MỤC LỤC I CƠ SỞ KHOA HỌC 2 1 Cơ sở lý luận 2 1 1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin về vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử 2 1 1 1 Quần chúng nhân dân 2 1 1 2 Cá nhân lãnh tụ[.]
Trang 1MỤC LỤC
I CƠ SỞ KHOA HỌC 2
1 Cơ sở lý luận 2
1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử 2
1.1.1 Quần chúng nhân dân 2
1.1.2 Cá nhân lãnh tụ 2
1.1.3 Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân 3
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong cách mạng Việt Nam 4
1.2.1 Nhân dân là chủ thể của lịch sử 4
1.2.2 Nhân dân là lực lượng vô tận của cách mạng 4
2 Cơ sở thực tiễn: Kinh nghiệm và bài học sử dụng nguồn lực con người trong công nghiệp hóa ở các nước 5
II PHÂN TÍCH NỘI DUNG 6
III NHẬN THỨC BẢN THÂN 11
1 Thay đổi bản thân trên phương diện trí và lực 12
2 Tuyên truyền phổ biến quan điểm 14
IV KẾT LUẬN 15
Trang 2I CƠ SỞ KHOA HỌC
1 Cơ sở lý luận
1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
Chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định: Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính của lịch sử - quyết định lịch sử; còn cá nhân là vĩ nhân đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển lịch sử - xã hội và giữa vai trò của quần chúng nhân dân với vai trò của cá nhân có mối quan hệ biện chứng với nhau
1.1.1 Quần chúng nhân dân
Là những người lao động, là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội Là những
bộ phận chống lại giai cấp thống trị áp bức bóc lột, đối đầu với nhân dân và chống lại các kẻ thù xâm lược Là những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến
bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
1.1.2 Cá nhân lãnh tụ
Là những cá nhân xuất chúng trong các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, … Họ là
những người được nhân dân yêu quý và tin tưởng trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân Họ có những phẩm chất đặc biệt sau: Trí thức uyên bác, nhìn xa hiểu rộng, nắm chắc được quy luật khách quan của lịch sử, Có khả năng, năng lực
Trang 3tổ chức quần chúng nhân dân và định hướng họ trong con đường chiến đấu cách mạng giải phóng, Ý chí mãnh liệt, hy sinh quên mình vì lợi ích to lớn
Như vây, vai trò của các cá nhân được thể hiện rõ ràng trong bước ngoặt của lịch
sử Ví dụ: Trước khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, đất nước ta chìm trong ách nô lệ Nhân dân ta liên tục đứng lên chống lại, khởi nghĩa và các phong trào diễn ra mạnh mẽ nhưng đều thất bại vì thiếu một đường lối đúng đắn Dưới sự lãnh đạo của Người, 3 Đảng Cộng Sản ở Việt Nam khi đó hợp lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó trở thành một bước ngoặt to lớn trong lịch sử cách mạng ở nước ta
1.1.3 Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân
Cả 2 là 2 mặt của một thể thống nhất, không thể nào chỉ có 1 mà không
có cái kia Nếu không có phong trào của quần chúng nhân dân thì sẽ không xuất hiện các quá trình kinh tế chính trị xã hội, từ đó không thể xuất hiện cá nhân lãnh tụ Lênin đã viết: “Trong lịch sử, chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” Sự xuất hiện của lãnh tụ là yêu cầu tất yếu khách quan của lịch sử Quần chúng nhân dân và cá nhân đều thống nhất với nhau dựa trên cơ sở về mục đích
và lợi ích.Quan hệ lợi ích là cầu nối, là nội lực để liên kết các cá nhân cũng như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành một khối thống nhất về ý chí và hành động Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân còn được biểu hiện trên cả sự khác biệt về vai trò trong tác động của mình đến lịch sử xã hội: Quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định đến sự phát triển của quá trình
Trang 4lịch sử Cá nhân chỉ là những người đóng vai trò dẫn dắt, lãnh đạo quần chúng nhân dân trên con đường của sự phát triển
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong cách mạng Việt Nam
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò của nhân dân được Bác xác định rất rõ trong cách mạng giải phóng Việt Nam qua các phương diện khoa học sau
1.2.1 Nhân dân là chủ thể của lịch sử
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức rằng : nhân dân là yếu tố quan trọng nhất, trung tâm của mọi sự vật hiện tượng Do đó,
mục tiêu cao nhất của Bác là “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là
làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu”.
1.2.2 Nhân dân là lực lượng vô tận của cách mạng
Chiến thắng của cuộc cách mạng Việt Nam là nhờ người dân Hồ Chí Minh đã công nhận và đánh giá cao khả năng tuyệt vời của người dân mà không có lực
lượng nào có thể so sánh được Người khẳng định: “Có dân là có tất cả”, tin tưởng
dân, dựa vào dân, tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân là nền tảng căn bản của Người trong cách mạng giải phóng đất nước Đảng phải để dân đứng lên đấu
Trang 5tranh giải phóng và gây dựng nên xã hội mới do mình làm chủ, nhưng sự nghiệp ấy
bắt buộc phải được thực hiện bởi nhân dân Từ đó ta nhận thấy rõ ràng rằng: Nhân
dân mới chính là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử, là người làm nên lịch sử Bên cạnh đó Người cũng đã nhấn mạnh rằng dù giỏi đến mấy cũng
không thể thay nhân dân cách mạng
2 Cơ sở thực tiễn: Kinh nghiệm và bài học sử dụng nguồn lực con người trong công nghiệp hóa ở các nước
Nguồn nhân lực là mắt xích quan trọng nhất của lực lượng sản xuất quyết định xã hội sức mạnh của một quốc gia Việt Nam là một đất nước có lợi thế nguồn nhân lực dồi dào, làm việc vất vả, thông minh và có khả năng học hỏi nhanh thành tựu khoa học nghệ thuật mới Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh
tế, Việt Nam cần phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, trình độ chuyên môn cao, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của khoa học – công nghệ, đảm bảo cho nền kinh tế VN phát triển theo hướng hiện đại, bền vững Nhiều quốc gia đã phát triển rất mạnh mẽ và để lại cho chúng ta cái bài học và kinh
nghiệm quý báu để ta có thể học hỏi theo: Kinh nghiệm của Mỹ: Mỹ hiện tại
đang là nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia phát triển nền khoa học – công nghệ tiên tiến nhất Để đạt được thành tựu như vậy, Mỹ đã phải mất hơn
200 năm phát triển theo tôn chỉ : “nguồn nhân lực là trung tâm của mọi phát
triển” Vì vậy nên Mĩ đã bắt đầu phát triển nguồn nhân lực của mình từ nền căn
bản nhất: đầu tư cho giáo dục và thu hút các nhân tài Qua chiến lược của mình,
Mĩ đã sản sinh ra các tầng lớp công dân có trình độ học vấn cao, kỹ năng giỏi và tay nghề tốt qua đó đưa Mĩ trở thành một cường quốc trong lĩnh vực khoa học-
công nghệ Kinh nghiệm của Singapore: Ngay sau khi độc lập, Lee Kuan Yew
Trang 6đặt mục tiêu: Làm cho Singapore trở thành một xã hội có học vấn cao, giáo dục là chìa khóa để cải thiện cuộc sống và thúc đẩy Phát triển kinh tế đòi hỏi Singapore phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, một nhóm các nhà khoa học và một lực lượng lao động có trình độ cao Mặc dù Singapore là một đất nước nhỏ với rất ít người, Singapore có một mạng lưới dày đặc các trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu Ngoài ra, Singapore có chính sách hỗ trợ học bổng cho sinh viên tài năng đến từ nhiều quốc gia trong khu vực thông qua tuyển sinh Sau khi tốt nghiệp, các sinh viên này phải cam kết làm việc ít nhất 6 năm Qua đó Singapore đã đồng thời giải quyết được 2 mục tiêu của mình: thiếu nhân lực và thu hút nhân tài từ bên ngoài
Từ hai quốc gia trên, chúng ta có thể rút ra một số bài học sau đây về phát triển nguồn nhân lực: Cần xác định đúng vai trò và vị trí của nguồn nhân lực, Phải chú trọng đầu tư giáo dục từ phổ thông cho đến đại học và các trường nghề, Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, Đầu tư, quan tâm, tạo điều kiện cho các nguồn nhân lực trẻ, Củng cố khả năng hội nhập quốc tế dựa trên cơ sở kế thừa
và giữ vững các tinh hoa của dân tộc
II PHÂN TÍCH NỘI DUNG
Nguồn nhân lực: Toàn bộ về thể chất, tinh thần, đạo đức, định tính, trí tuệ, xã
hội tạo ra năng lực của nhân dân, cộng đồng có thể sử dụng và thúc đẩy trong quá trình phát triển kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong các hoạt động xã hội Khi chúng ta nói về nguồn nhân lực, chúng ta gọi mọi người là người hoạt động tham gia vào thay đổi tự nhiên, thay đổi xã hội Nguồn lực con người đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như theo Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà ta đạt được trong quá trình phát triển Theo tổ chức lao động quốc tế ILO thì có một góc nhìn khác,
Trang 7nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động của một quốc gia, đóng vai trò vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Đảng Cộng Sản Việt Nam thì xem xét nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ: số lượng và chất lượng Kết hợp cả hai
ý kiến của 2 tổ chức quốc tế, Đảng ta nhận thấy rằng nguồn nhân lực là tổng thể chất dự trữ, tiềm năng và lực lượng thể hiện sức mạnh, là kinh nghiệm sống tích lũy qua sự từng trải của mỗi con người, cộng đồng Như vậy, sau khi xem xét dưới nhiều khía cạnh thì có thể thống nhất được định nghĩa: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một sự nghiệp mang tính cách mạng lớn của nhân dân ta, đất nước chúng ta đặt mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh." Đó không phải là công việc của một cá nhân, một tầng lớp riêng biệt mà là sự nghiệp của toàn bộ nhân dân, bởi nhân dân Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đòi hỏi phải huy động sức mạnh của toàn dân trong mọi
phương diện: lao động, tiền bạc, trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm, công nghệ Qua đó,có thể thấy yếu tố con người là yếu tố cơ bản,quyết định trọng sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa của nước ta
Thực tiễn cũng cho thấy rằng để xây dựng và phát triển một nền kinh tế bền vững, cần có năm yếu tố: vốn, khoa học và công nghệ, con người, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị và quản lý nhà nước, trong đó con người là yếu tố quyết định Do
đó, trong quá trình đổi mới ở nước ta, yếu tố con người, phát triển nguồn nhân lực
là sự phát triển của các yếu tố nội sinh, nếu được nghiên cứu và sử dụng hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh phục vụ cho chính sách của con người và xã hội Bên cạnh đó, nguồn lực con người là vô tận Nguồn nhân lực không chỉ tái sinh
và tự tái tạo mà còn tự đổi mới và phát triển về chất lượng trong xã hội nếu họ được nuôi dưỡng tốt, trở thành một công cụ không thể thiếu để phát triển quốc gia
Trang 8một cách bền vững Đây là cơ sở để làm cho năng lực và hoạt động của con người phát triển như một quá trình vô tận Kết quả là, mọi người từng bước làm chủ được
tự nhiên, sáng tạo, khám phá các nguồn lực mới, các công cụ sản xuất mới, đưa xã hội vào nền văn minh từ thấp đến cao
Về phát triển nhanh và bền vững, nguồn nhân lực Việt Nam là cơ bản nhất Bởi
vì với nguồn nhân lực được phát triển một cách đúng đắn thì sẽ quyết định phương hướng, bước đi trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Qua đó, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng là một vấn đề cấp bách cho sự nghiệp Và nếu chúng ta thỏa mãn được vấn đề đó thì năng suất sẽ gia tăng, mở đường cho đất nước phát triển một cách nhanh chóng
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII Đảng ta khẳng định:
“Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
về các lĩnh vực văn hóa xã hội là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, với tư cách là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng”. Phát triển con người toàn diện - đó là động lực, đó là mục tiêu mà chúng ta đang đẩy mạnh Người dân ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội và trong sự phát triển của một nền kinh tế thị trường được quản lý bởi nhà nước, theo hướng xã hội chủ nghĩa , chất lượng là yếu tố quyết định
Vì vậy, quan điểm của Đảng về vận dụng nguồn nhân lực để phát triển đất nước một cách nhanh và bền vững là hoàn toàn đúng đắn vì nó đã giải quyết được các vấn đề mà trước đây chưa giải quyết được:
Thứ nhất, cơ sở vật chất và kỹ thuật của đất nước đã được tăng cường đáng kể và quyền tự chủ của nền kinh tế đã được cải thiện Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, với cơ sở hạ tầng kém, đến nay, có hơn 100 khu công nghiệp, khu chế xuất
và nhiều khu công nghiệp công nghiệp gia công, sản xuất cơ khí và nội địa hóa
Trang 9sản phẩm đang gia tăng Các ngành công nghiệp vật liệu như luyện kim, cơ khí, vật liệu xây dựng, hóa chất cơ bản, khai thác mỏ và hóa dầu đang phát triển mạnh mẽ Một số sản phẩm công nghiệp đã cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Ngành xây dựng tăng trưởng nhanh, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 16,7% trong giai đoạn 2001-2005 Năng lực xây dựng đã phát triển nhanh chóng
và tiến bộ đáng kể đã được thực hiện theo hướng hiện đại Việc xây dựng nhà ở đô thị, hiệu quả Hàng năm, hàng triệu mét vuông nhà được đưa vào sử dụng (trung bình 20 triệu mét vuông mỗi năm trong giai đoạn 2001-2005) Các ngành công nghiệp nông thôn và miền núi có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình của cả nước Nhiều dự án cơ sở hạ tầng quan trọng được xây dựng, sân bay, cảng biển, đường bộ, cầu, nhà máy điện, bưu chính viễn thông hướng hiện đại hóa
Thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt kết quả quan trọng: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm (2001 giai đoạn 2005), tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 36,7% năm 2000 lên 41% vào năm 2005, trong khi tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 24,5% năm 2000 xuống 20,9% năm 2005.) Trong từng ngành kinh tế, có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả, kết hợp với sản xuất, với thị trường Cơ cấu kinh tế của vùng đã được điều chỉnh để thúc đẩy lợi thế so với của từng vùng Sự phát triển tương đối nhanh của các thành phần kinh tế chủ chốt góp phần đáng kể vào tăng trưởng và là động lực thúc đẩy nền kinh tế Thành phần của khu vực kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và gắn liền với nhiều hình thức sở hữu Cơ cấu lao động có sự chuyển biến tích cực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Từ năm 2000 đến năm 2005, tỷ trọng lao động trong công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1% lên 17,9%; Dịch vụ tăng từ 19,7%
Trang 10lên 25,3%; nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 68,2% xuống còn 56,8%; Lao động được đào tạo tăng từ 20% lên 25%
Thứ ba, những thành tựu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã góp phần đáng kể vào việc đưa nền kinh tế lên mức tăng trưởng tương đối cao, trung bình trên 7,5% / năm từ năm 2000 Điều này đã góp phần đáng kể vào việc giảm nghèo Thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể Năm 2005, đạt 640 USD / người, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện Những thành tựu này rất quan trọng; Đây là cơ sở để phấn đấu đạt được mục tiêu ban đầu của nước ta ngày càng trở nên kém phát triển và cơ bản trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại vào năm 2020, theo đề nghị của Đại hội Đảng lần thứ 10
Dựa vào cơ sở đã xác định, Đảng đã đề ra chủ trương, chính sách, biện pháp để phục vụ cho quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, cần chú trọng công tác giáo dục và đào tạo và khẳng định sự phát triển giáo dục và đào tạo là chính sách quốc gia hàng đầu trong thời kỳ Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh Do đó, để đáp ứng các yêu cầu về nguồn nhân lực, cần thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, dựa trên yêu cầu phát triển của các ngành và vùng lãnh thổ khác nhau, cần phải tổ chức lại lực lượng lao động một cách hợp lý trên toàn quốc theo hướng đổi mới công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tạo ra các ngành nghề quan trọng
Thứ hai, các nguồn lực cho giáo dục, đào tạo và khoa học và công nghệ cần phải được tập trung, trong khi việc sử dụng tài nguyên này là có mục đích và hiệu quả Giáo dục và đào tạo - khoa học và công nghệ được định hướng theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, do đó, phải nhu cầu từ phía xã hội, thị trường sẽ