1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn tự hán nôm trên đồ gốm sứ việt nam từ TK XV đến TK XIX

144 1,5K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu văn tự hán nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ Thế kỷ XV đến Thế kỷ XIX
Trường học Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội
Chuyên ngành Nghiên cứu văn tự hán nôm trên đồ gốm sứ việt nam từ TK XV đến TK XIX
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 18,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu văn tự hán nôm trên đồ gốm sứ việt nam từ TK XV đến TK XIX

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

LỜI CẢM ƠN 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

3.1 Đối tượng nghiên cứu 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu 9

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10

4.1 Cơ sở lý luận 10

4.2 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp mới của đề tài 10

6 Bố cục nội dung 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN TỰ HÁN NÔM TRÊN ĐỒ GỐM SỨ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX 12

1.1 Các nghiên cứu đã được xuất bản chính thức 12

1.1.1 Công trình xuất bản từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1945 12

1.1.2 Công trình xuất bản từ năm 1945 đến năm 1975 16

1.1.3 Công trình xuất bản từ năm 1975 đến nay 18

1.2 Nguồn tư liệu từ các bảo tàng, sưu tầm tư nhân và mạng internet 23

1.2.1.Tư liệu từ các bảo tàng trong nước 23

1.2.2 Tư liệu từ các bảo tàng ở nước ngoài 26

1.2.3 Tư liệu từ bảo tàng tư nhân và bộ sưu tập tư nhân 28

1.2.4 Tư liệu thông qua mạng Internet 29

TIỂU KẾT 30

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG VỀ HÌNH THỨC CỦA VĂN TỰ HÁN NÔM TRÊN ĐỒ GỐM SỨ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX 31

2.1 Về một số thuật ngữ dùng trên gốm sứ 31

2.2 Đặc điểm về phương thức viết 33

2.2.1 Lối viết bình tự 37

2.2.2 Lối viết Ao tự 39

2.2.3 Lối viết Đột tự 41

2.2.4 Lối viết Trúc tự 42

2.3 Đặc điểm về thể chữ 43

2.3.1 Đặc điểm thể Triện thư 43

2.3.2 Đặc điểm của thể Lệ thư 47

2.3.3 Đặc điểm thể Khải thư 48

2.3.4 Đặc điểm thể Thảo thư 51

Trang 2

2.3.5 Đặc điểm thể Hành thư 52

2.4 Đặc điểm về loại hình văn tự (Hán và Nôm) 53

2.4.1 Đặc điểm của văn tự Hán 54

2.4.2 Đặc điểm của văn tự Nôm 54

2.4.2.1 Đặc điểm về bố trí chữ Nôm trên sản phẩm gốm sứ 55

2.4.2.2 Phân loại chữ Nôm và những đặc trưng 56

2.5 Giá trị của văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX 63

TIỂU KẾT 65

CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG VỀ NỘI DUNG VĂN TỰ HÁN NÔM TRÊN ĐỒ GỐM SỨ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX 67

3.1 Văn tự chỉ niên đại 67

3.1.1 Văn tự chỉ niên đại theo hiệu vua 67

3.1.2 Văn tự chỉ niên đại ghi theo can chi 71

3.1.3 Văn tự chỉ niên đại theo can chi kết hợp với niên hiệu vua 72

3.2 Văn tự chỉ nơi tàng khoản, lạc khoản và thương hiệu 72

3.2.1 Văn tự chỉ nơi tàng khoản 72

3.2.2 Văn tự chỉ lạc khoản 74

3.2.3 Văn tự chỉ thương hiệu 76

3.3 Văn tự đề từ 77

3.3.1 Thơ, văn chữ Nôm 77

3.3.2 Thơ, văn chữ Hán 82

3.4 Giá trị nội dung của văn tự Hán Nôm trên gốm sứ thế kỷ XV – XIX 105

TIỂU KẾT 109

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ THỂ THƠ THẦN TRÍ TRÊN ĐỒ GỐM SỨ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX 110

4.1 Vấn đề tác giả tạo tác gốm sứ 110

4.2 Vấn đề tác giả, tác phẩm qua thơ, văn 119

4.3 Thể thơ thần trí qua gốm sứ 133

TIỂU KẾT 142

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 143 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LUC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu khoa học của tôiđược thực hiện dưới sự chỉ bảo của người hướng dẫn khoa học Các trích dẫntrong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đúng quy định Các kết quả này chưatừng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Văn Chiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn Học Viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâmKhoa học xã hội Việt Nam, PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh và TS Nguyễn HữuMùi, cùng các thầy các cô đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận án

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, các nhà nghiên cứu, bạn bè

đã hỗ trợ, động viên tôi hoàn thành luận án này

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ TK XV đến TK XIX, các triều đại phong kiến ở Việt Nam thaynhau lên nắm quyền Mỗi triều đại mới xuất hiện kéo theo sự xuất hiện củacác vật dụng gốm sứ mang phong cách riêng của triều đại đó Vì thế, cổ vậtnói chung và gốm sứ cổ nói riêng đã trở thành tấm gương phản chiếu từnggiai đoạn lịch sử Việc minh chứng cho mỗi giai đoạn lịch sử thông qua gốm

sứ đòi hỏi chúng ta phải nắm được niên đại của cổ vật đó, có nghĩa cổ vậtđược minh chứng phải phù hợp với giai đoạn lịch sử được xem xét Có nhiềucách để chúng ta tìm ra niên đại thực của cổ vật, một trong những cách xácđịnh niên đại được coi là nhanh và chính xác nhất là thông qua văn tự ghi niênđại trên cổ vật đó Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu cổ vật (đặc biệt lànghiên cứu gốm sứ cổ) thường tìm hiểu chất liệu, hoa văn, điển tích; một số ítthông qua văn tự Hán Nôm để lý giải cụ thể hơn những điển tích trên cổ vật

mà chưa lấy văn tự Hán Nôm làm chủ thể chính trong công tác nghiên cứu sosánh, cũng như nghiên cứu chuyên sâu, chuyên biệt thông qua gốm sứ

Chất liệu gốm xuất hiện trên thế giới từ rất sớm, ở Việt Nam cũng cóniên đại trên 2000 năm Văn tự trên gốm sứ Việt Nam theo một số nhà nghiêncứu xuất hiện vào năm 149 Bởi vì, các nhà nghiên cứu căn cứ vào bộ sưu tầmcủa Clément Huet tại bảo tàng Hoàng gia Bỉ về nghệ thuật và lịch sử thấy cómột bình gốm tráng men vàng nhạt khắc 11 chữ theo hàng dọc với nội dungnhư sau: 建和三年闰月廿日李氏作 (Kiến Hòa tam niên nhuận nguyệt trấpnhập Lý thị tác) có nghĩa “Người họ Lý làm vào ngày 20, tháng nhuận, nămKiến Hòa thứ 3”1 Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng, văn tự trên

1 Kiến Hòa năm thứ 3: nhà Hậu Hán đời vua Đông Hán Hoàn Đế (năm 149).

Trang 7

gốm Việt Nam xuất hiện muộn hơn Nhưng có thể khẳng định, đến TK thứ X,

đồ gốm tráng men ở Việt Nam đã xuất hiện văn tự Hán; thời kỳ này văn tựkhông phổ biến trên toàn bộ sản phẩm gốm mà chỉ được thể hiện trên một sốsản phẩm gốm chuyên biệt Sang đến TK XV, gốm Việt Nam đã có nhữngbước phát triển khá toàn diện; các dòng gốm tráng men xuất hiện có độ bóngtương đối đều và bền hơn những sản phẩm gốm tráng men thiếu kỹ thuậttrước đây, văn tự cũng được thể hiện nhiều và có tính liên tục Từ TK XV đến

TK XIX, văn tự Hán Nôm đã xuất hiện thành hệ thống trên đồ gốm sứ, chính

vì lẽ đó, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứViệt Nam từ TK XV đến TK XIX

Trải qua thời gian, cùng những biến động của lịch sử, tự nhiên, xã hội,

cổ vật gốm sứ ở Việt Nam ngày bị mai một, nhưng cũng ngày càng khẳngđịnh được giá trị tư liệu lịch sử trong đó Tuy nhiên, rất ít nhà nghiên cứu lịch

sử, cổ vật, Hán Nôm đi vào tập hợp có hệ thống những văn tự Hán Nôm xuấthiện trên gốm sứ Việt Nam TK XV - XIX Qua đó, xây dựng nên hệ thốngmang tính phổ quát nhất những vấn đề về văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ cổtrong mỗi giai đoạn

Văn tự Hán Nôm trên gốm sứ cổ là một trong những tư liệu quan trọng

để minh chứng cho một nền văn hoá hay một nền văn minh nào đó Thông quavăn tự Hán Nôm, chúng ta còn biết về lịch sử các làng nghề, lịch sử về thươngmại, ngoại giao, v.v… Nhất là những tác phẩm Hán Nôm tiêu biểu có nhiều dịbản được đề vịnh thì càng có giá trị trong việc tìm hiểu về tác giả, tác phẩm.Ngoài ra, việc nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên gốm sứ sẽ mở cho chúng tacon đường tiến tới xây dựng và phát triển hệ thống những quan điểm trongnghiên cứu bút tích trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX

Văn tự trên gốm sứ Việt Nam xuất hiện khá sớm Tuy nhiên, trong quátrình phát triển, chúng có sự giao thoa với cách thức chế tác gốm sứ Trung

Trang 8

Quốc Vì vậy, khi phân định gốm sứ, thể thức văn tự, không ít nhà nghiên cứu

đã đánh đồng sứ Việt Nam và sứ Trung Quốc, nhất là gốm sứ giữa TK XVIIIđến đầu XIX Vì thế, thông qua văn tự sẽ giúp việc phân định sứ Việt Nam và

sứ Trung Quốc rõ ràng hơn

Do nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiều văn tự đề vịnh trên đồgốm sứ cổ có giá trị văn bản học ở Việt Nam đang bị lãng quyên, hoặc chưađược đánh giá đúng mực bằng giá trị vật chất do cổ vật mang lại Do đó, hiệntượng chảy máu cổ vật diễn ra khá nhiều, đồng nghĩa văn tự Hán Nôm trên cổvật có giá trị lịch sử, văn học, bút tích học cũng mai một theo Tuy nhiên,trong vài năm gần đây, cổ vật nói chung, gốm sứ cổ ở Việt Nam nói riêng dầnđược bảo lưu và gìn giữ Bên cạnh đó, trong và ngoài nước cũng đã xuất hiệnnhững nhà nghiên cứu có chuyên môn sâu về văn tự Hán Nôm Nhưng nhiều

cổ vật có văn tự Hán Nôm chưa được nghiên cứu, giải mã một cách hệ thống

Từ những thực tiễn nêu trên, đồng thời để triển khai có hiệu quả mụctiêu bảo tồn di sản văn hoá trong các chương trình hành động của Đảng vàNhà nước; thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5

(khoá VIII) "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà

bản sắc dân tộc" Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Văn tự Hán Nôm trên đồ gốm

sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX”

Để làm nổi bật giá trị của văn tự Hán Nôm trên gốm sứ cổ Việt Nam,đòi hỏi chúng ta cần có phương hướng, giải pháp phù hợp, khoa học và cụ thểđối với việc bảo tồn và phát huy những giá trị còn tiềm ẩn thông qua văn tựHán Nôm trên gốm sứ Từ đó, xây dựng nên hệ thống văn tự Hán Nôm cốtlõi nhất trên đồ gốm sứ cổ

2 Lịch sử vấn đề

Ngay từ đầu TK XX, công việc nghiên cứu và sưu tầm những đồ gốm

sứ Việt Nam có văn tự Hán Nôm đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Cho

Trang 9

đến nay, việc nghiên cứu và công bố về đồ gốm sứ Việt Nam có văn tự đã đạtđược nhiều thành tựu Có thể thấy, quá trình nghiên cứu đã trải qua các thời

kỳ sau:

- Thời kỳ thứ nhất: Từ đầu TK XX đến 1945

- Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1945 đến 1975

- Thời kỳ thứ ba: Từ năm 1975 đến nay

Trong mỗi thời kỳ các nhà nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ

đã có những đóng góp nhất định Thời kỳ thứ nhất, các chuyên gia của ViệnViễn đông Bác đã cổ tổ chức nhiều đợt nghiên cứu, sưu tầm, biên khảo về cổvật Việt Nam; nhưng chưa có công trình nào mang tính tập hợp về văn tự HánNôm, văn tự Hán Nôm chỉ được ghi chép lẻ tẻ trong một số công trình biênkhảo, giới thiệu về cổ vật nói chung

Thời kỳ thứ 2, các nhà khoa học tại Viện Viễn Đông Bác cổ ở ViệtNam đã hợp tác với chính phủ các quốc gia cũng như với các nhà khoa họcbản địa để theo đuổi những công trình ở Đông Nam Á: nghiên cứu về Phậtgiáo, ngôn ngữ, văn học, dân tộc học, v.v… Thời kỳ này, các học giả trongnước đã có nhiều công trình xuất bản có liên quan đến văn tự Hán Nôm trêngốm sứ Tuy nhiên, việc nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên gốm sứchưa phát triển một cách xứng tầm như tư liệu vốn có

Thời kỳ thứ ba, các bảo tàng ở Hà Nội và các bảo tàng địa phương,như: Hải Phòng, Nam Định, Mỹ thuật cung đình Huế, v.v… cũng đã từngbước hoàn thiện hồ sơ hiện vật Những phát hiện cùng kết quả nghiên cứumới về đồ gốm sứ Việt Nam có văn tự được đăng tải trên nhiều tạp chíchuyên ngành Trong khoảng thời gian đầu, các công trình thường mang tínhđiều tra, các đề tài nghiên cứu còn rất hạn hẹp Sau này, việc nghiên cứu văn

Trang 10

tự Hán Nôm trên gốm sứ Việt Nam được phát triển và hệ thống lại mang tínhkhoa học hơn rất nhiều.

Để hiểu rõ và cụ thể hơn về lịch sử vấn đề, chúng tôi sẽ trình bầy rõhơn ở Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên đồgốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX

và các đối tượng liên quan

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đầu tiên, chúng tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề chung về văn tựHán Nôm trên gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX về nguồn gốc, đặctrưng đến nội dung được phản ánh qua các nguồn tư liệu tại một số bảo tàngtrong và ngoài nước; một số bộ sưu tầm tư nhân uy tín, một số trang webchuyên về cổ vật Qua đó, khảo tả đặc điểm văn tự, đặc biệt đi sâu nghiên cứumột số dòng gốm sứ có giá trị thông qua những ghi chép Hán Nôm

Thông qua, nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ

TK XV đến TK XIX, góp phần nhận diện giá trị văn hoá, lịch sử, văn học.Phân loại, giới thiệu, dịch thuật và tiến tới nắm được nội dung và đặc trưng cơbản của hệ thống văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến

TK XIX Qua đó, góp phần vào nghiên cứu làng nghề, phát triển du lịch, giáodục văn hóa địa phương Cũng như giúp hiểu rõ hơn đời sống tín ngưỡng củatừng giai đoạn lịch sử, từng vùng đất, bổ sung vào hệ thống tư liệu lịch sửthành văn của dân tộc Bước đầu đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và pháthuy giá trị văn tự trên đồ gốm sứ cổ Việt Nam

Thông qua văn tự Hán Nôm để phân định đồ gốm sứ cổ và đặc trưngcủa văn tự trên từng dòng gốm sứ, đây là một khoảng trống cần được bổ

Trang 11

khuyết Do đó, công việc của chúng tôi cũng nhằm sâu chuỗi lại hệ thống văn

tự Hán Nôm trên gốm sứ và bước đầu đưa ra những đặc trưng chung nhất củavăn tự Hán Nôm trên các dòng gốm sứ, cũng như đặc trưng riêng biệt củatừng kiểu văn tự Hán Nôm trên các dòng gốm sứ ấy

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về kế thừa vốnvăn hoá truyền thống, vận dụng đường lối của Đảng và Nhà nước trong việcbảo tồn và phát huy vốn di sản văn hoá dân tộc

Kế thừa thành tựu các công trình nghiên cứu của các nhà khoa họctrong và ngoài nước đã được công bố và liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp điền dã, phân tích, tổng hợp

Phương pháp khảo sát, miêu tả, so sánh, đối chiếu

Phương pháp văn bản học Hán Nôm

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Bảo tàng học, Sử học, Văn hóahọc, v.v

5 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài giải quyết những vấn đề về văn hóa thông qua hệ thống văn tựHán Nôm trên gốm sứ, đồng thời đưa ra lý thuyết về cách định danh cho từngloại hình văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX

Qua đề tài góp phần nhận diện những giá trị tiềm ẩn của văn tự HánNôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX, làm sáng tỏ thêmnhững vấn đề lịch sử, văn hóa, văn học, v.v…

Giải quyết những vấn đề liên quan đến tác giả tạo tác gốm sứ, tác giả

và tác phẩm văn học cũng như một số nội dung còn tranh luận thông qua văn

tự Hán Nôm trên gốm sứ, qua đó xây dựng nguồn tư liệu có giá trị xác thực

Trang 12

Hệ thống lại nội dung văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ, định danh vàkhu biệt hóa từng loại hình văn tự trên từng dòng sản phẩm gốm sứ từ TK XVđến TK XIX.

Giúp phân biệt tính thật, giả của gốm sứ cổ thông qua hệ thống văn tựHán Nôm Đưa ra hệ thống lý thuyết về đặc trưng hình thức văn tự Hán Nômtrên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX Bước đầu xây dựng lý thuyếtcho việc nghiên cứu thể thơ Thần trí, nhất là trên đồ gốm sứ

Đề tài làm phong phú thêm nguồn tư liệu trong cùng lĩnh vực nghiêncứu gốm sứ cổ, thông qua đó có thể là cuốn cẩm nang cho những người tìmhiểu đồ cổ, nhất là đồ gốm sứ cổ trong việc đối chiếu nội dung, hình thức, đặcđiểm của văn tự trên các hiện vật cùng loại

Trang 13

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN TỰ HÁN NÔM TRÊN

ĐỒ GỐM SỨ VIỆT NAM TỪ TK XV ĐẾN TK XIX

Việc sưu tầm và nghiên cứu những đồ gốm Việt Nam có văn tự đượccác nhà nghiên cứu bắt đầu từ những năm đầu TK XX; cho đến nay, công tácnghiên cứu và công bố về đồ gốm sứ Việt Nam có văn tự đã đạt được nhiềuthành tựu đáng trân trọng Kế tục những thành tựu đó, chúng tôi tiếp tụcnghiên cứu các khoảng trống liên quan đến văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứViệt Nam từ TK XV đến TK XIX trong khả năng và nguồn tư liệu mà chúngtôi sưu tầm, tổng hợp được

1.1 Các nghiên cứu đã được xuất bản chính thức

Nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ cổ Việt Nam có bước

đi song hành với nghiên cứu văn tự trên gốm sứ cổ Trung Quốc Có nghĩa là,khi nghiên cứu văn tự Hán Nôm, các nhà nghiên cứu cũng phân theo các dạngthức như: thể loại, ngữ nghĩa, cách viết, cách trình bày, v.v…

Đã có nhiều công trình nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên gốm sứ xuấthiện, mỗi một giai đoạn, các tác giả lại nghiên cứu ở những mức độ khácnhau, những đóng góp của các công trình vào hệ thống nghiên cứu tư liệuHán Nôm trên gốm sứ Việt Nam rất đáng trân trọng, thậm chí có những tácphẩm bước đầu chỉ mang tính giới thiệu và dịch thuật đơn giản nhưng cũngmang đến một cách nhìn nhận mới cho hệ thống tư liệu Hán Nôm trên gốm sứViệt Nam giai đoạn đó

1.1.1 Công trình xuất bản từ đầu TK XX đến trước năm 1945

Giai đoạn từ đầu TK XX đến trước năm 1945, các chuyên gia của ViệnViễn đông Bác cổ đã tổ chức nhiều đợt nghiên cứu, sưu tầm, biên khảo cổ vật

Trang 14

Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào mang tính tập hợp về văn tự HánNôm trên gốm sứ, văn tự Hán Nôm chỉ được ghi chép lẻ tẻ trong một số côngtrình biên khảo, giới thiệu về cổ vật nói chung

Những năm 30 của TK XX, các học giả phương Tây đã chú ý đến gốm

sứ Việt Nam và họ bước đầu nghiên cứu các sản phẩm gốm sứ này Thời gian

đó, họ vẫn quen với tên gọi gốm An Nam hoặc gốm Thanh Hóa Các tác giảtiêu biểu, xuất bản những tác phẩm công bố về văn tự Hán Nôm trên gốm sứViệt Nam có thể kể đến:

Louis Chochod, ông là người nước ngoài đầu tiên nghiên cứu gốm sứViệt Nam và đề cập đến văn tự Hán Nôm, tháng 12 năm 1909 ông đã công bố

chuyên khảo La question de la céramique en Annam et les Bleus de

Hué trên Bulletin du Comité de l’Asie France, Sài Gòn 12-1909 Năm 1943,

tác giả lại công bố tác phẩm Hué-La Mystérieuse, xuất bản ở Paris

Người tiếp theo có nói đến văn tự Hán Nôm trên gốm sứ Việt nam cóthể kể đến linh mục kiêm học giả người pháp là L.Cadière Năm 1914, ông đã

cho xuất bản cuốn Le Bulletin des Amis du Vieux Hué có đề cập đến niên hiệu

Minh Mạng trên các sản phẩm sứ Trong tác phẩm này, tác giả viết “Người ta

đã gặp ở Huế những đồ sứ (…) và được ghi thêm dưới đáy hiệu đề thuộc triềuvua Minh Mạng”

Năm 1929, một tác giả người Pháp trong Tập san Đô thành hiếu cổ

Ông này đã dẫn lời ông Hồ Đắc Khải, một quan chức cao cấp của triềuNguyễn thuở ấy cho biết tác giả hai câu thơ Nôm trên đĩa trà mai hạc là ĐịnhViễn quận vương Nguyễn Phúc Bính, con trai của vua Gia Long Sau này,

những bài viết mang tính chuyên khảo trong Tập san Đô thành hiếu cổ đã được tập hợp và in thành bộ sách Những người bạn Cố Đô Trong Những

người bạn Cố Đô có khá nhiều bài viết đề cập đến văn tự Hán Nôm trên

Trang 15

những cổ vật gốm sứ của Việt Nam, vì thế chúng tôi không giới thiệu chi tiếttừng bài mà chỉ giới thiệu tác phẩm này để chúng ta cùng nhau tham khảo.

Khoảng năm 1933 – 1934, Hobson R.L đã công bố mười ba văn tự trên

“lọ sứ An Nam” ở Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ Sau này,

có đến 30 công trình, tài liệu tiếp tục đề cập đến mười ba chữ trên lọ sứ

niên, Nam Sách châu tượng nhân, Bùi Thị Hý bút) Hobson R.L viết: “Trênvai lọ có chữ, đọc từ trái qua phải, là người thợ thủ công (workman, đàn ông),

họ Chuang (Trương) ở châu Nan Ts’e (Nam Sách), vẽ chơi vào năm Ta Ho(Đại Hòa) thứ 8 (1450) Chữ viết không thật văn hoa, chỉ là một niên hiệu ứngvới niên đại này và đọc là T’ai Ho (Thái Hòa), niên hiệu của một ông vua AnNam (1443 -1454) viết chữ Ta thay cho chữ T’ai là rất thông thường2 Và việcNan Ts’e - chou (Nam Sách châu) nằm ở An Nam làm cho cách hiểu trên làđúng Như vậy, chúng ta có một mẫu vật tuyệt vời của gốm men lam AnNam, chắc chắn là do một người thợ thủ công (đàn ông) Trung Quốc làm vàvới niên đại chỉ ít năm sau đời vua Hsoan Te”

Người tiếp theo là Janse O, tác giả đã thông báo về chữ Nho ở đáy củamột số hiện vật đào được ở Thanh Hóa từ năm 1934 đến 1939 Trong một bàiviết của mình, Prior R đã dẫn ra căn cứ trên

Năm 1938, Cl Huet đã mang về nước Bỉ hàng ngàn cổ vật Việt Nam.Đến năm 1942, ông cho ra mắt một chuyên khảo về gốm Thổ Hà và BátTràng và có nhắc đến những văn tự Hán Nôm trên các sản phẩm gốm này.Trong chuyên khảo Cl Huet, cho biết: “Một lư hương nhỏ, tròn có mang một

2 Niên hiệu Thái Hòa hay Đại Hòa đều được hiểu là niên hiệu của vua Lê Nhân Tông (1443-1453) Khi viết niên hiệu này, trên một số tiền xu, cổ vật gốm sứ vẫn dùng chữ Thái

太 bằng cách viết chữ Đại 大 Ngoài vua Lê Nhân Tông thì vua Lê Thái Tông (1440-1442) cũng có niên hiệu được thể hiện kiểu như vậy, đó là niên hiệu Đại (Thái) Bảo.

Trang 16

văn tự về niên đại sản xuất và mục đích sử dụng; văn tự này rất có ích choviệc xác định những món đồ cùng loại”

Năm 1943, Bùi Thế Mỹ trong tập san của Hội khuyến học Nam Kỳ đãviết về những câu thơ Nôm trên một bộ trà và cho đó là câu thơ Nôm doNguyễn Du đề vịnh khi đi sứ Bùi Thế Mỹ viết: “Tương tuyền lúc Nguyễn Du

đi sứ sang Trung Quốc, có đến thăm một lò chế tác đồ sứ, gặp dịp người tađang làm một bộ đồ trà, vẽ kiểu Mai hạc Chủ lò nhã ý mời quan chánh sứ AnNam phẩm đề một đôi câu thơ lên món đồ Nguyễn Du đã dùng chữ Nôm củanước nhà mà đề rằng: “Nghêu ngao vui thú yên hà Mai là bạn cũ hạc là ngườiquen”

Năm 1944, tác giả Vương Hồng Sển cũng đã viết bài Les Bleus de Hué

à décor Mai Hac đăng trên Bulletin de la Société des études Indochinoises

(BSEI) Tác giả đã khẳng định câu thơ Nôm trên bộ trà mai hạc là của đại thihào Nguyễn Du

Năm 1944, L.Bezacier công bố chuyên đề Khái luận về nghệ thuật An

Nam (Essais sur L’art Annamite, Ha Noi).

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên hiện vật gốm sứtrong các công trình, bài viết vừa nêu mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát, giớithiệu lẻ tẻ từng hiện vật có văn tự, chưa có công trình nào đề cập một cáchđầy đủ, hoặc khái quát đặc điểm văn tự Hán Nôm Qua tham khảo tài liệu,bước đầu chúng tôi nhận thấy, nội dung ghi chép, mô tả, phiên âm văn tự có

sự sai khác so với nội dung văn tự trên sản phẩm gốm sứ và các tác giảthường đưa ra những kiến giải mang tính chủ quan

1.1.2 Công trình xuất bản từ năm 1945 đến năm 1975

Năm 1945, đánh dấu cho sự mở đầu một giai đoạn mới trong nghiêncứu văn tự Hán Nôm trên gốm sứ ở Việt Nam, khi nước Việt Nam dân chủ

Trang 17

cộng hòa được thành lập Mặc dù còn chiến tranh, nhưng các nhà khoa học tạiViện Viễn Đông Bác cổ ở Việt Nam đã hợp tác với chính phủ các quốc giamới thành lập cũng như với các nhà khoa học bản địa để theo đuổi nhữngcông trình ở Đông Nam Á: nghiên cứu về Phật giáo, ngôn ngữ, văn học, dântộc học, v.v… Các cuộc khai quật khảo cổ và nghiên cứu khảo cổ học, văn tựHán Nôm vẫn được tiếp tục và trên một tầm cao mới.

Tác phẩm trong giai đoạn này đã xuất hiện nhiều đại diện các nhànghiên cứu bản địa, một trong những người như thế có thể kể đến nhà vănhóa, học giả, kiêm nhà nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Vương Hồng Sển VươngHồng Sển (1902-1996), bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, ôngđược xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọngtrong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam Trong suốt cuộc đời, ông sưu tầmđược hơn 800 cổ vật, trong đó nhiều nhất, độc đáo nhất là đồ gốm men xanhtrắng TK XVII - XIX Ông đã góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại

và phân loại một số đồ gốm cũng như hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho nhữngngười thích sưu tầm đồ cổ Các công trình nghiên cứu của ông được giớichuyên môn đánh giá cao

Nhưng một người mà giới nghiên cứu và sưu tầm cổ vật ít khi biết danhtính là ông Dương Minh Thới, ông không chỉ là nhà sưu tầm những đồ cổ đẹp

và hiếm, mà ông còn là một học giả, ông tìm những vật với đặc điểm Nhogiáo thể hiện trên họa tiết: bài thơ, tranh vẽ liên quan với một truyền thuyết

hoặc một sự tích Hán-Việt Tháng 8 năm 1948, ông đã viết bài Les vieilles

porcelaines de Chine et les vieux bleus de Huế đăng trên báo Education.

Trong bài viết, ông yêu cầu chính phủ Pháp thành lập Bảo tàng men lam:

“Người du khách đến xem có thể biểu tượng đời sống người Việt Còn học tròViệt đến xem khi nhìn các hình vẽ trên đồ sứ có thể hiểu các tích trong vănhọc Việt Nam”

Trang 18

Khoảng từ 1950 đến 1975, việc nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên gốm

sứ Việt Nam có bước phát triển hơn trước, nhưng hầu hết các công trìnhnghiên cứu liên quan đến văn tự Hán Nôm trên gốm sứ Việt Nam vẫn chưađược quan tâm nghiên cứu, sưu tầm, mà chỉ thông qua các cuộc khai quậtkhảo cổ, khi xuất hiện những hiện vật có văn tự Hán Nôm mới được chú ý

Năm 1952, hai tác giả H.Parmenier và R.Mercier công bố Những thành

phần kiến trúc cổ ở miền Bắc Việt Nam (E’lements anciens d’architectures au

Nord Vietnam, BEFEO, T.XIX, 1952)

Với học giả Vương Hồng Sển thì từ năm 1950 đến năm 1972 ông đãgiới thiệu một số bài viết và các tác phẩm có đề cập đến văn tự Hán Nôm trên

sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Quốc cùng những kiến giải về lịch sử, niênđại, nước men, màu chàm, văn tự trên đồ gốm sứ cổ, v.v… Sau này, giớinghiên cứu, sưu tầm cổ vật ở Việt Nam bị ảnh hưởng khá nhiều từ những kiếngiải của ông, các công trình đó là:

- La chique de bétel et les pots à chaux anciens du Viet-nam (1950)

- Thú chơi cổ ngoạn (1971)

- Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa (1972)

- Cảnh Đức trấn đào lục (1972)

- Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn (1972)

Nếu Vương Hồng Sển được biết đến như một nhà nghiên cứu, học giảbản địa có nhiều đóng góp nhất trong việc nghiên cứu cổ vật trong những giaiđoạn đầu của TK XX, thì trong khoảng thời gian trước năm 1975 cũng đãxuất hiện một vài gương mặt nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ cổ,tiêu biểu như Trương Cam Vinh, Trần Thanh Đạm, v.v…

Năm 1960, trên Văn hóa nguyệt san, số 52, Trần Thanh Đạm đã viết bài Ấm chén và đồ xưa Đây là một bài viết mang tính chuyên khảo về thú

Trang 19

thưởng trà và chơi trà cụ Thú đó được xem như một thú chơi tao nhã của giớiquý tộc Bên cạnh đó, việc thưởng thơ trên các bộ trà cụ cũng là một lạc thúcủa các tao nhân, mặc khách tự cổ chí kim.

Năm 1962, cũng trên Văn hóa nguyệt san trong số 73, trang 880 – 896 Trương Cam Vinh đã viết bài về Chơi đồ cổ và chơi cổ đồ.

Năm 1970, tác giả Nguyễn Phi Hoanh đã xuất bản cuốn sách nghiên

cứu Lịch sử mỹ thuật Việt Nam Trong tác phẩm này, tác giả đã tập hợp được

một số cổ vật trong giai đoạn từ TK XV đến TK XIX có xuất hiện văn tự HánNôm và giành một chương riêng cho đồ sành Bát Tràng

Khoảng những năm từ 1945 đến 1975, việc nghiên cứu văn tự HánNôm trên gốm sứ Việt Nam có bước phát triển hơn trước nhưng vẫn chỉ dừnglại ở việc giới thiệu và dịch thuật mang tính ước đoán về văn tự Hán Nôm chứchưa được hệ thống một cách khoa học Một phần lý do có thể do cuộc khángchiến chống thực dân Pháp đã khiến việc thu thập tài liệu khó khăn, nên việcsưu tầm, nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ cũng chưa được pháttriển một cách xứng tầm

1.1.3 Công trình xuất bản từ năm 1975 đến nay

Sau giải phóng miền Nam, non sông thu về một mối, việc nghiên cứuthuộc lĩnh vực khảo cổ nói chung và văn tự Hán Nôm trên gốm sứ nói riêngđược đẩy mạnh nhưng chủ yếu do các nhà nghiên cứu Việt Nam tiến hành.Tuy vậy, trong khoảng thời gian đầu, công việc này vẫn chỉ là những điều tra,sưu tầm cổ vật có văn tự Hán Nôm; nói chung các mảng, các đề tài nghiêncứu còn rất hạn hẹp Chúng ta chưa có ý niệm gì về việc phân chia văn tự, đặcđiểm, dịch thuật, v.v… Sau này, việc nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trêngốm sứ Việt Nam được phát triển và hệ thống lại mang tính khoa học hơn rất

Trang 20

nhiều Trong giai đoạn đầu, một số công trình nghiên cứu về văn tự Hán Nômtrên gốm sứ Việt Nam xuất hiện có thể kể đến.

Năm 1975, cuốn Chạm khắc cổ Việt Nam qua các bản dập do Viện

Mỹ thuật xuất bản có giới thiệu văn tự trên chân đèn gốm sản xuất năm SùngKhang thứ 10 (1577), đời vua Mạc Mậu Hợp Trong những năm đầu sau khigiải phóng miền Nam, các bài viết lẻ tẻ về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ cũngxuất hiện

Năm 1976, Dean F Frasché đã viết Southeast Asian Ceramics Ninth

through seventeenth centuries và có đề cập một cách sơ lược nhất về văn tự

Hán Nôm trên gốm sứ Việt Nam

Năm 1977, Brown R.M đã nghiên cứu lại văn tự Hán Nôm trên lọ sứTopkapi một cách chi tiết, có phương pháp cụ thể và mang tính khoa học hơnnhưng vẫn thiếu về quan điểm lịch sử và tài liệu dẫn chứng

Tuy nhiên thời gian này, thế mạnh nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên

đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX không còn là của các tác giảnước ngoài, mà các nhà nghiên cứu trong nước đã khẳng định được tên tuổicủa mình trong lĩnh vực nghiên cứu văn tự Hán Nôm này Một vài tác giả,chúng ta có thể kể đến như:

Học giả Vương Hồng Sển đã công bố: Những đồ sứ do đi sứ mang về, Nxb Mỹ Thuật, 1993; Sổ tay của người chơi cổ ngoạn, Nxb Mỹ Thuật, 1994;

Khảo về đồ sứ từ hậu Lê đến sơ Nguyễn, Nxb Mỹ Thuật, 1993; Những đồ sứ khác quan dụng, ngự dụng, Nxb Mỹ Thuật, 1993; Khảo về đồ sứ men lam Huế, Nxb Mỹ thuật, 1994

Sau học giả Vương Hồng Sển có thể kể đến nhà nghiên cứu NguyễnĐình Chiến, Nguyễn Đình Chiến là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu

có giá trị, tính khoa học cao Những tác phẩm đầu tiên ông nghiên cứu về văn

tự Hán Nôm trên gốm sứ được tác giả giới thiệu như sau:

Trang 21

“Đồ gốm Việt Nam có minh văn đã được chúng tôi tập trung nghiêncứu và công bố từ năm 1986, trong số Thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch

sử Việt Nam (Nguyễn Đình Chiến, 1986: 125-133)

Năm 1991, trong Hội nghị thông báo khảo cổ học, chúng tôi tập trunggiới thiệu về 2 tác giả làm gốm ở Bát Tràng dưới triều Mạc là Đỗ Phủ và ĐỗXuân Vi (Nguyễn Đình Chiến, 1991a: 136-137) Cùng năm đó, trên tạp chíKhảo cổ học, chúng tôi giới thiệu về nhóm đồ gốm chế tạo dưới triều Mạc củatác giả Đặng Huyền Thông (Nguyễn Đình Chiến, 1991b: 55-56)

Năm sau, cùng Trịnh Căn, chúng tôi có thêm tài liệu công bố về tácphẩm gốm của Đặng Huyền Thông (Nguyễn Đình Chiến-Trịnh Căn, 1992:272-273)”

Tuy nhiên, công trình có tính chuyên sâu của Nguyễn Đình Chiến là:

Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn TK XV - XIX, do Bảo tàng Lịch sử

Việt Nam xuất bản năm 1999 Đây là cuốn sách được tác giả biên soạn trên

cơ sở nâng cao công trình luận án Tiến sĩ của ông bảo vệ thành công năm

1996 Cuốn sách đã tập hợp và trình bày các loại hình, kiểu dáng, mầu men,

đề tài trang trí của sưu tập 132 đồ gốm có văn tự Đặc biệt, nội dung văn tựphong phú của đồ gốm từ TK XV đến TK XIX đã phản ánh nhiều vấn đề vềlịch sử, văn hoá, tín ngưỡng, phật giáo Việt Nam Với một hệ thống niên đại

tuyệt đối thông qua văn tự Sau đó là Tàu cổ Cà Mau được Sở Văn hóa Thông

tin Cà Mau xuất bản năm 2002

Cùng với tác giả Phan Huy Lê, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Đình

Chiến đã công bố Gốm Bát Tràng TK XIV - XIX, Nxb Thế giới ấn hành năm

1995 Sách do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Trung tâm Hợp tácNghiên cứu Việt Nam Trường Đại học KHXH và Nhân văn quốc gia, tổ chứcbiên soạn và xuất bản nhằm giới thiệu một cách có hệ thống về gốm BátTràng TK XIV - XIX, trên cơ sở tư liệu lịch sử, tư liệu điền dã và chủ yếu là

Trang 22

sưu tập gốm Bát Tràng đang được lưu giữ và trưng bày tại bảo tàng quốc gia,

đã giới thiệu lịch sử làng gốm Bát Tràng, qui trình sản xuất và loại hình của

đồ gốm Bát Tràng; cùng với việc giới thiệu 254 ảnh hiện vật, những bài minhtrên gốm và nhiều bản vẽ, bản dập

Sau này, các bài chuyên khảo về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ đã rộng

và sâu hơn Các tác giả chuyên sâu về văn tự Hán Nôm trên đồ gốm ngoàiNguyễn Đình Chiến, có thể kể đến Phạm Quốc Quân Hai tác giả có chuyên

môn sâu trong lĩnh vực nghiên cứu cổ vật, hai ông cùng viết, 2000 năm gốm

Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, 2005.

Riêng về gốm Chu Đậu thì Tăng Bá Hoành được đánh giá cao khi công

bố tác phẩm Gốm Chu Đậu, Bảo tàng Hải Dương ấn hành năm 1999.

Hà Văn Tấn (chủ biên) Khảo cổ học Việt Nam, Tập III, Khảo cổ học

lịch sử Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, 2002

Lưu Trần Tiêu, Đặng Văn Bài và Nguyễn Đình Chiến có tác phẩm Cổ

vật Việt Nam, Nxb VHTT, 2002; tác giả Trần Khánh Chương có Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ, Nxb Mỹ Thuật, 2001; Bùi Minh Trí và Kerry Long

có Gốm hoa lam Việt Nam, Nxb KHXH, 2001, v.v…

Một số tác giả nước ngoài cũng đã dành nhiều thời gian, công sứcnghiên cứu về gốm Việt Nam, điển hình có các công trình:

John Guy, Oriental trade ceramics in South-East Asia, ninth to

sixteenth centuries, Oxford University Press, 1986.

John Stevenson, John Guy, Louise Allison Cort, Vietnamese ceramics,Art Media Resources with Avery Press, 1997

Còn về văn tự trên đồ sứ, nhất là sứ đặt kiểu của triều đình Việt Nam,thì một trong những nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này là tác giả

Trần Đình Sơn đã công bố: Những nét đan thanh, Nxb Văn nghệ TP HCM,

Trang 23

2003; Thưởng ngoạn đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn (1802-1945), Nxb Văn nghệ

TP HCM, 2008, Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê - Trịnh (1533-1788), NxbVăn nghệ, 2010…

Bên cạnh đó, các tác giả nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên dòng sứnày, có thể kể đến:

Trần Đức Anh Sơn có Đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn, Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, 2008 Đây là luận án Tiến sĩ lịch sử của Trần Đức Anh Sơn về

Đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn được viết công phu, tác giả đã dành riêng chương

V để giới thiệu văn tự trên đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn Đây là lần đầu tiên cómột công trình chuyên sâu về văn tự trong một giai đoạn, mặc dù tập hợp nàychưa thật đầy đủ, nhưng như thế cũng đủ thấy văn tự Hán Nôm đã được coi

trọng trong việc nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực Phạm Hy Tùng có Cổ vật

gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa, Nxb Sài Gòn, 2006 Những tác

phẩm này đã có những đóng góp không nhỏ trong việc nghiên cứu về văn tựHán Nôm trên đồ sứ đặt kiểu

Các tác phẩm này đã hệ thống lại lịch sử nước nhà thông qua gốm sứ,giới thiệu về lịch sử làng nghề, những hoa văn, kiểu dáng tiêu biểu của gốm

sứ qua mỗi thời kỳ Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã có đóng góp lớn vàoviệc khai phá văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Một số nhà nghiên cứu đãcông bố những chuyên khảo, chuyên luận về văn tự Hán Nôm trên gốm sứmang tính chất chuyên sâu có thể kể đến Philippe Truong với những bài viết:

Những motif trang trí trên đồ sứ Nội phủ thị đoài trong Thông tin Di sản, số 6

(2010); Đồ sứ ký kiểu thời chúa Trịnh và Chính cung và đồ sứ Nội phủ thị

trung thời chúa Trịnh trong Thông tin Di sản, số 8 (2011).

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp đáng

kể trong việc nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK

XV đến TK XIX Tuy nhiên, những tác phẩm, bài viết đều chỉ đề cập đến một

Trang 24

số ít các tác phẩm Hán Nôm tiêu biểu mà chưa có công trình nghiên cứuchuyên khảo nào nghiên cứu về đặc điểm văn tự Hán Nôm trên gốm sứ.

1.2 Nguồn tư liệu từ các bảo tàng, sưu tầm tư nhân và mạng internet

1.2.1.Tư liệu từ các bảo tàng trong nước

Ngoài tài liệu in ấn thì việc nghiên cứu các nguồn tư liệu Hán Nôm trên

đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX tại các bảo tàng trong và ngoàinước cũng đáng lưu tâm Đây là công việc khó, đòi hỏi công sức và tiền của,

vì thế thông qua các cuộc trưng bầy, giới thiệu về cổ vật và các hồ sơ hiện vậttại bảo tàng để chúng ta cùng nhau khảo sát

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam) được thành lập ngày 03 tháng 9 năm 1958 ở đây lưu giữ những hiện

vật, phản ánh các nền văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước của người ViệtNam Hệ thống kho cơ sở của bảo tàng hiện lưu giữ hơn 100.000 tiêu bảnhiện vật, gồm nhiều chất liệu, nhiều sưu tập hiện vật quý hiếm thuộc các nềnvăn hóa Hệ thống trưng bầy của Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã được phânchia rất chi tiết và tổng hợp được nhiều hiện vật gốm sứ có văn tự Hán Nômtrong giai đoạn từ TK XV đến TK XIX thông qua các gian trưng bầy hiện vậtcác triều đại Lê sơ – Mạc – Lê Trung hưng, triều Tây Sơn và triều Nguyễn

Ba gian trưng bầy cổ vật này đã tập hợp và giới thiệu nhiều đồ gốm sản xuấttại Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu với những nét đặc sắc về văn tựHán Nôm, dòng men, kiểu dáng, màu sắc, hoa văn trang trí Đáng chú ý

là sưu tập hiện vật độc bản khai quật từ tàu cổ Cù Lao Chàm, với những tácphẩm gốm hoa lam độc đáo, rất có giá trị

Năm 1954, trong sổ kiểm kê của Bảo tàng Louis Finot Hà Nội chỉ ghilại 11 đồ gốm sứ có văn tự đã đọc được, thuộc niên đại từ 1578 – 1585 và

1802 - 1819

Trang 25

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những bảo tàng có vị trí

quan trọng nhất trong việc lưu giữ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật củacộng đồng các dân tộc Việt nam Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam hiện giữ trên18.000 hiện vật trong nước tiêu biểu cho nền Mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền

sử đến nay Tất cả các hiện vật gốm sứ Việt Nam có văn tự Hán Nôm tại Bảotàng Mỹ thuật Việt Nam đã được tổng hợp như:

Thời Lý Trần có 04 hiện vật xuất hiện văn tự (3 bát và 1 đĩa; trong đó 1hiện vật không đọc được), các văn tự thời kỳ này được khắc chìm

Triều Lê sơ có 40 hiện vật thể hiện văn tự Hán Nôm, bao gồm các loạihình như: Bát, chén, đĩa, âu, hộp Văn tự được thể hiện bằng cách dùng chínhmàu men lam viết trong lòng hiện vật Các văn tự chủ yếu ở dạng một chữ

Triều Mạc, tổng số 15 hiện vật có văn tự Hán Nôm gồm chân đèn, bát,

lư hương Các văn tự được viết, khắc, được đắp nổi cắt- khắc

Triều Lê Trung Hưng, tổng số 6 hiện vật có văn tự Hán Nôm (2 chânđèn; 4 lư hương), những hiện vật này đều là đồ thờ Các văn tự được thể hiệnbằng cách khắc vào xương gốm; khắc - in

Triều Nguyễn, tổng số 66 hiện vật có văn tự Hán Nôm, loại hình đadạng Các văn tự được thể hiện cách viết mực tầu; màu men lam, khắc, in

Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế lưu trữ hơn 3700 hiện vật các

loại Riêng bộ sưu tập gốm sứ có 700 hiện vật, đây là bộ sưu tập tương đốiphong phú về thể loại và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đồ gốm sứ cònđược bảo tồn tại Việt Nam Sưu tập gốm sứ tại bảo tàng này rất đa dạng, baogồm các loại gốm mộc, gốm men ngọc và gốm hoa nâu thời Lý-Trần (TK XI-XIV), gốm hoa lam thời Lê (TK XVI - XVII), gốm thời Mạc (TK XVI), gốmtrang trí thời Nguyễn (TK XIX - đầu TK XX)…

Về gốm thời Mạc, Bảo tàng còn giữ được khoảng 10 hiện vật, trong đóloại hình chân đèn chiếm đa số Đó là những chân đèn hình con tiện làm bằng

Trang 26

gốm trắng có lớp men phủ màu trắng xám hay trắng ngà Văn tự thường đượckhắc và viết bằng men lam trên thân và đế chân đèn.

Đặc điểm nổi bật của bảo tàng là nơi cất giữ nhiều nhất đồ sứ men lam,thường được gọi là "Bleu de Hue" Đây là đồ được chế tác bằng kỹ thuật cao,

do triều đình nhà Nguyễn đặt làm từ các lò sản xuất đồ gốm nổi tiếng bênTrung Hoa, căn cứ theo sở thích, mẫu mã, kích cỡ và văn thơ mà vua quanViệt Nam nêu ra trong "đơn đặt hàng"

Bảo tàng lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh được thành lập

tháng 8 năm 1979 Tiền thân của bảo tàng này là “ Bảo tàng Blanchard de laBrosse” (từ 1929-1956) và “ Viện bảo tàng quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn”(từ 1956-1975) với nội dung trưng bày chủ yếu về mỹ thuật cổ của một sốnước châu Á Hiện vật gốm sứ có văn tự Hán Nôm được bảo tàng lưu trữ kháphong phú, đa dạng

Triều Lê sơ – Mạc – Lê Trung hưng có 80 khoảng hiện vật thuộc gốmChu Đậu, Bát Tràng và một số sản phẩm gốm do chúa Trịnh đặt Trung Quốcsản xuất vào TK XVIII Văn tự được thể hiện trên các hiện vật này tương đốiphong phú như: khắc chìm, đắp nổi, viết màu chàm…

Riêng bộ sưu tầm đồ sứ men lam có văn tự Hán Nôm của nhà nghiêncứu Vương Hồng Sển hiến tặng cũng là một kho tư liệu quý, đáng để khảocứu, với gần 100 hiện vật đặc sắc của các chúa Nguyễn, chúa Trịnh và cácông vua triều Nguyễn

Bảo tàng Hà Nội được thành lập từ năm 1982 theo quyết định của Uỷ

ban nhân dân Thành phố Hà Nội Căn cứ vào tính chất của bảo tàng và đặcđiểm của Thủ đô Nếu chỉ tính riêng các sưu tập hiện vật văn hoá khảo cổ học

đã chiếm tới hơn 2.000 hiện vật là những sưu tập hiện vật bảo tàng rất có giátrị về khoa học và lịch sử Hà Nội là một trung tâm quần cư của người Việt cổCác bộ sưu tập này rất phong phú và đa dạng, có giá trị lớn về khoa học và

Trang 27

lịch sử Riêng kho gốm sứ các thời nhà Lý, Trần, Lê, Nguyễn cũng có hàngtrăm cổ vật có văn tự Hán Nôm

Ngoài những bảo tàng có quy mô lớn như vừa giới thiệu ở trên thì một

số bảo tàng trực thuộc tỉnh cũng lưu trữ khá nhiều cổ vật gốm sứ có văn tựHán Nôm, những nguồn tư liệu có liên quan trong quá trình viết luận án,chúng tôi sẽ giới thiệu sau này

1.2.2 Tư liệu từ các bảo tàng ở nước ngoài

Trải qua chiến tranh, rất nhiều cổ vật Việt Nam đã bị quân xâm lượctàn phá, làm cho thất lạc, bị cướp, hoặc bị chúng lấy bán cho một số nhà sưutập tư nhân trong nước và ngoại quốc Những cổ vật bị thất lạc này khôngphải ai cũng có may mắn được chiêm ngưỡng và nghiên cứu Chỉ khi nàochúng nằm trong các bảo tàng thì giá trị đích thực của cổ vật đó mới đượctrân trọng đúng mức và đã có nhiều cổ vật Việt Nam, nhất là cổ vật gốm sứ cóvăn tự Hán Nôm còn may mắn đó khi nằm trong một số bảo tàng lớn

Bảo tàng đầu tiên có thể kể đến là Bảo tàng Hoàng gia về nghệ thuật vàlịch sử ở Bruxelles, Bỉ Bảo tàng này có tới hàng ngàn cổ vật Việt Nam, trong

đó có một số mang văn tự Hán Nôm Bộ sưu tập về gốm sứ Việt Nam ở đâyphần lớn nằm trong bộ sưu tập của Clément Huet, một nhà kinh doanh người

Bỉ từng làm việc tại Công ty vải sợi Nam Định ở Hà Nội từ 1912 đến năm

1938, khi về nước, ông đưa về Bỉ 7.927 hiện vật, trong đó có 6.027 đồ gốm

mà ông đã sưu tập qua các cuộc khai quật ông trực tiếp tham gia Năm 1952,Bảo tàng Hoàng gia Bỉ mua lại một phần bộ sưu tập này gồm 2.850 hiện vật

Ngoài Bảo tàng Hoàng gia về nghệ thuật và lịch sử ở Bruxelles, Bỉ thìcòn một số bảo tàng lớn ở châu Âu, trong đó có, Bảo tàng Guimet ở Paris.Bảo tàng Guimet, là một bảo tàng về nghệ thuật châu Á lưu trữ khoảng50.000 hiện vật, Guimet là một trong những bảo tàng lớn nhất về nghệ thuậtchâu Á nằm ngoài châu Á

Trang 28

Bảo tàng Nghệ thuật Dresden, Bảo tàng Dân tộc học (DTH) Munchen(Đức)… Trong các kho bảo tàng này còn lưu giữ nhiều chiếc mai bình mentrắng và đĩa celadon đời Lý; vài chiếc thố hoa nâu đời Trần, nhiều thạp, hũhoa lam đời Lê và một chân đèn đời Mạc Hiện vật quí nhất ở đây là chiếc hũgốm hoa lam, cao 40cm, trang trí đồ án chim phượng và mây.

Bảo tàng Mỹ thuật Boston tại Boston, Massachusetts là một trongnhững viện bảo tàng lớn nhất của Hoa Kỳ, được thành lập năm 1870 là mộttrong những bảo tàng lâu đời nhất tại Hoa Kỳ Nơi đây lưu giữ những bộ sưu

tàng lưu giữ khá nhiều hiện vật gốm Chu Đậu, trong đó có một lư hương thờiMạc và một chân đèn Lê Trung Hưng xuất hiện nhiều văn tự Hán Nôm.Ngoài ra, đồ sứ đặt kiểu của các triều đại Việt Nam cũng được trưng bầy ởđây, nổi bật có hai đĩa Nội phủ thị đoài, Nội phủ thị hữu và một đĩa chim hoa

Nhờ vào nguồn hiện vật của các bảo tàng ở nước ngoài mà không ítcác nhà nghiên cứu, học giả nước ngoài đã hoàn thành những công trìnhnghiên cứu về gốm sứ Việt Nam mà không phải đến Việt Nam nghiên cứu

Trang 29

1.2.3 Tư liệu từ bảo tàng tư nhân và bộ sưu tập tư nhân

Ngoài các bảo tàng quốc gia trong và ngoài nước thì những bảo tàng tưnhân và bộ sưu tập tư nhân cũng góp một phần rất quan trọng trong việc lưugiữ những hiện vật gốm sứ Việt Nam có văn tự Hán Nôm

Nhà sưu tầm, bảo tàng tư nhân đầu tiên có thể kể đến là bộ sưu tập gốm

sứ Việt Nam ở nước ngoài của Jochen May, với khoảng 300 hiện vật, đượcđánh giá là hoàn hảo và có hệ thống nhất về gốm sứ Việt Nam ở Đức Từ năm

2000 – 2002, Bảo tàng Nghệ thuật Đông Á ở Berlin đưa sưu tập gốm sứ ViệtNam vào trưng bày trong gian Việt Nam của bảo tàng này

Năm 2002, thông qua bộ sưu tập của mình, Jochen May đã viết cuốnsách “Đồ gốm Việt Nam”, xuất bản bằng tiếng Đức và tiếng Anh JochenMay còn là chuyên gia sưu tầm đồ sứ đặt kiểu tầm cỡ Ông có đủ các văn tựchỉ tàng khoản của nhóm đồ sứ do vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đặt kiểu

ở Trung Hoa, từ Nội phủ thị (trung, hữu, nam, bắc, đông, đoài), đến Khánhxuân và Khánh xuân thị tả Đối với nhóm đồ sứ đặt kiểu thời Nguyễn, JochenMay cũng sưu tầm đủ các dòng từ triều Gia Long đến triều Khải Định

Bộ sưu tập gốm Bát Tràng của nhà sưu tầm Vũ Tấn (Hà Nội), bộ sưutập của nhà sưu tầm Quý Trôi, Phạm Tuấn Hà (Hà Nội) cũng thuộc diệnphong phú và đa dạng, rất đáng nghiên cứu

Một số nhà nghiên cứu có bộ sưu tầm lớn về sứ đặt kiểu của vua, chúaViệt Nam có thể kể đến tập hợp đồ sứ của các ông: Trần Đình Sơn, NguyễnVăn Quỳnh, Nguyễn Thanh Tuyền (TPHCM), Đoàn Phước Thuận (Phú Yên)thông qua bộ sưu tập của các ông cũng như một số tài liệu thu thập khác, cácnhà sưu tầm đã xuất bản những tác phẩm chuyên khảo về đồ sứ đặt kiểu củaViệt Nam có giá trị nghiên cứu cao

Có thể nói các hiện vật gốm sứ có văn tự quý hiếm, thậm chí mang tầmbảo vật quốc gia đã được các bảo tàng tư nhân và cá nhân các nhà sưu tầm lưu

Trang 30

giữ Vì tâm lý của người chơi đồ cổ, cũng như các bảo tàng tư nhân thườngthích đem những món đồ độc ra để so sánh độ quý, hiếm cũng như chất chơicủa mình thông qua các cổ vật đó Do đó, tiếp cận với những nguồn tư liệuhiện vật ở các bảo tàng và bộ sưu tập tư nhân cũng đáng để các nhà nghiêncứu lưu tâm

1.2.4 Tư liệu thông qua mạng Internet

Trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, những người cóchung sở thích thường thành lập phường, hội trên mạng internet, các cá nhân

có chuyên môn về một số lĩnh vực viết blog; thông qua intrenet họ khôngnhững chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp thông tin, tư liệu mà còn tìm đượcngười đồng cảm, có chung niềm đam mê Hiện nay, trên mạng internet xuấthiện một số trang tin mà vào đó chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm được tàiliệu và hiện vật gốm sứ có văn tự Hán Nôm trong khoảng thời gian mà chúng

ta cần nghiên cứu Chúng tôi xin cung cấp một số trang có liên quan đếnnguồn tư liệu Hán Nôm trên gốm sứ để chúng ta cùng nhau tham khảo

Trang 31

Có thể thấy, việc nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên gốm sứ từ đầu TKXX- năm 1945 mới dừng lại ở việc khảo sát, giới thiệu lẻ tẻ từng hiện vật cóvăn tự, chưa thấy công trình đề cập một cách đầy đủ, hoặc khái quát đặc điểmvăn tự Hán Nôm

Thời gian sau, việc nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên gốm sứ Việt Nam

có bước phát triển hơn trước, nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu liênquan đến văn tự Hán Nôm trên gốm sứ Việt Nam chỉ được chú ý thông quacác cuộc khai quật khảo cổ Gần đây, văn tự Hán Nôm trên gốm sứ mới đượcquan tâm nhiều và trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên biệt trong một sốcông trình

Chính vì thế, chúng tôi sẽ tiếp tục công việc trong nghiên cứu văn tựHán Nôm trên gốm sứ thông qua tìm hiểu về đặc trưng hình thức của văn tựHán Nôm, nội dung văn tự Hán Nôm cùng những vấn đề về tác giả, tác phẩmthông qua gốm sứ và thể thơ thần trí trên gốm sứ từ TK XV đến TK XIX

Trang 32

mà các yếu tố được thể hiện trên gốm sứ Việt Nam đã mang đậm chất văn hóaViệt Tuy ảnh hưởng bởi nền văn hóa Hán, nhưng khi du nhập vào Việt Nam,cha ông chúng ta đã tiếp biến văn tự Hán để tạo ra chữ Nôm, một lối văn tựđặc trưng riêng của người Việt và sử dụng văn tự này để thể hiện trên các sảnphẩm gốm sứ.

2.1 Về một số thuật ngữ dùng trên gốm sứ

Trước hết, để có những nhận định về văn tự Hán Nôm, chúng ta có thểhiểu văn tự Hán Nôm là những ghi chép chữ Hán và chữ Nôm trên các sảnphẩm gốm sứ Văn tự trên gốm sứ được người Trung Quốc hiểu rộng ra gồmcác ký hiệu, ký tự được vẽ hay viết trên các sản gốm sứ Chúng được gọi với

款, “Lạc khoản” 落款 và “Khoản chí” 款识 Các văn tự này luôn thu hút sựquan tâm của các nhà nghiên cứu về gốm sứ cổ cũng như các nhà sưu tập cổvật, nó giúp cho hình dung về niên đại của sản phẩm, người làm hay xưởngchế tác sản phẩm, người sở hữu hay nơi sử dụng sản phẩm và cả mục đích sửdụng ngoài công năng vật dụng chính của sản phẩm

Ở Việt Nam, thuật ngữ về chữ Hán Nôm viết trên gốm sứ có nhiềuquan điểm và cách định danh Nhà nghiên cứu cổ vật Vương Hồng Sển gọi là

Trang 33

Trần Đức Anh Sơn gọi là “Văn tự” (文字) [Script], gồm cả hiệu đề (號題)[marks] và thơ văn (詩文) [prose and verse]; Trần Hùng gọi là “Thư pháp, thư

ngữ, chúng tôi có phần thống nhất với tác giả Trần Đức Anh Sơn Bởi lẽ “Thiđề” (tức là đề thơ) theo ý kiến của học giả Vương Hồng Sển thì chỉ khái quátphần đề thơ trên gốm và sứ; “Minh văn” (văn tự khắc trên đồ vật) theo quanđiểm của Hà Văn Tấn và Nguyễn Đình Chiến, nếu gộp chung tất cả các chữHán Nôm viết bằng chàm hay đắp nổi trên sản phẩm gốm sứ thì chưa thỏađáng Quan điểm của Phạm Hy Tùng gọi là “Hiệu đề”, tuy nhiên rất nhiều văn

tự Hán Nôm xuất hiện trên gốm sứ không hẳn chỉ mang tính hiệu đề mà cònmang ý nghĩa phổ quát hơn nhiều Vì vậy, việc gọi tên hiệu đề cho tất cả cácvăn tự Hán Nôm thiết nghĩ còn bị bó hẹp Tuy nhiên, theo quan niệm về hiệu

đề, tác giả Davison G trong The Handbook of Marks on Chinese Ceramics

(1994), phân nhóm các hiệu đề (marks) trên đồ gốm sứ Trung Hoa thành: hiệu

đề đế hiệu (imperial reign marks); hiệu đề địa điểm (place marks); hiệu đềhiến tặng hay chúc tụng (marks of dedication or good wishes); hiệu đề củanghệ nhân gốm (potters’ marks); hiệu đề ban thưởng (marks ofcommendation); các biểu tượng dùng như hiệu đề (symbols used as marks);hiệu đề tưởng niệm (commemorative marks); hiệu đề niên đại (date marks).Sau này, một số tác giả Việt Nam cũng theo cách phân chia này áp dụng chocác hiệu đề gốm sứ Việt Nam Với tác giả Trần Hùng gọi là thư pháp, thư họalại có chiều nhấn mạnh vào nghệ thuật thể hiện văn tự Hán Nôm và họa phápchứ không phải định danh cho các văn tự đó trên gốm sứ Tuy nhiên, chúngtôi thấy không phải các tác giả không có lý trong việc định danh đó Vì thế,chúng tôi coi trọng và đánh giá cao những đóng góp của các nhà nghiên cứutrong việc hệ thống lại thuật ngữ cho văn tự trên gốm sứ Việt Nam Nhưng để

Trang 34

lựa chọn một định danh của người đi trước, chúng tôi vẫn tán thành việc địnhdanh cho thuật ngữ “Văn tự Hán Nôm” với nhiều phần sát hợp hơn.

2.2 Đặc điểm về phương thức viết

Việc thể hiện văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đếnXIX xét trên bình diện cách viết (thể 體, writing froms), chúng ta có thể thấyhai cách viết chính được sử dụng là: cách viết giản thể (簡 體) hay còn gọi làviết tắt và cách viết phồn thể (繁 體)

Cũng xét theo cách viết, chúng ta còn thấy số chữ viết đơn thể (單體)hay còn gọi là tiểu tả (小寫), cách viết phức thể (複體) hay còn gọi là đại tả(大寫) viết kép và cách viết đoản thể (短體) hay còn gọi là đoản tả (短寫).Một vài dạng chữ viết theo lối giản thể trên đồ gốm sứ điển hình và dễ gặp cóthể thấy như:

(1589)

Linh 靈 Linh Tiên quán (địa danh) - Diên

Thành III (1580)

Trang 35

Lễ 禮 Nguyễn Thị Lễ (tên người) - Hưng

Trị II (1589)

(1592)

Trang 36

chữ “Đức” trong việc chỉ niên hiệu Tự Đức và Tuyên Đức không có chữ nhấttrên chữ tâm, đây không phải là viết tắt mà là cách viết riêng có chủ ý của người tạo tác hoặc đặt làm Phàm các chữ Đức thiếu chữ nhất được viết trên hiện vật làm đúng thời hơn các hiện vật viết đủ nét Thí dụ, niên hiệu Tự Đức thiếu nét thường được làm vào đúng triều Tự Đức, các đồ viết chữ Đức đủ nét nhiều khi được các triều đại sau phỏng lại, hoặc đặt làm để tưởng nhớ tiên triều Riêng niên hiệu Tuyên Đức thiếu nét trên sứ Việt Nam không phải làm vào triều Tuyên Đức mà chúng thường được chế tác vào nửa đầu TK XVIII

Cũng xét theo cách viết, thì chúng ta còn thấy lối viết phức thể hay còn gọi làviết kép Các dạng này chủ yếu là các chữ chỉ số đếm, thứ tự, điển hình có thể thấy:

(1601)

(1644)

Tam bảo: Ba vật báu là Phật, Pháp vàTăng

3 Niên hiệu Đoan Thái được Mạc Mậu Hợp lấy từ năm 1586 đến 1587 Sau đổi là Hưng Trị (1588-1590) nhưng trên đồ gốm, nhiều nghệ nhân vẫn sử dụng niên hiệu Đoan Thái sau 1587; đây là điểm rất đáng lưu ý khi xem xét niên đại trên các cổ vật ghi như vậy.

Trang 37

Bát 八 Số 8 - Đoan Thái III (1589), Hưng Trị III

(1590)

Đặc điểm về lối viết phức thể rõ nhất trên những văn tự chỉ số đếm điliền với niên hiệu Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy,dạng thức này xuất hiện phổ biến trên đồ gốm, rất hiếm thấy ở đồ sứ Hiệnnay, trong nguồn tư liệu thu thập được, chúng tôi chưa thấy số 5 và số 7 đượcthể hiện bằng dạng thức phức thể, chúng chỉ được thể hiện theo lối viết thôngthường Một điểm nữa thường thấy là trên các đồ gốm do Đặng Huyền Thônglàm và kí danh cũng không có dạng thức số đếm viết phức thể, đây là điểm dễnhận biết nhất về đồ gốm do nghệ nhân họ Đặng này làm Vì thế, khi xem xétmột hiện vật không có kí danh Đặng Huyền Thông mà xuất hiện lối viết phứcthể có thể đưa ra khả năng loại trừ và kết luận về tác giả tạo tác đồ gốm nàykhông phải Đặng Huyền Thông mà sản phẩm thuộc về một nghệ nhân nào đó.Cách viết phức thể này cũng rất hiếm thấy trên đồ gốm Chu Đậu, Thổ Hà,Phù Lãng nhưng lại rất phổ biến trên các sản phẩm Bát Tràng TK XVI, XVII

Tuy nhiên, khi xét đặc điểm văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam

từ TK XV đến TK XIX, về đặc trưng tạo hình khối chữ; chúng tôi thấy, cácnghệ nhân làng gốm sử dụng các phương thức chủ yếu như:

Loại thứ nhất, là hình thức dùng bút lông viết chữ chàm lên xương

gốm sứ trước khi phủ men hoặc sau khi phủ men; cũng có thể dùng dấunhúng chàm dập lên sản phẩm Hình thức này, chúng tôi tạm gọi là “Bình tự”(平字) [Flat Writing], bản thể hiện “chữ phẳng” trên sản phẩm

Loại thứ hai, là hình thức dùng bút nhọn, hoặc một vật đủ cứng để

khắc chữ chìm dưới xương gốm sứ loại này có thể để trần hoặc sau đó mới

Trang 38

phủ men trước khi nung Hình thức này, chúng tôi tạm gọi là “Ao tự” (凹字)[Sink writing], bản thể hiện “chữ chìm” trên sản phẩm.

Loại thứ ba, là hình thức đắp, đúc nổi chữ trên thân sản phẩm gốm,

loại này có thể dùng tay, hoặc khuôn đúc Hình thức này, chúng tôi tạm gọi là

“Đột tự” (凸字) [Embossed writing], bản thể hiện “chữ nổi” trên sản phẩm

Loại thứ tư, là hình thức văn tự được chạm, khắc thủng, dựng và có

phần tách bạch riêng tạo thành một dạng hoa văn trên sản phẩm và làm nổibật văn tự trên sản phẩm đó Hình thức này, chúng tôi tạm gọi là “Trúc tự ”(築字) [building word], bản thể hiện “chữ dựng” trên sản phẩm

Với mỗi hình thức này sẽ cho chúng ta thấy đặc trưng của một vài dòngsản phẩm gốm sứ từ TK XV đến TK XIX

2.2.1 Lối viết bình tự

Loại hình bình tự xuất hiện trên các sản phẩm sứ nhiều hơn sản phẩmgốm, đây là một đặc điểm điển hình của sứ, các dòng sứ cao cấp, như sứ đặtkiểu ở Trung Quốc hay Nhật Bản thì loại hình bình tự đã thể hiện sự vượt trội

Ở đây, chúng ta có thể liên hệ tới sản phẩm sứ thời Lê – Trịnh, Nguyễn Tuynhiên, điều đó không có nghĩa là trên các sản phẩm gốm lối bình tự khôngđược thể hiện Có thể thấy, ngay từ TK XV lối bình tự đã xuất hiện trên cácsản phẩm gốm tráng men và dần trở nên quen thuộc Tuy nhiên, trên các sảnphẩm gốm, văn tự Hán Nôm theo lối bình tự thống nhất ở trong một lối viếtchứ không đa dạng như trên các sản phẩm sứ, nhất là trên các sản phẩm sứ cóvăn thơ đề vịnh ở dưới đáy sản phẩm Thường thì các văn tự theo lối bình tự

đề vịnh thơ, văn dưới đáy sản phẩm có văn tự chỉ thương hiệu, niên hiệu… đikèm thì chúng thường thể hiện bằng những lối viết không thống nhất về mộtthể chữ Đây cũng là một cách để người nghiên cứu cổ vật nói chung và cácnhà sưu tầm cổ vật nói riêng thêm một điểm nữa để nhìn sự chân, giả của mộtmón đồ hay giả cổ

Trang 39

Thông thường lối bình tự sử dụng trên sứ Việt Nam TK XV – XIX cómàu lam, một số ít dùng màu hồng phấn, đỏ Trên các sản phẩm gốm có cácmàu như lam, xám đen, nâu.

Thơ, văn đề vịnh trên các dòng sản phẩm gốm theo lối bình tự tươngđối thống nhất về kiểu chữ, màu chàm so với những văn tự khác trên sảnphẩm Thơ thường đề ở mặt trước hoặc phía trên sản phẩm Trong khi đó thơ,văn đề vịnh trên đồ sứ phong phú, đa dạng hơn chúng xuất hiện ở trung tâmsản phẩm hoặc đi liền ngay văn tự chỉ thương hiệu Bên cạnh sản phẩm sứ caocấp thì một vài dòng gốm sứ bình dân thời kỳ này cũng được viết theo lối

“Đề ngữ danh phẩm” (題語名品), “Cát ngữ” (吉語), khi đó chúng chưa mangnội dung của đầy đủ một thể thơ như trên đồ sứ Đáng chú ý nhất lối bình tựxuất hiện trên các sản phẩm gốm thời này là gốm Chu Đậu (Hải Dương) vàgốm Bát Tràng (Hà Nội) Các văn tự ghi chép về niên hiệu quen thuộc thườngthấy như “Vĩnh Thịnh niên chế” (永盛年製), “Cảnh Hưng niên chế” (景興年製)…; các đề ngữ danh phẩm quen thuộc thường thấy, như: “tiên tửu (仙酒) ,danh trà (名茶) …; các cát ngữ thường dùng là “phúc (福), lộc (祿), thọ (壽),khang (康), ninh (寧), cát tường (吉 祥)…

Có thể nói, lối bình tự xuất hiện trên cả gốm và sứ nhưng được thể hiệnphổ biến hơn trên đồ sứ và là điểm đặc trưng và có tính vượt trội của đồ sứ.Tuy nhiên, lối bình tự cũng là một mã khóa để mở ra cách đánh giá độ thật,

Trang 40

giả của đồ gốm mặc dù chúng xuất hiện không thật nhiều, đó chính là sựthuần nhất về một kiểu chữ so với những tạp tự trên đồ sứ.

và rất hiếm khi ra đời cùng lúc với sản phẩm đó Mục đích của những văn tự khắc thêmthường dùng để đánh dấu, ghi nhớ về ngày mua, số lượng sản phẩm hoặc tên chủ nhân

Đánh dấu nơi thờ tự Đánh dấu sở hữu

Trên các sản phẩm sứ, lối ao tự xuất hiện không có tính hệ thống nhưtrên sản phẩm gốm Văn tự trên gốm thời kỳ này đã được dùng phổ biến,mang ý định danh, có tính truyền tải lớn và xuất hiện hầu như trên các dònggốm đương thời Ở phía Bắc nổi tiếng có gốm Chu Đậu, Hợp Lễ, Cậy (HảiDương), Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Giang), Phù Lãng (Bắc Ninh),v.v… Ở miền Trung có gốm Gò Sành, gốm Phước Tích (Thừa Thiên - Huế),gốm Quảng Đức (Quảng Ngãi), gốm Châu Ổ (Phú Yên) Các hiện vật tiêubiểu trên các dòng gốm miền Trung và Nam thường là các loại ống cắm, bìnhđựng nước, các loại bình vôi, bình rượu…

Đến cuối TK XVI đầu XVII, dòng gốm men nâu, men lam, men trắngphát triển mạnh và có nhiều văn tự được khắc chìm trên sản phẩm Tuy nhiên,những sản phẩm xuất hiện lối ao tự thường là đồ thờ cúng và trang trí như chân đèn,

Ngày đăng: 02/04/2014, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w