1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước thực tiễn tại việt nam qui phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính cơ sở lý luận và thực tiễn

61 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước thực tiễn tại Việt Nam Qui phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính cơ sở lý luận và thực tiễn
Tác giả Nguyễn Phi Hoàng Vũ, Nguyễn Nam Anh, Nguyễn Thanh Hằng, Nguyễn Cảnh Hưng, Đoàn Bích Khánh
Người hướng dẫn Ths.NCS. Lâm Thị Thu Huyền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài Thảo Luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 249,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước - thực tiễn tại Việt Nam (0)
    • 1.1. Quản lý và quản lý nhà nước (4)
    • 1.2. Thực tiễn về quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam (8)
  • 2. Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước (8)
    • 2.1. Khái niệm và hệ thống các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước (9)
    • 2.2. Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước (11)
  • 3. Hình thức quản lý hành chính nhà nước (36)
    • 3.1. Khái niệm (36)
    • 3.2. Phân loại (36)
  • 4. Phương pháp quản lý hành chính nhà nước (39)
    • 4.1. Khái niệm (39)
    • 4.2. Những yêu cầu đối với phương pháp quản lý hành chính nhà nước (40)
    • 4.3. Những phương pháp quản lý hành chính nhà nước (40)
  • 5. Quy phạm pháp luật hành chính (44)
    • 5.1. Định nghĩa (44)
    • 5.2. Đặc điểm (44)
    • 5.3. Phân loại quy phạm pháp luật hành chính (47)
    • 5.4. Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính (50)
    • 5.5. Thực tiễn (53)
  • 6. Quan hệ pháp luật hành chính (55)
    • 6.1. Khái niệm (55)
    • 6.2. Đặc điểm (0)
    • 6.3. Phân loại (56)
  • Tài liệu tham khảo (61)

Nội dung

Nhóm 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT BÀI THẢO LUẬN Đề tài Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước – thực tiễn tại Việt Nam Qui phạm pháp luật hành chính và quan hệ pháp luật hành chính – cơ sở l[.]

Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước - thực tiễn tại Việt Nam

Quản lý và quản lý nhà nước

Quản lý là đối tượng nghiên cứ của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Nhiều lĩnh vực, ngôn ngữ khác nhau đã có những định nghĩa khác nhau về quản lý Trong tiếng Việt, “quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, “lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định Như vậy, ta có thể hiểu “quản lý” trong tiếng Việt là việc giữ gìn, duy trì các hoạt động ở trạng thái ổn định, cũng như tổ chức, sắp xếp các hoạt động để phát triển các hoạt động đó theo một yêu cầu nhất định. Theo từ điển Cambridge, quản lý mang những lớp nghĩa của kiếm soát và điều khiển, được định nghĩa là chịu trách nhiệm điều khiển và tổ chức một cá nhân hoặc một tổ chức, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh và nhân sự, kiểm soát việc điều hành hoặc sắp xếp cá nhân hay tổ chức đó Như vậy, từ những định nghĩa cơ bản này, ta có thể thấy được “quản lý” là khái niệm có liên quan mật thiết đến việc quản trị và điều khiển Định nghĩa chung nhất về quản lý, ta có thể hiểu theo định nghĩa của ngành điều khiển học: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.” Đó là quan điểm của các ngành nghiên cứu Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong suốt triều dài lịch sử cũng đã đưa ra cách hiểu của mình về vấn đề này, đơn cử như:

 Harold Koontz, nhà lý thuyết tổ chức, giáo sư quản lý kinh doanh người Mỹ tại Đại học California, cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.”

 Mary Parker Follett, tư vấn quản lý và tiên phong trong lĩnh vực lý thuyết tổ chức và hành vi tổ chức người Mỹ, lại có quan điểm rằng:

“Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện ang qua người khác.”

 Karl Marx: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động.”

 V.I.Lenin: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn.”

Theo hướng tiếp cận này, luận điểm của Marx được angà chính xác nhất và có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con người trong xã hội. Đó là các cách hiểu chung nhất và cơ bản nhất khi định nghĩa về quản lý. Tất nhiên, để có thể quản lý tốt, chủ thể quản lý cũng phải có được sự tuân theo của các đối tượng quản lý Vậy nên, để có được sự quản lý hiệu quả, đòi hỏi phải có sự phục tùng của các đối tượng đối với chủ thể quản lý Mà cơ sở của sự phục tùng này là quyền uy, hoặc là uy tín, mà đóng vai trò cơ sở là quyền uy. Quyền uy là phương tiện rất quan trọng để chủ thể quản lý buộc đối tượng phải phục tùng theo ý chí của mình Ý chí đó có thể phục vụ lơi ích chung của tất cả các thành viên trong tổ chức, hoặc chủ phục vụ lợi ích của một nhóm thành viên hoặc một cá nhân nhất định trong tổ chức Vì ý chí của tổ chức được angà ý chí của chủ thể quản lý, cho nên việc sử dụng quyền uy phục tùng cũng chia làm nhiều trường hợp khác nhau như sau:

 Sự quyền uy phục tùng, thống nhất ý chí được thực hiên chủ yếu qua thuyết phục của chủ thể quản lý và được đảm bảo bằng kỷ luật tự giác của các đối tượng quản lý.

 Sự quyền uy phục tùng, thống nhất ý chí được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế, bạo lực, và “có thể mang những hình thức độc tài, nghiêm khắc” (V.I Lenin).

Chủ thể của quản lý có thể là một cá nhân hoặc tổ chức các cá nhân, là đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân đề hướng đến mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định.

Quản lý nhà nước xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của nhà nước, khi mà nhà nước quản lý phần lớn các công việc của xã hội Khối lượng công việc cần quản lý của nhà nước đều là các công việc vô cùng quan trọng, đóng vai trò chủ chốt cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Quản lý nhà nước bao gồm các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Từ đó có thể khẳng định rằng, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý, nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Do đó, tất cả các cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước.

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, đảm nhiệm phần lớn bởi các cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách thường xuyên và trực tiếp công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị Cho nên có thể nói rằng, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước.

Nếu xét tổng thể, quản lý hành chính nhà nước là việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mọi cơ quan trong bộ máy nhà nước, hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mang trong mình quyền lực của nhà nước Nhưng nếu đánh giá sát hơn, quản lý hành chính nhà nước là hình thức hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước, được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, nhằm đảm bảo việc chấp hành các quy định của cơ quan quyền lực nhà nước.

Tính chất chấp hành được thể hiện ở mục đích của việc quản lý hành chính nhà nước là đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành Mọi chủ thể trong xã hội, kể cả những chủ thể mang trong mình quyền lực nhà nước cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh theo các văn bản pháp luật đã được ban hành Mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện cho pháp luật. Hoặc có thể nói rằng, cơ quan hành chính các cấp đưa lý thuyết luật trở thành thực tiễn.

Tính chất điều hành được thể hiện ở việc để đảm bảo cho các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành được thực hiện trên thực tế, cơ quan hành chính nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền, mà ở nước ta là Ủy ban nhân dân các cấp Trong quá trình thực hiện điều hành, cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước ban hành các văn bản pháp luật để đặt ra các quy phạm pháp luật hoặc các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc đối với các đối tượng quản lý liên quan phải thực hiện Như vậy, mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và các đối tượng quản lý là quan hệ “quyền lực – phục tùng”.

Từ đó ta có thể thấy, hoạt động điều hành là một nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành quyền lực nhà nước, gắn liền với hoạt động chấp hành và cùng hoạt động chấp hành tạo thành hai mặt thống nhất của quản lý hành chính nhà nước.

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước, dù đặt dưới sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng vẫn giữ được sự chủ động, sang tạo trong công tác điều hành Điều đó được minh chứng qua các chủ trương, biện pháp quản lý thích hợp đối với các đối tượng khác nhau của chủ thể quản lý, tạo cho họ điều kiện để lựa chọn cách thức hoàn thành nhiệm vụ trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình cụ thể.

Tất cả các cơ quan nhà nước đều tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhưng hoạt động này là hoạt động chủ yếu là do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, phản ánh chức năng cơ bản của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy vậy, không nên cho rằng mỗi cơ quan nhà nước chỉ có thể thực hiện một loại hành vi nhất định, tương ứng với hình thức hoạt động và chức năng cơ bản của nó Trên thực tế, nước ta là một nước mà có sự phân chia khá rõ rang nhưng vẫn có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, đơn cử như việc các tòa án cũng có thẩm quyền nhất đinh trong việc xử lý vi phạm hành chính.

Thực tiễn về quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam

Trên thực tế ở Việt Nam, lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước chủ yếu thuộc quyền quản lý của Chính phủ (ở Trung ương) và Ủy ban nhân dân các cấp (ở địa phương) Nhưng với sự khẳng định rằng “…quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp…” thì các cơ quan nhà nước khác (như cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát) cũng có vai trò thực hiện quản lý hành chính nhà nước trong một số các điều kiện, hoàn cảnh nhất định “Sự phân công rành mạch giữa các cơ quan nhà nước là tiền đề quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Mặt khác, sự phân công đó cũng rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia ổn định, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở Yếu tố kiểm soát ở đây không phải là sự “kiềm chế”,

“đối trọng”, mà là để ang sự giám sát giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước.”

Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

Khái niệm và hệ thống các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động có mục đích Những mục đích, mục tiêu cơ bản được đặt ra cho việc quản lý hành chính nhà nước, và kết quả thu được sẽ là thước đo để đánh giá cho hiệu quả của việc quản lý hành chính nhà nước.Muốn đạt được hiệu quả cao trong việc quản lý hành chính nói riêng và các công việc khác nói chung, đều có những nguyên tắc làm cơ sở cho việc tiến hành công việc Đặc biệt khi mà Luật hành chính ở nước ta vẫn chỉ là một tập hợp của nhiều văn bản quy phạm pháp luật riêng rẽ về vấn đề quản lý nhà nước, nên để việc tiến hành quản lý hành chính nhà nước thực tiễn diễn ra một cách có hiệu quả cao, thì việc đặt ra những nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước là một vấn đề quan trọng, cần thiết và việc tuân thủ các nguyên tắc này thì càng quan trọng và cần thiết hơn.

Các nguyên tắc quản lý hành chính được ghi nhận trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, từ các văn bản có tính pháp lý cao như Hiến pháp, các Bộ luật cho đến các văn bản dưới luật có tính thực hành cao, khẳng định cho vị trí tối quan trọng của các nguyên tắc này trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước – ghi nhận những quy tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có cả các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Và các văn bản luật và dưới luật lại cụ thể hóa các nguyên tắc này dưới góc độ thực hành.

Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang tính khoa học và khách quan, được xây dựng dựa trên sự tổng kết và rút ra từ thực tiễn, cho nên các nguyên tắc chủ quan do các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đặt ra mà phải là cơ sở của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Nhưng tất nhiên, các nguyên tắc này lại được ghi nhận lại thông qua nhận thức của con người, cho nên dù khách quan như thể nào đi chăng nữa, chúng cũng chịu sự chi phối của các điều kiện về chính trị, giai cấp và xã hội Ở điều kiện thực tiễn cụ thể ở ViệtNam, nội dung các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước thể hiện rõ nét bản chất của nhà nước ta – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Các nguyên tắc của quản lý hành chính nhà nước có tính ổn định, do các nguyên tắc này là sự phản ánh các quy luật khách quan của quản lý hành chính nhà nước, được áp dụng trong thời gian dài áp dụng các quy định quản lý hành chính nhà nước, cho nên chúng phải luôn giữ được tính đúng đắn trong áp dụng thực tiễn Nhưng tất nhiên, nếu một nguyên tắc trở nên lạc hậu, lỗi thời haowjc không còn giữ nguyên được giá trị áp dụng thực tiễn trước sự thay đổi của xã hội và hệ thống pháp luật, nó phải liên tục được xem xét, nghiên cứu để loại bỏ các nội dung không còn phù hợp, bổ sung các nội dung, nguyên tắc mới.

Các nguyên tắc này không thể là các nguyên tắc đơn lẻ, riêng rẽ, thiếu thống nhất, mà chúng phải là một hệ thống thống nhất, có liên kết chặt chẽ, áp dụng nguyên tắc này phải bổ sung cho nguyên tắc khác chứ không thể việc hai nguyên tắc bất kỳ có sự mâu thuẫn trong áp dụng với nhau Vì vậy, tính thống nhất, hệ thống trở thành một thuộc tính vốn có của các nguyên tắc này.

Tất nhiên, việc quản lý hành chính nhà nước ảnh hưởng đến nhiều đối tượng với các tính chất khác nhau, vì vậy đều có các nguyên tắc bổ sung và nâng cao trong vấn đề này Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến các nguyên tắc cơ bản nhất, có tính bao trùm, làm tiền đề cho các nguyên tắc khác của quản lý hành chính nhà nước.

2.1.2 Hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước Để có thể xác định cụ thể vị trí, vai trò của các nguyên tắc này trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, ta sẽ phân loại các nguyên tắc này thành các nhóm, mà trên cơ sở đó xây dựng và áp dụng chúng một cách có hiệu quả trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước.

Cách tiếp cận cơ bản và phổ biến nhất được sử dụng là dựa trên biểu hiện cụ thể ở hoạt động tổ chức, bao gồm tổ chức chính trị và tổ chức kỹ thuật Từ đó có thể phân thành hai nhóm nguyên tắc chính là nhóm nguyên tắc chính trị - xã hội và nhóm nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật.

Các nguyên tắc chính trị - xã hội là các nguyên tắc chung, được quán triệt trong toàn bộ tổ chức và hoạt dộng của các cơ quan nhà nước trong đó là hoạt động quản lý hành chính nhà nước Các nguyên tắc này thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp của nhà nước, bao gồm:

 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

 Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước

 Nguyên tắc tập trung dân chủ

 Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc

 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật là các nguyên tắc đặc thù cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước, chi phối các yếu tố mang tính chất kỹ thuật của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Đây là nhóm nguyên tắc có tính ổn định cao, vì dù trong bất kỳ điều kiện chính trị hoặc giai cấp như thế nào thì việc quản lý hành chính nhà nước vẫn phải tuân theo các nguyên tắc này Mặc dù nhóm này bao trùm rất nhiều nguyên tắc khác nhau, nhưng ta chỉ đề cập đến hai nguyên tắc cơ bản nhất là:

 Nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địa phương

 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phối hợp quản lý liên ngành.

Các nguyên tắc cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

2.2.1 Các nguyên tắc chính trị - xã hội

 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

Xuất phát từ thực tiễn lịch sử cho thấy, việc Đảng định hướng, lãnh đạo là hạt nhân trong những thắng lợi của đất nước ta, từ việc giành lại chính quyền,kháng chiến cứu nước cho đến công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trên cơ sở đó, ta có thể thấy rằng, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng, được đặt lên hang đầu trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt

Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Cần chú ý rằng, nguyên tắc này không thừa nhận sự can thiệp của các tổ chức Đảng vào trong các hoạt động chuyên môn của các cơ quan nhà nước Sự lãnh đạo của Đảng ở đây chỉ dừng lại ở việc định hướng tư tưởng, xác định các đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách và công tác tổ chức trong lĩnh vực chuyên môn, và cũng bị giới hạn can thiệp theo khoản 3, Điều 4 Hiến pháp 2013: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau trong quản lý hành chính nhà nước Hình thức lãnh đạo này còn được nêu rõ trong Điều 22 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lố, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội…” Đảng lãnh đạo còn là cơ bản trong công tác tổ chức cán bộ, được khẳng định ở khoản 1, Điều 5, Luật cán bộ công chức 2008: “Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước.” Nhưng vấn đề bầu, bổ nhiệm cán bộ công chức phải theo thủ tục do pháp luật quy định.

Thêm vào đó, Đảng còn có vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước để đảm bảo các công việc đi theo đúng tư tưởng,quan điểm, chủ trương, chính sách đã đề ra để có các biện pháp uốn nắn các sai phạm đã, đang và sẽ xảy ra.

 Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước Điều 2, Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.” Điều 3, Hiến pháp 2013 cũng nêu rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân; công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.” Đây là sự khẳng định vai trò của nhân dân trong việc khẳng định quyền làm chủ của mình trong các lĩnh vực đời sống nói chung và lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nói riêng.

Nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước Đây là hình thức tham gia tích cực, hiệu quả nhất của người dân trong quản lý hành chính nhà nước Các cơ quan nhà nước là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước, do vậy việc để nhân dân lao động có quyền tham gia vào hoạt động của các cơ quan sẽ phát huy tính dân chủ cao độ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của toàn thể người dân Trên thực tế có nhiều cách thức để nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, cụ thể:

Thứ nhất , nhân dân lao động có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước Các cơ quan quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay gồm: Quốc hội ở Trung ương và Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương Con đường để tham gia các cơ quan này thông qua bầu cử đầu phiếu, theo đó những người dân có đủ điều kiện ,được đông đảo nhân dân lao động tín nhiệm đề cử hoặc tự mình ứng cử sẽ trở thành đại biểu, thay mặt nhân dân lao động cả nước hoặc từng địa phương tham gia vào hoạt động của cơ quan trên Khi đã trở thành thành viên của những cơ quan mà mình được bầu, những người được tín nhiệm có quyền xem xét và quyết định trực tiếp những vấn đề quan trọng của đất nước, của từng địa phương trong đó có có lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.

Thứ hai , nhân dân lao động có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác: cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân các cấp), cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp), các cơ quan hành chính (Chính phủ,

Uỷ ban nhân dân các cấp…) với tư cách là những cán bộ, công chức Khi ở cương vị là những cán bộ, công chức, nhân dân lao động sử dụng trực tiếp quyền lực nhà nước để tiến hành các hoạt động khác nhau trong quản lý hành chính nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chức năng đặc thù của mỗi cơ quan,thể hiện vai trò của người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.

Thứ ba,ngoài việc trực tiếp tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân dân lao động có thể gián tiếp tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương Đây là cách thức rộng rãi nhất để nhân dân lao động có thể tham gia vào quản lý công việc của Nhà nước nói chung cũng như quản lí hành chính nhà nước nói riêng.

Nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội

Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội là một hình thức gián tiếp để nhân dân lao động tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Pháp luật Việt Nam trao cho các tổ chức xã hội quyền tham gia thành lập các cơ quan nhà nước, quyền giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tham gia tich cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội Thông qua tổ chức xã hội, vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân lao động được phát huy.

Nhân dân lao động tham gia hoạt động tự quản ở cơ sở

Hoạt động tự quản ở cơ sở là hoạt động được diễn ra thường xuyên, gần gũi, gắn liền với đời sống của nhân dân lao động Những hoạt động này được diễn ra ngay tại nơi người dân cư trú: khu dân cư, cộng đồng các làng, xã v.v… và do người dân tự mình thực hiện , Nhà nước không ép buộc họ phải làm Hoạt động này được diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể là trong lĩnh vực bảo vệ trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông v.v… với ý nghĩa tích cực, thể hiện sự dân chủ sâu sắc.

Nhà nước tạo mọi điều kiện để nhân dân lao động tham gia một cách tích cực, chủ động đối với những hoạt động mang tính tự quản ở cơ sở Chính quyền địa phương thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ thông qua việc ban hành những quy định cụ thể nhằm điều chỉnh, định hướng cho việc thực hiện các hoạt động tự quản của người dân được diễn ra một cách thường xuyên, đạt hiệu quả cao, đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ trực tiếp của người dân ở cơ sở.

Nhân dân lao động trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước

Kế thừa những quy định từ các bản Hiến pháp trước đây, Khoản 1 Điều

28 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước” Đây là một quyền cơ bản của công dân và để thực hiện quyền cơ bản này, pháp luật đã quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lí hành chính nhà nước Những quyền và nghĩa vụ này của công dân có thể thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội (như đã phân tích ở trên) hoặc cũng có thể do chính người dân thực hiện.

Hình thức quản lý hành chính nhà nước

Phương pháp quản lý hành chính nhà nước

Quy phạm pháp luật hành chính

Quan hệ pháp luật hành chính

Ngày đăng: 06/03/2023, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w