MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Sự cần thiết, tính cấp bách của việc nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thể hiện trên cả hai phương diện lý luận[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự cần thiết, tính cấp bách của việc nghiên cứu vai trò của nhà nướcđối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thể hiện trên cả haiphương diện lý luận và thực tiễn
Về lý luận: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nhận
định "chúng ta nhận thức ngày càng sâu sắc rằng, xã hội, văn hóa là nhữnglĩnh vực thể hiện rõ nhất bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa"1 và mặc dùtrong những năm đổi mới vừa qua "văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiềumặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyểnbiến tốt, nhất là trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đời sống các tầng lớpnhân dân được cải thiện"2 nhưng "cơ chế, chính sách về văn hóa - xã hội chậmđổi mới, nhiều vấn đề xã hội, bức xúc chưa được giải quyết tốt"3 Một trongnhững nguyên nhân của tình hình trên đây, theo chúng tôi, là do chưa đầu tưnghiên cứu lý luận về các vấn đề xã hội, với tư cách là các yếu tố để "pháttriển xã hội", từ đó lý luận về vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội vàquản lý phát triển xã hội, sự biến đổi vai trò, chức năng của nhà nước trongđiều kiện đổi mới; điều kiện, nội dung, các yếu tố tác động, các điều kiện bảođảm vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hộiv.v cũng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò, chứcnăng của nhà nước trong điều kiện đổi mới nhưng mới đề cấp những vấn đềchung, khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu có hệ thống về sự biến đổi vai tròcủa nhà nước trong từng lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực phát triển xã hội vàquản lý phát triển xã hội Hơn nữa, có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006, trang 32.
2 Sđd, trang 32.
Trang 2đề xã hội nhưng chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng của từng vấn đề riêng rẽ,
chưa làm rõ vai trò của nhà nước là người có trách nhiệm xây dựng chiến
lược, chính sách và tổ chức thực hiện đối với phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội, vì thế chưa đi sâu nghiên cứu biến đổi vai trò, quá trình thực hiện
và thực trạng chức năng, vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội vàquản lý phát triển xã hội trong những năm đổi mới một cách có hệ thống
Trong giai đoạn 2011-2020, các vấn đề xã hội sẽ còn có những xuhướng vận động, biến đổi phức tạp, đòi hỏi phải tăng cường vai trò của nhànước đối với các vấn đề này Cần phải tổng hợp các kết quả nghiên cứu, dự
báo xu hướng vận động, biến đổi của các vấn đề này để đi sâu nghiên cứu các
yêu cầu đặt ra cũng như khả năng, điều kiện đảm bảo có tính khả thi đối với
vai trò của nhà nước trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Chỉtrên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận mới đề ra được những giải phápđúng đắn, khả thi, có tầm chiến lược, có tính hệ thống nhằm phát huy vai tròcủa nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội một cáchchủ động, khắc phục tính bị động, chắp vá
Cần phải nhấn mạnh thêm rằng trên thế giới, từ năm 1987, vấn đề pháttriển bền vững được Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển đề cập đếntrong Báo cáo "Tương lai của chúng ta" đã thu hút sự quan tâm của các tổchức quốc tế, các đảng phái chính trị, các nhà tư tưởng, các phong trào xã hội,
tổ chức phi chính phủ, đặc biệt là giới khoa học Nhiều quốc gia đã coi pháttriển bền vững là chiến lược phát triển quốc gia trên cả phương diện kinh tế,
xã hội, tài nguyên môi trường Trong xu hướng đó, vai trò của nhà nước nổilên như một yếu tố quyết định của sự phát triển bền vững Ở những nước cónền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường như Trung Quốc và Việt Namthì vấn đề phát triển bền vững xã hội càng gay gắt, bức xúc Quá chú trọngmục tiêu phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến phát triển xãhội, tài nguyên môi trường sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường Để khắcphục những quan điểm, chủ trương phiến diện, thiếu tính chiến lược và căn cứ
khoa học đó, việc nghiên cứu vai trò của nhà nước nói chung và vai trò của
Trang 3nhà nước đối với phát triển xã hội một cách bền vững nói riêng đã trở thành
yêu cầu cấp bách
Về thực tiễn: trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế, các vấn đề xã hội như phân hóa giàu nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao
động dân cư, thất nghiệp, an sinh xã hội, môi trường, tệ nạn xã hội v.v ngày
càng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, bức xúc Đảng đã có nhiều chủ trương
đúng đắn trong việc giải quyết các vấn đề nêu trên nhưng việc thể chế hóa, cụ
thể hóa và tổ chức thực hiện những chủ trương đó của nhà nước còn bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm Nhà nước chưa phát huy được đầy đủ vai trò của
mình đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Từ xây dựng chiến
lược chính sách, pháp luật đến quản lý, điều hành đến nay còn có những biểu
hiện bị động, lúng túng, chắp vá Trước tình hình đó, việc nghiên cứu lý luận,
đánh giá thực trạng để đề xuất những quan điểm, giải pháp phát huy vai tròcủa nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ngày càngtrở thành yêu cầu bức thiết
2 Tình hình nghiên cứu
A Tình hình nghiên cứu trong nước
* Những công trình nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội có đề cập đến vai trò của nhà nước
- Sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu khoa học
Trịnh Duy Luân (chủ biên), Phát triển xã hội ở Việt Nam - Một tổng
quan xã hội học năm 2000, Nxb KHXH, H 2002 của Viện Xã hội học, Viện
Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia; Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm
(chủ biên), Về phát triển văn hóa và xây dựng con người trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, H.2003; PGS.TS Nghiêm
Đình Vỳ và ThS Nguyễn Đắc Hưng: Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002; PGS.TS.Hồ Sĩ Quý, Con người và phát triển
con người, Nxb Giáo dục, H 2007; Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Từ chiến lược giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục,
Trang 4H 2002; Nguyễn Thế Chi, Phát triển nguồn nhân lực lao động vùng đồng
bằng sông Cửu Long phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ,
2003; Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực: Niên giám nghiên cứu số 3, Nxb Khoa học xã hội, H.2004; Nguyễn Văn Trung, Phát triển nguồn nhân
lực trẻ ở nông thôn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp nước ta, Nxb CTQG, H.1998; Trần Văn Tùng, Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb CTQG, H.1996; Lê Thị Ngân, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận nền kinh tế tri thức ở Việt Nam,
Luận án Tiến sĩ, 2005; Trần Văn Tùng, Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn
nhân lực: Kinh nghiệm của thế giới, Nxb Thế giới, H.2005; Nguyễn Tiệp, Nguồn nhân lực, Nxb Lao động xã hội, H 2005; Lê Du Phong, Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, H.2006; Lê Thị Ái Lâm, Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á, Nxb Khoa
học xã hội, H.2003; Hồ Sỹ Quý, Con người và phát triển con người, Nxb Giáo dục, H.2007; Hồ Sĩ Quý, Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong
sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, H.2000; Hà Huy Thành, Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb CTQG, H.2001; Nguyễn Xuân Kính, Con người, môi trường và văn hóa, Nxb KHXH, H 2003; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Môi trường và phát triển bền vững, Nxb Nông nghiệp, H 2004; Phạm Thị Ngọc
Trâm, Môi trường sinh thái - vấn đề và giải pháp, Nxb CTQG, H 1996;Trần Quốc Vượng, Môi trường, con người và văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, H 2005; Đỗ Văn Sinh, Hoàn thiện quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam,
Luận án Tiến sĩ, năm 2005
- Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước: thuộc chương trình khoa
học xã hội KX.01, KX.02, KX.05 nghiên cứu các đề tài có liên quan đến pháttriển xã hội và quản lý phát triển xã hội như sau:
PGS.TS Nguyễn Công Nghiệp, Vụ Ngân sách nhà nước-Bộ Tài Chính,
KX.01.10 Vấn đề phân phối nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và thực hiện
Trang 5công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; PGS.TS Bùi Thế Cường, Viện Xã hội học - Trung tâm khoa học
xã hội và nhân văn quốc gia, KX.02.10 Các vấn đề xã hội và môi trường
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; TS Hồ Sĩ Quý, Viện Nghiên
cứu con người - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, KX.05.01
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế; PGS.TS Đặng Quốc Bảo, Trường cán bộ quản lý giáo dục
và đào tạo - Bộ Giáo dục và đào tạo, KX.05.05 Nghiên cứu, phân tích các chỉ
số phát triển con người (HDI) của người Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005;
GS.VS Phạm Minh Hạc, Ban Khoa giáo trung ương, KX.05.07 Xây dựng con
người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế; TS Phạm Thành Nghị, Viện Nghiên cứu
con người - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, KX.05.11
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
GS.TSKH Lê Nam Trà, Trường Đại học Y Hà Nội, Bộ Giáo dục và đào tạo,
KX.05.12 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thể, tình trạng sức khỏe của một
số nhóm người lao động, xét dưới góc độ yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Những bài viết trên các Tạp chí về các vấn đề phát triển và quản lý phát triển xã hội, trong đó có đề cập đến vai trò của nhà nước
Phạm Hữu Nghị, Chính sách xã hội và vai trò của pháp luật trong
việc bảo đảm thực hiện chính sách xã hội, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số
2 năm 2001;Vũ Đình Nam, Pháp luật cứu trợ xã hội Việt Nam qua các thời
kỳ từ năm 1945 đến nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 10 năm 2002;
Nguyễn Hữu Dũng, Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Lý luận chính
trị, Số 8 năm 2004; Song Thành, Chiến lược nhân tài - một số vấn đề cấp
Trang 6bách của Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập, Tạp chí Lý luận chính
trị, Số 8 năm 2004; Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu của thanh niên nông thôn
vùng đồng bằng Sông Hồng hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 10 năm
2004; Nguyễn Thị Miền, Hoàn thiện công tác đào tạo nghề phù hợp với nhu
cầu của thị trường lao động nước ta, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 12
năm2004; Phạm Đi, Chương trình xóa đói giảm nghèo- một nhân tố mới trong
quản lý của nhà nước ta, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 9 năm 2005; Trịnh Gia
Ban, Phát triển nhân lực, đào tạo và trọng dụng nhân tài", Tạp chí Lý luận chính trị, Số 7 năm 2005; Hà Việt Hùng, Hà Thanh Thanh, Tác động của dự án
lồng ghép dân số với phát triển bền vững, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 12 năm
2005; Nguyễn Minh Phương, Quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nước, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 1 năm 2004; Nguyễn Hải Hữu, Phát triển hệ
thống an sinh xã hội phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, Số 21 tháng 11 năm 2006; Nguyễn Văn
Phúc, Về vấn đề phát triển thị trường sức lao động có trình độ cao, Tạp chí Cộng sản, Số 21, tháng 11 năm 2006; Nguyễn An Lương, Cần có một chiến
lược về an toàn và vệ sinh lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Số 10 tháng 4 năm 2002; Nguyễn Khắc Thanh, Một số vấn đề trong tư duy, nhận thức về phát triển thị trường sức lao động, Số 12 năm 2007
* Những công trình nghiên cứu vai trò, chức năng nói chung của nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế
Diễn đàn Kinh tế - Tài chính Việt Pháp: Tiến đến xây dựng một nhà
nước với vai trò là nhà hoạch định chiến lược, người đảm bảo cho lợi ích chung, Báo cáo của Ủy ban "Nhà nước, nền hành chính nhà nước và hoạt
động dịch vụ công trước ngưỡng cửa năm 2000", Nxb CTQG, H 2000; Ngân
hàng Thế giới: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb CTQG, H 1998; Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành (Chủ biên): Thể chế - cải cách thể chế và
phát triển - Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam, Nxb Thống kê, H.
Trang 72002; Lê Minh Thông, Vai trò của nhà nước trong trật tự kinh tế thị trường ở
Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 10 năm 1998; Nguyễn Phước
Thọ, Bàn thêm về quản lý nhà nước ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 10 năm 2001; Đỗ Trung Hiếu, Vai trò của nhà nước trong thời
đại toàn cầu hóa, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 4 năm 2002; Nguyễn Văn
Mạnh Nhận thức mới về vai trò, chức năng của nhà nước trong điều kiện
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 5 năm 2005; Mai Hữu
Khuê, Vai trò, chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 1 năm 1995; Văn Đức Thanh, Về mối quan hệ giữa nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đời sống xã hội dân sự", tạp chí Lý luận
chính trị, Số 1 năm 2004; Đào Trí Úc, Mối liên hệ giữa nhà nước với xã hội
dân sự và vấn đề cải cách hành chính, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 4
năm 2004; Võ Khánh Vinh, Mối quan hệ giữa xã hội - cá nhân - nhà nước
trong nhà nước pháp quyền và vai trò của nó trong việc xác định mô hình tổng thể nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, Số 2 năm 2003; Đoàn Trọng Truyến, Nhà nước pháp quyền Việt
Nam với việc thực hiện quyền con người, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 2 năm
1999; Tường Duy Kiên, Nhà nước - cơ chế bảo đảm quyền con người, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2003; Phan Ngọc Trung, Quản lý kinh tế của nhà
nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số
56/2002; Lê Khoa, Mấy suy nghĩ về một nền kinh tế thị trường có sự điều tiết
vĩ mô của nhà nước, Tạp chí kinh tế và dự báo, số 3/1998; GS.TS, Chu Văn
Cấp, Về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 9/2000; Lê Nguyễn
Hương Trinh, Về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Triết học, số 9 (148), tháng 9/2003; Vũ Ngọc Nhung, Vai trò của nhà nước
trong kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Cộng sản,
số 8/1999; Phan Văn Phúc, Vai trò của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế thị
trường hiện đại, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 3/1998.
Trang 8* Những công trình, bài viết trực tiếp nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
- Sách chuyên khảo, bài của tạp chí
Phương Thế Nam: Trách nhiệm của Chính phủ trong việc xây dựng
xã hội thân thiện với môi trường (2007), Tạp chí Nghiên cứu chủ nghĩa Mác
(Trung Quốc), số 7, đăng trên Thông tin những vấn đề lý luận của Học việnChính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh số 4-2/2008, trang 35; GS, TS
Vũ Huy Từ (chủ biên): Quản lý khu vực công, Nxb Khoa học kỹ thuật, H.1998; Viện Nghiên cứu Hành chính, TS Lê Chi Mai (chủ biên): Chuyển giao
dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước - Vấn đề và giải pháp, Nxb Lao
động - Xã hội, H.2002; Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục: Từ chiến lược
giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục, H 2002;
Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường: Tiến tới
kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb CTQG, H.2001; PGS.TS Phạm Thành Nghị (chủ biên), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực, Nxb Khoa học xã hội, H.2006; PGS,TS
Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi
trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội - nhân văn, Nxb Khoa
học xã hội, H 2006; PGS,TS Mai Hữu Thực (chủ biên): Vai trò của Nhà nước
trong phân phối thu nhập ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, H 2004.
* Những bài viết nghiên cứu trực tiếp về vai trò, chức năng xã hội của nhà nước và vai trò của nhà nước đối với những vấn đề cụ thể trong lĩnh vực phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Ngô Ngọc Thắng: Sự biến đổi chức năng xã hội của nhà nước trong
bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Lý luận
Chính trị, Số 3 năm 2007; Ngô Ngọc Thắng: Đổi mới chức năng xã hội của
nhà nước, Tạp chí Cộng sản, Số 779, tháng 9 năm 2007; Trần Kim Dung: Quản trị nguồn nhân lực, Nxb Thống kê, H.2005; Nguyễn Hồng Thao: Bảo
vệ môi trường biển - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004;
Trang 9Bùi Văn Nhơn: Quản lý nhà nước về dân số, kế hoạch hóa gia đình - những
vấn đề nhìn từ góc độ pháp luật, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 1, năm 1999;
Mai Kỷ: Quản lý nhà nước về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 5 năm 1995; Trương Tuấn Ngọc: Bảo vệ quyền trẻ
em - mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước ta, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số
6 năm 2000; Trần Việt Trung: Quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống
tệ nạn xã hội, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 7 năm 2002; Hà Thị Thanh Vân: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới- thực tiễn và những vấn đề cần quan tâm, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 10 năm 2007; Phan Thị Cúc: Quản lý nhà nước dịch vụ công trong lĩnh vực y tế đã được xã hội hóa, Tạp chí Quản lý
nhà nước, số 2 năm 2001; Trần Huy Quang: Tăng cường hiệu lực quản lý nhà
nước về hành nghề y dược tư nhân, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 4 năm 2001;
Phan Nguyên Thái: Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về công
tác thanh niên, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3 năm 2003; Nguyễn Thanh
Tùng: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của
các hội, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 3 năm 2003; Lê Bạch Hồng: Quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 9 năm 2003;Tôn
Thu Hiền: Vai trò nhà nước trong xã hội hóa giáo dục", Tạp chí Quản lý nhà
nước, Số 11 năm 2003; Trương Thị Thúy Thu: Quản lý nhà nước về vệ sinh
an toàn thực phẩm", Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 2 năm 2004;
B Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
A.N.Ovcharenko (2006), Quản lý xã hội trong xã hội thông tin:
những cách tiếp cận mới, Tạp chí Tri thức xã hội và nhân văn (Nga), số 6,
đăng trên Thông tin những vấn đề lý luận, Học viện Chính trị - Hành chínhquốc gia Hồ Chí Minh, số 19-10/2007, trang 01; E.I.Glushenkova (2007),
Quan niệm phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí Kinh tế
thế giới và quan hệ quốc tế, số 6, đăng trên Những vấn đề chính trị xã hội củaViện Thông tin khoa học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, số 3-1/2008, trang 8; Douglas Zhihua Zeng, Báo cáo chính sách
Trang 10phát triển của Ngân hàng thế giới tháng 2 năm 2005, "Một số vấn đề về lao động, việc làm của Trung Quốc trong chặng đường đầu gia nhập WTO",
Thông tin tư liệu chuyên đề, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, số 1/2007, trang 61; Phân hóa giàu nghèo, mặt trái của sự phát triển ở
Trung Quốc, Thông tin tư liệu chuyên đề, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh, số 1/2007, trang 74; Lý Cường, Xu thế mới trong sự
biến đổi cơ cấu xã hội Trung Quốc hiện nay, Tạp chí Tân hoa văn trích
(Trung Quốc), số 10/2006, đăng trên Thông tin những vấn đề lý luận của Họcviện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, số 1+2-1/2008, trang 34;
Vương Thu Văn, Nguyên tắc công bằng và cơ chế bảo đảm xã hội trong thời
kỳ chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội, Tạp chí Thế giới đương đại và chủ
nghĩa xã hội (Trung Quốc), số 6/2005, đăng trên Thông tin những vấn đề lýluận của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh số 5-3/2008,trang 34
Nhận xét chung: Những công trình, bài viết nghiên cứu nêu trên dù
trực tiếp hay gián tiếp nghiên cứu đến vai trò của nhà nước đối với phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội đã đề cập sự biến đổi chức năng xã hội của nhà nước và vai trò của nhà nước đối với nhiều nội dung phát triển xã hội như quản lý nguồn nhân lực, dân số và kế hoạch hóa gia đình, công tác thanh niên, quyền trẻ em, bình đẳng giới, dịch vụ công trong lĩnh vực y tế, bảo hiểm xã hội, giáo dục v.v Tuy vậy, các bài viết trên đây tiếp cận các vấn đề xã hội chủ yếu từ góc độ quản lý nhà nước (hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước) mà chưa bao quát hết vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, bao hàm cả việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, pháp luật về phát triển xã hội và quản
lý xã hội, giữ vai trò nòng cốt trong quá trình xã hội hóa, xử lý vi phạm (hoạt động của cả cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp v.v )
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11- Mục đích: Đề xuất giải pháp phát huy vai trò của nhà nước đối với
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới (giaiđoạn 2010 -2020)
- Nhiệm vụ:
Một là: luận giải được cơ sở lý luận về vai trò của nhà nước đối với
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện pháttriển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế
Hai là: đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của nhà nước đối với phát
triển xã hội và thực tiễn hoạt động quản lý phát triển xã hội của nhà nướctrong những năm đổi mới, đúc rút được những bài học kinh nghiệm và nhữngvấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện để phát huy vai trò của nhà nước trongphát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Ba là: dự báo xu hướng và quan điểm tăng cường vai trò của nhà nước
đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong giai đoạn 2011-2020
Bốn là: đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm đổi mới, phát huy vai
trò của nhà nước đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ởnước ta trong giai đoạn 2011-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
- Phương pháp kết hợp logic với lịch sử
- Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học: phát phiếu điều tra,
phương pháp tọa đàm, thảo luận nhóm, phương pháp chuyên gia
Ngoài ra, đề tài tiến hành sử dụng các kỹ thuật sử dụng để nghiên cứunhư: Dịch thuật, kỹ thuật lấy mẫu điều tra, kỹ thuật phỏng vấn sâu, các kỹthuật xử lý thông tin khác và kỹ thuật sử dụng mạng Internet v.v
5 Kết cấu: Đề tài gồm có 3 phần.
Trang 12PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI Ở NƯỚC TA TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
1.1 Khái niệm phát triển xã hội
Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là hai vấn đề có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn hết sức phong phú, là đối tượng nghiên cứu của nhiềungành khoa học như triết học, xã hội học, sử học, chính trị học và luật họcv v Mỗi ngành khoa học có cách tiếp cận khác nhau song đều chung mộtmục đích là từ sự phân tích cơ sở lý luận, tiến hành đánh giá thực tiễn củahoạt động quản lý phát triển xã hội để đưa ra các giải pháp phù hợp với thựctiễn nhằm phát huy vai trò của các chủ thể quản lý trong việc phát triển xãhội Ở Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh toàn cầuhóa đang diễn ra sâu sắc, khi Nhà nước ta đang tiến hành xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân vàphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì phát triển xãhội và quản lý phát triển xã hội được xem là vấn đề trung tâm quyết định đến
sự tồn tại của Nhà nước, sự phát triển con người và các nhân tố xã hội khácnhư gia đình, cộng đồng, dân tộc v.v., Như vậy, lý luận về phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội mặc dù không phải là vấn đề mới song bản chấtcủa vấn đề của sự phát triển là một quá trình nên cần phải tiếp cận trên cơ sởlịch sử, hiện tại và dự báo xu hướng phát triển trong tương lai Hơn thế nữa,
sẽ mang tính thực tiễn hơn nếu gắn việc nghiên cứu phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội với xác định vai trò của Nhà nước và các chủ thể trong xãhội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Do đó, việc làm rõ
cơ sở lý luận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là vấn đề hết sứccần thiết
Bản thân khái niệm phát triển xã hội cũng có sự phát triển khôngngừng Có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển xã hội Mỗi quan
Trang 14điểm phụ thuộc rất nhiều vào cách tiếp cận của tác giả và trường phái tưtưởng chi phối.
Trước hết, phát triển xã hội được tiếp cận theo thuyết phát triển của
chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin với quan điểm duy vật biện chứng cho rằng tất
cả mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy luôn vận động vàphát triển không ngừng Theo quan điểm này, sự phát triển hàm chứa sự vậnđộng theo hướng đi lên, trong đó có tính kế thừa, lặp lại cái cũ, nhưng ở mức
độ cao hơn và có sự xuất hiện của cái mới Trong đó, xã hội được được quanniệm "xã hội không phải bao gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng sốnhững mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau"1
Nền tảng của thuyết phát triển này, theo Ph.Ăngghen: " một quanniệm đúng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sự phát triển của loàingười, cũng như về sự phản ánh của sự phát triển ấy vào đầu óc con người chỉ
có thể được bằng con đường biện chứng, với sự chú ý thường xuyên đếnnhững tác động qua lại phổ biến giữa sự phát sinh và sự tiêu vong, giữa sựbiến đổi tiến bộ và thụt lùi" Với cách tiếp cận phát triển một cách biện chứng
đó, Lênin kế thừa và đi đến khẳng định: "Sự phát triển hình như diễn lạinhững giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ caohơn, sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc chứ không theo đườngthẳng, sự phát triển bằng những bước nhảy vọt, bằng những sự đột biến, bằngnhững cuộc cách mạng"
Như vậy, quan điểm về phát triển xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lêninkhông chỉ đưa ra phép biện chứng là cơ sở để nghiên cứu sự phát triển mà cònkhẳng định phát triển xã hội là quá trình phản ánh nội dung mang tính xã hội
và gắn với quy luật khách quan của vũ trụ, không gian, thời gian và con người
Thứ hai, quan điểm về phát triển của các nhà kinh tế học phát triển
giữa của thế kỷ 20 xác định lý thuyết phát triển xã hội tập trung vào việc xử lý
1 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 46, ph1, Trang 355.
Trang 15các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của quá trình phát triển, giải quyết các vấn
đề ách tắc trong phát triển kinh tế tại các xã hội ở các nước kém phát triển củaChâu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La tinh Quan niệm về phát triển xã hội theotrường phái này chỉ tập trung đến phát triển kinh tế nông thôn để làm tiền đềcho xã hội phát triển
Thứ ba, quan niệm của các nhà phát triển học, coi phát triển xã hội
gắn với phát triển kinh tế Các nhà khoa học theo trường phái này coi sự tăngtrưởng về kinh tế là tiền đề cho sự phát triển của xã hội Tuy nhiên trườngphái phát triển học này chưa trả lời được câu hỏi: nếu phát triển kinh tế trướcmột bước rồi mới đến phát triển xã hội và các vấn đề văn hóa, chính trị thìkhoảng cách đó là bao lâu, có gì để đảm bảo rằng phát triển kinh tế tất yếu sẽđưa đến phát triển văn hóa và xã hội
Thứ tư, quan niệm của các nhà xã hội học coi phát triển xã hội là trọng
tâm của các nhà nước xã hội Theo quan điểm này thì sự phát triển kinh tếlàm cho xã hội phát triển thiếu cân bằng Các giá trị xã hội sẽ phần nào bị tácđộng của các giá trị vật chất dẫn đến quyền lợi của các nhóm xã hội yếu thế bịxâm phạm và tổn thương
Thứ năm, quan điểm về phát triển xã hội của các nhà khoa học phát
triển bền vững Quan điểm phát triển bền vững được thể hiện rõ nét trong Báocáo Brundtland: "phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởngkinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu củahiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai" Theo quanđiểm này, phát triển xã hội được gắn với ba trụ cột của phát triển bền vững:(một) bền vững về mặt kinh tế là phát triển kinh tế nhanh và an toàn; (hai) bềnvững về mặt xã hội là phát triển công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ
số phát triển con người HDI là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, chỉ sốphát triển con người gồm: thu nhập bình quân đầu người, trình độ dân trí, giáodục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ thành tựu văn minh v.v ; (ba) bềnvững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiênnhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống
Trang 16Như vậy, các quan điểm nêu trên mặc dù có những cách tiếp cận khácnhau đều thống nhất trong cách quan niệm phát triển xã hội là quá trình vậnđộng theo chiều hướng đi lên của các giá trị xã hội Tuy nhiên, cũng chính từtiêu chí của các giá trị xã hội khác nhau và nội hàm xã hội khác nhau mà quanniệm về phát triển xã hội cũng khác nhau
Tựu chung có hai quan niệm như sau:
Về nghĩa rộng, phát triển xã hội là sự phát triển của xã hội cụ thể,trong đó nội hàm của xã hội được tiếp cận ở mọi về lĩnh vực của đời sống xãhội như đời sống kinh tế - xã hội theo nghĩa hẹp, đời sống xã hội tự nhiênv v Do đó, theo nghĩa này, phát triển xã hội là phát triển cả văn hóa, pháttriển con người, phát triển kinh tế v.v tất cả các vấn đề xã hội cần phát triểnđều là vấn đề xoay quanh con người (đó là phát triển các lĩnh vực cụ thể của
xã hội cụ thể cho con người)
Về nghĩa hẹp: phát triển xã hội được hiểu là những khía cạnh pháttriển gắn với con người Trong mối quan hệ này, xã hội chỉ là một thànhphần cơ bản, một lĩnh vực tương tác với lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực văn hóa
và lĩnh vực chính trị Phát triển xã hội theo nghĩa này là phát triển nhữnglĩnh vực xã hội song song với phát triển lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị
và lĩnh vực văn hóa
Sở dĩ, có quan niệm này bởi trong đời sống xã hội, bốn lĩnh vực cơbản cùng tồn tại và có mối quan hệ với nhau, tác động biện chứng với nhau làlĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Việc tiếp cận xã hội là một trongbốn bộ phận để có cách tiếp cận phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hộimột cách cụ thể chứ không phải là tách một cách cơ học xã hội ra khỏi kinh
tế, chính trị, văn hóa
Theo nghĩa hẹp này, phát triển xã hội Việt Nam hiện nay đang đượctiếp cận ở ba nội dung: giáo dục, y tế và cộng đồng Ngay trong chính nộihàm phát triển xã hội theo nghĩa này cũng có những nội dung xã hội phongphú và cụ thể Ví dụ, lĩnh vực giáo dục cũng được chia thành những lĩnh vực
Trang 17cụ thể như giáo dục trong nhà trường, giáo dục ngoài xã hội, giáo dục cộngđồng và giáo dục tín ngưỡng Trong loại hình giáo dục cũng tồn tại các loạihình như giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục đại học v.v Vấn đề
y tế cũng vậy Bản thân y tế là một nội dung của lĩnh vực xã hội Do đó, pháttriển xã hội đòi hỏi phải tính đến phát triển y tế mà nội hàm của các nội dungcủa y tế được xem xét gắn với chăm sóc sức khỏe của nhân dân như vấn đềchữa bệnh, phòng bệnh và dịch bệnh v.v Để phát triển y tế gắn với chăm sócsức khỏe nhân dân thì việc trả lời câu hỏi chữa bệnh ở đâu luôn gắn với nhucầu phát triển bệnh viện công, bệnh viện tư, bệnh viện tuyến v.v Tương tựnhư vậy, cồng đồng là nội hàm thứ ba của phát triển xã hội đòi hỏi phải pháttriển các nội dung liên quan đến cộng đồng như gia đình, các nhóm người, cáctộc người, đặc biệt là các nhóm người thiệt thòi trong xã hội như người côđơn, trẻ mồ côi, người khuyết tật v.v và đi cùng với nó là một loạt các vấn
đề xã hội phải giải quyết như an sinh xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội và cáccăn bệnh xã hội như bệnh AID, HIV, nghiện rượu, mại dâm, ma túy, cờ bạc…Đồng thời, phát triển xã hội đòi hỏi xử lý mối quan hệ xã hội cụ thể giữa conngười với môi trường sống và tự nhiên Trong mối quan hệ này, con ngườitồn tại trong môi trường sống trong đó có quan hệ xã hội, đạo đức xã hội vàvăn hóa xã hội Phát triển xã hội theo hướng tiếp cận này thể hiện ở sự pháttriển lối sống, quan hệ xã hội truyền thống và hiện đại tốt đẹp, tiếp thu đạođức xã hội và phát triển trên cơ sở coi văn hóa là nền tảng Phát triển xã hộitrong môi trường xã hội tự nhiên thể hiện việc giải quyết các nội dung củaphát triển môi trường tự nhiên gồm phòng chống thiên tai, phát triển bền vững
và phát triển cộng đồng Cũng với cách hiểu theo nghĩa hẹp của vấn đề xã hộithì cũng cần phải khu biệt xã hội với chính trị, mặc dù chính trị được xem làmột quan hệ xã hội song là quan hệ xã hội đặc biệt mà thông qua đó, các giaicấp mà cụ thể là giai cấp cầm quyền thể hiện ý chí của mình để thiết lập cácmối quan hệ khác nhau trong xã hội có nhà nước Phát triển chính trị gồm hai
bộ phận: tính khách quan của chính trị (sự vận động, phát triển của xã hội) vàtính chủ quan (sự vận động phát triển của các quan hệ mang tính giai cấp và
Trang 18sự phát triển của Nhà nước do giai cấp cầm quyền lãnh đạo Do đó, phát triển
xã hội cũng cần phải chú trọng tới phát triển chính trị theo nghĩa khách quan
để nhằm phù hợp với sự phát triển đúng quy luật Đó là sự phát triển xã hộitheo nghĩa hẹp
Như vậy, theo nghĩa này, vấn đề phát triển xã hội đặt xã hội trong mốiquan hệ thu hẹp và cụ thể Rất khó để đưa ra khái niệm phát triển xã hội nếuxác định xã hội là một lĩnh vực đặt trong mối quan hệ với lĩnh vực kinh tế,chính trị và văn hóa Bởi như vậy sẽ dẫn đến việc nhìn nhận xã hội một cáchphiến diện và thiếu đi tính thống nhất của chính sự tồn tại xã hội Tuy nhiên,với cách tiếp cận theo nghĩa hẹp này, cần thống nhất một cách hiểu về pháttriển xã hội như sau:
Phát triển xã hội là khái niệm có nội hàm, nội dung rộng lớn, đặt sự phát triển xã hội với những lĩnh vực gắn với con người, ngoài kinh tế, chính trị, văn hóa nhưng gắn với kinh tế, chính trị và tương tác với kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng Đương nhiên, cần phải thấy rằng, khi đặt phát triển xã
hội ngoài kinh tế, chính trị, văn hóa thì không thể tách ra một cách cơ học Do
đó, cần hiểu xã hội ngoài kinh tế, chính trị chứ không thể tách ra khỏi kinh tế
và chính trị Như vậy, khái niệm phát triển xã hội vì thế phải được nhìn nhận
là một khái niệm đa cấp, đa phương diện (nghiên cứu ở các cấp độ và phươngdiện khác nhau trong một vấn đề cụ thể) Ví dụ: vấn đề xóa đói, giảm nghèo
là một vấn đề xã hội nhưng muốn giải quyết vấn đề mang tính xã hội này thìkhông được tách ra khỏi sự phát triển kinh tế Song cũng phải thấy sự khácbiệt cơ bản giữa phát triển kinh tế với phát triển kinh tế nhằm xóa đói giảmnghèo là tính kinh tế và tính xã hội Nếu như, mục tiêu của phát triển kinh tế
là hạch toán được lợi nhuận thì mục tiêu của phát triển xã hội là không hạchtoán được Xóa đói, giảm nghèo mang tính xã hội là hoạt động không lấy lợinhuận làm mục đích chính mà mục đích của nó là tạo giá trị phát triển xã hộichứ không phải là tạo ra giá trị có thể tính được như của kinh tế Do đó,không thể nói việc phát triển xã hội là đắt hay rẻ được vì hậu quả của nó là vôcùng Điều này cho thấy sự tồn tại quan điểm muốn phát triển xã hội thì phải
Trang 19chú trọng phát triển kinh tế Bởi lẽ, phát triển kinh tế sẽ từng bước góp phầngiải quyết về mặt vật chất cho các tình trạng kém phát triển của xã hội như sựbất bình đẳng xã hội, tạo cơ hội cho người nghèo thụ hưởng các giá trị vậtchất mà phát triển kinh tế mang lại Tuy nhiên, đây mới là chiều thuận của sựphát triển kinh tế tác động đến phát triển xã hội theo nghĩa hẹp Phát triểnkinh tế, xét về mặt khách quan, đó là quá trình tích lũy tư bản của tầng lớpnhân dân và tập trung nhiều ở giai cấp tư sản Điều này dẫn đến sự bất bìnhđẳng trong xã hội Lịch sử phát triển kinh tế và xã hội đã chỉ ra các khiếmkhuyết của sự phát triển kinh tế không làm cho xã hội phát triển mà thậm chílàm cho xã hội bị tổn thương, thể hiện như: tăng trưởng kinh tế nhưng không
có tiến bộ và công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệphóa, đô thị hóa nhưng lại dẫn đến sự lụi tàn của nông nghiệp và nông thôn,làm cho người lao động không có quyền làm chủ, văn hóa, đạo đức khôngđược chú trọng dẫn đến suy đồi và phát triển kinh tế dẫn đến sự suy thoái môitrường, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ v.v
Như vậy, phát triển xã hội ở đây hiểu theo nghĩa hẹp trên cả haiphương diện:
+ Về mặt nội dung: phát triển xã hội là phát triển mặt xã hội của đời sống
xã hội (để phân biệt với các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa của đời sống
xã hội);
+ Về mặt phạm vi: chỉ tập trung nghiên cứu sự phát triển xã hội trongmột nước, một chế độ xã hội nhất định Đương nhiên, trong quá trình nghiêncứu phương diện xã hội không thể không nói tới mối liên quan của nó với cácphương diện khác của đời sống xã hội và nghiên cứu sự phát triển xã hộitrong phạm vi một quốc gia phải chú ý tới mối liên quan của nó với sự pháttriển xã hội ở các quốc gia khác và sự phát triển của toàn nhân loại nói chung
Phương diện xã hội của đời sống xã hội là một tập hợp các vấn đề xãhội có liên quan đến con người và bao trùm mọi mặt cuộc sống của con
người Đó là những vấn đề "phát sinh trong lòng xã hội liên quan đến con
Trang 20người, liên quan đến sự công bằng, bình đẳng trong xã hội, đến cơ hội tồn tại
và phát triển, đến sự hưởng thụ các nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người Đó là các vấn đề có ảnh hưởng, tác động, thậm chí đe dọa sự phát triển bình thường của con người, của cộng đồng xã hội, tác động xấu đến chất lượng sống của con người, của cộng đồng và do vậy đòi hỏi phải có những giải pháp, biện pháp kiểm soát, phòng ngừa, ngăn chặn, điều chỉnh hoặc giải quyết theo hướng bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội"1
Xuất phát từ các nhu cầu rất phong phú, đa dạng của con người, pháttriển xã hội là biến đổi các yếu tố thuộc mặt xã hội của đời sống xã hội theohướng tích cực và mong muốn của chủ thể quản lý phát triển xã hội thông quacác mục đích và mục tiêu mà chủ thể quản lý đặt ra Như vậy, phát triển xãhội vừa có nghĩa là làm cho một số vấn đề tốt lên, tăng lên về số lượng, đồngthời làm cho một số vấn đề giảm đi cả về mức độ và số lượng, nhằm tạo ra sựhài hòa trong quá trình phát triển xã hội làm cho cuộc sống con người ngàymột tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn
Để phát triển xã hội phải đồng thời phát triển cả kinh tế, chính trị, vănhóa của đất nước, bởi giữa các mặt hoạt động đó của đời sống xã hội luôn có
sự liên quan mật thiết, có tác động, ảnh hưởng qua lại với nhau, không thể chỉgiải quyết vấn đề này mà bỏ qua vấn đề khác Phát triển xã hội về thực chất làgiải quyết các vấn đề xã hội vốn có cũng như bất thường nảy sinh trong quátrình tồn tại và phát triển của xã hội loài người một cách trực tiếp và phổ biếnnhư vấn đề dân số, dân sinh, dân chủ và dân quyền v.v
- Vấn đề dân số: đây là vấn đề có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển
kinh tế - xã hội của một đất nước Một quốc gia hùng mạnh không chỉ thểhiện ở chỗ có lãnh thổ rộng lớn và nhiều yếu tố khác mà còn phải có số lượngdân cư tương xứng, được phân bố hài hòa trên các địa bàn lãnh thổ của đấtnước Phát triển dân số không chỉ chú trọng về số lượng mà còn phải bảo đảmchất lượng của dân số, bao gồm chiều cao, cân nặng, sức khỏe, điều kiện sống
1 Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách, pháp luật xã hội, (Phạm Hữu Nghị chủ biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr 10
Trang 21của con người và cả sự cân đối về giới tính Dân số là nguồn nhân lực củamọi hoạt động xã hội; tuy nhiên, nếu tốc độ tăng dân số vượt quá khả năngđáp ứng của sản xuất sẽ dẫn đến những hậu quả xã hội nghiêm trọng như đóinghèo, bệnh tật,…
- Vấn đề dân sinh: gồm các hoạt động có quan hệ trực tiếp đến cuộc
sống hàng ngày của mỗi con người cũng như cả cộng đồng, xã hội như chế độsinh hoạt, điều kiện sinh sống Đó là giải quyết việc làm cho người dân, tạođiều kiện tối đa cho những ai có khả năng lao động đều được lao động Liênquan đến việc làm là vấn đề thu nhập, tiền lương, tiền công cho người laođộng, các hoạt động xóa đói, giảm nghèo Những vấn đề nói trên ảnh hưởngrất lớn tới chất lượng sống của các tầng lớp dân cư và sự ổn định xã hội Thựchiện bảo trợ và cứu trợ xã hội đối với những đối tượng dân cư gặp khó khăn,các đối tượng thuộc diện chính sách Tổ chức các dịch vụ bảo hiểm đối vớinhững trường hợp gặp bất trắc, rủi ro, thiên tai, dịch bệnh nhằm bảo đảm antoàn, làm giảm sự thiệt hại, khắc phục những khó khăn cho những đối tượngcần giúp đỡ, tạo điều kiện để họ có cuộc sống bình thường Ngoài ra, cần phảitiến hành các chính sách ưu đãi xã hội đối với những người có công với nước,những người tài năng Xây dựng nhà ở là nơi nghỉ ngơi an toàn cho mỗi conngười Hoạt động chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và phát triển conngười về thể lực và trí lực Bảo vệ và tạo ra môi trường (tự nhiên và xã hội)trong lành để con người lao động, sinh sống và phát triển Đấu tranh phòng,chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, các tệ nạn xã hội như ma túy,mại dâm, buôn lậu, tham nhũng, làm giàu bất chính ;
- Vấn đề dân trí: nâng cao dân trí và phát triển văn hóa, giáo dục-đào
tạo là một nhu cầu không thể thiếu của con người Trong xã hội hiện đại, mọingười đều cần được phát triển toàn diện, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu vềvật chất lẫn tinh thần Do vậy, giáo dục-đào tạo đặc biệt cần thiết cho sự pháttriển con người cũng như phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu của đất nước, trong đó cần giáo dục văn hóa,giáo dục chính trị-tư tưởng, đào tạo nghề nghiệp, giáo dục lối sống cộng
Trang 22đồng để tạo ra lớp người có tri thức cao, có đạo đức, có đời sống tinh thầnphong phú Giáo dục-đào tạo liên quan trực tiếp đến việc nâng cao đời sốngvăn hóa và tinh thần của nhân dân, xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới
và con người mới; bồi dưỡng nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài phục
vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước; khuyến khích sự phát triển của khoahọc, công nghệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học, kỹthuật phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thỏa mãn những nhu cầu vềvật chất và tinh thần của nhân dân Tạo điều kiện và khuyến khích các hoạtđộng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần củanhân dân
- Vấn đề dân chủ: dân chủ là nhu cầu của con người và các tổ chức
của con người, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của con người Dânchủ phải được phát triển, củng cố trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội, từ các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, tư tưởng,… Phải bảođảm dân chủ cho mỗi cá nhân; cho cả cộng đồng như nhóm, tầng lớp, giaicấp, từng bộ phận xã hội; dân chủ giữa cộng đồng này với cộng đồng kháctrong xã hội, giữa các quốc gia, dân tộc
- Vấn đề dân quyền: các điều kiện để người dân được hưởng các
quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội như: quyềnbầu cử, quyền ứng cử; quyền thông tin, được thông tin; quyền tự do đi lại, tự
do cư trú, tự do về thân thể, không bị bắt, giam trừ trường hợp do pháp luậtquy định, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật… Thực hiệnhòa nhập xã hội, tạo cơ hội bảo đảm sự bình đẳng để mọi người tiếp cận đượccác dịch vụ xã hội như học tập, chữa bệnh, hưởng thụ văn hóa, đặc biệt hướngvào các nhóm xã hội quan trọng bị thiệt thòi trong phát triển, dễ bị tổnthương, như: phụ nữ; trẻ em; thanh niên; dân tộc thiểu số; người tàn tật; ngườicao tuổi; đồng bào vùng khó khăn,
Ngoài những vấn đề chung, cơ bản nói trên thì mỗi quốc gia, mỗi dântộc tùy thuộc tình hình, điều kiện cụ thể của đất nước mình còn phải giảiquyết những vấn đề xã hội khác liên quan đến phát triển xã hội ở từng giai
Trang 23đoạn nhất định Chẳng hạn, do nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéodài, xã hội chậm phát triển nên ngoài việc phải giải quyết các vấn đề pháttriển xã hội nói chung còn phải chú ý đến các vấn đề xã hội bức xúc như: hậuquả xã hội của các cuộc chiến tranh để lại; di dân tự do; trẻ em lang thang;người Việt Nam, nhất là chị em phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa kết hôn với ngườinước ngoài; người nước ngoài làm ăn, sinh sống tại Việt Nam; nhà ở và giảiquyết nhà ở cho người nghèo, những người có thu nhập thấp; nhà công vụ,nhà cho thuê, bảo tồn các khu phố cổ; người nước ngoài mua nhà tại ViệtNam; ách tắc trong giao thông đô thị và trật tự an toàn giao thông, tai nạn giaothông; an toàn lương thực, thực phẩm; mê tín dị đoan; các tệ nạn xã hội; nạnbạo hành với phụ nữ và trẻ em; sự phân tầng xã hội trong điều kiện phát triểnkinh tế thị trường và rất nhiều vấn đề xã hội khác đang phát sinh hàng ngày,hàng giờ
Các vấn đề xã hội ở những nước, những cộng đồng khác nhau thì khácnhau, trong những giai đoạn khác nhau có thể cũng khác nhau Cũng cónhững vấn đề xã hội là hiện tượng chung vốn có của bất kỳ một xã hội nào,trong bất kỳ thời gian nào, song cũng có những vấn đề xảy ra bất thường,trong một thời gian nhất định Đó là các vấn đề xã hội thường liên quan đến cácthảm họa do thiên tai, địch họa gây nên Trong mỗi giai đoạn sẽ có những vấn
đề xã hội bức xúc cần phải giải quyết ngay, nếu không có thể dẫn đến sự bùng
nổ, mất ổn định xã hội, biến dạng và suy thoái xã hội Việc xác định vấn đề xãhội nào là bức xúc, cần giải quyết ngay phụ thuộc vào từng địa phương mà điềuchỉnh các chính sách phát triển xã hội cho phù hợp bảo đảm sự phát triển hàihòa của đất nước Các vấn đề xã hội luôn có quan hệ mật thiết với nhau, đôikhi là điều kiện của nhau nên sự phát triển phù hợp của vấn đề xã hội này là
cơ sở để giải quyết vấn đề xã hội khác Ngược lại, sự không phù hợp của mộtvấn đề xã hội nào đó có thể dẫn đến nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc khác
Tóm lại, phát triển xã hội là giải quyết hợp lý, hiệu quả các vấn đề xã
hội (kể cả thường xuyên và bất thường) nảy sinh trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nhằm tạo ra môi trường xã hội an toàn, lành
Trang 24mạnh, nhân văn cho cuộc sống của con người để không ngừng nâng cao mức sống và chất lượng sống của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng, xã hội.
1.2 Khái niệm và đặc điểm cơ bản của quản lý phát triển xã hội
1.2.1 Khái niệm quản lý phát triển xã hội
Quản lý phát triển xã hội là quá trình tác động có mục đích vào xã hội bằng các công cụ, phương tiện khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội
1.2.2 Đặc điểm cơ bản của quản lý phát triển xã hội
a) Về chủ thể quản lý phát triển xã hội
- Nhóm thứ nhất: Nhà nước
Trong cơ cấu quyền lực nhà nước, Chính phủ có vị trí pháp lý hết sứcquan trọng: "Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhànước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", song khôngphải quyền hành pháp thuộc về Chính phủ mà Chính phủ thực hiện quyềnhành pháp trong cách thức thực hiện quyền lực "thống nhất", "có sự phâncông, phối hợp giữa các cơ quan" trong việc thực hiện quyền hành pháp Do
đó, quyền hành pháp của Chính phủ gồm ba hoạt động chính: lập quy, làmchính sách và tổ chức điều hành hoạt động hành chính (tổ chức thực hiệnchính sách, pháp luật), đảm bảo cho pháp luật được thống nhất thực hiệntrong phạm vi toàn quốc Với cách thức thực hiện quyền lực như vậy, chứcnăng xã hội của Nhà nước được thể hiện ở các hoạt động quản lý nhà nướctrong lĩnh vực xã hội Do đó, để quản lý xã hội thì hai hệ thống cơ quan có vaitrò quan trọng là Quốc hội và Chính phủ Như vậy, căn cứ vào việc thực hiệnchức năng lập hiến và lập pháp của Quốc hội, Chính phủ triển khai thực hiệnbằng thông qua các phương diện hoạt động của mình do các cơ quan hànhchính Nhà nước thực hiện Trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong cơ cấucủa Chính phủ thì điển hình có cơ quan chuyên trách quản lý vấn đề xã hộiđược xem xét đến là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Bên cạnh đó, Bộ
Trang 25Y tế, Bộ Giáo dục, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Y tế theochức năng của mình cũng tham gia tích cực trong quá trình quản lý xã hội Sở
dĩ có sự hình thành quản lý các vấn đề xã hội như trên bởi một quan niệmđược hình thành từ cơ chế xã hội xã hội chủ nghĩa: quản lý xã hội là công việccủa Chính phủ, do Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ thực hiện Quản
lý xã hội và quản lý phát triển xã hội vì thế gắn với vấn đề quản lý nhà nướctrong các lĩnh vực xã hội cụ thể
- Nhóm chủ thể thứ hai: các tổ chức phi Chính phủ được tổ chức với
tên gọi "Hội", "Nghiệp đoàn", "tổ chức phi Chính phủ" v.v Các tổ chức này,trong chức năng, nhiệm vụ và điều lệ của mình đều có sự cam kết liên quanđến phát triển cộng đồng và phát triển xã hội Tôn chỉ mục đích rõ ràng và cơcấu nhiệm vụ cụ thể khẳng định mục tiêu hướng đến là làm cho xã hội pháttriển theo chiều hướng tốt lên Các hình thức và phương pháp thực hiện chứcnăng xã hội của các tổ chức này không mang tính quyền lực mà mang tính xãhội sâu sắc
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong cơ chế thị trường, Nhà nước
không thể giải quyết các vấn đề xã hội bằng sức mạnh của riêng mình Ngoài
việc trực tiếp thực hiện các hoạt động để giải quyết các vấn đề xã hội, Nhànước còn thể hiện vai trò quan trọng của mình trong việc tổ chức và quản lýcác hoạt động xã hội - các hoạt động của các chủ thể khác tham gia vào việcthực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Sau này, khi mức thu nhập củanhân dân được cải thiện, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn cần tiếp tục thựchiện xã hội hóa bởi giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộcsống cho nhân dân là sự nghiệp lâu dài, chủ trương xã hội hóa là chủ trươngchiến lược lâu dài chứ không phải là giải pháp tình thế do tình hình Ngân sáchNhà nước eo hẹp hiện nay
Để thực hiện vai trò của mình trong việc xã hội hóa thực hiện chứcnăng, Nhà nước thiết lập khuôn khổ và những bảo đảm pháp lý cho các hoạtđộng xã hội, tiến hành sự điều tiết vĩ mô trên cơ sở các chính sách và pháp
Trang 26luật để huy động sự tham gia và quản lý hoạt động của các tổ chức, đoàn thể
xã hội khác, các tổ chức tự nguyện, tương thân tương ái; tuyên truyền, vậnđộng để mỗi người dân, cộng đồng cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xãhội, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt với phương châm "Nhà nước vànhân dân cùng làm" Nhà nước chủ trương tiến hành xã hội hóa kết hợp đadạng hóa các hình thức hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục, tạo điều kiện để cáctầng lớp nhân dân có thể tham gia một cách tích cực, chủ động, bình đẳng vàocác hoạt động đó Nhà nước hỗ trợ và khuyến khích các chủ thể khác tham giagiải quyết các vấn đề xã hội: cho phép các hình thức nghệ thuật khác đượchoạt động trong khuôn khổ pháp luật có sự quản lý của Nhà nước về nội dung
và chất lượng nghệ thuật; khuyến khích mở các trường ngoài công lập vềnghệ thuật, mỹ nghệ; mở rộng mạng lưới phát hành văn hóa phẩm do cácthành phần kinh tế tham gia ; đa dạng hóa các loại hình khám chữa bệnh là
để tạo điều kiện cho nhân dân được chăm sóc sức khỏe theo nhu cầu, điềukiện của mình, bớt gánh nặng cho ngân sách đồng thời đảm bảo sự quản lýchặt chẽ của mình thông qua hệ thống luật pháp, hạn chế đến mức cao nhất sựbất bình đẳng trong hưởng thụ các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe Đây làmột cách làm đúng, mang lại hiệu quả cao, phù hợp với xu thế chung và với điềukiện thực tế của đất nước "Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không
vì lợi nhuận mà vì nhu cầu, lợi ích của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi chocác tổ chức thực hiện một số dịch vụ công dưới sự giám sát của cộng đồngnhư vệ sinh môi trường, tham gia giữ gìn trật tự trị an xóm, phường "1
Thể hiện rộng rãi và phong phú các cách thức thực hiện thông qua sựkêu gọi tự nguyện tham gia các phong trào Có thể kể đến các phong trào có ýnghĩa xã hội không thể phủ nhận như: "Phong trào hiến máu nhân đạo",
"Phong trào mùa hè xanh", "Phong trào bác sĩ tình nguyện", "Phong trào tráitim nhân đạo", "Phong trào đóng góp cho nạn nhân chất độc màu da cam",
"Phong trào quyên góp quần áo cho bà con vùng lũ, lụt" v.v Thông qua các
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội tr 217.
Trang 27hình thức hoạt động mang tính xã hội như vậy đã thu hút được nhiều lựclượng tham gia và có đóng góp đáng kể về tinh thần, vật chất cho xã hội Cácmục tiêu phát triển xã hội được Nhà nước đặt ra vì thế có khả năng hoànthành và hoàn thành trước thời hạn cũng như đảm bảo chất lượng và hiệu quảcho mỗi chính sách.
Có thể thấy rằng, để giải quyết các vấn đề chính sách xã hội có hiệuquả đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều chủ thể Tuy nhiên, trong điều kiệnphát triển xã hội một cách phân tán, thiếu tập trung và mang nặng dấu ấn củanền kinh tế thị trường như hiện nay còn có nhiều chủ thể tham gia các hoạtđộng xã hội như các chủ thể trong hệ thống chính trị: Đảng, Nhà nước, côngđoàn và các tổ chức, đoàn thể khác Tuy nhiên Nhà nước phải đóng vai tròchủ đạo, là chủ thể (công cụ) chủ yếu thực hiện chính sách xã hội và quản lýphát triển xã hội
b) Về phương pháp quản lý phát triển xã hội
+ Phương pháp pháp lý: thể hiện các biện pháp, cách thức quản lý của
Nhà nước Điển hình là lập pháp, lập quy, tổ chức thực hiện pháp luật, ngănchặn và cưỡng chế khi cần thiết
+ Phương pháp kinh tế: là sự đầu tư vật chất, nguồn lực cần thiết kháccho các hoạt động phát triển xã hội Sự đầu tư về kinh tế của Nhà nước cho sựphát triển xã hội khác với sự đầu tư cho các hoạt động kinh tế của Nhà nước.Bởi lẽ, quản lý xã hội không mang lại lợi nhuận, Nhà nước đầu tư vật chấtcho các hoạt động xã hội và quản lý xã hội không phải vì mục đích lợi nhuận,Nhà nước không kinh doanh và không kiếm lời Mặc dù Nhà nước nào cũngđòi hỏi phải có được các giá trị kinh tế từ hoạt động đầu tư Tuy nhiên, quanniệm đầu tư cho phát triển xã hội mà kiếm lời thì đó là bất nhân đang là quanđiểm chi phối đến các biện pháp quản lý xã hội do Nhà nước tiến hành
c) Về hình thức quản lý phát triển xã hội, vì phát triển xã hội mang
tính đa dạng và phong phú nên hình thức quản lý phát triển xã hội đòi hỏi
Trang 28phải hết sức linh hoạt cả về phương pháp lẫn cách thức tác động Căn cứ vàochủ thể quản lý phát triển xã hội để có những hình thức nhất định và phù hợpvới pháp luật.
Để quản lý phát triển xã hội, Nhà nước sử dụng hai hình thức quản lýchính là: hình thức pháp lý và hình thức không pháp lý Hình thức pháp lý lànhững cách thức, biện pháp quản lý hành chính nhà nước được pháp luật quyđịnh cụ thể về trình tự, thủ tục, nội dung.v.v
- Hình thức pháp lý khi được sử dụng làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực xã hội do nó điều chỉnh Để quản lý pháttriển xã hội, hình thức pháp lý do Nhà nước thực hiện dưới các hoạt động sau:
+ Ban hành văn bản pháp quy dưới luật trong những vấn đề thuộcquyền quản lý của mình
+ Tiến hành hoạt động tổ chức điều hành nền hành chính thể hiện dướidạng áp dụng pháp luật
+ Giải quyết những trường hợp không thống nhất trong việc áp dụngpháp luật, đánh giá hành vi xử sự của các bên tham gia quan hệ pháp luật hànhchính và áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong trường hợp pháp luật quy định
Ngoài ra để tiến hành quản lý phát triển xã hội, các cơ quan nhà nướccòn tiến hành các biện pháp tổ chức trực tiếp và các tác động về nghiệp vụ -
kỹ thuật
- Hình thức phi pháp lý là những cách thức, biện pháp quản lý hành
chính nhà nước pháp luật không có quy định bắt buộc về thủ tục tiến hành Ví
dụ như hội thảo, hội nghị, tổng kết, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm quản lý pháttriển xã hội v.v Hình thức không pháp lý không làm phát sinh, thay đổi,chấm dứt quan hệ hành chính, được tiến hành trước hoặc sau hình thức pháp
lý nên có vai trò tạo điều kiện cần thiết cho việc tiến hành hoạt động mangtính chất pháp lý (chuẩn bị số liệu, tài liệu, nguồn lực, kinh nghiệm v.v )
d) Nội dung quản lý phát triển xã hội của Nhà nước
Trang 29Thứ nhất, xây dựng chính sách xã hội và pháp luật về các vấn
đề xã hội
Chính sách xã hội là sự thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trươnggiải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thểlãnh đạo phù hợp với bản chất chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích vàtrách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung, của từng nhóm xã hội nói riêngnhằm tác động trực tiếp vào con người, điều chỉnh các mối quan hệ lợi íchgiữa con người với con người, giữa con người với xã hội1
Về nội dung, chính sách xã hội là những biện pháp được Nhà nước thểchế hóa, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống con người, điều hòa các lợi íchtrong xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội nóng bỏng, bảo đảm sự ổn định vàphát triển theo hướng tiến bộ; tác động đến tất cả mọi tầng lớp nhân dân trongnước và kiều bào ở nước ngoài nhằm mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, thuhút và khuyến khích sự đóng góp của họ trong công cuộc xây dựng đất nước
Chính sách xã hội thể hiện những phương hướng và biện pháp mà Nhànước sẽ tác động, điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội (lao độngviệc làm, phân phối thu nhập, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội ) để tạo ra sự pháttriển trong xã hội Trên cơ sở các chính sách xã hội đã được hoạch định, Nhànước tiếp tục thể chế hóa thành pháp luật - công cụ quan trọng và không thểthiếu để Nhà nước quản lý xã hội
- Xây dựng pháp luật về các vấn đề xã hội, pháp luật là hình thức chủ
yếu, cơ bản để Nhà nước chuyển tải các chính sách của mình thành các chuẩnmực pháp lý, từ đó tác động vào các quan hệ xã hội
Thứ hai, Nhà nước tổ chức quản lý và điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu xã hội
- Nhà nước phục vụ công cộng: phục vụ công cộng là việc Nhà nước
đảm nhận những công việc, những hoạt động nhằm "cung cấp những hàng hóa
Trang 30công cộng cơ bản" để phục vụ cho những nhu cầu chung, lợi ích chung, vì sự
ổn định và phát triển của toàn bộ xã hội, toàn bộ cộng đồng
Phục vụ công cộng được thể hiện trên nhiều phương diện hoạt động cụ thể:
+ Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ thuật
+ Cung ứng các dịch vụ công
- Nhà nước giải quyết vấn đề lao động, việc làm và điều tiết chế
độ phân phối
Về lao động và việc làm,: Nhà nước ta tác động vào lĩnh vực này
nhằm thiết lập sự bình đẳng và an toàn xã hội của con người thông qua một hệthống pháp luật có nội dung, tính chất đặc thù phản ánh chính sách xã hội vàchức năng xã hội của Nhà nước
Điều tiết chế độ phân phối: Nhà nước thực hiện chính sách quản lý
phát triển xã hội với trọng tâm là hoàn thiện chính sách tiền lương đúng đắn làgóp phần thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực phân phối thu nhập, đảmbảo đánh giá đúng sự cống hiến của người lao động cho xã hội
- Nhà nước tổ chức, quản lý lĩnh vực giáo dục, đào tạo
+ Nhà nước từ chỗ đảm đương việc cung ứng mọi khoản đầu tư chogiáo dục, đào tạo chuyển sang vai trò dẫn dắt, tạo điều kiện phát triển hài hòa
hệ thống giáo dục và các hình thức giáo dục, tạo cơ hội, điều kiện để mọi côngdân có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình theo điều kiện, khảnăng, nhu cầu của họ
+ Nhà nước chú trọng việc cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo đểkhắc phục những lạc hậu, thiếu cập nhật, hạn chế tính tích cực, sáng tạo củangười học, kết hợp hài hòa giữa đào tạo theo diện rộng và đào tạo theo chiềusâu để có những con người phát triển toàn diện đồng thời có năng lựcchuyên môn tốt
+ Nhà nước phát triển đa dạng các loại hình trường lớp, chú trọng pháttriển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú; trung tâm học tập thường
Trang 31xuyên (ở các huyện, cụm xã); trung tâm đào tạo nghề; trường chuyên biệt chotrẻ khuyết tật1, tiến tới phổ cập trung học cơ sở vào năm 2015 theo kế hoạch
đã định; quan tâm đến giáo dục miền núi để tạo ra nguồn cán bộ, nguồn nhânlực tại chỗ
- Nhà nước tổ chức, quản lý lĩnh vực chăm sóc y tế và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân
Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho mọi công dân đều được chămsóc sức khỏe, được khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế phù hợp với khả năngkinh tế của xã hội đồng thời bảo đảm cho công dân được chăm sóc sức khỏetheo nhu cầu, khả năng kinh tế của họ
Nhà nước thực hiện các biện pháp can thiệp y tế công cộng truyềnthống như chăm sóc sức khỏe ban đầu, cung cấp nước sinh hoạt đảm bảo vệsinh, tiêm chủng đặc biệt quan tâm tới bà mẹ và trẻ em, thực hiện cácchương trình phòng chống các bệnh xã hội (chống sốt rét, lao, phong, ), cácloại dịch bệnh lây lan, HIV/AIDS, tiêm chủng mở rộng cho trẻ em và giảm tỷ lệsuy dinh dưỡng
Nhà nước thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho nhân dân và xu hướng là
mở rộng loại hình bảo hiểm này để đảm bảo nhân dân được chăm sóc sứckhỏe tốt hơn Ngoài những đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc, Nhà nướctạo điều kiện để các đối tượng chính sách, người nghèo cũng được hưởng chế
độ bảo hiểm này
- Nhà nước tổ chức, quản lý lĩnh vực bảo vệ gia đình, đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm
Nhà nước quan tâm đến việc củng cố, tăng cường vai trò và tráchnhiệm của gia đình trong xã hội và cộng đồng, bảo hộ hôn nhân và gia đình,thi hành các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấutranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm
1 Phạm Hảo, Võ Xuân Tiến, Mai Đức Lộc (2000), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, một số
Trang 32- Nhà nước đẩy mạnh thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội
+ Xóa đói giảm nghèo cần nhận thức rằng xóa đói giảm nghèo phảiđược đặt trong mục tiêu phát triển tổng thể về kinh tế - xã hội, giải quyết vấn
đề xóa đói giảm nghèo không chỉ dừng ở việc tăng thu nhập mà còn là nângcao đời sống về mọi mặt (về kinh tế, xã hội, vật chất, tinh thần, pháp lý ) chocác đối tượng này
+ Ưu đãi xã hội: là một bộ phận đặc thù trong hệ thống bảo đảm xãhội ở nước ta, là sự đãi ngộ đặc biệt, ưu tiên hơn mức bình thường về vật chất,tinh thần đối với những người có công với nước và với một số đối tượng đặcbiệt khác
+ Bảo hiểm xã hội: là một trong những cơ chế chính trong hệ thống an
toàn xã hội - sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình nhờ mộtloạt các biện pháp công cộng, mà đối tượng chủ yếu là những người lao động
+ Cứu trợ xã hội: là những biện pháp mà Nhà nước thực hiện nhằm
giúp đỡ những người nghèo nhất hoặc những người do gặp phải những hoàncảnh đặc biệt mà không thể tự chống chọi được như trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt, người tàn tật, người già cô đơn không nơi nương tựa hoặc những ngườigặp khó khăn đột xuất do thiên tai hoặc những biến cố khách quan khác gây
ra, để đáp ứng nhu cầu sống cơ bản của họ
Thứ ba: Nhà nước kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách và pháp luật về các vấn đê xã hội
Trang 33Chương 2
NHẬN THỨC VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI
2.1 Vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong điều kiện đổi mới
Một là, Nhà nước nhân danh quyền lực của nhân dân, thực hiện
quyền lực do nhân dân ủy thác để quyết định các vấn đề liên quan đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
Cần nhận thức rằng Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân,
vì thế trong tổ chức, hoạt động của nhà nước phải có cơ chế bảo đảm quyềnlực nhà nước thuộc về nhân dân Trong các vấn đề phát triển xã hội cũng vậy.Mỗi khi quyết định các chương trình, chính sách liên quan đến phát triển xãhội, cần phải tôn trọng quyền lực của nhân dân Nhân danh quyền lực nhànước nhưng luôn phải nhớ là quyền lực do nhân dân ủy thác, không được tùytiện, dễ dãi Không được làm chính sách theo kiểu "quyết định trong một giờ"
và cũng "thay đổi trong một giờ"
Hai là, Nhà nước có bộ máy thực hiện quyền lực nhà nước trên các
mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp, bố trí rộng khắp từ Trung ương đến địa phương cơ sở; có đội ngũ cán bộ, công chức; nắm giữ các nguồn lực tài chính, vật chất phục vụ phát triển xã hội.
Bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức là những yếu tổ cầnthiết cho phép Nhà nước xây dựng và triển khai thực hiện nhanh chóng, trênquy mô toàn xã hội các chính sách phục vụ phát triển xã hội và quản lý pháttriển xã hội Nhờ bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, các chính
Trang 34sách xã hội, phát triển xã hội được thực hiện theo những phương hướng, mụctiêu chung, thống nhất Các nguồn lực tài chính, vật chất do Nhà nước đứng raquản lý, phân phối bảo đảm sự công bằng, cân đối, hài hòa giữa phát triểnkinh tế, văn hóa, bảo đảm an ninh, quốc phòng với phát triển xã hội
Ba là, Nhà nước có vai trò và trách nhiệm trong xây dựng chiến lược,
chương trình, kế hoạch, chính sách về phát triển xã hội.
Nhà nước sử dụng quyền lực về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp donhân dân ủy thác để thực hiện chức năng phát triển xã hội và quản lý pháttriển xã hội Chính vì vậy Nhà nước phải chủ động xây dựng chiến lược pháttriển xã hội và từ chiến lược này cụ thể hóa xây dựng các chương trình, kếhoạch, chính sách cụ thể và những văn bản pháp luật có liên quan đến pháttriển xã hội và quản lý phát triển xã hội Xây dựng được chiến lược phát triển
xã hội đúng là cơ sở để phát triển, cụ thể hóa thành các chương trình, kếhoạch, chính sách, pháp luật phát triển xã hội
Bốn là, Nhà nước có vai trò trực tiếp tổ chức thực hiện các chương
trình, kế hoạch, chính sách phát triển xã hội.
Thực hiện vai trò này, Nhà nước huy động, triển khai việc thực hiệntrong hệ thống bộ máy nhà nước, trực tiếp là các cơ quan trong hệ thốnghành pháp, huy động các nguồn lực của Nhà nước bảo đảm thực hiện đượccác chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển xã hội Trong quá trình tổchức thực hiện các Chương trình, chính sách xã hội cần phải hình thành bộmáy quản lý chuyên nghiệp, là đầu mối phối hợp thực hiện các chính sách cóliên quan
Năm là, Nhà nước có vai trò thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện
các chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển xã hội và xử lý các vi phạm.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ là phát hiện các sai phạmtrong quá trình thực hiện để xử lý kịp thời mà điều quan trọng hơn, có ý nghĩa
Trang 35hơn là qua thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện, đánh giá tính đúng đắn củacác chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển xã hội cũng như những bấtcập, chưa phù hợp của những chương trình, kế hoạch và chính sách này để kịpthời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung
Sáu là, Nhà nước là đầu mối hợp tác, phối hợp xây dựng, thực hiện
các chương trình, dự án liên quan đến chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển xã hội với các nhà nước, các nhà đầu tư và tổ chức quốc tế.
Như vậy, Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển xãhội và quản lý phát triển xã hội Thực hiện tốt các vai trò nêu trên Nhà nước
là người có ảnh hưởng quyết định trên quy mô toàn xã hội đối với quá trìnhphát triển xã hội bền vững Ngược lại, nếu thiếu chủ động và tầm nhìn chiếnlược có tính hệ thống của các vấn đề xã hội sẽ không tránh khỏi tình trạngchắp vá, phân tán, thiếu hiệu quả của các chương trình, chính sách phát triển
xã hội Phải gắn việc giải quyết các vấn đề xã hội trong từng bước phát triểnkinh tế, trong chiến lược và từng chương trình, chính sách phát triển kinh tếmới bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội
2.2 Các điều kiện đảm bảo và yếu tố tác động đến việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới
2.2.1 Các điều kiện đảm bảo phát huy vai trò của Nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
a) Nhà nước phải có chính sách phát triển xã hội ổn định và nhất quán
Chính sách đó phải thấm đượm và xuyên suốt các quan điểm sau đây:
- Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hộingay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hộiphải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phốikết quản sản xuất cũng như ở việc tạo điều kiện phát triển năng lực của mọithành viên trong cộng đồng
Trang 36- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả laođộng và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đónggóp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thôngqua phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợicho người lao động.
- Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảmnghèo Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa cácvùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư
- Phát huy truyền thống dân tộc "uống nước nhớ nguồn", "đền ơn đáp
nghĩa", "nhân hậu thủy chung".
- Các vấn đề chính sách xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xãhội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mọi người dân,các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nướcngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Thấm nhuần các quan điểmnói trên để tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc như tạo việc làm, xóa đóigiảm nghèo, bảo hiểm xã hội và các hoạt động nhân đạo, từ thiện; chăm lo bồidưỡng thể chất cho nhân dân; đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hóa giađình và đẩy lùi các tệ nạn xã hội là những hoạt động thực hiện chức năng xãhội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, đề cao chức năng xã hội trong mối quan hệ với các chức năngkhác trong điều kiện kinh tế thị trường cũng là một đảm bảo cho sự thốngnhất giữa chức năng kinh tế và chức năng xã hội trong sự phát triển đất nước
Bất kỳ một nhà nước nào, mối quan hệ thống nhất giữa chức năng giaicấp và chức năng xã hội đều phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
+ Kiểu nhà nước (bản chất giai cấp của nhà nước);
+ Hình thức nhà nước (hình thức chính thể, chế độ chính trị);
+ Tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội;
Trang 37+ Các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa trong từng giaiđoạn lịch sử cụ thể;
+ Tình hình bên ngoài: thế giới và khu vực
b) Pháp luật thể chế hóa kịp thời các chính sách phát triển xã hội nhân tố đảm bảo vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội một cách bền vững
-Trước hết, cần phải khẳng định rằng trong cơ chế hành chính quan liêubao cấp, pháp luật ra đời và tồn tại không bắt nguồn trực tiếp từ nhu cầu và đòihỏi của các quan hệ kinh tế Vì vậy, pháp luật chủ yếu là phương tiện thực hiệnchức năng giai cấp Bởi nó nẩy sinh trực tiếp từ nhu cầu và đòi hỏi của việc bảo
vệ quyền lực nhà nước Ngược lại, trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩavới nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, phápluật trước hết ra đời, tồn tại và phát triển từ đòi hỏi của các quan hệ kinh tế kháchquan, đến lượt mình, pháp luật ấy trở thành phương tiện bảo vệ quyền lực nhànước Vì ra đời, tồn tại và phát triển từ nhu cầu và đòi hỏi của kinh tế nên phápluật trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩavừa là phương tiện thực hiện chức năng xã hội Thực tiễn hình thành, tồn tại vàphát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta hơn 20 năm quachứng minh hùng hồn vai trò ấy của pháp luật Mấy năm gần đây hiếm có mộtquốc gia nào lại ban hành nhiều văn bản luật và pháp lệnh trong một thời gianngắn như ở Việt Nam Nhu cầu sống và làm việc theo Hiến pháp và phápluật ngày càng trở nên hiện thực và bám rễ trong đời sống xã hội Nhu cầu
đó bắt nguồn từ đòi hỏi phải đảm bảo an ninh, an toàn và công bằng xã hội;bảo vệ lợi ích kinh tế trong các quan hệ hàng hóa và tiền tệ Trong cơ chế thịtrường pháp luật trước hết đảm đương vai trò ấy Chính vì vậy, một mặt nhànước sử dụng pháp luật như là phương tiện hữu hiệu thực hiện chức năng xãhội góp phần nâng cao các chỉ tiêu chất lượng về xã hội, về giáo dục, về vănhóa, về đời sống cho các thành viên của đời sống cộng đồng Mặt khác, các
Trang 38thành viên của xã hội cũng tìm thấy ở pháp luật nhiều lợi ích, trong đó bảo
vệ an ninh con người, an toàn kinh tế - xã hội là lợi ích hàng đầu
Thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta hơn 20 năm qua cũng chỉ rarằng xây dựng luật có nội dung tốt và nâng cao hiệu lực thực thi của nó trongthực tiễn có ý nghĩa không kém phần quan trọng so với việc đảm bảo đủ sốlượng các văn bản Luật có nội dung tốt là luật không chỉ thể hiện ý chí củagiai cấp mà còn thể hiện ý chí của đại đa số nhân dân lao động - các thànhviên của xã hội Đồng thời, luật đó còn thể chế hóa các giá trị mà xã hội có,
xã hội cần, xã hội ủng hộ, phù hợp với tiến bộ và xu hướng phát triển củanhân loại Có được luật tốt là quan trọng nhưng việc tổ chức thực hiện tốt luật
ấy trong thực tiễn lại càng quan trọng hơn Vì vậy, một mặt cần bổ sung sửađổi, nâng cao chất lượng các đạo luật mới đủ sức điều chỉnh các quan hệ giaicấp xã hội; mặt khác cần tăng cường và kiện toàn cơ chế tổ chức thực hiệnpháp luật và bảo vệ pháp luật đảm bảo cho pháp luật thực thi trong cuộc sống
Có như vậy, pháp luật mới trở thành phương tiện vừa thực hiện chức nănggiai cấp vừa thực hiện chức năng xã hội lại vừa là nhân tố đảm bảo sự thốngnhất trong việc thực hiện các chức năng của nhà nước
c) Nhà nước phải giải quyết đúng đắn các hình thức sở hữu - cơ sở kinh tế đảm bảo phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Sau hơn 20 năm đổi mới phải thừa nhận một thực tế là đối với việc đadạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân đã đánh thức dậytrong mỗi cá nhân mối quan tâm đặc biệt đến sản xuất kinh doanh và làm giàucho cá nhân và xã hội Tư hữu cũng đã giúp cho việc hình thành nên các điềukiện kinh tế - tài chính để phát triển xã hội C Mác vốn là người phê phán chế
độ tư hữu, nhưng cũng nhìn thấy được nhân tố tích cực và ủng hộ chế độ sởhữu đó khi bàn về phương thức sản xuất Châu Á Ông cho rằng sự trì trệ, lạchậu trong kinh tế, trong chính trị, trong quản lý xã hội, đời sống thấp kém,triển vọng xã hội không sáng sủa, tất cả có nguyên nhân sâu xa là không có sở
Trang 39hữu tư nhân về đất đai ở vùng Châu Á rộng lớn đó Tuy thế, sở hữu tư nhâncũng đẻ ra nhiều mặt tiêu cực về xã hội như phân hóa giàu nghèo trở nên sâusắc, kích thích lòng tham, ích kỷ, thói đạo đức giả và nhiều tính xấu khác ởcon người Xã hội băng hoại và xuống cấp về mặt đạo đức… Vì vậy sự phốihợp và kết hợp thống nhất biện chứng giữa chức năng giai cấp và chức năng
xã hội trong hoạt động của nhà nước là đòi hỏi cấp bách
Kinh nghiệm bước đầu thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ ra rằng đểđảm bảo sự thống nhất giữa các chức năng giai cấp và chức năng xã hội trongđiều kiện kinh tế thị trường phải phát triển bình đẳng các hình thái sở hữu vàkết hợp hài hòa các loại hình sở hữu: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữunhà nước Sự xóa bỏ sở hữu tư nhân một cách duy ý chí ở nước ta cũng nhưcác nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế,thủ tiêu tính năng động sáng tạo của cá nhân Kinh nghiệm cũng cho thấyrằng ở các nước mà sở hữu nhà nước bị xóa bỏ phần lớn, sở hữu nhà nướckhông giữa được vai trò chủ đạo thì cũng ảnh hưởng đến tính thống nhất củaviệc thực hiện các chức năng của nhà nước, kết quả phát triển kinh tế cũngkhông tốt Cực đoan trong sở hữu, hoặc theo hướng này hoặc theo hướng kiađều gây khó khăn cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước
Sở hữu là sự kết hợp mang tính mâu thuẫn của hai thái cực trong mốiquan hệ chung và riêng Tuyệt đối hóa một hình thức sở hữu nào đó sẽ dẫn tớituyệt đối hóa một chức năng nào đó Tuyệt đối hóa sở hữu công cộng mộtcách duy ý chí ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã không đem lạihiệu quả kinh tế, không tạo ra được cơ sở vật chất kỹ thuận cho việc thực hiệnchức năng xã hội Có thể nói rằng giữa hai trạng thái cực đoan - quá nhấnmạnh sở hữu công cộng (quá chung) và quá nhấn mạnh sở hữu tư nhân (quá
riêng) - tồn tại rất nhiều hình thức sở hữu có tính đan xen Tìm kiếm các hình
thức sở hữu đan xem và tạo lập sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chủ thể trong các quan hệ kinh tế đan xem đó là cơ sở cho sự thống nhất giữa các
Trang 40chức năng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
d) Thực hiện chức năng giai cấp và chức năng xã hội của nhà nước biểu hiện tập trung ở việc phát triển kinh tế
Bởi vì phát triển kinh tế không chỉ vì giai cấp mà còn vì phát triển xãhội Nhà nước với bộ máy quyền lực của mình sẽ sử dụng tất cả các biện pháphữu hiệu có thể có để tác động đến nền kinh tế nhằm hạn chế những khuyếttật của nền kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh tế lành mạnh, phân bổnguyền lực một cách tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hộimột cách hài hòa, phù hợp với giá trị truyền thống văn hóa của đất nước
Kinh nghiệm phát triển kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới ở nước ta chỉ
ra rằng:
- Thiết lập "luật chơi" cho các chủ thể sản xuất kinh doanh là một trong những hoạt động cơ bản để phát triển kinh tế "Luật chơi" này không chỉ thể hiện ý chí của giai cấp công nhân mà còn "nhiễm" các thuộc tính xã
hội Đó là lợi ích của cá nhân người lao động, các giá trị mà xã hội có, xã hộicần, xã hội ủng hộ Đúng như một nhà luật học nổi tiếng của Liên Xô cũ đã
viết: "Trên nấc thang các giá trị xã hội, pháp luật giữ một vị trí không phải là
cao nhất Trong cuộc sống có nhiều cái cao hơn pháp luật: Chân lý, lẽ phải, danh dự, tự do, công bằng… Pháp luật chỉ có ý nghĩa khi chúng thể hiện được những giá trị trên, góp phần thực hiện chúng trong cuộc sống xã hội" 1.Pháp luật có nội dung chứa đựng các giá trị ấy mới tạo lập được môi trườngthuận lợi cho việc thực hiện chức năng kinh tế, kết hợp được trong mình nó cảchức năng xã hội, lẫn chức năng giai cấp của nhà nước Hơn bất kỳ phương
tiện nào, pháp luật đảm đương được chức năng "thước đó chung đối với
những người khác nhau" nên nó góp phần thực hiện chức năng phân phối của
cải làm ra theo nguyên tắc làm theo năng lực hưởng theo lao động và đảm bảophúc lợi xã hội, góp phần hạn chế phân hóa giàu nghèo Đồng thời bằng
1 Man - sép: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: cấu trúc và con đường thực hiện Tiếng Nga.
M 1989, trang 122.