A MỞ ĐẦU I Lý do chọn đề tài Có thể thấy rằng tội phạm học là một ngành khoa học tuy có tuổi đời khá trẻ ở Việt Nam nhưng nó luôn cho thấy sự quan trọng và cần thiết để có thể đấu tranh và phòng ngừa.
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài.
Có thể thấy rằng tội phạm học là một ngành khoa học tuy có tuổi đời khátrẻ ở Việt Nam nhưng nó luôn cho thấy sự quan trọng và cần thiết để có thể đấutranh và phòng ngừa tội phạm Tội phạm và những vấn đề liên quan đến tộiphạm là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau như:
xã hội học, Tâm lý học, Luật học, Triết học, Tội phạm học, Khoa học điều trahình sự… Mỗi ngành khoa học xã hội khi nghiên cứu về tội phạm đều có cáchtiếp cận bằng phương pháp nghiên cứu riêng có của mỗi ngành với những đốitượng cấu thành khác nhau. Tuy nhiên, từ các ngành khoa học đấy tạo nên mốihài hoà với nhau tạo thành được những giá trị cốt lõi bổ trợ cho nhau Khi nhắcđến tội phạm học thì người ta thường sẽ liên tưởng đến đầu tiên đó là tình hình,nguyên nhân và phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, một vấn đề rất quan trọng vàđược nghiên cứu từ rất lâu đời bởi các nhà khoa học nổi tiếng đó là các họcthuyết sinh học trong nghiên cứu tội phạm học Thông qua những các học thuyếtnày có thể thấy được những quan điểm trái chiều của các nhà khoa học khácnhau về học thuyết của mình Và chính sự quan trọng đã khiến cho việc nghiêncứu các học thuyết này là một số nước trở thành những nội dụng quan trọngtrong ngành khoa học về tội phạm Việc phát triển các học thuyết đó và đượcứng dụng tại một số nước phát triển trên thế giới đã tạo ra một luồng không khí
và nhiều các quan điểm khác nhau về tội phạm nói chung Và không nằm ngoàinguồng quay của thế giới Việt Nam cũng đang có một số nhận thức đầy quantrọng trong việc nhìn nhận các học thuyết về sinh học đó
Chính vì tầm quan trọng của việc nghiên cứu thuyết sinh học trong tội
phạm học, em xin chọn đề tài: “Trình bày nội dung thuyết sinh học trong nghiên cứu tội phạm học và khả năng ứng dụng các học thuyết này ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu lần này Bài nghiên cứu tiểu luận do kiến thức và
hiểu biết còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót vì vậy em xin thầy/côthông cảm và giúp đỡ để em có thể hoàn thiện hơn bài tiểu luận của mình Emxin chân thành cảm ơn!
Trang 2II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề các học thuyết về sinh học nhằm cómột cách nhìn nhận khái quát hơn về các quy định của nội dung và ứng dụng tạiViệt Nam của các học thuyết đó
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu bài tiểu luận phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Khái quát chung về học thuyết sinh học trong tội phạm học
- Nội dung của các học thuyết về sinh học trong tội phạm học
- Ứng dụng tại Việt Nam của các học thuyết đó
III.Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề: “Trình bày nội dung thuyết sinh học trong nghiên cứu tội phạm học và khả năng ứng dụng các học thuyết này ở Việt Nam” hiện nay đang là
một vấn đề nóng và được quan tâm bởi nhiều bài nghiên cứu như: Học thuyết vềtội phạm – Những vấn đề cơ bản – Tạp chí kiểm sát số 11, 13/2018 Các nghiêncứu và được đăng lên các bài bái về luật học,…
IV Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tại giáo trình Tội phạm học – Đại học Luật Hà Nôi, các bàibáo, bài viết khao học, các tài liệu nước ngoài…
V Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu về đề tài “Trình bày nội dung thuyết sinh học trong nghiên cứu tội phạm học và khả năng ứng dụng các học thuyết này ở Việt Nam” được nghiên cứu bằng các phương pháp như: Phân tích tài liệu, tổng hợp
thống kê, trích dẫn…
B NỘI DUNG
I Khái quát chung về các học thuyết trong nghiên cứu tội phạm học.
1 Khái niệm về các học thuyết về tội phạm học
Quá trình hình thành, phát triển của tội phạm học chính là qua strinfh rađời, phát triển các thuyết, các trường phái khác nhau giải thích về nguyênnhaancuar tội phạm Mỗi thuyết, trường phái đó đều có con đường riêng nghiên
Trang 3cứu về tội phạm nhưng cũng có thể có sự kế thừa ít nhiều quan niệm của người
đi trước và tựu chung lại các thuyết, các trường phái đó đều cố gắng giải thíchnguyên nhân của tội phạm và đưa ra các biện pháp phòng ngừa tương ứng
Việc nghiên cứu các thuyết, các trường phái ở các giai đoạn lịch sử khácnhau có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nghiên cứu tội phạm học vì giúp đánhgiá được những thành tựu, những hạn chế của các thuyết để tiếp tục nghiên cứuhoàn thiện việc giải thích về tội phạm cũng như xây dựng các biện pháp phòngngừa tội phạm sát hợp
Từ trước đến nay, trong khoa học luật hình sự của nước ngoài và của ViệtNam mặc dù những vấn đề lý luận về tội phạm như: bản chất, khái niệm của tộiphạm và các chế định gần hoặc có liên quan đến tội phạm như phân loại tộiphạm, lỗi, đồng phạm được nghiên cứu nhiều, nhưng với định nghĩa, bộ phậnhay là cấu thành của “học thuyết về tội phạm” thì chưa bao giờ được bàn đến.Chính vì vậy, xuất phát từ việc nghiên cứu các quy phạm và các chế định nhỏthuộc về tội phạm với tư cách là một trong bốn chế định lớn nhất của luật hình
sự, đồng thời trên cơ sở phân tích những trường phái và quan điểm khác nhau vềvấn đề lý luận có liên quan đến tội phạm trong khoa học luật hình sự của nướcngoài và của Việt Nam, thì có thể đưa ra định nghĩa về học thuyết về tội phạmđược hiểu là hệ thống những vấn đề lý luận của các trường phái, các quan điểmkhác nhau về (hoặc liên quan đến) tội phạm, một trong bốn chế định lớn nhấtcủa luật hình sự - mà hệ thống đó được hình thành và phát triển một cách đồng
bộ và chặt chẽ qua các thời kỳ lịch sử với tư cách là những tư tưởng, luận điểmriêng về tội phạm, mang tính học thuật rõ rệt và được thừa nhận chung ở cácmức độ nhất định1
2 Những đặc điểm cơ bản về học thuyết về tội phạm
Từ khái niệm trên thì có thể rút ra được một số đặc điểm của học thuyết
về tội phạm như sau:
Thứ nhất, hệ thống những vấn đề lý luận của các trường phái, các quanđiểm khác nhau về tội phạm, một trong bốn chế định lớn nhất của luật hình sự
1 TSKH PGS Lê Cảm, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội, bài viết: “Học thuyết về tội phạm – những vấn đề cơ bản”, năm 2018
Trang 4Đặc điểm thứ hai, hệ thống những vấn đề lý luận của các trường phái, cácquan điểm đó về tội phạm được hình thành và phát triển một cách đồng bộ vàchặt chẽ qua các thời kỳ lịch sử.
Đặc điểm thứ ba, hệ thống những vấn đề lý luận của các trường phái, cácquan điểm đó về tội phạm phải được đánh giá như là những tư tưởng luật hình
sự riêng biệt, mang tính học thuật rõ rệt và được thừa nhận chung ở các mức độnhất định
3 Các trường phái, các thuyết chủ yếu trong tội phạm học
Có rất nhiều thuyết trong tội phạm học giải thích về nguyên nhân của tộiphạm học nhưng nhìn chung có thể chia thành bốn nhóm cơ bản với các cáchtiếp cận khác nhau, Đó là:
Trường phái tội phạm học cổ điển với cách tiếp cận dựa trên nền tảng triếthọc “thời kì khai sáng”;
Các thuyết sinh học với cách tiếp cận dựa trên nền tảng của lí thuyết sinhhọc;
Các thuyết xã hội học với cách tiếp cận dựa trên nền tảng của lí thuyết xãhội học
Phải thừa nhận rằng các thuyết khi lí giải về nguyên nhân của tội phạmđều có nhân tố hợp lí nhất định, tuy nhiên, từng học thuyết đều có mặt mạnh vàhạn chế riêng Do vậy, không vì hạn chế của học thuyết nào đó mà chúng ta phủnhận sự đóng góp của học thuyết đó đối với sự phát triển của tội phạm học
II Các học thuyết sinh học trong nghiên cứu tội phạm học
1 Thuyết sinh học thời kì đầu
1.1 Hoàn cảnh ra đời
Thời gian: Từ năm 1880 đến năm 1930
Học giả tiêu biểu: Cesare Lombroso, Enrico Ferri, Raffaele Garofalo,Buckman Goring…
Cesare Lombroso (1835 – 1909) được coi là nhà tiên phong của tội phạmhọc thời kì cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tư tưởng của ông được coi là mộttrong những cơ sở của phong trào “thuyết sinh học quyết định” đầu thế kỉ XX
Trang 5Ông đã hợp nhất chủ nghĩa thực chứng của August Comte và thuyết tiến hoáCharles Darwin và rất nhiều nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa tội phạm và
cơ thể như các công trình nghiên cứu của France Joseph Gall (1758 – 1828),Johann Kaspar Lavater (1741 – 1801), Chaler Caldwell (1772 – 1853) Trongtác phẩm “Người phạm tội” (Criminal Man), ông đã đưa thuật ngữ nổi tiếng
“người phạm tội bẩm sinh” (born criminals) thông qua “thuyết sinh học quyếtđịnh” Từ đây, tội phạm học đã thực sự trở thành ngành khoa học nghiên cứu vềnguyên nhân của tội phạm Cesare Lombroso đã thay thế quan niệm của tộiphạm Cesare Lombroso đã thay thế quan niệm của tội phạm học cổ điển (chorằng tự do ý chí, sự lựa chọn của cá nhân là nguyên nhân của tội phạm) bằngquan điểm cho rằng nguồn gốc phát sinh tội phạm bắt nguồn từ nguyên nhânliên quan đến đặc điểm của cơ thể Ông đã phát triển tội phạm học theo hướngmới, giải thích nguyên nhân của tội phạm thông qua những nghiên cứu khoa học
và thí nghiệm, từ đó tạo nên trường phái thứ hai trong tội phạm học – trườngphái tội phạm học thực chứng hay còn gọi là trường phái Italia Trong quá trìnhnghiên cứu, ông đã sử dụng rộng rãi các biện pháp và phương pháp thống kêtrong việc xử lí các dữ liệu về nhân chứng học, xã hội, kinh tế
1.2 Nội dung thuyết tội phạm học bẩm sinh
Thuyết tội phạm học bẩm sinh là việc giải thích tội phạm dựa trên nhữngđặc điểm bẩm sinh trên cơ thể con người những đặc điểm này vốn dĩ đã đượchình thành từ khi con người được sinh ra Những người có đầy đủ các đặc điểmnày theo Lombroso là những người có nguy cơ phạm tội cao
Lombroso đã áp dụng nhiều phương pháp hiện đại như đo hộp sọ, thống
kê số lớn… để nghiên cứu nguyên nhân tội phạm
Sự nghiên cứu của Lombroso dựa vào hình ảnh, chân dung của tù nhân đãchết Thông qua việc nghiên cứu hộp sọ, diện mạo khuôn mặt và hình dáng conngười để đoán biết được đó có phải là tội phạm bẩm sinh hay không Từ sựnghiên cứu trên ông đã chỉ ra những đặc trưng bẩm sinh của những người đượccoi là tội phạm
Trang 6Những người được coi là tội phạm bẩm sinh là những người không có sựhoàn thiện về sinh học so với những người bình thường, về mặt sinh học, ngườiphạm tội giống với động vật hơn là người khác Họ có những đặc điểm giốngvới tổ tiên của loài người hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu xương và chân dung qua ảnh của những ngườiphạm tội khét tiếng đã bị hành hình, bị chết trong tù, những tù nhân đang sốngtrong các nhà tù ở Italia cùng với sự so sánh với những người dân bình thường.Cesare Lombroso đã có những kết luận nổi tiếng làm nên tên tuổi của mình.Cesare Lombroso cho rằng, có thể dựa vào hộp sọ, diện mạo khuôn mặt và hìnhdáng con người có thể đoán biết được có thể đoán biết được một người có phải
là tội phạm bẩm sinh hay không Đồng thời, ông cũng chỉ ra những đặc điểm cơthể đặc trưng bẩm sinh của những người được coi là tội phạm Những người này
có sự hoàn thiện về sinh học so với công dân bình thường, còn về mặt sinh líhọc, người phạm tội giống với động vật hơn là so với người đương thời Cụ thể
là người phạm tội có đặc điểm giống với tổ tiên của loài người hơn là nhữngcông dân bình thường Có thể nhận ra người phạm tội trong những người khôngphạm tội bởi những dấu hiệu khác thường của “bệnh lai giống” (atavism) –những đặc điểm nổi bật của loài người ở giai đoạn phát triển thấp, trước khi họhoàn toàn trở thành người Ông đã chỉ ra rằng, những người có 5 đặc điểm bẩmsinh sau đây thì là người phạm tội bẩm sinh Cụ thể như sau:
Miệng rộng hơn và hàm rang khoẻ, những đặc điểm của loài ăn thịt sống,trán dốc, ngắn;
Xương gò má nhô cao, mũi bẹt;
Tai hình dáng quai xách;
Mũi diều hâu, môi to đầy, mắt gian giảo, long mày rậm;
Không nhạy cảm với đau đớn, cánh tay dài
Ngoài những đặc điểm trên còn có một số những đặc điểm khác như: hộp
sọ to hơn hoặc nhỏ hơn so với mức bình thưởng so với vùng người đó sống;gang mặt bất đối xứng hai mắt và hai tai ở những độ cao thấp khác nhau hoặckích thước không tương xứng Một cá nhân sinh ra mà có đặc điểm cơ thể mô tả
Trang 7như trên thì là người phạm tội bẩm sinh Cesare Lombroso cho rằng gần 90%người phạm tội thực hiện tội phạm do ảnh hưởng của lại giống2
Theo Lombroso ông chia tội phạm bẩm sinh thành 3 trường hợp:
Tội phạm thần kinh: đây không phải là tội phạm bẩm sinh, mà là do sựthoái hoá của thần kinh và đạo đức
Criminoloid là trường hợp một số người trở thành tội phạm do tác độngmôi trường sống
Tội phạm bị kích động bởi sự giận dữ là tội phạm bị chi phối bởi cảm xúcnhư ghen tuông, căm ghét, cảm giác bị tổn thương…
Bên cạnh đó Lombroso cũng nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm do nữgiới thưc hiện Trên cơ sở đó ông kết luận rằng nữ giới ít phạm tội hơn nam giới
và sự phạm tội được thể hiện bởi vài sự thoái hoá Đồng thời ông cũng lý giảivấn đề tội phạm có tính chất bạo lực cua nữ giới dựa theo “giả thuyết về hành vinam tính” thể hiện sự đỏng đảnh của mình Đồng thời ông còn coi tội phạm nữgiới như là gái mại dâm Qua nghiên cứu ông cho rằng có một số yếu tố sinh họccủa nữ giới có ảnh hưởng, tác động đến việc phạm tội của nữ giới Đó là: giảiphẫu sinh học và sinh học của nữ giới; giác quan và sự nhạy cảm của nữ giới;phản ứng và sức mạnh của nữ giới thời kỳ kinh nguyệt; nhân chủng học nữ giới;tội phạm nữ bẩm sinh; tội phạm nữ nhất thời; tính thiện và ác thời kỳ nữ giớimang thai; tội phạm từ sự đam mê của nữ giới; nguồn gốc của mại dâm; mạidâm nữ bẩm sinh và mại dâm nữ nhất thời…
Đối với việc phòng ngừa tội phạm bẩm sinh, ông cho rằng cần hoàn thiệncác biện pháp phòng ngừa tác động đối với người phạm tội Do người phạm tộibẩm sinh là nguy hiểm đối với xã hội cho nên để chủ động phòng ngừa tộiphạm, nên biệt lập những người này khỏi xã hội mà không ần đợi đến lúc họphạm tội Tuy nhiên, ông ủng hộ quan điểm cần đối xử nhân đạo đối với ngườiphạm tội và phản đối việc áp dụng tử hình đối với người phạm tội
Những phát hiện của Cesare Lombroso trong tội phạm học có nhiều điểmcho đến nay vẫn gây tranh luận và một số quan điểm bị các nhà tội phạm học
2 Xem: Frank Schmalleger Criminology Today Sđđ Tr 143
Trang 8phê phán Ngày nay, các nhà tội phạm học đã chứng minh có nhiều trường hợp,
cá nhân tuy không có đặc điểm “lại giống” nói trên nhưng vẫn là người phạm tộinguy hiểm Kết luận của ông chỉ giải thích được phần nào nguyên nhân của tộiphạm nhưng không giải đáp được hết nguyên nhân của tội phạm nói chung Hạnchế trong học thuyết của ông là ở chỗ ông nhấn mạnh tới đặc điểm sinh học của
cá nhân mà coi nhẹ vai trò của môi trường sống cũng như tác động của môitrường sống đối với cá nhân
1.3 Ý nghĩa
Ý nghĩa của thuyết phạm tội bẩm sinh phần nào đã lý giải được nguyênnhân của tội phạm dựa trên cơ sở khoa học mà không phải dựa trên tư tưởngtriết học như trường phái cổ điển Giúp cho các nhà tội phạm học tiếp cận gầnhơn nguyên nhân của tội phạm
Công trình nghiên cứu của ông đã đánh dấu mốc cho sự ra đời của tộiphạm học hiện đại Ông chính là cha đẻ của ngành tội phạm học hiện đại
Những nghiên cứu của ông đã dẫn đến sự ra đời thuyết định mệnh sinhhọc làm thay đổi về bản chất vấn đề mà các học giả đi trước đã kết luận
Thuyết tội phạm học bẩm sinh của Lombroso có ảnh hưởng vô cùng tolớn đối với thời đại vàng và cả sang tận thế kỷ XX, XXI và cả ngày nay
1.4 Hạn chế của thuyết tội phạm học bẩm sinh
Kết luận của ông Lombroso chỉ giải thích được phần nào nguyên nhân củatội phạm nhưng không giải đáp được hết nguyên nhân của tất cả các tội phạmnói chung
Ông chỉ nhấn mạnh tới đặc điểm sinh học của cá nhân mà coi nhẹ vai tròcủa yếu tố môi trường sống cũng như tác động của môi trường sống đối với cánhân
Những đặc điểm mà ông nêu ra không phải cá nhân nào có cũng là ngườiphạm tội, có những trường hợp họ hội tụ đủ cả 5 đặc điểm trên nhưng khôngphải là tội phạm, và cũng có những người dù không có đặc điểm nào kể trênnhưng vẫn là tội phạm Vì vậy, theo thuyết của Lombroso thì nguyên nhân củatội phạm mang tính tương đối
Trang 9Quan điểm của Lombroso cho rằng tội phạm nữ là gái mại dâm, đã bị một
số nhà tội phạm hoc phê phán, vì họ cho rằng ông tỏ ra coi thường phụ nữ và có
sự lẫn lộn khi cho rằng tội phạm nữ là gái mại dâm Thực tiến cho thấy, tộiphạm nữ xảy ra hiện nay không chỉ trong phạm tội gái mại dâm mà còn nhiềutội danh khác ngay cả những tội danh mang xu hướng bạo lực
Theo Charles Buckman Goring nhận xét thì: “ông không tìm thấy sự khácbiệt giữa những người được coi là “phạm tội bẩm sinh” hay có khuynh hướngphạm tội với những người bình thường”
2 Một số thuyết sinh học điển hình khác
Thời gian: Từ năm 1930 đến nay
Học giả tiêu biểu: Ernst Kretschmer, William Sheldon, Richard LouisDugdale, Henry Gorddard, Patricia A Jacobs…
2.1 Trường phái kiểu cơ thể
Trường phái kiểu cơ thể khi nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm đã
cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa những đặc điểm về thể chất của con người vớitội phạm Trường phái kiểu cơ thể đã liên kết giữa khổ người với việc thực hiệnhành vi trong đó có hành vi tội phạm Sáng lập nên trường phái này là do ErnstKretschmer và tiếp đó là William Sheldon
Ernst Kretschmer (1888 – 1964) là giáo sư, tiến sĩ y khoa, tiến sĩ triết học,nhà tâm lí học Đức Trong công trình “Thể chất và tính cách” (1931), ông rút ranhận định là trong xã hội có 3 loại người khác nhau cơ bản Đó là:
Người suy nhược bao gồm: gầy gò, thể chất yếu ớt, vai hẹp;
Người lực lưỡng bao gồm: từ trung bình đến cao, khoẻ mạnh, cơ bắp,xương thô;
Người béo bao gồm: cao trung bình, hình dáng mũm mĩm, cổ to, mặtrộng
Sau đó, ông liên kết những kiểu người đó với những rối loạn tinh thầnkhác nhau Người béo với tình trạng vui buồn thất thường, dễ chán nản; ngườisuy nhược và lực lưỡng với tinh thần phân lập Ông cho rằng người lực lưỡng cókhuynh hướng phạm tội nhiều hơn những người khác Ứng với mỗi loại cơ thể
Trang 10là một loại nhân cách tương ứng Ông chia tính cách ra làm hai nhóm:Schizothymic và Cyclothymic Schizothymic bao gồm tính cách nhạy cảm vàlạnh lùng, còn Cyclothymic bao gồm tính cách yếu đuối và hứng cảm nhẹ.
Công trình nghiên cứu của Ernst Kretschmer được một số nhà khoa họctrên thế giới hưởng ứng trong đó tiêu biểu nhất là William Sheldon WilliamSheldon tiếp tục kế thừa Kretschmer và phát triển một cách có hệ thống các kiểu
cơ thể Bên cạnh đó, William Sheldon đã cố gắng lí giải nguyên nhân của tộiphạm gắn với kiểu cơ thể
William Sheldon (1898 – 1977) là nhà tâm lí học, nhân chủng học người
Mỹ Trong công trình “Các loại thể chất con người: Một lời giới thiệu về cấu tạotâm lí” (1940) ông đã nghiên cứu về các loại cơ thể người (human body type),mối liên hệ giữa các loại cơ thể người với các tính cách đặc trung (humanpersonality traits) và các loại khí chất (temperament types) Ông đã phát triểnthuyết của mình khi chia người ra làm 3 loại (kiểu): Endomorph (tròn, béo,mềm); mesomorph (lực lưỡng, cơ bắp); ectomorph (mong manh, yếu ớt, gầygò)
Ông đã cố gắng tìm ra mối liên hệ với các hành vi cá nhân với các kiểu cơthể Ông cho rằng kiểu cơ thể mesomorph (lực lưỡng, cơ bắp) đi gần với dạngtội phạm nhất bởi vì loại cơ thể này rất dễ bị kích động, dễ dàng nổi nóng, dễ rơivào trạng thái tinh thần căng thẳng khó kiểm soát Ông cũng thấy với kiểu cơ thểmesomorph thì khoan dung, thân thiện, dễ bằng lòng Còn cơ thể ectomorph quánhạy cảm, dễ nản chí Từ đó ông đi đến kết luận trong 3 kiểu cơ thể nói trên thìngười có cơ bắp, lực lưỡng có khuynh hướng phạm tội cao hơn những ngườikhác
Lí thuyết của trường phái kiểu cơ thể bị một số nhà tội phạm học phêphán vì mẫu nghiên cứu hẹp, chỉ dựa trên ba kiểu cơ thể đối với hai loại người làngười phạm tội và người không phạm tội, vì vậy, độ chính xác chỉ là tương đối.Hơn nữa lí thuyết của trường phái này chưa đề cập vai trò của môi trường sống,tác động của môi trường sống đối với cá nhân Chính vì vậy, lí thuyết này khôngthể giải thích bao quát hết cho nguyên nhân phạm tôi của tất cả tội phạm
Trang 112.2 Thuyết phạm tội thừa kế
Ngay từ đầu thế kỉ XVIII, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết vềvấn đề nguyên nhân phạm tội là do ghen di truyền Tuy nhiên, phải đến khiRichard Louis Dugdale (1841 – 1883) nghiên cứu và cho ra đời công trình khoahọc “Dòng họ Juke: Sự nghiên cứu về tội phạm, tình trạng bần cùng, bệnh tật và
sự di truyền” (1875) thì khi đó mới hình thành thuyết phạm tội thừa kế trong tộiphạm học
Richard Louis Dugdale đã nghiên cứu cuộc đời của hơn 1000 thành viêngia đình của dòng họ Juke Mối quan tâm của ông đối với gia đình này bắt đầuxuất hiện khi ông đi kiểm tra các nhà tù, ông phát hiện có 6 người trong dòng họnày đang ở trong nhà tù ở ngoại ô New York Khi nghiên cứu một chi của nhữnghậu duệ của Ada Jukes, người được ông cho là mẹ của tội phạm (ông lấy AdaJukes làm mốc), Richard Louis Dugdale đã tìm thấy trong số gần 1200 thànhviên gia đình là hậu duệ của Ada Jukes có tới 280 người bần cùng, 60 ngườiphạm tội trộm cắp tài sản, 7 người phạm tội giết người, 90 người phạm tội khác,
40 người mắc bệnh hoa liễu, 50 người hành nghề gái điếm Sự khám phá củaông đã chỉ ra rằng có một số dòng họ đã sản sinh ra những thế hệ tội phạm, họchắc chắn di truyền một đặc điểm thoái hoá nào đó từ đời này sang đời khác3.Nói cách khác, nguyên nhân của tội phạm đã do tội phạm thừa kế gen tồi tệ củathế hệ trước Đồng thời, ông lại nghiên cứu và so sánh với dòng họ Ada Jukesvới một dòng họ có tiếng trong sạch khác – dòng hok Jonathan Edwards.Jonathan Edwwards từng làm hiệu trưởng tại trường đại học Princeton Hậu duệcủa Edwards có người từng làm tổng thống và phó tổng thống Mỹ, nhiều ngườithành công trong kinh doanh Không ai trong dòng họ Edwards được xác định là
vi phạm pháp luật
Sau đó, vào năm 1916, Arthur H Estabrook đã xuất bản công trình nghiêncứu của mình sau công trình của Dugdale cũng khẳng định một chi khác củadòng họ Ada Jukes có 715 người thì có tới 378 người hành nghề mại dâm, 170người ở tình trạng bần cùng, 118 người khác là tội phạm
3 Xem: Frank Schmalleger, Criminology Today, Sđđ Tr.152.