợp bên ký cược đồng ý
- Nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê chứ tài sản ký cược không đương nhiên thuộc sở hữu của bên cho thuê (điểm khác biệt so với đặt cọc)
- Nếu tài sản thuê không còn để trả lại (tài sản thuê bị mất, bị tiêu hủy hoặc đã chuyển giao cho người thứu ba,…) thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê và chấm dứt nghĩa vụ của các bên
4.4 Phân biệt ký cược với cầm cố và đặt cọc tài sản
Ký cược với cầm cố tài sản
Tiêu chí phân
Căn cứ pháp lý Điều 329 BLDS 2015 Điều 309 – Điều 316 BLDS
2015 Đối tượng dùng
để bảo đảm sản ký cược dưới dạng tiền để- Chủ yếuchuyển giao tài
sử dụng tài sản thuê
- Giá trị tài sản ký cược ít nhất là bằng giá trị tài sản thuê
- Chủ yếu chuyển giao tài sản dưới dạng vật để được nhận lợi ích vật chất dưới dạng tiền
- Giá trị tài sản cầm cố thông thường lớn hơn giá trị nghĩa vụ cần bảo đảm
Đối tượng áp
dụng Hợp đồng thuê tài sản là độngsản Tất cả các giao dịch dân sự
Mục đích Đảm bảo việc trả lại tài sản cho
thuê Đảm bảo nghĩa vụ phải thựchiện
Xử lý tài sản là
đối tượng bảo
đảm khi có vi
phạm nghĩa vụ
Tài sản ký cược được chuyển quyền sở hữu sang bên thuê Theo thoả thuận hoặc bán đấugiá theo quy định của pháp luật
Trang 9 Ký cược với đặt cọc tài sản
Tiêu chí phân
Căn cứ pháp lý Điều 329 BLDS 2015 Điều 328 BLDS 2015
Đối tượng dùng
để bảo đảm Giá trị tài sản ký cược ít nhấtphải tương đương với giá trị
tài sản thuê
Giá trị tài sản đặt cọc thấp hơn giá trị hợp đồng cần bảo đảm Mục đích Bảo đảm việc trả lại tài sản
thuê Bảo đảm cho giao kết hoặcthực hiện hợp đồng Hậu quả pháp lý
bất lợi Chỉ áp dụng cho bên thuê tàisản nếu vi phạm nghĩa vụ trả
lại tài sản thuê
Áp dụng với cả 2 bên trong quan hệ nếu có lỗi: phải mất một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc
4.5 Ví dụ
A mua một két bia chai tại cửa hàng của B Vì A không có vỏ chai để đổi cho B nên
B đã cho A thuê vỏ chai bia Để đảm bảo A sẽ mang trả lại vỏ chai cho mình, B đã yêu cầu A phải đặt lại 50.000 đồng để cược tiền vỏ - số tiền cược này là do B quy định và 50.000 đồng đó gọi là tiền kí cược (tiền két bia A đã thanh toán đầy đủ).
Nếu A trả lại đầy đủ vỏ bia cho B thì B phả trả lại 50.000 đồng đã đặt cược trước đó cho
A Trong trường hợp A trả lại không đủ số vỏ chai đã mua, ví dụ két có 24 chai mà A chỉ trả
20 chai thì A phải đền cho B số tiền của 4 vỏ chai thiếu đó trừ vào tiền ký cược, còn lại bao nhiêu thì B trả lại cho A Nếu A không trả vỏ chai cho B thì 50.000 đồng đó thuộc về B
5 Ký quỹ
5.1 Khái niệm
Để biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có độ an toàn cao, các bên có thể chọn ngân hàng giữ tài sản là đối tượng của biện pháp bảo đảm và là người “xử lý” đối tượng đó để thanh toán nghĩa vụ cho bên có quyền khi đến thời hạn mà nghĩa vụ không được thực hiện
Tại khoản 1 Điều 330 BLDS 2015 quy định: ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một
khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
Chủ thể trong quan hệ ký quỹ bao gồm hai bên: bên ký quỹ - là bên đã gửi một lượng tài
sản vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng nhất định; và bên nhận ký quỹ - là bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại bằng tài sản ký quỹ đó Khác với đặt cọc và ký cược, biện pháp ký quỹ có mặt của một chủ thể trung gian trong quan hệ pháp luật dân sự này, đó là sự có mặt của ngân hàng nhằm đảm bảo độ an toàn cao cho các bên, ngân hàng trong quan hệ này được coi là chủ thể giữ tài sản ký quỹ và có nghĩa vụ phải thanh toán cho bên bị vi phạm nghĩa vụ bằng tài sản trong tài khoản ký quỹ
Trang 10Ở đây xuất hiện một khái niệm mới “tài khoản phong tỏa” Tài khoản phong toả là một khoản vốn mà một bên tham gia và Ngân hàng lập ra để chuyển cho một bên khác ngay khi hoàn thành các thoả thuận hoặc điều kiện trong khoảng thời gian đáo hạn đã cam kết trước Hiểu một cách đơn giản, đó là tài khoản bị bao vây, cô lập và không được thực hiện bất cứ giao dịch nào trong thời gian bị phong tỏa Hay nói cách khác, tài khoản phong tỏa là tài khoản mà trong thời hạn phong tỏa, chủ tài sản không được rút tiền từ tài sản đó
5.2 Hậu quả pháp lý
Biện pháp bảo đảm này đảm bảo sự an toàn cho bên có quyền, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình, bên có quyền
có quyền yêu cầu ngân hàng nơi có tài khoản phong tỏa thanh toán toàn bộ nghĩa vụ kèm theo chi phí bồi thường thiệt hại (nếu có) từ tài khoản đó Trong đó có trừ đi chi phí dịch vụ của ngân hàng và trả lại cho bên có nghĩa vụ nếu có chênh lệch sau khi khấu trừ nghĩa vụ
5.3 Ví dụ:
Ngày 15/1/2018, anh A có mua của anh B một cặp lục bình trị giá 20 triệu đồng nhưng do lúc đó chưa có đủ tiền mặt nên anh A đã thỏa thuận với anh B đến ngày 15/2/2018 sẽ giao cho anh B toàn bộ số tiền trên Để tạo sự tin tưởng cho B, anh A đã dùng biện pháp ký quỹ bằng cách đến ngân hàng C mở 1 tài khoản và đưa 5 chỉ vàng vào tài khoản đó.
Đối tượng của ký quỹ là: vàng (5 chỉ) – kỹ quỹ tại ngân hàng C Chủ thể: A là bên ký quỹ - gửi tài sản ký quỹ là 5 chỉ vàng vào tài khoản phong tỏa, B là bên nhận ký quỹ - có quyền được ngân hàng C thanh toán, bồi thường thiệt hại bằng 5 chỉ vàng của A trong tài khoản phong tỏa; ngân hàng C là chủ thể giữ tài sản ký quỹ Mục đích của việc ký quỹ của
A tại ngân hàng C trong trường hợp này là nhằm đảm bảo việc hoàn trả lại số tiền cho B đúng ngày 15/2/2018 Và trong khoảng thời gian từ ngày 15/1 đến ngày 15/2/2018 A không được sử dụng tài khoản đã mở tại ngân hàng C đó
Nếu đến ngày 15/2/2018, anh A không thực hiện việc gao trả cho anh B 20 triệu đồng thì ngân hàng C có nhiệm vụ dùng 5 chỉ vàng này để thanh toán cho B, cùng với đó ngân hàng
C sẽ thu một khoản chi phí từ giá trị của 5 chỉ vàng của anh A Nếu 5 chỉ vàng đó không đủ
để thanh toán cho anh B thì anh A phải trả thêm cho anh B, hoặc nếu sau khi trừ chi phí dịch
vụ và thanh toán cho anh B vẫn còn dư tiền thì số tiền dư đó được trả lại cho anh A
6 Bảo lãnh
6.1 Khái niệm
Để bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền khi giao kết hợp đồng trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, pháp luật cho phép người thứ ba đứng ra cam kết trước người có quyền về việc thực hiện thay nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Đó là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được pháp luật dân sự quy định – biện pháp bảo lãnh
Điều 335 BLDS 2015 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo
lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ