Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành y tế của Việt Nam
Trang 1BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
AFTA Asian Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean
ASEAN Assosiasion of South East
Asean Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII Foreign Indirect Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài
IMF International Moneytary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
M&A Mergers and Acquisitions Mua lại và sáp nhập
ODA Official Development
Trung tâm nghiên cứu đất đai và môi trường
R&D Research and Development Ngiên cứu và phát triển
TNCs Transnational Corporations Các tập đoàn đa quốc gia
USAID United States Agency for
International Development
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 2Bảng 2.3 Tình hình thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam phân theo
Bảng 2.4 Vốn đăng ký, vốn thực hiện và địa bàn chủ yếu của các dự
án FDI trong ngành y tế phân theo mục tiêu đầu tư 47
Biểu 2.5 Xếp hạng mức độ quan trọng của các yếu tố tác động đến
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của đề tài
Trong thời đại ngày nay, cùng sự phát triển của thương mại quốc tế, liên kết kinh tế quốc tế, không một quốc gia nào dù lớn hay nhở, từ những cường quốc kinh tế lớn mạnh nhất như Mỹ, Nhật Bản, EU đến các nước chậm phát triển lại không cần nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và coi đó là nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước Nhu cầu về vốn đầu tư của tất cả các quốc gia đều rất lớn, vượt xa khả năng cung cấp của thế giới là nguyên nhân dẫn đến cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia trong việc tìm kiếm vốn Quốc gia nào có môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, sử dụng vốn hiệu quả hơn sẽ giành được
ưu thế trong cuộc cạnh tranh này Thu hút FDI đã trở thành một tất yếu mang tính quy luật chung đối với tất cả các nước Quy luật này ngày càng bức bách hơn đối với những nước đang phát triển như nước ta FDI được coi là chìa khoá của sự phát triển, là giải pháp chiến lược giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và nguồn vốn trong nước eo hẹp Sự kiện chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO càng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc thu hút FDI từ các nước phát triển, đặc biệt là thu hút FDI vào ngành y tế - một lĩnh vực mới nhưng rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cho yếu tố con người là yếu tố hàng đầu cho phát triển kinh tế đất nước một cách toàn diện
Sau khi gia nhập WTO, với cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, ngành y tế của Việt Nam càng có cơ hội lớn để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đánh giá thị trường ngành y tế nước ta rất tiềm năng do nhu cầu khám chữa bệnh của người dân rất lớn, đặc biệt là nhu cầu dịch vụ y tế chất lượng cao mà các cơ sở y tế trong nước hiện tại chưa đáp ứng được Chính
vì thế ngày càng có nhiều đối tác nước ngoài quan tâm đến thị trường này của Việt Nam với nhiều dự định đầu tư vào các lĩnh vực như kinh doanh bệnh viện, phòng khám, sản xuất dược phẩm, thiết bị y tế… Dự báo trong thời gian tới, thị trường ngành y tế Việt Nam sẽ rất sôi động và chắc chắn nhiều cơ hội phát triển
Trang 5Với những lý do nêu trên, em đã chọn đề tài: “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành y tế của Việt Nam” là đề tài nghiên cứu khoa học.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích:
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào phát triển ngành y tế của Việt Nam trong điều kiện Việt Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ trong những năm tới và bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Nhiệm vụ:
•Hệ thống hoá cơ sở lý luận về thu hút FDI vào phát triển ngành y tế Việt Nam, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
•Phân tích thực trạng thu hút FDI vào phát triển ngành y tế tại Việt Nam
từ khi bắt đầu thu hút FDI đến nay, trên cơ sở đó đánh giá những ưu nhược điểm, tìm ra nguyên nhân các tồn tại và tác động kinh tế - xã hội của nguồn vốn FDI trong lĩnh vực y tế
•Phân tích cơ hội, thách thức đối với việc thu hút FDI vào lĩnh vực y tế trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, từ đó đưa ra các quan điểm, phương hướng và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút FDI vào phát triển ngành y tế của Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi và giác độ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu hút FDI vào phát triển ngành y tế của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu việc phát triển ngành
y tế Việt Nam dưới sự tác động của nguồn vốn FDI từ năm 1989 đến nay
Giác độ nghiên cứu: vĩ mô
Trang 64 Kết cấu đề tài
Đề tài được chia làm 3 chương như sau:
Chương I: Những lý luận chung về thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam
Chương III: Những giải pháp tăng cường thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam
Trang 7
NỘI DUNG Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT FDI VÀO
NGÀNH Y TẾ CỦA VIỆT NAM
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ THU HÚT FDI
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Trước khi đi tìm hiểu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ta cần làm rõ các khái niệm về đầu tư Trong thực tiễn quản lý đầu tư hiện nay có khá nhiều quan niệm về đầu tư, đầu tư quốc tế, song mỗi quan niệm lại đứng trên một giác
độ khác nhau để định nghĩa Theo giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, đầu tư được hiểu như sau:
“Đầu tư là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cộng đồng.”
Việc các nhà đầu tư ở quốc gia này bỏ vốn vào quốc gia khác theo một chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian dài nhằm đáp ứng các nhu cầu của thị trường và mang lại lợi ích lớn hơn cho chủ đầu tư và cho xã hội được gọi là đầu tư quốc tế hay đầu tư nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong hai loại hình đầu tư quốc tế cơ bản (đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp) Hai loại hình này dù khác nhau nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau và trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hoá lẫn nhau
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đưa
ra định nghĩa về FDI như sau: “FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh
nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với
Trang 8mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp.” Lợi ích lâu dài ở đây ngụ
ý sự tồn tại của mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp
có vốn FDI và tác động đáng kể của nhà đầu tư đối với việc quản lý doanh nghiệp đó
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD cũng đưa ra định nghĩa FDI tương tự như IMF Tuy vậy, OECD có quan điểm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài, đó là: cá nhân, tổ chức thuộc cơ quan chính phủ hoặc không thuộc cơ quan chính phủ đầu tư ra nước ngoài
Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển UNCTAD đưa ra khái
niệm FDI trong Báo cáo đầu tư thế giới năm 1996: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp).” Theo đó, UNCTAD còn đưa ra một số định nghĩa có liên
Hoa Kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu tư lớn
nhất trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa: “FDI là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở
hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài.” Sở hữu đa phần ở
đây theo Mỹ quy định là lớn hơn 10% giá trị của doanh nghiệp nước ngoài Không phải tất cả các quốc gia đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi có những trường hợp chủ đầu tư sở hữu hơn 10% giá trị tài sản
Trang 9của doanh nghiệp nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Quan điểm về FDI của Việt Nam được quy định trong Luật đầu tư nước
ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 như sau: “FDI là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền bạc hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này.” Trong đó, nhà đầu tư nước
ngoài được hiểu là các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Từ các định nghĩa FDI trên, ta có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài như
sau: FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi.
1.1.1.2 Thu hút FDI.
Cùng với hoạt động ngoại thương, các hoạt động thu hút FDI trên thế giới đang ngày càng phát triển mạnh mẽ với nhiều phương pháp, hình thức tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia Các phương pháp và hình thức đó chung quy lại cũng là quá trình xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tạo điều kiện không những cho vốn đầu tư nước ngoài mà cả vốn đầu tư trong nước (phần vốn góp của nước sở tại trong liên doanh) cũng được thực hiện một cách thuận lợi và hiệu quả Về bản chất, thu hút FDI chính là hình thức nhập khẩu vốn (đối với nước tiếp nhận đầu tư) và xuất khẩu vốn (đối với nước đầu tư ra nước ngoài), một hình thức cao hơn xuất nhập khẩu hàng hoá
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xét về bản chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm tối đa hoá lợi ích đầu
tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư thông qua di chuyển vốn (tiền, tài sản, công nghệ và trình độ quản lý của nhà đầu tư nước ngoài) từ nước
đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư Đây là đặc điểm cơ bản nhất, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự hình thành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia
Trang 10FDI trước hết cũng là một hoạt động đầu tư nên cũng có đầy đủ các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư nói chung Song nó còn có các đặc trưng mang tính đặc thù so với hoạt động đầu tư trong nước, đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) và thậm chí so với ODA Đó là:
- Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn Đặc điểm này giúp phân biệt FDI với FII, cụ thể là: đối với FII thì nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp, mà chỉ góp vốn theo một tỷ lệ nhất định theo quy định của pháp luật
- Các bên tham gia dự án FDI có quốc tịch khác nhau, văn hoá khác nhau, đồng thời sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau Do đó, trong các doanh nghiệp FDI thường xảy ra những xung đột, mâu thuẫn do những khác biệt nói trên giữa nhà đầu tư, lao động nước ngoài với nhà đầu tư và lao động nước sở tại
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu sự chi phối của đồng thời nhiều hệ thống pháp luật, bao gồm luật pháp của các quốc gia xuất thân của các Bên và luật pháp quốc tế
- FDI được thực hiện thông qua nhiều hình thức đầu tư có tính đặc thù như: hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, BOT,… hoặc tạo ra những khu vự đầu
tư tập trung đặc biệt có yếu tố nước ngoài như: khu chế xuất, đặc khu kinh tế mở…
- Hầu hết hoạt động đầu tư nước ngoài đều gắn liền với 3 yếu tố: hoạt động thương mại, chuyển giao công nghệ, di cư lao động quốc tế, chuyển giao kỹ năng quản lý doanh nghiệp ở nhiều hình thức và mức độ khác nhau
- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó, chính sách
về đầu tư trực tiếp nước ngoài của mỗi quốc gia tiếp nhận thể hiện chính sách
mở và quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế về đầu tư của quốc gia đó
1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là cách thức nhà đầu tư ở một nước
có thể và được phép áp dụng để chuyển đổi quyền sở hữu vốn (bằng tiền hoặc bất
Trang 11kỳ tài sản nào) của mình thành quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế ở một nước khác Với quan niệm này, mọi cách thức huy
động vốn FDI từ bên ngoài của nước chủ nhà hoặc các cách thức nhà đầu tư sử dụng số vốn của mình nhằm đạt được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế ở nước ngoài đều được xem là hình thức đầu tư
Ngoài các hình thức đầu tư chủ yếu đã tồn tại từ lâu như hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, những năm gần đây, với sự phát triển khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá, do nhu cầu đa dạng hoá hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã áp dụng các hình thức FDI mới Các hình thức FDI được phép áp dụng ở Việt Nam được quy định cụ thể trong Luật đầu tư chung năm 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đầu tư Đó là:
1) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
2) Doanh nghiệp liên doanh
3) 100% vốn đầu tư nước ngoài
4) BOT/ BTO/ BT
5) Công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
6) Đầu tư phát triển kinh doanh
7) Mua lại và Sáp nhập (M&A)
8) Công ty mẹ - con
9) Chi nhánh công ty nước ngoài
1.1.4 Các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút FDI.
Việc thu hút FDI là vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đặc biệt là nước ta Để thu hút mạnh mẽ nguồn vốn FDI phục vụ cho phát triển đất nước, ta phải dựa vào cả các nhân tố bên trong và bên ngoài, không chỉ đổi mới, hoàn thiện bên trong, mà còn nắm bắt, tận dụng triệt để các
Trang 12cơ hội cũng như chống đỡ các thách thức từ bên ngoài Các động lực và nhân tố chủ yếu tác động đến việc thu hút FDI được chia làm 2 nhóm: nhóm các nhân tố kéo và nhóm các nhân tố đẩy.
1.1.4.1 Nhóm nhân tố kéo.
Thứ nhất là sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh tế chính trị của vốn FDI vượt khỏi sự kiểm soát của chủ đầu tư nước ngoài Sự ổn định này thể hiện ở các khía cạnh: cục diện chính trị ổn định, an ninh xã hội tốt, chính sách cởi mở, quan hệ kinh tế tốt đẹp, đối xử với nhà đầu tư công bằng, bình đẳng
Thứ hai là sự mềm dẻo, hấp dẫn của hệ thống chính sách khuyến khích đầu
tư nước ngoài Hệ thống chính sách đó bao gồm: chính sách thương mại thông
thoáng theo hướng tự do hóa; chính sách tiền tệ hiệu quả; các mức ưu đãi tài chính - tiền tệ, ưu đãi thuế dành cho vốn đầu tư nước ngoài; hệ thống thuế thi hành hiệu quả, rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng; sự hỗ trợ tín dụng cùng với các dịch vụ tài chính, bảo lãnh của Chính phủ, của các cơ quan, tổ chức quốc tế…
Thứ ba là sự phát triển của cơ sở hạ tầng Đây là điều kiện vật chất hàng
đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai trên thực tế các dự án đầu tư đã cam kết Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại; một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông hiện đại; hệ thống điện nước dồi dào và phân
bổ tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống; một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác
Thứ tư là sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học và công nghệ và hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn Đây là điều kiện
hàng đầu để một nước, địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp dẫn đầu tư nước ngoài Việc thiếu các nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhàquản lý cao cấp, và sự lạc hậu về trình độ khoa học-công nghệ trong nước sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư, làm chậm và thu hẹp dòng vốn nước ngoài chảy vào trong nước và địa phương
Trang 13Thứ năm là sự phát triển của nền hành chính quốc gia và hiệu quả của các
dự án FDI đã triển khai Một bộ máy hành chính hiệu quả phải thống nhất, gọn
nhẹ, sáng suốt và nhạy bén về chính sách, thủ tục hành chính, qui định pháp lý
có tính tối thiểu, đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên môn cao, có kỷ luật, tôn trọng pháp luật Bên cạnh
đó, nếu các dự án FDI đã được triển khai đạt kết quả tỷ suất lợi nhuận cao sẽ khuyến khích và củng cố niềm tin cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư, đồng thời có sức thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài khác yên tâm bỏ vốn
Thứ nhất, quá trình hội nhập của các nền kinh tế quốc gia đã làm cho các
nước dần dỡ bỏ những kiểm soát chặt chẽ đối với hàng hoá, nhân công, luồng vốn lưu chuyển trên thị trường Do đó, nguồn vốn được vận động theo đúng quy luật của nó là chảy vào những nơi có khả năng sinh lời cao trên phạm vi toàn thế giới
Thứ hai, cùng với di chuyển vốn quốc tế, hoạt động chuyển giao công nghệ
cũng ngày càng phát triển mạnh với nhiều hình thức và mức độ Nhờ việc đầu tư các dự án ở những nước kém phát triển hơn mà các nhà đầu tư có khả năng kéo dài tuổi thọ công nghệ, tuổi thọ sản phẩm và nâng cao khả năng sinh lời của đồng vốn cố định
Thứ ba, việc xâm nhập vào thị trường hàng hoá dịch vụ của các quốc gia,
khu vực đã tạo nên nhu cầu đầu tư vào các quốc gia, khu vực đó để giảm chi phí xuất nhập khẩu, gia tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị trường
Tóm lại, quan hệ cung cầu về vốn đầu tư là quan hệ cơ bản chi phối mức
độ cạnh tranh giữa các quốc gia, khu vực về vốn FDI Quốc gia nào có môi
Trang 14trường đầu tư thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn, có khả năng sử dụng vốn hiệu quả hơn, thậm chí chú trọng hơn đến lợi ích của các nhà đầu tư thì quốc gia đó tất yếu sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn quan trọng cho phát triển đất nước.
1.2 NHU CẦU VỐN FDI NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ CỦA VIỆT NAM
1.2.1 Tính xã hội hoá và tính kinh tế của ngành y tế.
1.2.1.2 Tính xã hội hoá của ngành y tế.
Y tế đăc biệt là hoạt động chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh là một ngành dịch vụ; ngoài ra các hoạt động khác như sản xuất thuốc, dụng cụ y tế,… mặc dù có liên quan đến sản xuất hàng hoá nhưng tựu chung lại thì cũng đều nhằm phục vụ cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của con người Bên cạnh các đặc điểm chung của ngành dịch vụ nói chung, ngành y tế còn mang tính xã hội hoá
rất cao Tính xã hội trong lĩnh vực y tế bao gồm có tính công bằng xã hội về việc tiếp nhận lợi ích từ dịch vụ y tế của mọi người dân và việc huy động nguồn lực của toàn xã hội cho phát triển ngành y tế nước nhà.
Trong thực tiễn phát triển kinh tế đất nước ta hiện nay, đòi hỏi ta phải có sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Y tế không những đòi hỏi phải tạo ra được hiệu quả kinh tế cao mà còn phải đảm bảo công bằng xã hội Đây là một đòi hỏi rất khó bởi lẽ y tế là một ngành đặc biệt, nó không chỉ đơn thuần là một ngành kinh tế hay ngành nghề dịch vụ khác Công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế được hiểu dưới hai khía cạnh: một là tạo môi trường xã hội công bằng cho các đối tượng tham gia vào lĩnh vực kinh tế y tế, đảm bảo ai cũng được tham gia như nhau, không có bất cứ sự phân biệt hay trói buộc nào; hai là đảm bảo cho mọi người dân đều có quyền được hưởng các dịch vụ y tế tốt nhất.Bên cạnh đó, để có một nền y tế phát triển thật bền vững, điều kiện đầu tiên
đó là y tế phải thuộc về xã hội Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để huy động được tối đa mọi nguồn lực trong xã hội cùng tham gia vào lĩnh vực y tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở y tế công lập và tư nhân, trong nước
và nước ngoài, khuyến khích và tạo cơ hội, thậm chí đầu tư cho các cơ sở y tế có
Trang 15tiềm năng để có những bước phát triển vượt trội, hỗ trợ các cơ sở y tế chưa có tiềm năng không bị thua thiệt và có cơ hội phát triển, tránh sự phân hóa về trình
độ chuyên môn và chất lượng khám chữa bệnh, đảm bảo mọi người dân đều có
cơ hội được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế với chất lượng cao
1.2.1.3 Tính kinh tế của ngành y tế.
Thực tiễn cho thấy,nếu không có sự quản lý đúng đắn, những chính sách điều chỉnh của nhà nước, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, ngành y tế sẽ nảy sinh rất nhiều hạn chế và tiêu cực, thậm chí sẽ gây ra những khủng hoảng sâu sắc, để lại những hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế, xã hội Ví dụ như lãng phí do không huy động và sử dụng hết các nguồn lực trong xã hội, khủng hoảng thừa và thiếu nhân lực cũng như trang thiết bị máy móc y tế, sự chênh lệch trình độ khám chữa bệnh… Cũng vì những lý do này mà cần có sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động y tế và chăm sóc sức khoẻ Vì là hàng hoá ngoại ứng cho nên rủi ro bệnh sẽ gây chi phí xã hội lớn hơn chi phí cá nhân từng người phải trả Nói cách khác với mỗi người bệnh, ngoài chi phí cá nhân người này trả, xã hội cũng gánh một phần chi phí Đây không còn là vấn đề cá nhân mà
cả xã hội Vì thế, giải pháp cho vấn đề này cần phải nhìn ở nhiều phương diện
Thứ nhất, ngành y tế có tính kinh tế nhờ quy mô, phạm vi và kinh nghiệm,
chi phí cố định lớn, càng vận hành thì chi phí biên sẽ giảm Vì thế cần có đầu tư vốn lớn để khai khác hiệu ứng kinh tế này
Thứ hai, trong vấn đề phòng ngừa, các tổ chức y tế tư nhân thường sẽ
không đầu tư nhiều cho công tác này vì một phần đây là hàng hoá công cộng, mặt khác sẽ làm giảm doanh thu điều trị Cần có sự tham gia của nhà nước vào việc cung cấp các dịch vụ phòng ngừa Các cuộc vận động khám bệnh định kỳ, tiêm chủng ngừa miễn phí, kiểm soát môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm
là những động tác phòng ngừa mà các cơ sở nhà nước có thể thực hiện
Thứ ba, đối với từng cá nhân, bệnh là rủi ro khó xác định Mọi người ngần
ngại phòng ngừa vì tốn kém chi phí, thời gian và nhiều lý do khác Nhưng khi mắc bệnh họ phải chịu chi phí lớn mà đáng ra họ có thể tiết kiệm Cần có những
Trang 16nghiên cứu và công bố rộng rãi về lợi ích và chi phí phòng ngừa và chữa trị Mặt khác phải giáo dục để người dân hiểu được rõ chuyện này Các phong trào rèn luyện sức khoẻ, tập thể dục, thể thao là những việc nên được đầu tư để tạo cơ hội sử dụng miễn phí các dịch vụ này
Thứ tư, bảo hiểm y tế là một hình thức chia sẻ rủi ro cho người bệnh Công
ty bảo hiểm không chỉ đơn thuần là thanh toán viện phí bệnh viện mà còn có những động thái tích cực làm giảm xác suất mắc bệnh của người dân Chính cơ
sở bảo hiểm phải hình thành các tổ chức y tế độc lập để có biện pháp ngăn ngừa các vấn đề ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, hoặc cụ thể hơn là tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người mua bảo hiểm
Tóm lại, thị trường khám chữa bệnh luôn là thị trường tiềm năng và có lợi
nhuận cao Tuy nhiên để có chất lượng dịch vụ tốt đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn
và tầm nhìn xa
1.2.2 Nhu cầu vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển ngành y tế của Việt Nam
1.2.2.1 Sự cần thiết phải thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển ngành
y tế của Việt Nam.
a) Vai trò của ngành y tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Được coi là một ngành xã hội hoá, y tế có vai trò hết sức quan trọng đối với việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Ngày nay thì vai trò
đó của ngành y tế lại càng quan trọng Bởi trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, các cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh tế ngày càng tăng Do đó, để một quốc gia
có thể đứng vững trong cuộc chạy đua kinh tế này thì cần có một môi trường kinh tế - chính trị - xã hội ổn định Y tế chính là một trong các nhân tố đảm bảo điều đó, vì một nền y tế vừa có chất lượng lại vừa có tính xã hội hoá cao sẽ tạo lòng tin và động lực cho người dân để xây dựng nền chính trị xã hội ổn định mà còn nâng cao chất lượng nguồn lao động cho phát triển kinh tế
Trang 17Xu thế toàn cầu hoá cũng đòi hỏi ngày càng cao đối với việc phát triển dịch
vụ y tế Bởi toàn cầu hoá sẽ dẫn đến sự di chuyển vốn, công nghệ, lao động ngày
càng nhiều giữa các quốc gia, đẩy mạnh phân công lao động quốc tế, do đó chỉ khi có một nền y tế phát triển ngang tầm thế giới thì Việt Nam mới có thể tham gia triệt để vào quá trình này
Y tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nhân tố con người trong tương lai Giáo dục mang đến tri thức cho con người, giúp con
người có kiến thức để sản xuất và sáng tạo, song y tế mới là yếu tố đảm bảo cho con người có đủ sức khoẻ và thể chất để làm được những việc đó một cách hiệu quả nhất Nền y học phát triển sẽ là yếu tố hàng đầu để xây dựng một thế hệ tương lai tiên tiến hơn
Tóm lại, y tế không những là mục tiêu mà còn là động lực để phát triển kinh
tế xã hội, vì y tế góp phần đảm bảo sức khoẻ cho con người thông qua công tác
từ phòng bệnh đến chữa bệnh Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ưu tiên đặc biệt cho phát triển ngành này, trong đó có Việt Nam Hàng năm, nhà nước đều
tổ chức các chương trình nhằm động viên, khuyến khích và tôn vinh những y bác sĩ tâm huyết với nghề, góp nhiều công sức vào sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân
b) Nhu cầu vốn để phát triển ngành y tế Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển đông dân, nhu cầu khám chữa bệnh
là hết sức lớn Tuy nhiên, trên thực tế ngành y tế của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, chưa đảm bảo được mọi người dân đều có thể tiếp cận được tới các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, ngay cả dịch vụ khám chữa, phòng chống các loại bệnh chứ chưa nói đến các dịch vụ nâng cao sức khoẻ Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến vấn đề này là do thiếu vốn, công nghệ hiện đại và đội ngũ y bác sĩ giỏi, giàu kinh nghiệm Rõ ràng là một khi có đủ vốn thì ta có thể giải quyết được cả vấn đề thiếu công nghệ và đào tạo y bác sĩ lành nghề Do đó, nhu cầu vốn cho phát triển ngành y tế Việt Nam là rất lớn Một mặt, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên
Trang 18ngành y tế cũng sẽ có nhiều cơ hội để được phát triển theo hướng tiên tiến, hiện đại Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá khiến một bộ phận người dân nghèo không thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế do chi phí khám chữa bệnh tăng; bên cạnh đó, nguồn vốn quốc gia cho phát triển y tế bị chia sẻ cho nhiều công trình, lĩnh vực kinh tế khác dẫn đến tính xã hội hoá của ngành y tế
Việt Nam bị cản trở Chính vì vậy, một nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là phải tăng
cường huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển ngành y tế nước nhà
Biểu 1.1 Tổng chi tiêu cho y tế theo nguồn tài chính, 2003
Các nguồn khác
(Nguồn: Tài khoản y tế quốc gia 2003, Bộ Y tế, 2005)
Các nguồn tài chính chủ yếu cho chi tiêu y tế của Việt Nam hiện nay gồm
có ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế, viện trợ, đầu tư nước ngoài, đầu tư tư nhân trong nước và chi tiền túi của hộ gia đình Theo thống kê của Bộ Y tế năm
2003, chi tiền túi của hộ gia đình cho y tế chiếm đến 61% tổng chi quốc gia cho
y tế, trong khi ngân sách nhà nước chỉ chiếm 20%, bảo hiểm y tế 7%, viện trợ 2% và các nguồn khác 10% Với mục tiêu đến năm 2010 các cơ sở khám chữa bệnh công cộng miễn phí thì con số 61% chi từ người dân là quá cao Bên cạnh
đó, ngân sách nhà nước cũng không thể tăng chi nhiều cho y tế vì hiện nay với
lộ trình giảm thuế theo cam kết với WTO và ASEAN thì trong những năm tới
nguồn thu ngân sách sẽ bị ảnh hưởng đáng kể Vì vậy, hướng huy động của Việt Nam trong tương lai là bảo hiểm y tế toàn dân, tiếp nhận viện trợ và thu hút đầu tư tư nhân đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trang 191.2.2.2 Nhu cầu vốn FDI để phát triển ngành y tế của Việt Nam.
Khái niệm đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực y tế là một khái niệm tương đối mới mẻ ở một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trước đây, y tế thường được coi là hoạt động phúc lợi xã hội nhằm chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người dân Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì đầu tư vào y tế không còn là việc riêng của Nhà nước mà cần có sự tham gia góp sức của tất cả các thành phần trong xã hội không kể trong ngoài nước
Như phần trước đã phân tích, nhu cầu đầu tư vốn cho y tế là rất lớn, nhưng thực trạng phương pháp, công nghệ, cơ sở hạ tầng, trình độ quản lý đối với
ngành y tế Việt Nam đang lạc hậu so với nhu cầu phát triển hiện tại, nên đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này sẽ mang lại không chỉ vốn mà còn công nghệ và trình độ khám chữa bệnh tiên tiến, hiện đại Đây chính là chìa khoá hiệu
quả để giải quyết những mâu thuẫn và khó khăn mà các nước đang phát triển như Việt Nam phải đối mặt
Trong những năm gần đây, số lượng người có thu nhập cao ở Việt Nam đi
sang các nước phát triển hơn để khám chữa bệnh ngày càng tăng Điều này
không chỉ gây tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán quốc gia do việc chuyển tiền ra nước ngoài mà còn càng thể hiện rõ hơn hố ngăn cách giàu nghèo ở Việt Nam vì trong khi những người giàu được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt nhất, có cơ hội được phát triển hơn thì phần đông người nghèo thậm chí còn không thể tiếp cận được các cơ sở khám chữa bệnh trong nước Vì vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là giải pháp hỗ trợ cho vấn đề này, không những tiết kiệm chi phí mà còn góp phần làm tăng tính xã hội hoá của ngành y tế Việt Nam Một lý do quan trọng nữa cho tính cấp thiết của hoạt động thu hút FDI vào phát triển ngành y tế của Việt Nam đó là: hàng năm Việt Nam đón hàng triệu lượt khách du lịch cùng nhiều đoàn chuyên gia, kỹ sư, doanh nhân và lao động nước ngoài; tuy nhiên khi gặp bất kì một vấn đề gì về sức khoẻ thậm chí là những bệnh thông thường nhất, những người nước ngoài này hầu hết không tin
Trang 20tưởng các cơ sở y tế của Việt Nam nên đều sang các nước lân cận như
Singapore, Malaysia, Hàn Quốc,… để khám chữa bệnh Chính vì vậy, các cơ sở
y tế chất lượng cao như bệnh viện, phòng khám có vốn đầu tư nước ngoài sẽ đáp ứng được nhu cầu này, tạo tâm lý yên tâm, an toàn cho khách nước ngoài khi đến Việt Nam
1.2.3 Một số cam kết của Việt Nam đối với WTO trong việc phát triển ngành y tế.
Biểu cam kết dịch vụ gia nhập WTO của Việt Nam được phân thành 2 phần: Cam kết chung cho tất cả các ngành và phân ngành; và Cam kết cụ thể cho từng ngành Xét về các quy định hạn chế thì có: hạn chế tiếp cận thị trường
và hạn chế đối xử quốc gia
1.2.3.1 Cam kết chung của Việt Nam đối với ngành dịch vụ trong WTO.
Theo phân loại của WTO, có 4 phương thức cung cấp dịch vụ là: cung cấp qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân Trong đó, Việt Nam không hạn chế đối với phương thức cung cấp qua biên giới và phương thức tiêu dùng ở nước ngoài Đối với phương thức hiện diện thương mại cũng không bị hạn chế theo cam kết của Việt Nam với WTO trừ một số trường hợp như: i) Khi có quy định khác tại từng ngành và phân ngành cụ thể của Biểu cam kết ii) Các văn phòng đại diện do nhà cung cấp dịch
vụ nước ngoài thành lập không được tham gia vào hoạt động sinh lời trực tiếp iii) Chưa cam kết việc thành lập chi nhánh, trừ khi có quy định khác tại từng ngành, phân ngành cụ thể của biểu cam kết iv) Các điều kiện hoạt động của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam sẽ không bị hạn chế hơn so với mức thực tế tại thời điểm Việt nam gia nhập WTO v)Các doanh nghiệp FDI được các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cho phép thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vi)Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đựơc phép góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam và không được vượt quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp trừ khi có quy định khác Một năm sau khi gia nhập, mức 30% trên sẽ bị bãi bỏ trừ một số ngành không cam kết
Trang 21Phương thức hiện diện thể nhân chưa được cam kết trong Biểu cam kết của Việt Nam với WTO trừ các biện pháp liên quan đến nhập cảnh và lưu trú tạm thời của các thế nhân thuộc các nhóm: người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp; nhân sự khác; người chào bán dịch vụ; người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại; và nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng.
1.2.3.2 Cam kết của Việt Nam đối với phát triển ngành y tế trong WTO.
Trong Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam chỉ có 2 phân ngành đã được cam kết là: Dịch vụ bệnh viện (CPC9311)và các dịch vụ nha khoa và khám bệnh (CPC9312) Y tế là một ngành dịch vụ, do đó nó cũng có thể được cung cấp thông qua 4 phương thức như quy định trong Cam kết chung Trong đó, hai phương thức cung cấp qua biên giới và tiêu thụ ngoài lãnh thổ đều không bị hạn chế tiếp cận thị trường cũng như hạn chế đối xử quốc gia, tức là mọi quốc gia
Hộp 1.1 Các phương thức cung cấp dịch vụ
(1) Cung cấp qua biên giới: là việc cung cấp dịch vụ được tiến hành từ lãnh
thổ của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác Ví dụ: gọi điện thoại quốc
tế, khám bệnh từ xa trong đó bệnh nhân và bác sĩ khám ngồi ở hai nước khác nhau…
(2) Tiêu dùng ở nước ngoài: đó là việc người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch
một nước đi đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó Ví dụ: du học, sửa chữa tàu biển, du lịch, khám bệnh ở nước ngoài…
(3) Hiện diện thương mại: là phương thức trong đó người cung cấp dịch vụ
mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác, lập ra một pháp nhân và cung cấp dịch vụ ở nước đó Ví dụ: một bệnh viện xây dựng một trung tâm chăm sóc sức khoẻ
ở một quốc gia khác.
(4) Hiện diện thể nhân: người cung cấp dịch vụ là thể nhân mang quốc tịch
một nước đi đến một nước khác và cung cấp dịch vụ ở nước đó Ví dụ: một bác sĩ được mời sang một bệnh viện nước ngoài để thực hiện một cuộc phẫu thuật.
(Nguồn: Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của WTO trong thương mại đa
phương – Bộ Công Thương và Uỷ ban Châu Âu)
Trang 22đều được đối xử như nhau, đều được Việt Nam tạo cơ hội tiếp cận thị trường như nhau Phương thức hiện diện thể nhân chưa được cam kết trừ các cam kết chung.
Phương thức hiện diện thương mại liên quan mật thiết đến vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài và thành lập doanh nghiệp Một số cam kết cụ thể đối với phương thức này như sau:
Một là nhà đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua thành lập
bệnh viện 100% vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hai là vốn đầu tư tối thiểu cho một bệnh viện là 20 triệu USD, bệnh xá đa
khoa là 2 triệu USD, và cơ sở điều trị chuyên khoa là 200.000 USD
Trang 23Chương 2 THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO NGÀNH Y TẾ CỦA VIỆT NAM2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM
Nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong những năm qua, kể từ khi bắt đầu thu hút năm 1988 đến nay đã có nhiều khởi sắc cả về vốn đăng ký và vốn thực hiện Đặc biệt trong 3 năm trở lại đây (2006-2008), vốn FDI vào nước ta luôn đạt mức cao kỷ lục nhờ ảnh hưởng của sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO
2.1.1 Về vốn đăng ký
Từ năm 1988 đến 2008 tình hình đầu tư nước ngoài tại Vịêt Nam có nhiều khởi sắc Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm trong khi vốn đăng ký và số dự án mới biến động Nếu như cả giai đoạn 1991-1995 vốn thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD thì trong thời kỳ 1996-2000 vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước Trong giai đoạn 2001-2005, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, tăng 6% so với 5 năm 1996-2000.Trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI đăng ký liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài năm 1987 Năm 2006 cả nước thu hút được 12tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83% so với năm 2005 Năm 2007, vốn đăng ký tiếp tục lập kỷ lục mới với 21,3tỷ USD, tăng 71% so với năm 2006 Riêng năm
2008, vốn đăng ký đã đạt trên 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007 Như vậy, chỉ tính từ 2006 đến hết 2008, vốn đăng ký đã đạt 97,6tỷ USD Trong khi, suốt giai đoạn từ khi bắt đầu thu hút FDI cho đến năm 2005 tổng vốn đăng ký chỉ đạt 52,2 tỷ USD, chưa bằng vốn đăng ký của 1 năm 2008 Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đăng ký, cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực, theo đối tác đầu tư và theo vùng lãnh thổ tiếp tục có những chuyển biến tích cực; cụ thể là:
Theo ngành, lĩnh vực: Biểu đồ 2.1 thể hiện sự thay đổi trong cơ cấu ngành
của FDI đăng ký vào Việt Nam giữa 2 giai đoạn 1988-2005 và 2006-2008
Trang 24Biểu 2.1: Cơ cấu vốn FDI đăng ký theo ngành giai đoạn
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT (2008)
Trong 3 năm 2006 – 2008, vốn FDI đăng ký vẫn tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực công nghiệp, xây dựng (chiếm 56,7%), mặc dù vốn đăng ký vào lĩnh vực này có tăng lên (từ 32,46 tỷ USD đến 55,34 tỷ USD), song tỷ trọng giảm đi so với giai đoạn trước Vốn đăng ký đối với ngành dịch vụ cũng ngày càng tăng, chiếm 41,8%, trong khi giai đoạn 1988 – 2005 chỉ chiếm khoảng 31,42% Lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp không những tỷ trọng mà cả số vốn đều giảm, hiện vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu đầu tư, chỉ đạt 1,2% tổng vốn đăng
ký Tóm lại, cơ cấu FDI theo ngành của Việt Nam trong những năm gần đây đã thể hiện sự đóng góp to lớn của vốn đầu tư nước ngoài vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng hiện đại là phát triển dịchvụ - công nghiệp – nông nghiệp Tổng kết lại từ năm 1988 đến hết năm 2008, vốn đăng ký và số dự án phân theo ngành ở Việt Nam như sau:
Bảng 2.1: Đầu tư nước ngoài theo ngành ở Việt Nam giai đoạn 1988-2008
(Tính tới ngày 19/12/2008 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
I Công nghiệp và xây dựng 6.303 87.799.745.637 29.663.816.911
Đơn vị: %
Trang 25XD Khu đô thị mới 14 8.224.680.438 2.841.813.939
XD Văn phòng-Căn hộ 189 19.361.686.326 5.735.689.586
XD hạ tầng KCX-KCN 36 1.780.515.658 558.735.597
Tổng số 9.803 149.774.721.399 52.014.038.372
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT (2008))
Theo đối tác đầu tư: Có khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại
Việt Nam, trong 3 năm gần đây Malaysia đứng vị trí thứ nhất, chiếm 17,0% tổng vốn đăng ký; Đài Loan đứng thứ hai, chiếm 13,1%; Nhật Bản đứng thứ 3, chiếm 11,1%; tiếp đến là Hàn Quốc và Bristish Virgin Islands chiếm tương ứng 10,8%
và 9,3% Cơ cấu đầu tư theo đối tác đã đa dạng hơn và có sự chuyển dịch theo hướng tích cực từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông… sang các khu vực khác như châu
Âu (British Virgin Islands, Thụy Sĩ, Anh, Samoa, Síp, Cayman Islands, Pháp,
Hà Lan, Đức, Đan Mạch…) và châu Mỹ (Canada, Hoa Kỳ)
Trang 26Về hình thức đầu tư: Trong giai đoạn đầu thu hút FDI vào Việt Nam (1988
– 1990), liên doanh vẫn là hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu vào Việt Nam, tiếp đến là hình thức hợp tác kinh doanh Tính tới tháng 12 năm 2008, hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm đến 77,26% số dự án, 58,49% tổng vốn đầu tư đăng ký và 59,57% tổng vốn thực hiện Tiếp là hình thức liên doanh; các hình thức đầu tư khác đã xuất hiện như hình thức liên doanh kiểu công ty mẹ – con nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ Sở dĩ mà doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài chiếm tỷ trọng cao như vậy là do nhà đầu tư đã hiểu thêm về chính sách, luật pháp và phong tục tập quán, cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, hơn nữa, thực tế khả năng của các bên đối tác Việt Nam trong liên doanh thường yếu
cả về vốn lẫn trình độ quản lý, dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả Từ
đó các đối tác nước ngoài có xu hướng rút dần ra khỏi liên doanh, thành lập các
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Về cơ cấu vùng: bên cạnh các địa bàn thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, BR-VT, Long An, nguồn vốn FDI thời gian gần đây đã dịch chuyển đáng kể sang một số địa bàn khác thuộc các tỉnh Duyên hải miền Trung và đồng bằng Sông Cửu Long như Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Phú Yên, Ninh Thuận, Kiên Giang…
Về quy mô dự án đầu tư: quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án tính
chung cả giai đoạn từ 1988 đến nay vào khoảng 15,28 triệu USD vốn đang ký và 5,3 triệu USD vốn thực hiện Quy mô này tăng lên rất nhanh trong thời gian gần đây, từ mức 14,4 triệu USD/dự án trong năm 2007 đã tăng lên gần 60 triệu USD/dự án trong 11 tháng đầu năm 2008, thể hiện số lượng dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư có vốn đăng ký hàng trăm triệu đến một tỷ USD tăng nhanh
2.1.2 Về vốn thực hiện.
Nhìn chung, trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI thực hiện cũng có sự tăng trưởng đáng kể, góp phần lớn vào việc tăng trưởng tổng vốn FDI thực thiện của Việt Nam cả giai đoạn 1988-2008, thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Trang 27Biểu 2.2: Tăng trưởng vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện giai đoạn
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT (2008)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy: vốn thực hiện tăng dần qua các năm nhưng không
có đột biến như vốn đăng ký Năm 2008, vốn FDI đạt mức cao nhất trong hơn
20 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, tăng 44% so với cùng
kỳ năm 2007, tuy nhiên lại chỉ chiếm 17,97% tổng vốn đăng ký
Như vậy, tính chung cho giai đoạn 2006-2008, vốn thực hiện của khu vực kinh tế có vốn nước ngoài đạt khoảng 23,6 tỷ USD đưa vốn thực hiên từ khi Việt Nam thu hút FDI đến nay lên hơn 52 tỷ USD, tức lên gần gấp đôi so với giai đoạn 1988-2005 Với tình hình vốn FDI thực hiện như trên có thể nói Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, song ngay trong bản thân các con số cũng thể hiện hoạt động thu hút và
sử dụng vốn FDI của nước ta còn nhiều vấn đề tồn tại, cần sớm khắc phục nếu không muốn mất đi nguồn vốn đầu tư quan trọng cho phát triển trong tương lai
2.2 THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH Y TẾ
2.2.1 Chính sách, biện pháp nhằm thu hút FDI vào ngành y tế.
2.2.1.1 Mục tiêu thu hút FDI vào phát triển ngành y tế
Thứ nhất là thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ theo cam kết với WTO
Theo đó, y tế là một dịch vụ trong hoạt động thương mại và thương mại dịch vụ văn hoá – giáo dục – y tế cần được tự do hoá
Đơn vị: tỷ USD
Trang 28Thứ hai là thu hút FDI trên cơ sở mục tiêu chiến lược phát triển ngành y tế chung của cả nước Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 Điều 39 về y tế đã quy định rõ: “Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất
quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nên y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế nhà nước với y tế tư nhân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ….”
Trong quá trình thu hút FDI vào phát triển dịch vụ y tế cần chọn lọc các dự án đảm bảo được định hướng chung cũng như mục tiêu do nhà nước đề ra đối với ngành y tế trong từng thời kỳ phát triển, nhằm tăng cường tính xã hội hoá của dịch vụ y tế, tránh các tiêu cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba, nguồn vốn FDI là một nguồn vốn cần thiết, quan trọng trong tổng thể nguồn lực chung đầu tư cho y tế Việt Nam hiện đang từng bước hoàn thiện
về mặt tổ chức, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và nhân lực, thể hiện qua 3 đề
án phát triển của ngành là: Phát triển nguồn nhân lực; Phát triển nguồn dược liệu; Đầu tư xây dựng và mua sắm bổ sung trang thiết bị y tế cho hệ thống các bệnh viện các cấp Nguồn vốn FDI được huy động sẽ nhằm mục đích hỗ trợ cho các đề án này
Thứ tư, y tế là một lĩnh vực đặc biệt, do đó việc thu hút FDI vào dịch vụ y tế cần được quan tâm đặc biệt Do đối tượng của ngành y tế là sức khoẻ con người,
một nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước, nên việc đánh giá hiệu quả thực sự của các dự án FDI trong lĩnh vực y tế không chỉ nhìn vào hiệu quả kinh
tế trước mắt, mà cần xem xét cả tác động của dự án đến các vấn đề xã hội về lâu dài do dự án mang lại
2.2.1.2 Luật pháp, chính sách đối với đầu tư vào ngành y tế
a) Hoàn thiện chính sách pháp luật
Trong quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, do sớm nhận biết được vai trò và ngoại ứng tích cực của các dịch vụ xã hội hoá, Việt Nam đã chú ý
Trang 29khuyến khích phát triển các dịch vụ này trong đó có y tế Trên thực tế, Chính phủ đã nhiều lần sửa đổi chính sách, quy định ưu đãi đối với dịch vụ xã hội hoá, quy định ban hành sau lại thông thoáng hơn, hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư
Đặc biệt bắt đầu tư tháng 7 năm 2006 cùng với sự ra đời của Luật Đầu tư chung năm 2005, mọi quy định liên quan đến doanh nghiệp được áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước Điều này không những giúp giảm chi phí
quản lý mà còn tạo môi trường đầu tư công bằng, bình đẳng, thể hiện nguyên tắc đối xử quốc gia khi gia nhập vào các tổ chức quốc tế và khu vực Quá trình hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực y tế của Việt Nam được thể hiện thông qua 2 Nghị định do Chính phủ ban hành năm
1999 và 2008, đó là: nghị định 73/1999/NĐ-CP và nghị định 69/2008/NĐ-CP đều về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao (Phụ Lục 1) Trong đó, Nghị
định 69/2008 có một số điểm ưu đãi hơn so với Nghị định 73/1999, cụ thể là:
•Về cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất: theo nghị định năm 2008, các cơ sở y
tế ngoài công lập được ưu tiên hơn so với năm 1999 ở chỗ Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sử dụng quỹ nhà, cơ sở hạ tầng hiện có hoặc xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng để cho cơ sở thuê dài hạn với giá ưu đãi Như vậy là chính quyền địa phương có trách nhiệm phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư trong việc xây dựng cơ sở vật chất như bệnh viện, phòng khám,…
•Về giao đất và cho thuê đất: Đối với việc xây dựng bệnh viện, cơ sở y tế
thì năm 2008 có điểm mới hơn là Nhà nước sẽ giao đất hoặc cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng theo các hình thức là: giao đất không thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất và miễn tiền sử dụng đất Như vậy so với nghị định năm 1999, các nhà đầu tư được Nhà nước thực hiện giúp công việc giải phòng mặt bằng vốn dĩ rất khó khăn ở Việt Nam
•Về lệ phí trước bạ và các loại thuế: nghị định năm 2008 quy định các loại
lệ phí và thuế mà nhà đầu tư vào lĩnh vực y tế được miễn hoặc ưu đãi nhiều hơn
Trang 30so với nghị định năm 1999 Cụ thể là: các cơ sở y tế không những được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất và các tài sản gắn với đất như nghị định 73/1999 mà còn được miễn cả các khoản phí và lệ phí khác liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn với đất Ngoài ra, các cơ sở y tế cũng được ưu đãi thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định hiện hành của các Luật thuế trên của nhà nước.
•Về thuế thu nhập doanh nghiệp: Nghị định năm 2008 có một điểm cực kỳ
ưu đãi đối với các cơ sở y tế là: “Các cơ sở thực hiện xã hội hoá có thu nhập từ hoạt động xã hội hoá được áp dụng thuế suất thuế thu nhập là 10% trong suốt thời gian hoạt động.” Trong khi đối với các ngành nghề thông thường khác thì mức thuế đó là 25% (theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008) Hoặc so sánh với nghị định 73/1999 thì mức thuế thu nhập doanh nghiệp thấp nhất ở các vùng đặc biệt khó khăn cũng chỉ là 15% Ngoài ra, doanh nghiệp mới thành lập sẽ được miễn thuế 4 năm đầu so với 2 năm như trước và giảm còn 50% mức thuế trong 9 năm tiếp theo Điều này cho thấy Chính phủ Việt Nam đang thực sự mong muốn đẩy mạnh việc huy động vốn từ mọi nguồn lực vào phát triển các dịch vụ xã hội hoá, trong đó có y tế
•Về thu phí và lệ phí: trong khi nghị định năm 1999 quy định các cơ sở y tế
khám chữa bệnh ngoài công lập phải thu viện phí và các khoản khác theo quy định của Chính phủ và của cơ quan có thẩm quyền thì nghị định năm 2008 cho phép các cơ sở được tự quyết định mức thu trên cơ sở đảm bảo trang trải chi phí cần thiết cho quá trình hoạt động và có tích luỹ để đầu tư phát triển Quy định này đã khuyến khích sự tự chủ của các cơ sở, đảm bảo các cơ sở xã hội hoá có lợi nhuân và vốn tích luỹ để tiếp tục phát triển Đây chính là một trong những yếu tố rất quan trọng mà các nhà đầu tư nước ngoài tính đến khi quyết định đầu
tư hoặc tái đầu tư tại Việt Nam
b) Xây dựng cơ chế đầu tư và tổ chức quản lý
Đối với dịch vụ y tế, việc xây dựng một cơ chế quản lý đặc biệt, khác với
cơ chế quản lý thông thường là một trong những nội dung quan trọng trong việc
Trang 31xây dựng môi trường đầu tư Bộ máy quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực y tế của Việt Nam có sự phối hợp giữa các Bộ ngành liên quan ở cấp Trung ương và Uỷ ban nhân dân ở các tỉnh Việt Nam hiện đang xây dựng cơ chế đầu tư và tổ chức quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực xã hội hoá bao gồm dịch vụ y tế theo hướng ngày càng tăng cường chức năng, quyền hạn cho các cơ quan chức năng để đưa ra các quyết định kịp thời trước những yêu cầu của nhà đầu tư, đồng thời cũng có thể giám sát, quản lý một cách có hiệu quả hoạt động đầu tư vào dịch vụ y tế Bộ máy này ngành càng phải tinh giản, gọn nhẹ, hạn chế đến mức thấp nhất tệ quan liêu, giấy tờ Chính để thực hiện mục tiêu trên mà nước ta đã thực hiện việc phân cấp mạnh mẽ trong quản
lý đầu tư nước ngoài xuống các địa phương kể từ năm 2005 và cơ chế một cửa Theo đó, các Bộ và Uỷ ban nhân dân tỉnh có các chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng vẫn có sự phối hợp theo hình thức thanh tra, báo cáo, hỗ trợ
Nhiệm vụ của Bộ Y tế là cùng với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo lĩnh vực và địa bàn; thực hiện quản lý thống nhất về nội dung, chương trình, số lượng, chất lượng dịch vụ y tế làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện và theo dõi, giám sát của các cấp, các ngành và toàn xã hội; tạo điều kiện về hợp tác quốc tế đối với cơ sở thực hiện xã hội hoá Bên cạnh đó Bộ cũng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước đối với
cơ sở thực hiện xã hội hóa; xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật Ngoài ra, Bộ cũng phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan ban hành theo thẩm quyền, hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định các vấn đề liên quan đến quy định điều kiện thành lập, chuyển hình thức đầu tư và hoạt động đối với cơ sở y tế
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch, quản
lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật hiện hành
về đất đai; xây dựng kế hoạch đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xã hội hóa Đặc biệt chính quyền địa phương từ năm 2008 sẽ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, cũng như bồi thường, tái định cư trước
Trang 32khi giao đất, cho thuê đất theo quy hoạch cho cơ sở thực hiện xã hội hóa Căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cũng có thẩm quyền ban hành các chế độ ưu đãi cụ thể nhằm khuyến khích, thúc đẩy, mở rộng các hình thức đầu tư nước ngoài để phát triển dịch vụ y tế; thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm tra đối với các cơ sở y tế về việc quản lý sử dụng đất đai đúng mục tiêu, hiệu quả; thực hiện xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
c) Duy trì môi trường chính trị xã hội ổn định
Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là một quốc gia có mức độ ổn định về mặt chính trị xã hội cao Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục duy trì sự ổn định này bằng nhiều cách nhằm tạo sức hấp dẫn hơn nữa của môi trường đầu tư, tạo ra lợi thế so sánh đối với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới trong việc thu hút FDI Cụ thể: Việt Nam luôn chú trọng đến các vấn đề xã hội như đảm bảo công bằng xã hội giữa các nhóm dân cư theo thu nhập, vùng địa lý,
độ tuổi thông qua các chương trình phúc lợi xã hội; nhanh chóng giải quyết những bất ổn chính trị như bạo động, biểu tình; luật pháp chính sách thay đổi một cách thận trọng; luôn thể hiện thiện ý đối với người nước ngoài Từ đó đã tạo được lòng tin của nhân dân và sự an tâm của nhà đầu tư
2.2.1.3 Xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực y tế
Đây là một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng nhằm quảng bá hình ảnh, môi trường đầu tư trong lĩnh vực y tế cho các nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam tiến hành hoạt động này bao gồm các công việc sau:
a) xây dựng danh mục các dự án thu hút FDI vào phát triển dịch vụ y tế
Trong danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư được ban hành kèm theo nghị định 108/2006/NĐ-CP, Y tế là một trong những lĩnh vực được hưởng ưu đãi nhiều nhất cho hầu hết các hoạt động liên quan đến ngành y tế bao gồm:
Danh mục dự án đặc biệt ưu đãi đầu tư:
•Sản xuất thiết bị y tế trong công nghệ phân tích và công nghệ chiết xuất trong y học; dụng cụ chỉnh hình, xe, dụng cụ chuyên dùng cho người tàn tật
Trang 33•Ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sinh học để sản xuất thuốc chữa bệnh cho người đạt tiêu chuẩn GMP quốc tế; sản xuất nguyên liệu thuốc kháng sinh.
•Đầu tư xây dựng cơ sở cai nghiện ma tuý, cai nghiện thuốc lá
•Đầu tư thành lập cơ sở thực hiện vệ sinh phòng chống dịch bệnh
•Đầu tư thành lập trung tâm lão khoa, hoạt động cứu trợ tập trung, chăm sóc người tàn tật, trẻ mồ côi
Danh mục dự án ưu đãi đầu tư:
•Sản xuất trang thiết bị y tế; xây dựng kho bảo quản dược phẩm; dự trữ thuốc chữa bệnh cho người đề phòng thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh nguy hiểm
•Sản xuất thiết bị kiểm nghiệm độc chất trong thực phẩm
•Nguyên liệu thuốc và thuốc phòng chống các bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông y
•Đầu tư xây dựng cơ sở thử nghiệm sinh học, đánh giá tính khả dụng của thuốc; cơ sở dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt trong sản xuất, bảo quản, kiểm nghiệm, thử nghiệm lâm sàng thuốc, nuôi trồng, thu hoạch, chế biến dược liệu
•Phát triển nguồn dược liệu, sản xuất thuốc từ dược liệu; dự án nghiên cứu, chứng minh cơ sở khoa học của bài thuốc đông y và xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm thuốc đông y; khảo sát, thống kê các loại dược liệu làm thuốc; sưu tầm,
kế thừa, ứng dụng các bài thuốc đông y; tìm kiếm, khai thác, sử dụng dược liệu mới
•Thành lập bệnh viện dân lập, bệnh viện tư nhân
Các dự án thuộc diện được ưu tiên trên sẽ được miễn thuế nhập khẩu đối với các hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định như: thiết bị máy móc, nguyên liệu, vật tư để tạo ra máy móc, vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được; và miễn thuế nhập khẩu 5 năm đầu đối với nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được để phục vụ quá trình sản xuất
Trang 34Như vậy, việc xây dựng danh mục các dự án khuyến khích đầu tư sẽ tạo sức thu hút lớn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, giúp họ dễ dàng nắm được chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam vào lĩnh vực y tế Thông qua đó, ta vừa quảng bá được hình ảnh môi trường đầu tư của đất nước, vừa hướng được dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực, nội dung phù hợp với mục tiêu phát triển chung của ngành và của cả nền kinh tế.
b) xây dựng các chương trình xúc tiến đầu tư nước ngoài hướng vào phát triển dịch vụ y tế
Các chương trình xúc tiến đầu tư vào ngành y tế bao gồm tổ chức các buổi hội thảo về y tế trong và ngoài nước nhằm giới thiệu thị trường ngành y tế Việt
Nam tiềm năng cho các nhà đầu tư nước ngoài; tuyên truyền, phổ biến sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Cụ thể, trong những năm qua ta đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo xúc tiến đầu tư vào các lĩnh vực của Việt Nam bao gồm cả ngành
y tế tại một số nước trên thế giới như Hồng Kông, Malaysia, Nga…, nhiều diễn đàn đầu tư và kinh doanh song phương nhằm trao đổi kinh nghiệm và tìm cơ hội hợp tác đầu tư phát triển ngành y tế
Bên cạnh đó, nhiều chương trình, hoạt động xúc tiến đầu tư ở địa phương
cũng được thực hiện bởi các cơ quan xúc tiến đầu tư tỉnh trong đó tích cực nhất vẫn là TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, và một số tỉnh khác
c) phối hợp giữa các cơ quan các cấp và các đơn vị xúc tiến đầu tư
Để thực hiện tốt các chương trình xúc tiến đầu tư vào ngành y tế ở cả trong
và ngoài nước, Việt Nam đang từng bước thiết lập cơ chế phối hợp giữa cơ quan các cấp, các đơn vị xúc tiến đầu tư trong ngoài nước, và giữa ngành y tế với cách ngành khác có liên quan như giáo dục đào tạo, văn hoá, thể thao, du lịch…
2.2.2 Tình hình thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam.
2.2.2.1 Về quy mô vốn đăng ký, vốn thực hiện và số dự án đầu tư
Do tính chất đặc thù của ngành y tế là một ngành dịch vụ xã hội, đồng thời cũng do chính sách về đầu tư nước ngoài của Việt Nam đối với ngành này, nên
Trang 35từ khi thu hút đến nay, vốn đầu tư cho phát triển ngành y tế chủ yếu là vốn ODA với tỷ trọng và khối lượng lớn hơn nhiều so với vốn FDI Vì vậy mà tính từ khi
Việt Nam bắt đầu thu hút FDI đến nay, tức là đã gần 20 năm, tổng vốn đăng ký vào ngành y tế chỉ đạt hơn 921,7 triệu USD với 123 dự án, chiếm 1,61% tổng
vốn đăng ký ngành dịch vụ và 0,62% tổng vốn đăng ký của toàn nền kinh tế Cụ thể cho từng năm, vốn FDI vào ngành y tế của Việt Nam những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực về mặt vốn đăng ký, thể hiện qua biểu đồ dưới đây
Biểu 2.3 Tình hình thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, vốn FDI đăng ký vào ngành y tế Việt Nam có sự tăng trưởng trong giai đoạn 1995-1997 và 2001-2007 Giai đoạn 1998-1999, không riêng ngành y tế mà tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam đều bị giảm đi đáng kể là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á xảy ra năm
1997, trong khi các nước châu Á lại là những đối tác đầu tư lớn nhất của ta Cụ thể là năm 1997, vốn FDI đăng ký vào ngành y tế là 118,43 triệu USD thì năm 1998-1999 giảm xuống chỉ còn tương ứng là 3,8 triệu USD và 4,5 triệu USD
2001 là năm phục hồi, thể hiện ở vốn đăng ký tăng dần trở lại, và cho đến 2005
Đơn vị: triệu USD
Trang 36đạt đỉnh cao là 206,63 triệu USD, sau đó đến năm 2007 đạt 185,6 triệu USD Điều này cho thấy tác động tích cực của các chính sách mở cửa của Việt Nam đối với ngành y tế nói riêng và đối với toàn nền kinh tế nói chung ra thế giới Nhất là việc ban hành luật đầu tư chung năm 2005 đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn, thuận lợi hơn, nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên năm 2008, trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, vốn đăng ký vào ngành y tế của Việt Nam đã sụt giảm một cách rõ rệt, chỉ còn hơn 2 triệu USD với 7 dự án đầu tư
Sự tăng giảm vốn FDI đăng ký vào ngành y tế nước ta tăng giảm dựa trên những biến động của nền kinh tế thế giới, song vấn đề đáng bàn hơn là về vốn thực hiện, tức là số vốn thực sự được giải ngân nhằm phục vụ cho các dự án ngành y
tế Để hiểu rõ hơn vấn đề này, bên cạnh biểu 2.3 ta có bảng 2.2 dưới đây về số liệu cụ thể vốn đăng ký, vốn giải ngân, và số dự án đầu tư
Bảng 2.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành y tế của
Việt Nam giai đoạn 1989-2008
(USD)
Vốn thực hiện (USD)
Tỷ lệ vốn thực hiện/ vốn đăng ký (%)
Trang 37(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT)
Qua bảng trên ta thấy được số dự án FDI đầu tư vào ngành y tế nước ta còn khiêm tốn với tổng số 123 dự án, bằng 4,87% số dự án FDI của ngành dịch
vụ, và khoảng 1,25% số dự án FDI của cả nền kinh tế Trong đó, năm 2007 thu hút được nhiều dự án nhất cũng chỉ có 22 dự án, sau đó đến năm 2004 với 14 dự
án Nhìn chung, so với FDI nói chung vào Việt Nam thì tỷ lệ vốn thực hiện/vốn đăng ký vào ngành y tế là tương đối cao, có những năm vốn thực hiện lớn hơn vốn đăng ký như giai đoạn 1992-1993, những năm khác từ 1994-2002 cũng vào loại cao (từ 50% đến 99%, so với 34,73% của FDI nói chung vào Việt Nam) Tuy nhiên, kể từ năm 2005 do chính sách phân cấp mạnh mẽ trong quản lý đầu
tư trực tiếp nước ngoài xuống các địa phương, việc thống kê vốn thực hiện bắt đầu gặp nhiều khó khăn Nhưng nhìn chung, cả vốn đăng ký và vốn thực hiện những năm gần đây đều có sự tăng trưởng khá và vẫn theo xu hướng tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký là cao so với các ngành khác Điều này có thể được
lý giải là do hoạt động đầu tư vào các dự án ngành y tế của Việt Nam chủ yếu gắn liền với việc mua sắm, chuyển giao máy móc, công nghệ nên vốn thực hiện tương đối sát với vốn đăng ký; chỉ có một số các dự án xây dựng các bệnh viện lớn thì đòi hỏi thời gian thi công, lắp đặt nên vốn giải ngân thấp hơn
So sánh với toàn ngành dịch vụ, ngành y tế chiếm 1,32% tổng vốn thực
hiện, còn nếu so với tổng vốn FDI của toàn nền kinh tế thì ngành y tế chỉ chiếm
có 0,51% tổng vốn thực hiện Đây thực sự là những con số hết sức nhỏ bé so với nhu cầu và tiềm năng của ngành y tế nước ta
Trang 382.2.2.2 Về quy mô vốn trên 1 dự án đầu tư.
Tính từ 1989 đến nay, trung bình 1 dự án có vốn đầu tư nước ngoài của ngành y tế Việt Nam tương đối nhỏ, vào khoảng 7,5 triệu vốn đăng ký và 2,15 triệu vốn thực hiện Vậy quy mô của 1 dự án FDI ngành y tế chỉ bằng một nửa quy mô 1 dự án FDI nói chung và chưa bằng một phần ba quy mô 1 dự án ngành dịch vụ ở Việt Nam
Trong số tất cả các dự án FDI đầu tư vào ngành y tế, chỉ có 1 dự án gần 200 triệu USD vốn đăng ký đầu tư tại Hà Nội nhằm cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao, các dự án còn lại đều dưới 100 triệu USD Các dự án lớn của ngành thường tập trung tại những thành phố lớn đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, và chủ yếu được cấp giấy phép trong mấy năm gần đây
2.2.2.3 Về đối tác đầu tư
Hiện tại đã có khoảng 21 quốc gia, vùng lãnh thổ thực hiện đầu tư trực tiếp vào ngành y tế của Việt Nam Trong đó, hầu hết những đối tác lớn nhất cũng chính là những đối tác truyền thống đầu tư nhiều vào Việt Nam, đó là: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Singapore, Bristish Virgin Island, Hồng Kông Trong đó, nếu xét về vốn đăng ký, Hàn Quốc là quốc gia đầu tư nhiều nhất vào ngành y tế Việt Nam, chiếm 29,1% tổng vốn đăng ký của
ngành với 27 dự án (bảng 2.3) Tiếp theo là Hồng Kông và Canada chiếm 9,6%
và 7,81% tổng vốn đăng ký Trung Quốc cũng là nước có nhiều dự án đầu tư vào ngành y tế nước ta với 16 dự án, đứng thứ 2 sau Hàn Quốc, nhưng vốn đăng
ký của Trung Quốc lại chỉ chiếm 3,39% tổng vốn đăng ký toàn ngành Điều này chứng tỏ quy mô vốn mỗi dự án đầu tư của Trung Quốc là không lớn Ngược lại, Canada và Thuỵ Sĩ chỉ có 2 dự án đầu tư nhưng quy mô mỗi dự án đều lớn nên 2 quốc gia này đứng trong tốp 10 nước đầu tư nhiều nhất vào ngành y tế Việt Nam Điều đáng nói nữa là, những đối tác đến từ Châu Âu hay Bắc Mỹ dù chưa đầu tư nhiều dự án, nhưng các dự án đều lớn cùng với công nghệ chuẩn trị tiên tiến, hiện đại và chất lượng phục vụ tốt
Xét về vốn thực hiện, Hàn Quốc tuy đăng ký nhiều nhưng thực hiện chỉ một
Trang 39phần nhỏ (khoảng 6,8% vốn đăng ký) Quốc gia, vùng lãnh thổ có vốn thực hiện lớn nhất là Hồng Kông, chiếm 20,2% tổng vốn thực hiện toàn ngành, sau đó đến Nhật Bản chiếm 15,97% và Bristish Virgin Island chiếm 11,1% Những quốc gia này đều có tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký khá cao (trên 40%); song Malaysia lại là nước có tỷ lệ này cao nhất là 225,12%, tức là vốn thực hiện gấp hơn 2 lần vốn đăng ký Điều này cho thấy các nhà đầu tư của Malaysia thực sự rất quan tâm đến thị trường ngành y tế của Việt Nam Trong tương lai, Việt Nam nên chú trọng hơn trong hoạt động xúc tiến đầu tư đối với những đối tác này
Bảng 2.3 Tình hình thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam phân theo
đối tác đầu tư (1989-2008)
ST
Số
dự án
Vốn đăng ký (USD)
% tổng vốn đăng
ký ngành
y tế
Vốn thực hiện (USD)
% tổng vốn thực hiện ngành y tế.
Trang 40(Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT)
2.2.2.4 Theo hình thức đầu tư.
Luật đầu tư chung năm 2005 và nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định có ít nhất 9 hình thức các nhà đầu tư nước ngoài được phép áp dụng tại Việt Nam
Tuy nhiên, các dự án đầu tư vào ngành y tế của Việt Nam chỉ theo 4 hình thức
đầu tư là: 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, BOT và mua lại và sáp nhập M&A.Trong đó, các dự án 100% vốn nước ngoài chiếm đa số dự án
cũng như số vốn đăng ký và thực hiện Ta có thể thấy tỷ lệ áp đảo của hình thức 100% vốn nước ngoài so với các hình thức khác qua biểu 2.4 dưới đây:
Biểu 2.4 Tình hình thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam phân theo
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT)