1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI "I MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA DƯỢC Ở VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010 Chủ biên TS. PHAN QUỐC KINH " ppt

47 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số ý kiến về phát triển công nghiệp hóa dược ở Việt Nam từ nay đến năm 2010
Trường học Đại học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Dược
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2003-2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 290,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

"Công nghiệp Hóa dược" sản xuất ra tất cả các loại nguyên liệu hóa học để làm thuốc như: các hóa dược các chất có tác dụng phòng và điều trị bệnh, các tá dược.. Tất cả các loại nguyên li

Trang 3

MỞ ĐẦU

Công nghiệp dược là ngành công nghiệp sản xuất thuốc hay còn gọi là công nghiệp sản xuất dược phẩm Ngành công nghiệp Dược có hai lĩnh vực sản xuất công nghiệp chính là: "Công nghiệp Hóa dược" và "Công nghiệp bào chế" "Công nghiệp Hóa dược" sản xuất ra tất cả các loại nguyên liệu hóa học để làm thuốc như: các hóa dược (các chất có tác dụng phòng và điều trị bệnh), các tá dược

Tất cả các loại nguyên liệu hóa dược đều phải là những hóa chất tinh khiết, phải là những hợp chất có cấu trúc hóa học xác định đạt tiêu chuẩn quy định của Dược điển Quốc gia hay Quốc tế mới có thể được

sử dụng để bào chế sản xuất thuốc thành phẩm Các chất hóa dược này thường được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu khác nhau: từ các khoáng chất vô cơ, từ cây cỏ, từ các phủ tạng, cơ thể động vật, từ các chất hữu cơ (than đá, dầu mỏ, khí); từ các hóa chất khác, bằng con đường chiết xuất, phân lập, bằng tổng hợp hóa học (tổng hợp toàn phần, bán tổng hợp), bằng con đường công nghệ sinh học bao gồm: sinh học công nghệ lên men và công nghệ gen

Công nghiệp bào chế là công nghệ sản xuất các loại thuốc thành phẩm dưới dạng thuốc viên, thuốc tiêm, thuốc xịt, thuốc mỡ v.v từ các hóa dược Ngành công nghệ bào chế có lợi nhuận rất cao mà đầu tư lại tương đối đơn giản

Điều đáng chú ý là: ở những nước có nền kinh tế phát triển, có ngành Công nghiệp Dược phát triển cân đối, có chính sách an ninh quốc gia

Trang 4

về thuốc thì hai lĩnh vực nêu trên của Công nghiệp Dược luôn luôn gắn

bó với nhau thành một khối thống nhất không tách rời nhau vì Công nghiệp Hóa dược là xương sống đảm bảo cho sự ổn định phát triển và

uy tín của một công ty, an ninh thuốc cho một quốc gia, còn Công nghiệp Bào chế thì góp phần vào nhiệm vụ cung cấp thuốc, kinh doanh lưu thông, đóng góp tài chính

Hóa Dược có tốc độ phát triển rất nhanh từ sau phát minh ra mocphin

và sau khi tổng hợp được aspirin Người ta ước tính hiện nay có khoảng 10.000 loại hóa chất được dùng trong y học hiện đại Ngành công nghiệp Hóa dược có bước phát triển rất mạnh từ sau chiến tranh Thế giới thứ hai mà chủ yếu là sản xuất các chất kháng sinh và các chất corticosturid và các steroid chống thụ thai Nhiều kháng sinh đạt mức tiêu thụ hàng chục ngàn tấn/ năm Ngành công nghiệp dược phẩm là một trong những ngành công nghiệp chủ đạo của Thế giới

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA

DƯỢC Ở VIỆT NAM TỪ NAY TỚI NĂM 2010

1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ DƯỢC PHẨM TRÊN THẾ GIỚI

Ngành công nghiệp dược là một ngành kinh tế mũi nhọn của thế giới Ngành này được xếp hạng thứ tư chỉ đứng sau các ngành:

Trang 5

JBJ Novartis

263,996 195,743 160,406 135,008 123,429

53,46242,70338,84835,46727,785

Trang 6

123,311 91,450 87,013 82,736 76,340 73,497 72,896 66,117 65,292 57,147

Millennium Novo Nordisk Medimmune Sankyo

24,06422,03115,03114,94114,46713,99412,32710,95710,44310,416

Trong 500 tập đoàn kinh tế lớn nhất của Mỹ thì có 28 tập đoàn Dược

phẩm (xem bảng 2)

Bảng 2 Các tập đoàn Dược phẩm Mỹ trong 500 tập đoàn

kinh tế hàng đầu của Mỹ

Xếp thứ tự Tập đoàn Vốn Xếp thứ tự Tập đoàn Vốn

Trang 7

Abbott Labs Amgen Genentech Baxter Intl Immunex

263,996 195,743 135,008 123,311 91,450 76,340 73,497 71,896 66,117 65,292 38,848 24,064 22,031 12,327

Biogen Chiron HGS

King Pharma Idec Pharma

Genzyme Gen Sepracor vax LabCorp

11,269 10,443 10,046 8,698 8,336 8,307 8,057 7,755 7,502 7,212 5,686 5,463 4,833 4,187

Trang 8

Synthélabo

S-160,406 123,429 87,013 82,736 57,147 42,703 35,467

9,836 7,319 5,436 5,353 5,263 5,116 4,985

Trang 9

Novo Nordisk

Schering

AG

27,785 14,467 13,994 10,957 10,244

4,255 3,960 2,514 2,506 2,214

Trong 500 tập đoàn kinh tế hàng đầu của Nhật Bản có 24 tập đoàn Dược phẩm (xem bảng 4)

53,462 15,031

2,790 2,193

Trang 10

14,941 10,416 10,391 9,992 8,930 8,280 7,276 5,952 4,744 4,253

Kuraya Sanseido

Nippon Kayaku SSP Mochida

2,115 2,109 2,048 1,054 1,665 1,157 1,093 1,088

Trang 11

Thứ tự Nước Thị phần (tỷ

USD)

Phần trăm thị phần quốc tế

Ý Anh Tây Ban Nha Braxin

Trung Quốc Canađa

130,1 53,5 18,5 17,8 11,3 11,0 6,6 6,3 6,2 5,5

Trang 12

Do xu hướng tập trung hóa các tập đoàn dược phẩm siêu quốc gia để chiếm thị trường nên càng ngày càng có nhiều tập đoàn lớn hợp nhất cùng nhau để trở thành các tập đoàn khổng lồ như Pfizer, Merek (Mỹ) GSK (Anh)

Các nhóm thuốc được tiêu thụ mạnh nhất trên thế giới hiện tại gồm có (bảng 6)

Chống trầm uất Kháng canxi

Chống viêm không có cấu trúc steroid

15,8 13,4 11,7 9,9 7,7 7,4

Trang 13

Các thuốc giảm đau không gây nghiện

Chống động kinh Chống đái tháo

7,3 6,2 5,1 4,8

Trong đó có 10 loại thuốc được sản xuất độc quyền có doanh số lớn nhất trong năm 1999 (bảng 7)

Trang 14

Để phát triển sản xuất các loại thuốc mới, các tập đoàn dược phẩm thường để lại 5% tổng số lợi nhuận đầu tư vào nghiên cứu phát triển Chi phí cho nghiên cứu phát minh để sản xuất một loại thuốc mới

thường có con số một vài trăm triệu USD Mỹ Các thuốc tân dược trên thế giới được sản xuất bằng các con đường khác nhau như sau:

Tổng hợp toàn phần như: Aspirin, Paracetanol

Bán tổng hợp như các thuốc chống thụ thai, các Corticosteroit

Bằng công nghệ sinh học như: Penicillin G,Insulin, Hoocmon tăng trưởng

Chiết suất từ cây cỏ, động vật như: Quinin, Morphin, Vitamin A,

Vitamin D3

Các chất vô cơ

Tổng hợp gen

Trang 15

Nhưng hiện nay nhiều loại thuốc quan trọng lại đang được sản xuất bằng cả công nghệ sinh học, chiết suất thiên nhiên kết hợp với bán tổng hợp hóa học thông thường, đây là các nhóm thuốc có vai trò quan trọng hàng đầu như các kháng sinh Betalactam (nhất là các Cephaloporin) và các thuốc chống thụ thai, các thuốc Corticosteroid

Hiện nay có hàng nghìn hóa dược được sử dụng trong y học và việc sản xuất chúng rất đa dạng và phức tạp nên chưa có một quốc gia nào lại tự sản xuất được đủ hết các loại thuốc, nên tạo nên việc sản xuất độc quyền từng nhóm thuốc của từng nước để sau đó buôn bán trao đổi cho nhau

2 THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HÓA DƯỢC HIỆN NAY Ở VIỆT

NAM

Năm 2002, cả nước tiêu thụ hơn 500 triệu USD tiền thuốc, tính bình quân đầu người là 6,7 USD/năm (trong khi đó cũng thời điểm này ở Thái Lan bình quân hơn 17 USD và ở Philippin cũng tương tự, còn ở Nhật và ở Mỹ là hơn 400 USD/người/năm)

Cũng trong năm này, các Xí nghiệp Công ty trong nước (bao gồm các

Xí nghiệp nhà nước, các xí nghiệp cổ phẩn, các xí nghiệp tư nhân và các xí nghiệp nước ngoài ở Việt Nam) sản xuất và kinh doanh được hơn 3.000 tỷ đồng, chiếm gần 40% tổng số thuốc tiêu dùng trong nước với hơn 6000 mặt hàng chứa 384 hoạt chất hóa dưọc kháng sinh và các sản phẩm từ cây cỏ, động vật

Trang 16

Hầu hết 384 hoạt chất này đang phải nhập khẩu, chiếm tới 70-80% giá thành các loại thuốc

Mặc dù lượng tiêu thụ thuốc tính theo đầu người ở Việt Nam tăng dần nhưng vẫn còn ở mức khá thấp Lượng thuốc tiêu thụ của người Việt Nam tính theo đầu người được trình bày ở hình 1 dưới đây

Dự báo: - 2005: Tiền thuốc bình quân đầu người/ năm là: 8 - 10 USD

- 2010: Tiền thuốc bình quân đầu người/ năm là: 12 - 15 USD

Có thể thấy cho đến năm 2010 lượng thuốc tiêu thụ ở Việt Nam cũng chưa bằng mức trung bình của thế giới vào giai đoạn hiện nay

Tiền thuốc sử dụng năm 2002 của cả nước là hơn 500 triệu USD, trong

đó gần 40% các loại thuốc được sản xuất bào chế trong nước mà phần lớn là bằng các nguyên liệu nhập khẩu (tính ra giá trị thuốc thì nguyên liệu nhập khẩu chiếm 70 - 80% giá trị) phần còn lại 60% phải nhập khẩu hoàn toàn từ các thị trường nước ngoài Hầu hết số thuốc nhập khẩu được sử dụng ở các đô thị và các vùng nông thôn có mức sống cao, còn đa số người nghèo ở miền núi, vùng xa, vùng sâu thì chưa đủ tiền để mua các loại thuốc đắt tiền

Các loại thuốc được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam gồm có các thuốc kháng sinh, thuốc trị cảm cúm, các Vitamin, các thuốc phòng và điều trị các bệnh dịch và các bệnh xã hội

2.1 Nhu cầu về thuốc kháng sinh:

Trang 17

Nước ta là một nước có khí hậu khắc nghiệt, mức sống còn thấp nên có nhiều bệnh nhiễm trùng phải sử dụng các loại kháng sinh Hơn nữa dân

ta lại tự động sử dụng kháng sinh không cần có đơn thuốc của thầy thuốc nên hiện đã xảy ra tình trạng lạm dụng kháng sinh rất phổ biến

Theo thống kê, lượng thuốc kháng sinh sử dụng ở nước ta hiện chiếm hơn 35% tổng lượng thuốc và như vậy trong năm 2002, nước ta sử dụng lượng kháng sinh trị giá khoảng 175 triệu USD

Trong các loại kháng sinh, thì các kháng sinh nhóm Betalactam được

sử dụng nhiều nhất Nhóm kháng sinh này gồm các loại penixilin bán tổng hợp như Ampixilin, Amoxixilin và các Cephalosponin bán tổng hợp như Cefalexin, Cefadroxil, Cefotaxim, Cefuroxim các nhóm thuốc này chiếm hơn 60% các loại thuốc kháng sinh

Tất cả kháng sinh này hiện đang phải nhập khẩu, chỉ trong vài năm gần đây, Công ty Cổ phần Hóa dược Mecophar Thành phố Hồ Chí Minh mới nhập được 6-APA (chất trung gian) để sản xuất Ampixilin, Amoxixilin với năng suất 170 tấn/ năm

Tuy nhiều công ty xí nghiệp dược Việt Nam đã có các dây chuyền bào chế thuốc uống, thuốc tiêm, các kháng sinh Betalactam đạt tiêu chuẩn GMP Asian nhưng hiện tại giá thuốc của Việt Nam mới chỉ bằng 1/5 - 1/10 giá các loại thuốc cùng loại nhập khẩu từ âu, Mỹ, Nhật

Trang 18

Có thể nói, các kháng sinh là nhóm thuốc quan trọng nhất và được dùng nhiều nhất ở Việt Nam Trong tương lai (vài chục năm nữa) các thuốc này sẽ vẫn giữ vị trí đầu bảng ở nước ta

2.2 Nhu cầu về các Vitamin:

Là loại thuốc được dùng rộng rãi trong y tế và cả trong chăn nuôi thú y Các Vitamin C, E lại còn được dùng nhiều trong thực phẩm, mỹ phẩm

Vì vậy nhu cầu sử dụng về Vitamin ở nước ta rất lớn

Các Vitamin B1, Vitamin C là những loại được sử dụng rộng rãi nhất

và nhiều nhất, Vitamin A đang được dùng cho tất cả trẻ em nhỏ tuổi (2 lần năm)

Vitamin D dùng phòng và điều trị còi xương

Vitamin K dùng để cầm máu nhất là cầm máu sau khi sinh nở, sau phẫu thuật, sau các chấn thương

Tất cả các loại này đều phải nhập khẩu, nước ta chưa sản xuất được bất

kỳ loại Vitamin nào

2.3 Nhu cầu về các Sunfamit:

Bao gồm các Sulfamit kháng khuẩn mà vị trí hàng đầu là Sunfamethoxazol và Trimethoprim và một số Sunfamit chống đái tháo được dùng nhiều ở nước ta Tất cả các loại thuốc này cũng đang phải nhập khẩu

Trang 19

2.4 Nhu cầu về các thuốc hạ nhiệt, giảm đau:

Là loại thuốc thông thường được dùng rộng rãi và phổ biến nhất để giảm sốt, giảm đau, để điều trị hắt hơi, sổ mũi, cảm lạnh, cảm nóng do thời tiết khắc nghiệt và phức tạp ở nước ta Paracetamol hiện có mặt trong hơn 300 loại thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam Hàng năm nước ta tiêu thụ tới hàng trăm tấn Paracetamol dưới dạng hàng nhập khẩu

Aspirin là loại thuốc cảm thứ hai được dùng phổ biến ở nước ta Tuy công thức của nó đơn giản nhưng chúng ta cũng đang phải nhập khẩu toàn bộ nguyên liệu

2.5 Nhu cầu về các hocmon steroit:

Đây là các loại thuốc cao cấp vì chỉ cần sử dụng dưới dạng vi lượng và

số lượng nguyên liệu chỉ tính hàng kg Ví dụ 1kg Ethirylestradiol có thể sản xuất 1 triệu 200 ngàn viên thuốc (0,75mg) và 33 triệu viên loại 0,03mg để chống thụ thai, hay các Corticosteroit thế hệ mới như Betnesol cũng chỉ cần 0,1 - 0,2mg là cắt được các cơn hen nguy kịch và 1kg Dexamethason cũng sản xuất được 10 triệu viên thuốc chống viêm,

dị ứng

Nói chung các loại thuốc này có tác dụng đề phòng và điều trị các bệnh

về sinh sản, các bệnh viêm, dị ứng, mẫn cảm đặc biệt là các thuốc tránh thụ thai dưới dạng viên uống, dạng tiêm hiện đang được hàng triệu phụ

Trang 20

nữ nước ta sử dụng Các loại thuốc này sẽ ngày càng được sử dụng nhiều hơn, rộng rãi hơn

2.6 Nhu cầu về các hợp chất thiên nhiên dùng làm thuốc:

Là một thế mạnh của công nghệ hóa dược Việt Nam vì nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta rất phong phú và đa dạng Từ mấy chục năm nay, ngành Dược Việt Nam đã khai thác được một số tài nguyên này

Ví dụ:

Sản xuất để tiêu dùng và xuất khẩu quy mô lớn Menthol (từ bạc hà) Becberin (từ Hoàng liên, Vàng đắng) Artemisinin và các dẫn chất (từ thanh hao hoa vàng) Rutin (từ hoa hòe) Tetrahydrofalmatin (từ củ Bình vôi)

Trong tương lai, ngành Hóa dược cần mở rộng phát triển sản xuất các hợp chất thiên nhiên quý giá ở nước ta như:

Trang 21

2.7 Nhu cầu về các thuốc cai nghiện:

Nghiện ma túy là vấn đề xã hội nhức nhối hàng chục năm nay ở nước

ta Hiện có hàng trăm ngàn người nghiện Một thời rộ lên các thuốc hỗ trợ cai nghiện từ cây cỏ nhưng đến nay Bộ Y tế đã ban hành chỉ cho phép sử dụng 2 loại thuốc có tác dụng cắt cơn nghiền (không phải là thuốc cai nghiện) Từ nhiều năm nay, một số cơ sở y tế Trung ương ở

Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã bước đầu nhập khẩu và cho sử dụng các loại thuốc:

Methadon - liệu pháp thay thế

Naltrexon - liệu pháp đối kháng để cai nghiện

nhằm điều trị cho các con nghiện Morphin, Heroin và các chất cùng loại Kết quả thu được là khả quan tương tự như các kết quả mà hầu hết các nước trên thế giới đã sử dụng thành công từ nhiều năm nay

Vì vậy việc nghiên cứu sản xuất Methadon và Naltrexon ở nước ta là một nhu cầu cấp bách cần thiết

Hầu hết các loại thuốc khác (ngoài những loại đã nêu trên) Việt Nam cũng đang phải nhập khẩu hoàn toàn nguyên liệu ban đầu và chỉ gia công bào chế đóng gói khâu cuối, cho nên rất phụ thuộc vào các tập đoàn dược phẩm bên ngoài Thực tế giá thuốc trong thời gian qua xáo trộn là do Hãng Zurich đã tăng giá hơn 300 mặt hàng trong tổng số hơn

500 mặt hàng thuốc do họ đặc quyền kinh doanh Đây là một bài học thấm thía mà chúng ta rút ra được và trên cơ sở đó phải tìm cách tháo

Trang 22

gỡ dần mà biện pháp hàng đầu là phải sản xuất tự túc một phần nguyên liệu dược phẩm trong nước

Dưới đây là một số sản phẩm hóa dược đã được nghiên cứu và tổng hợp trong nước, việc chia thành các nhóm sản phẩm mang ý nghĩa tương đối:

Thanh hao

Cà úc Dừa cạn Dừa cạn Dừa cạn Dừa cạn Dừa cạn

Cỏ ngọt

Đu đủ

Trang 23

Củ Dioscorea sp Vàng đắng

Cám Hoa hòe Hoàng đằng Thuốc phiện Thuốc phiện Thuốc phiện Gấc

Trang 24

Vi sinh vật

Vi sinh vật

Vi tảo

Các sản phẩm tổng hợp hữu cơ (nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

(A) và sản xuất ở quy mô nhỏ (B))

Trang 27

9 Vôi sô đa

10 Axit clohyđric (tinh khiết)

11 Axit campho sunphonic

12 Natri sunfat khan

13 Tinh bột

14 Kaolin

15 Canxi clorua tiêm

16 Magiê sunfat tiêm, uống

17 Magiê cacbonat

18 Magiê stearat

Trang 28

19 Magiê trisilicat

20 Natri clorua tiêm, tinh khiết

21 Kali clorua tiêm, uống

3.1 Các thuốc kháng sinh nhóm Betalactam

Tổng Công ty Dược Việt Nam đã trình Chính phủ đề án xây dựng nhà máy kháng sinh Betalactam, mỗi năm sản xuất: 1000 tấn penicilin G

300 tấn 6.APA

200 tấn 7.ADCA

300 tấn Cephalosporin bán tổng hợp thế hệ 1 và thế hệ 3

Trang 29

Về nguyên tắc, Chính phủ đã đồng ý cần sớm súc tiến xây dựng nhà máy sản xuất kháng sinh ở Việt Nam

Theo ý kiến của chúng tôi thì Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam nên tập trung vào sản xuất các thuốc hóa dược có nhu cầu lớn như:

Ngày đăng: 02/04/2014, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Các tập đoàn Dược phẩm Mỹ trong 500 tập đoàn  kinh tế hàng đầu của Mỹ - ĐỀ TÀI "I MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA DƯỢC Ở VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010 Chủ biên TS. PHAN QUỐC KINH " ppt
Bảng 2. Các tập đoàn Dược phẩm Mỹ trong 500 tập đoàn kinh tế hàng đầu của Mỹ (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w