BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ TRANG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC MỘT NGƯỜI BỆNH TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI SAU PHẪU THUẬT CẮT U PHỔI CÓ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP RỬA MÀNG PHỔI BẰNG POVI
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ TRANG
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC MỘT NGƯỜI BỆNH TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI SAU PHẪU THUẬT CẮT U PHỔI CÓ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP RỬA MÀNG PHỔI BẰNG POVIDONE-IODINE QUA ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
VIỆT ĐỨC NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ TRANG
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC MỘT NGƯỜI BỆNH TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI SAU PHẪU THUẬT CẮT U PHỔI CÓ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP RỬA MÀNG PHỔI BẰNG POVIDONE-IODINE QUA ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề này, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Minh Chính đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong việc học tập chuyên môn và trong quá trình thực hiện chuyên đề này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, ban lãnh đạo Trung tâm Tim Mạch và Lồng ngực, tập thể nhân viên Khoa Ngoại Tim mạch và lồng ngực đã tạo điều kiện cho tôi được đi học nâng cao trình
độ bản thân Bệnh viện và khoa phòng cũng đã tạo điều kiện để giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm việc, quá trình thực tập để tôi có thể thuận lợi học tập, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, các khoa Phòng Bộ môn các thầy cô giáo cùng toàn thể các cán bộ, viên chức của Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, những thầy cô đã tận tình chỉ dạy tôi trong suốt thời gian học tập mặc dù dịch bệnh vẫn hoàn thành tốt các mục tiêu học tập theo đúng chương trình
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm chuyên đề tốt nghiệp
và rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để tôi hoàn thành chuyên đề tốt hơn
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt quá trình học tập cũng như thực hiện chuyên đề này
Nam Định, Ngày tháng 8 năm 2022 Tác giả
Nguyễn Thị Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Trang, học viên Chuyên Khoa 1 Khóa 9 trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định, chuyên ngành Điều Dưỡng Ngoại Khoa Người Lớn, tôi xin cam đoan:
1 Đây là chuyên đề do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Minh Chính, giáo viên hướng dẫn của tôi
2.Chuyên đề này không hề trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào trước đây
3 Những thông tin trong chuyên đề hoàn toàn là sự thật, khách quan và tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung những thông tin này
Người làm báo cáo
Nguyễn Thị Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Trên thế giới 14
1.2.2 Thực trạng tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức: 14
CHƯƠNG 2: MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP 16
2.1 Nghiên cứu một trường hợp cụ thể: 16
2.1.1 Quá trình bệnh lý 16
2.1.2 Khám bệnh 16
2.1.3 Quá trình tổ chức và thực hiện chăm sóc: 18
2.1.4: Kế hoạch chăm sóc: 18
CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 25
KẾT LUẬN 27
ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DLMP:
TKMP:
Dẫn lưu màng phổi Tràn khí màng phổi
Trang 8
106 người tử vong do ung thư [1]
Ung thư phổi đứng thứ hai tại Việt Nam về số ca mắc và tử vong nhưng trên 75% bệnh nhân đến viện ở giai đoạn muộn Số liệu WHO năm 2020 công bố, Việt Nam có thêm hơn 26.200 ca mắc mới ung thư phổi và gần 24.000 ca tử vong, xếp thứ
2 sau ung thư gan Bệnh gồm 2 loại: Ung thư phổi tế bào nhỏ (chiếm 15-20%) và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (chiếm 80-85%), trong đó ung thư phổi tế bào nhỏ là thể ác tính hơn Khả năng sống thêm 5 năm với ung thư phổi tế bào nhỏ chỉ khoảng 6%, ung thư phổi tế bào lớn khoảng 18% [2]
Ung thư phổi là căn bệnh đáng lo ngại, nhưng nếu phát hiện sớm thì bạn có thể được bác sỹ đưa ra các phương pháp điều trị hiệu quả hơn rất nhiều
Phẫu thuật vẫn là lựa chọn đầu tiên đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm, trong đó phẫu thuật nội soi lồng ngực (video-assisted thoracoscopic surgery –VATS) là lựa chọn được ưu tiên [9],[10],[11] Đây là kỹ thuật cao , chuyên sâu giúp điều trị ung thư phổi giảm đau đớn sau mổ, ít suy giảm chức năng hô hấp và rút ngắn thời gian điều trị Tuy nhiên vẫn có nhiều biến chứng có thể sảy ra sau phẫu thuật như: chảy máu, nhiễm trùng, xẹp phổi và tràn khí phổi sau mổ Rò rỉ khí kéo dài là biến chứng thường gặp nhất sau khi cắt phổi Rò rỉ khí kéo dài được định nghĩa
là tình trạng rò rỉ kéo dài hơn 7 ngày sau khi cắt bỏ phổi Theo Hiệp hội phẫu thuật hoàng gia anh tỉ lệ rò khí kéo dài ở bệnh nhân phẫu thuật cắt thùy phổi là 6,4% [8] Theo nghiên cứu của Phạm Hữu Lư và Lê Văn Thực tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức thì tỉ lệ này là 7,2% [3] Đây là một biến chứng khó xử lý và trước đây người bệnh cần được phẫu thuật lại nếu mức độ tràn khí vừa hoặc nhiều Gần đây để giảm nhẹ gánh nặng khi bênh nhân phải phẫu thuật lấn 2 ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe thì các Bác sỹ đã tiến hành rửa màng phổi bằng Povidone- Iodine qua ống dẫn lưu màng phổi đem lại hiệu quả tốt và không phải phẫu thuật xâm lấn trên bệnh nhân
Trang 9Việc chăm sóc những bệnh nhân tràn khí màng phổi sau phẫu thuật cắt thùy phổi có rửa màng phổ bằng Povidone- Iodine là chăm sóc khá chuyên sâu đòi hỏi người điều dưỡng cần có kiến thức , kỹ năng và kinh nghiệm để có thể phối hợp chăm sóc đạt hiệu quả tốt nhất cho người bệnh Ngoài việc theo dõi , chăm sóc ống Dẫn lưu màng phổi thông thường thì theo dõi trong và sau quá trình rửa màng phổi bằng Povidone- Iodine là rất quan trọng
Nhân một trường hợp có tràn khí màng phổi (TKMP) kéo dài sau phẫu thuật cắt thùy phổi được sử dụng phương pháp rửa màng phổi bằng Povidone- Iodine mang lại kết quả hết tràn khí, không phải phẫu thuật lại tại khoa ngoại tim mạch bệnh viện Việt Đức , với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng điều trị, theo dõi và chăm sóc người bệnh, tôi xin báo cáo ca lâm sàng:
“Thực trạng chăm sóc một người bệnh tràn khí màng phổi sau phẫu thuật cắt u phổi có sử dụng phương pháp rửa màng phổi bằng Povidone- Iodine qua ống dẫn lưu màng phổi tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2022” Với 2 mục tiêu:
1 Nhận xét thực trạng chăm sóc một người bệnh tràn khí màng phổi sau phẫu thuật cắt u phổi có rửa màng phổi bằng Povidone- Iodine qua ống dẫn lưu màng phổi tại Trung tâm Tim mạch- Lồng ngực bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2022
2 Một số ảnh báo khi chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật cắt u phổi có rửa màng phổi bằng Povidone- Iodine qua ống dẫn lưu màng phổi tại Trung tâm Tim mạch- Lồng ngực Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2022”
Trang 10Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Giải phẫu phổi
Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi xảv ra sự trao đổi khí giữa môi trường bên ngoài và cơ thể Mỗi người có hai phổi nằm trong hai ổ màng phổi; khoảng nằm ờ giữa hai ổ màng phổi gọi là trung thất
Hình 1.1: hình thể ngoài của phổi
1.1.1.1 Hình thể ngoài [4]
Phổi là một tạng xốp và đàn hồi nên thể tích của nó thay đổi nhiều theo lượng khí chứa bên trong Tỷ trọng của phổi nặng hơn nước khi chưa thỡ và nhẹ hơn nước khi đã thớ Phổi người lớn có có thể chứa tới 4500- 5000 ml không khí Phổi
Trang 11trẻ em có màu hồng, phổi người lớn có màu xanh biếc hoặc xám
Mỗi phổi có một đỉnh, một đáy và ba mặt ngăn cách nhau bằng các bờ; nó trông gần giống một nửa hình nón Các mặt phổi Mặt sườn (costal surface) nhẵn
và lồi áp vào mặt trong của lồng ngực, có các vết ấn lõm của xương sườn Phần sau của mặt sườn áp vào phía bên cột sống ngực, trong rãnh phổi cùa lồng ngực,
và được gọi là phấn cột sống (vertebral part) Mặt trung thất (mediastinal surface), hay mặt trong, lõm sâu do có ấn tim Ở sau-trên ấn tim là một vùng hình vợt gọi
là rốn phổi Rốn là nơi các thành phần tạo nên phổi đi vào và đi ra khỏi phổi, ngoài phổi, các thành phần này tạo nên cuống phổi Màng phổi tạng bọc mặt trung thất tới rốn phổi thì quặt vào bọc cuống phổi và liên tiếp với màng phổi thành Phần màng phổi bọc rốn và cuống phổi còn kéo dài xuống dưới tạo nên dày chằng phổi
M ặt hoành (diaphragmatic surface) hay bé mặt của đáy phổi (có thể coi đáy là vùng thấp của phổi), úp lên vòm hoành, qua cơ hoành liên quan với mặt trên của gan Mủ của áp xe gan có thể vỡ qua cơ hoành lên ổ màng phổi Riêng phổi trái còn liên quan qua cơ hoành với đáy vị và tỳ Ngoài các mặt nói trên, phổi còn có các mặt gian thuỳ được ngăn cách bời các khe gian thuỳ Đỉnh phổi Đinh tròn, nhô lên vào nền cổ qua lỗ trên của lồng ngực Các bờ của phổi Phổi có hai bờ, bờ trước và bờ dưới Bờ trước (anterior border) là bờ sắc ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất và trùm lên màng ngoài tim Phần dưới bờ trước phổi trái có khuyết tim Bờ dưới (inferior border) vây quanh măt hoành và gồm hai đoạn: đoạn thẳng
ờ trong ngăn cách mặt hoành với mặt trung thất đoạn cong ờ ngoài ngăn cách mặt hoành với mặt sườn "Bờ sau" là từ không được dùn° 191 trong thuật ngữ giải phẫu Nó ứng với đường phân chia phần cột sống cùa mặt sườn với phần còn lại của mặt này và chạy dọc theo chỏm của các xương sườn Các khe và thuỳ phổi Phổi phải được chia thành ba thuỳ trên, giữa và dưới bởi hai khe, khe chếch và khe ngang Các khe từ bề mặt của phổi ăn sâu vào đên tận rổn phổi Khe chếch đi qua cả ba mặt của phổi; nó ngăn cách thuỳ dưới với các thuỳ giưa và trên Khe ngang ngắn hơn, chỉ thấy ở mặt sườn và mặt trung thất, ngăn cách thuỳ trên với thuỳ giữa Phổi trái được chia thành hai thuỳ: thùy trên và thuỳ dưới bơi khe chếch Thuỳ trên phổi trái có hai vùng là vùng đỉnh và lưỡi
Trang 121.1.1.2 Hình thể trong
Trong giải phẫu phổi, phổi được cấu tạo bởi các thành phần đi qua rốn phổi, phân chia nhỏ dần trong phổi Đó là: Cây phế quản, động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch phế quản, tĩnh mạch phế quản, bạch mạch, các mô liên kết và các sợi thần kinh
Đặc điểm hình thể trong của phổi như sau:
Cây phế quản: Phế quản chính chui vào rốn phổi, chia thành các phế quản thùy Mỗi phế quản thùy dẫn khí cho 1 thùy phổi, tiếp tục chia thành các phế quản phân thùy để dẫn khí cho 1 phân thùy phổi Phế quản phân thùy lại chia ra các phế quản
hạ phân thùy, chia nhiều lần tới phế quản tiểu thùy - dẫn khí cho 1 tiểu thùy phổi; Động mạch phổi: Phần thân động mạch phổi đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải tới bờ sau quai động mạch chủ, chia thành động mạch phổi trái và động mạch phổi phải Động mạch phổi trái bắt chéo ở mặt trước phế quản chính trái, chui vào rốn phổi ở vị trí phía trên phế quản thùy trên trái Động mạch phổi phải chui vào rốn phổi phải trước phế quản chính, ra ngoài, đi tới sau phế quản;
Tĩnh mạch phổi: Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy, tiếp tục thành những thân lớn dần, tới các tĩnh mạch gian phân thùy hoặc tĩnh mạch trong phân thùy, tĩnh mạch thùy, họp thành 2 tĩnh mạch ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu oxy đưa về tâm nhĩ trái Hệ thống tĩnh mạch của phổi không có van; Động mạch và tĩnh mạch phế quản: Cung cấp dinh dưỡng cho phổi Động mạch phế quản là nhánh bên của động mạch chủ Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn và tĩnh mạch phổi;
Bạch huyết: Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, sau đó đổ vào các hạch bạch huyết phổi, đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở vị trí chia đôi của khí quản;
Thần kinh: Thần kinh đến phổi bao gồm hệ thần kinh giao cảm và hệ phó giao cảm
1.1.2 Ung thư phổi
Trang 131.1 2.1 U phổi là gì?
U phổi là kết quả của sự phân chia và phát triển bất thường của những tế bào trong mô phổi, hoặc trong đường hô hấp dẫn đến phổi Quá trình tế bào phân chia nhanh chóng, tuy nhiên, không chết đi, dẫn tới sự tích tụ của khối u
Nếu khối u có kích cỡ 3cm hoặc ít hơn thì thường được gọi là nốt phổi Khối u có đường kính lớn hơn 3cm thì được gọi là một khối
Đặc điểm của khối u phổi:
Không phải là ung thư phổi, vì vậy sẽ không lây lan đến các bộ phận khác của cơ thể
Khối u phổi phát triển chậm, hoặc thậm chí có thể ngừng phát triển hay thu nhỏ
Khối u phổi thường không nguy hiểm và không đe dọa tính mạng
U phổi có thể mở rộng và đẩy lên các mô lân cận nhưng sẽ không xâm nhập, phá hoại, hoặc thay thế các mô khác
1.1.2.2 Ung thư phổi là gì?
Ung thư phổi xảy ra khi các tế bào bình thường ở phổi biến đổi thành
tế bào bất thường và không tuân theo sự kiểm soát của cơ thể (hình 1) Ung thư phổi được chia ra thành hai loại chính là ung thư phổi không tế bào nhỏ (khoảng 80%) và ung thư phổi tế bào nhỏ (khoảng 20 %), trong đó ung thư phổi tế bào nhỏ tiến triển nhanh hơn Ở Việt Nam, ung thư phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở cả hai giới
Trang 14Hình 1.2 : hình ảnh khối ung thư phổi
1.1.2.3 Triệu chứng của ung thư phổi là gì?
- Ở giai đoạn sớm, bệnh thường không có triệu chứng
- Ở giai đoạn muộn hơn, bạn có thể có các triệu chứng sau:
+ Ho khan, ho máu, hay ho có đờm
- Nếu khối u ở đỉnh phổi, bạn có thể có các triệu chứng sau:
+ Đau ở tay, vai, hoặc cổ
+ Sụp mí mắt, nhìn mờ, nửa mặt bị đỏ
+ Yếu hoặc liệt tay
Tất cả các triệu chứng trên có thể do các nguyên nhân khác ngoài ung thư phổi Nhưng khi bạn có các triệu chứng trên, hãy đi khám tại các cơ sở chuyên khoa để được bác
sỹ khám, tư vấn bệnh
1.1.2.4 Các giai đoạn của ung thư phổi
Ung thư phổi được chia ra hai loại chính là ung thư phổi không tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ Mỗi loại được chẩn đoán giai đoạn hoàn toàn khác nhau
Đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ, có 4 giai đoạn:
Trang 15+ Giai đoạn 1 : u nhỏ dưới 5 cm chỉ ở một bên phổi, chưa lan ra ngoài phổi và hạch bạch huyết (hạch bạch huyết bao gồm các hạch hình bầu dục
có chức năng bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn, vi rút, kí sinh trùng)
+ Giai đoạn 2 – ung thư đã lan ra hạch bạch huyết cùng bên với tổn thương hoặc u đã có kích thước từ 5 đến 7 cm
+ Giai đoạn 3 – ung thư đã lan ra hạch bạch huyết ở trung thất (giữa hai
lá phổi) hoặc kích thước u trên 7 cm
+ Giai đoạn 4 – ung thư đã lan ra các cơ quan khác ngoài nhu mô phổi như não, xương, gan, màng phổi gây tích tụ dịch trong lồng ngực (tràn dịch màng phổi)
Đối với ung thư phổi tế bào nhỏ, chỉ có 2 giai đoạn: Giai đoạn bệnh khu trú – khi u chỉ khu trú ở một bên phổi Giai đoạn bệnh lan tràn – khi ung thư đã lan sang phổi bên đối diện hoặc các cơ quan khác như não, gan, xương…
1.1.2.5 Điều trị
Các phương pháp điều trị bệnh ung thư phổi bao gồm:
- Phẫu thuật : cắt một phần hay một thùy phổi Thậm chí có trường hợp cắt hai thùy hay cả phổi một bên Thường áp dụng cho bệnh nhân giai đoạn sớm, khối u còn khu trú
- Xạ trị : là phương pháp sử dụng các tia bức xạ ion hóa có năng lượng cao để điều trị Hóa chất – dùng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư Đôi khi, bạn sẽ phải truyền hóa chất trước khi phẫu thuật Điều trị đích – chỉ tác động đến tế bào ung thư, không diệt các tế bào lành
- Với ung thư phổi không tế bào nhỏ : giai đoạn sớm, thường bạn sẽ được
mổ trước, sau đó có thể điều trị hóa chất, xạ trị, hoặc ra viện theo dõi Giai đoạn muộn hơn, bạn có thể được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau như hóa chất, xạ trị, đích, chăm sóc triệu chứng
- Với ung thư phổi loại tế bào nhỏ : Giai đoạn sớm, thường bạn sẽ được điều trị bằng hóa chất và tia xạ đồng thời Giai đoạn muộn hơn, bạn sẽ
Trang 16được điều trị bằng hóa chất đơn thuần Xạ trị chỉ áp dụng trong một số
ít các trường hợp như khi khối u chèn ép lồng ngực gây đau, di căn não
- Ngoài ra, bạn sẽ được điều trị bất cứ triệu chứng gì, ví dụ khó thở do tích tụ dịch trong khoang màng phổi, bác sĩ sẽ dẫn lưu dịch ra bên ngoài
1.1.3 phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi
Hình 1.3: phẫu thuật cắt thùy phổi
1.1.3.1 Phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi là gì
Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi là phẫu thuật cắt một thùy phổi chứa tổn thương theo ranh giới giải phẫu học, rãnh liên thùy và các cấu trúc vùng rốn phổi như: tĩnh mạch, động mạch, phế quản đều được cắt theo từng phần riêng biệt
1.1.3.2 Chỉ định
Các chỉ định của phẫu thuật cắt thuỳ phổi bao gồm:
- Lao: Vi khuẩn lao gây nhiễm trùng mạn tính ở phổi
- Áp xe phổi: Ổ mủ khu trú trong phổi không đáp ứng với điều trị nội khoa
Trang 17- Khí phế thũng: Bệnh lý mạn tính do các mô sợi đàn hồi của phổi bị phá
vỡ làm cho phổi khó giãn nở khi hô hấp
- U phổi lành tính: Khối u phát triển có thể đè lên các mạch máu lớn và
cơ quan khác
- Ung thư phổi: Gây ảnh hưởng nặng nề đến đường thở, các tổ chức ở phổi và màng phổi, có khả năng di căn đến các cơ quan khác
- Nấm phổi: Nấm có thể phát triển trong phổi và gây nhiễm trùng
1.1.3.3 Biến chứng của phẫu thật cắt thùy phổi
- Ho ra máu: Sau mổ có thể ho ra một ít máu đen cũ điều này là bình thường Nó sẽ ít dần và hết hẳn sau một vài ngày
- Chảy máu: thường xảy ra ngày đầu sau mổ Biểu hiện: băng vết mổ thấm nhiều máu, dịch dẫn lưu ra máu đỏ tươi 100- 200ml/h trong 3-4h liên tiếp Xử trí bằng cách băng ép hoặc khâu lại chân dân lưu hoặc có trường hợp phải mổ lại
- Nhiễm trùng khoang màng phổi: Gặp khoảng 5% các trường hợp sau
mổ Tập lý liệu pháp hô hấp, vận động sớm sẽ giúp tránh được nguy cơ này Những trường hợp này cần để dẫn lưu lâu hơn Một số ít trường hợp tiến triển thành mủ màng phổi có thể phải phẫu thuật lại để làm sạch
- Tràn khí dưới da: do chân dẫn lưu bị lỏng làm khí từ bên ngoài đi vào gây ra tình trạng căng tức hoặc ấn lép bép vùng da xung quanh chân dẫn lưu Để xử trí tình trạng này bác sỹ sẽ khâu lại chân dẫn lưu
- Rò khí kéo dài: Do rò khí từ diện cắt phổi, điều này là bình thường sau
mổ Nó có thể kéo dài 3-5 ngày Dẫn lưu màng phổi ( DLMP) phải để đến lúc hết hẳn khí Một vài trường hợp rò khí kéo dài có thể phải mổ lại để xử
lý hoặc bơm bột tal gây dính
Trang 181.1.4 Tràn khí màng phổi
1.1.4.1 Tràn khí màng phổi là gì?
TKMP là tình trạng xuất hiện khí trong khoang màng phổi TKMP thường được chia thành TKMP tự phát nguyên phát, TKMP tự phát thứ phát, TKMP do chấn thương và TKMP do các thủ thuật chẩn đoán và điều trị gây ra Với các trường hợp TKMP sau phẫu thuật cắt u phổi thì TKMP thông thường là do dò khí từ diện cắt phẫu thuật gây ra
1.1.4.2 Mức độ TKMP sau phẫu thuật cắt u phổi
+ Tràn khí số lượng ít: tràn khí lăn tăn nhẹ theo nhịp thở + Tràn khí số lượng trung bình: tràn khí liên tục không theo nhịp thở khi hít sâu hoặc gắng sức
+ Tràn khí số lượng nhiều: Tràn khí liên tục không theo nhịp thở và có suy hô hấp
Trang 191.1.5.2 Chỉ định gây dính MP
+ TKMP đã hút dẫn lưu 5 ngày không hết khí
+ TKMP tái phát
+ TKMP thứ phát do các bệnh lý như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,
xơ phổi, kén khí phổi
+ TKMP có liên quan đến nghề nghiệp: phi công, thợ lặn
+ Suy hô hấp: PaO2 < 60 mmHg và/hoặc SpO2 < 90%
+ Bệnh toàn thân nặng, thể trạng suy kiệt
Cần điều chỉnh các rối loạn này trước khi gây dính MP
Chống chỉ định tuyệt đối: gây dính MP với povidone iodine cho bệnh nhân cường giáp
1.1.5.4 Các phương pháp gây dính màng phổi
Có 3 phương pháp gây dính MP: + Qua ống DLMP
+ Nội soi lồng ngực + Phẫu thuật mở ngực làm dính MP 1.1.5.5 Gây dính màng phổi qua ống DLMP( Rửa màng phổi)
Gây dính màng phổi qua ống DLMP là đưa thuốc hoặc hóa chất qua ống DLMP vào MP để gây dính[7] Thông thường thực hiện gây dính màng phổi qua dẫn lưu với bột talc hoặc iodopovidon Kỹ thuật này đơn giản, dễ thực hiện, ít tốn kém và có thể thực hiện được ở những
cơ sở y tế có khả năng đặt dẫn lưu màng phổi Nhược điểm là các chất
Trang 20bơm qua ống dẫn lưu có thể phân bố không đều trong khoang MP, làm giảm hiệu quả gây dính
1.1.6 Quy trình rửa màng phổi qua ống DLMP bằng Povidone Iodine
Quy trình rửa màng phổi bằng Povidone – Iodine
* Chuẩn bị bệnh nhân:
+ Giải thích cho bệnh nhân và người nhà mục đích của thủ thuật, các tai biến
có thể xảy ra khi gây dính MP, cho ký cam đoan làm thủ thuật
+ Hướng dẫn BN cách thay đổi tư thế sau khi gây dính MP để dung dịch gây dính láng đều khắp bề mặt khoang màng phổi
+ Phim X-quang phổi, chụp CLVT ngực
+ Các xét nghiệm máu: công thức máu, đông máu cơ bản, HIV, HBsAg + Thử phản ứng với lidocain 2%
* Chuẩn bị dụng cụ:
+ Chuẩn bị dung dịch rửa ( theo y lệnh)
Betadin 10% x 20ml
NaCl 0,9% x 500ml Lidocaine 20mg/2ml x 4 ống + Hệ thống theo dõi : monitoring theo dõi
+ Bộ Oxy khí dung qua mặt nạ
+ 01 Pank kẹp dẫn lưu
* Bác sĩ làm thủ thuật ( phụ giúp bác sỹ):
+ Lắp hệ thống oxy và hệ thống theo dõi monitoring
+ Nối hệ thống dây dẫn dịch rửa qua ống dẫn lưu màng phổi
+ kẹp đầu dưới dẫn lưu màng phổi không cho dịch rửa chảy ra ngoài
+ Mở van khóa để dung dịch rửa đã chuẩn bị sẵn chảy vào phổi với tốc độ nhanh
+ Sau khi dịch rửa chảy vào phổi hết.Tiếp tục kẹp ngâm dịch rửa trong phổi khoảng 15-20 phút
+ Sau khi Ngâm 15 phút mở kẹp xả toàn bộ lượng dịch rửa ra ngoài qua hệ thống hút áp lực âm liên tục Quan sát màu sắc, số lượng dịch ra >= lượng dịch rửa đưa vào