1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em nữ độ tuổi vị thành niên và vai trò của công tác xã hội (nghiên cứu tại trường trung học cơ sở nam cường, huyện chợ đồn, tỉnh bắc cạn)

154 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em nữ độ tuổi vị thành niên và vai trò của công tác xã hội (nghiên cứu tại trường THCS Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn)
Tác giả Vy Thị Hồng Hạnh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Trà Vinh
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em nữ độ tuổi vị thành niên và vai trò của công tác xã hội Nghiên cứu tại trường THCS Nam Cường, huyện C

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI

(Nghiên cứu tại trường THCS Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Công tác xã hội

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI

(Nghiên cứu tại trường THCS Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ TRÀ VINH

Hà Nội-2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Trà Vinh Các thông tin thu

thập và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

Học viên

Vy Thị Hồng Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

TS Nguyễn Thị Trà Vinh, người cô giáo kính mến đã hêt lòng giúp đỡ và hướng

dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Các thầy cô giáo khoa Xã hội học trong suốt 02 năm đã mang đến cho tôi nhiều kiến thức quý báu và truyền cho tôi sự tâm huyết, yêu nghề để tôi có được động lực và niềm tin theo đuổi lĩnh vực mà mình đã lựa chọn

Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các em học sinh, quý phụ huynh học sinh trường THCS Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn; các cô đỡ thôn bản, chính quyền và nhân dân xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn đã nhiệt tình giúp

đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt thời gian, cung cấp thông tin để tôi có thể thu thập được những thông tin và số liệu quý báu cho luận văn

Cảm ơn các anh chị, bạn vè trong lớp Cao học Công tác xã hội 2 (khóa học 2012-2014) đã luôn giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn

Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, chị em và người chồng yêu quý đã luôn ở bên cạnh, là động lực to lớn giúp tôi không ngừng cố gắng học tập để hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn./

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Câu hỏi nghiên cứu 13

6 Giả thuyết nghiên cứu 13

7 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 14

9 Phạm vi nghiên cứu 15

10 Kết cấu của luận văn 15

NỘI DUNG CHÍNH 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 17

1.1 Các khái niệm công cụ 17

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 19

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên 27

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30

1.5 Đặc điểm cơ bản và sự biến đổi đặc biệt ở trẻ vị thành niên nữ 35

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA CÁC EM NỮ TRONG ĐỘ TUỔI VỊ THÀNH NIÊN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS NAM

CƯỜNG 43

2.1 Tình hình về sức khỏe sinh sản của các em nữ độ tuổi vị thành niên trên địa bàn xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn 43

2.2 Thực trạng nhận thức và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh nữ trường THCS Nam Cường 48

2.3 Thực trạng các yếu tố tác động tới việc chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên của các em học sinh nữ trường THCS Nam Cường 64

2.4 Thực trạng nhu cầu kiến thức và chia sẻ về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh trường THCS Nam Cường 67

Chương 3 NÂNG CAO KỸ NĂNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO CÁC EM NỮ VỊ THÀNH NIÊN VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI 71

3.1 Vai trò của nhân viên CTXH 71

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện vai trò của nhân viên CTXH 90

KẾT LUẬN 103

KHUYẾN NGHỊ 105

PHẦN PHỤ LỤC 111

PHỤ LỤC 1 BẢNG HỎI 111

PHỤ LỤC 2 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

Trang 7

(Human immunodeficiency virus

infection/ acquired immunodeficiency

syndrome)

Hội chứng suy giảmmiễn dịch mắc phải

CTXH Công tác xã hội

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1: Bảng phân bố cơ cấu dân tộc của học sinh 63

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoảng một nửa dân số Việt Nam có độ tuổi dưới 25 nên việc giáo dục sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên là vấn đề quan trọng của toàn xã hội Lứa tuổi này đặc trưng cho sự phát triển nhanh cả về trí tuệ, thể chất, tâm sinh lý cũng có nhiều biến động khiến cho các em đôi khi bướng bỉnh, nóng nảy và muốn tự làm theo ý mình Các hormone sinh dục cũng phát triển nên những cảm xúc sinh lý giới tính, tình bạn, tình yêu khác giới cũng mạnh mẽ và quan trọng hơn

Ở lứa tuổi này các em muốn khẳng định mình đã lớn và thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ dù hành vi còn ngờ nghệch, ứng xử chưa tốt Những xúc cảm giới tính thôi thúc, chính vì vậy mà hiện tượng yêu sớm ở lứa tuổi vị thành niên hiện nay diễn ra khá phổ biến và là vấn đề đáng lo ngại Nhất là khi hiện nay các em rất thoáng trong tình yêu nên tình trạng quan hệ tình dục sớm ở lứa tuổi vị thành niên không còn lạ lẫm Sự sốc nổi và thiếu hiểu biết về quan hệ tình dục dẫn đến hậu quả đáng tiếc như tỷ lệ có thai ngoài ý muốn, tỷ lệ phá thai còn khá cao Hiện tượng sinh con của những “bà mẹ nhí” đang có chiều hướng gia tăng, kéo theo đó là tỷ lệ tảo hôn cũng tăng lên ở các em

nữ vị thành niên

Việc kết hôn và sinh con ở lứa tuổi này kéo theo rất nhiều tác hại cho chính bản thân các em, cho gia đình cũng như cho xã hội Do cơ thể các em chưa phát triển hoàn thiện nên khi sinh con có thể gây ra tình trạng sinh non, con bị dị dạng, bệnh tật, sức khỏe người mẹ và đứa trẻ yếu kém Cùng với vấn đề này là sự gia tăng không ngừng của tỷ lệ nhiễm HIV, nguy cơ lây lan các bệnh đường tình dục như bệnh giang mai, bệnh lậu, … Những ảnh hướng lớn tới kinh tế, tâm lí cũng như tương lai sau này của chính các em và của xã hội

Ở nước ta hiện nay, vấn đề giáo dục giới tính, CSSKSS cho trẻ vị thành niên đã nhận được sự quan tâm của Nhà nước, xã hội Nhiều chương trình, chiến lược quốc gia

về CSSKSS theo từng giai đoạn đã được tiến hành ở các địa phương Nhưng do nhận

Trang 11

thức về văn hóa xã hội, giáo dục giới tính còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trình độ dân trí còn thấp nên sự quan tâm chưa được sát sao

Bên cạnh đó, những biến tướng không tốt từ các tụ điểm ăn chơi như karaoke, cafe…thiếu lành mạnh dẫn tới các tệ nạn xã hội đang có xu hướng phát triển phức tạp gây nên những hậu quả không tốt với trẻ vị thành niên Tình hình đó dẫn tới nhu cầu giáo dục giới tính và CSSKSS cho lứa tuổi vị thành niên trở nên vô cùng cấp bách và quan trọng Nó trở thành nhu cầu không chỉ là của bản thân các em mà cũng chính là nhu cầu của xã hội hiện đại giúp các em có sự hiểu biết và nhận thức rõ ràng hơn về SKSS và CSSKSS vị thành niên

Xã Nam Cường là một xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Chợ Đồn với nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó có nhiều dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Mông, Dao Người dân sống rải rác ở các triền đồi, triền núi chứ không có sự tập trung nên các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SKSS, CSSKSS cho người dân gặp rất nhiều khó khăn Thêm nữa phần lớn bà con là người dân tộc Mông, Dao, Nùng đều nói tiếng dân tộc mình, số người biết tiếng phổ thông còn ít nên nếu có tuyên truyền cần có người dân địa phương phiên dịch lại Điều kiện sống còn nhiều khó khăn, cái ăn còn chưa đủ và trình độ dân trí chưa cao nên các em nữ trong độ tuổi

vị thành niên của xã ít có cơ hội được tiếp cận với các thông tin, kiến thức và các dịch

vụ CSSKSS Cùng với đó là phong tục tập quán còn lạc hậu, việc tiếp cận với các thông tin về SKSS không được người dân quan tâm nên con em họ không có cơ hội tiếp nhận các kiến thức này

SKSS bao gồm nhiều nội dung, chương trình khác nhau nên cần những cán bộ

có chuyên môn, kiến thức hướng dẫn cụ thể trong khi nguồn cán bộ làm phụ trách về vấn đề này của xã còn ít và còn yếu Tại trường học nơi số trẻ vị thành niên nhiều thì lại không có cán bộ chuyên môn về kĩnh vực này, trong khi CSSKSS là vấn đề nhạy cảm, cần được tư vấn cẩn thận Dù được đưa vào chương trình giảng dạy học ở trường

Trang 12

nhưng kiến thức cung cấp cho các em rất nghèo nàn và hạn chế Việc chia sẻ giữa thầy

và trò, cha mẹ và con cái, bạn bè với nhau còn nhiều khó khăn

Do đặc thù dân tộc và phong tục của một số dân tộc trong huyện nên nhiều em gái trong độ tuổi vị thành niên đã bất đắc dĩ trở thành những người vợ, người mẹ Các

em không không hề biết và có sự nhận thức về SKSS, CSSKSS nên các em không biết

tự mình chăm sóc về vấn đề này Các em không được trang bị đầy đủ những kiến thức

về sự thay đổi sinh lí của cơ thể khi đến tuổi trưởng thành, về quan hệ tình dục sao cho đúng và an toàn, các em cũng không biết về các biện pháp tránh thai và kế hoạch hóa gia đình cũng như những kiến thức làm mẹ sao cho an toàn Những gì về SKSS các em biết chỉ qua học tập một số kiến thức cơ bản ở trường học, phần lớn các em học qua việc bắt chước người lớn hơn, học hỏi từ bạn bè cùng trang lứa chứ không có được sự chỉ bảo đúng đắn nhất Điều này dẫn tới những hậu quả đáng tiếc ảnh hưởng tới tương lai của chính các em

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho

các em nữ độ tuổi vị thành niên và vai trò của công tác xã hội (Nghiên cứu tại trường THCS Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn)” làm đề tài luận văn của

mình

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về SKSS và CSSKSS vị thành niên có mặt từ rất sớm trên thế giới nhưng được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như sức khỏe vị thành niên hay giới tính tình dục vị thành niên Từ sau hội nghị về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (4/1994) định nghĩa chính thức về SKSS được phổ biến trên thế giới và trở thành vấn đề được quan tâm của toàn xã hội

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, giáo dục dân số và giáo dục giới tình đang dần nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, cộng đồng xã hội Trẻ vị thành niên trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi ở Việt Nam chiếm một phần lớn trong tổng dân số

Trang 13

nên việc giáo dục về SKSS cho các em trở thành vấn đề cần được quan tâm sát sao nhằm ngăn chặn những hậu quả đáng tiếc

Tổng điều tra dân số ở Việt Nam, trẻ trong độ tuổi vị thành niên là 17,3 triệu người chiếm 22,7% dân số Theo thống kê trẻ vị thành niên từ 10 – 19 tuổi ở nước ta là 17,5 triệu người chiếm 22,46% dân số Như vậy trẻ trong độ tuổi vị thành niên chiếm tới ¼ dân số cả nước và cơ cấu dân số sẽ tiếp tục gia tăng trong vòng 20 năm tới Đây vừa là thuận lợi vừa là khó khăn cho đất nước khi nguồn nhân lực trẻ dồi dào nhưng các vấn nạn xã hội cũng theo đó gia tăng sẽ trở thành gánh nặng cho các nhà hoạch định chính sách quốc gia

Cơ cấu dân số nước ta là dân số trẻ, hiện nay có khoảng 50% dân số ở độ tuổi dưới 20, trong đó có 20% ở độ tuổi từ 10 – 19 với khoảng 15 triệu người Nhưng có tới 80% tổng số trẻ vị thành niên sinh sống tại nông thôn, vùng sâu, vùng xa nơi mà những thông tin, kiến thức về sức khỏe, chăm sóc sức khỏe sinh sản còn nhiều hạn chế [26] Bước vào độ tuổi vị thành niên, thanh niên các em có nhiều biến đổi về tâm sinh lý của

cơ thể nên nếu không được giáo dục, nhận thức đúng sẽ gây những hậu quả đáng tiếc Các em có thể trở thành những người cha, người mẹ sớm hơn vì không có kiến thức về tình dục an toàn, dễ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục Các em nữ trẻ trong độ tuổi vị thành niên dễ sinh con không mạnh khỏe, sinh non hay thai nhi dị dạng, tỷ lệ trẻ

sơ sinh tử vong cao Trẻ vị thành niên chưa có chồng mà có thai thường nạo phá thai không an toàn gây hậu quả đáng tiếc như băng huyết, vô sinh, v.v

Theo thống kê của Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình (Bệnh viện phụ sản Trung ương), trong 5 năm 2008 – 2012 có xấp xỉ 80 – 100 ca đẻ/ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên [9]

Theo Vụ sức khỏe bà mẹ - trẻ em (Bộ Y tế), tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: năm 2010 là 2,9%; năm 2011 là 3,1%; năm 2012 là 3,2% tương ứng tới đó là tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này: năm 2010 là 2,2%; năm 2011 là 2,4%; năm 2012 là 2,3%.[4]

Trang 14

Độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở vị thành niên Việt Nam ngày càng sớm Tuy nhiên, kiến thức của vị thành niên về phòng tránh thai, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn rất hạn chế - chỉ có khoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên

Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho thấy, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300 ngàn ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60 - 70% là học sinh, sinh viên Theo Tổng cục DS-KHHGĐ, mặc dù tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây giảm, nhưng tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ vị thành niên, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng, chiếm hơn 20% các trường hợp nạo phá thai

Tỷ lệ nhiễm HIV trong thanh thiếu niên nước ta cũng có sư gia tăng rõ rệt Theo

Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS thì chỉ trong 3 năm (1995 – 1998) số ca nhiễm HIV/AIDS từ chỗ không có tăng lên 28 trường hợp Nhóm tuổi từ 13 – 19 tuổi tăng từ

54 trường hợp lên 449 trường hợp, gấp 8,3 lần; nhón tuổi từ 20 – 29 tuổi tăng từ 409 trường hợp lên 2540 trường hợp, gấp 6,2 lần Số trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV qua người

mẹ cũng tăng lên khoảng 500 trẻ một năm Trong năm 2001, theo thống kê của Bộ Y

tế, có tới 60% người nhiễm HIV trong độ tuổi dưới 30 và 10% trong độ tuổi từ 13 – 19 Đây thực sự là những con số đáng báo động và cần nhận được sự quan tâm tâm gắt gao hơn của các cấp lãnh đạo cũng như cộng đồng xã hội.[5]

Trong những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng về kinh tế xã hội thì các vấn

đề về tệ nạn xã hội cũng gia tăng, trong đó số người trong độ tuổi vị thành niên chiếm một tỷ lệ đáng báo động Cục phòng chống tệ nạn xã hội đã thống kê, trong độ tuổi từ

15 – 19 tuổi thì có tới 70% số người nghiện hút và 80% số người hoạt động mại dâm Điều đó cho thấy, Việt Nam đang đứng trước thực trạng rất đáng lo ngại về sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên và cần có biện pháp và hành động kịp thời, hiệu quả để bảo vệ trẻ vị thành niên Việt Nam

Ở Việt Nam đã nhiều nghiên cứu về vấn đề sức khỏe sinh sản nhưng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào tìm hiểu riêng rẽ một vấn đề về sức khỏe sinh

Trang 15

sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên mà chỉ là sự kết hợp các vấn đề ở các mức độ khác nhau Dưới đây tôi xin tóm tắt một số nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực này:

“Báo cáo kết quả cuộc thi khảo sát tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên” (1999) do Khuất Thu Hồng thực hiện theo yêu cầu

của UNFPA và Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Khánh Hòa được thực hiện tại một số trường THCS và THPT Đối tượng là học sinh và cha mẹ học sinh lớp 8 và lớp 11, giáo viên bộ môn từng tham gia giảng dạy giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản, đại diện ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên phụ trách Đoàn – Đội của trường Công

cụ khảo sát là bộ bảng hỏi được thiết kế riêng cho các nhóm đối tượng và mẫu được chọn ngẫu nhiên Tuy cuộc khảo sát có một số hạn chế nhưng kết quả thu được đã cung cấp những thông tin cơ bản về kiến thức, thái độ và thực trạng hành vi liên quan đến sức khỏe sinh sản của một bộ phận học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh của tỉnh Khánh Hòa

“Khảo sát, đánh giá về kiến thức, thái độ thực hành của vị thành niên, thanh niên Hải Phòng với các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản” (1999) do Nguyễn

Quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, Daniel Weitraub, Meredith Caplan - Ủy ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tiến hành Gồm 1.100 thanh niên trong độ tuổi từ 15 –

24 tuổi được lựa chọn ngẫu nhiên là mẫu nghiên cứu phỏng vấn tại 20 xã của dự án

“Giáo dục sức khỏe sinh sản và sức khỏe gia đình vị thành niên tại Hải Phòng” Kết quả nghiên cứu cho thấy:

(1) Kiến thức về sức khỏe sinh sản: có 25,7% vị thành niên và thanh niên có kiến thức đúng về thời điểm thụ thai là giữa hai kỳ kinh; 93,2% vị thành niên và thanh niên biết ít nhất một biện pháp tránh thai hiện đại và 61,4% biết ít nhất một biện pháp tránh thai tự nhiên Bao cao su là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất, sau đó

là vòng tránh thai, thuốc tránh thai và triệt sản [1, tr.48] Nơi cung cấp biện pháp tránh thai phổ biến được vị thành niên và thanh niên biết tới là cơ sở y tế [1,tr.52] Hiểu biết

Trang 16

về các bệnh lây truyền qua đường tình dục được biết tới nhiều nhất là HIV/AIDS (69,7%), lậu (50,4%) và giang mai (48,3%) [1,tr.53] Về cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS được biết tới nhiều nhất là không quan hệ tình dục với gái mại dâm, không dùng chung bơm kim tiêm và có quan hệ tình cảm trong sạch, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục [1,tr.59] Khoảng 40% trẻ vị thành niên và thanh niên có quan niệm sai rằng nạo phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt là một biến pháp kế hoạch hóa gia đình [1,tr.60]

(2) Thái độ đối với các vấn đề sức khỏe sinh sản: có khoảng 82% vị thành niên

và thanh niên vẫn coi trọng trinh tiết của người con gái và 91,3% cho rằng chỉ nên có quan hệ tình dục trong hôn nhân [1,tr.64] Phương tiện cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản được cho là phù hợp nhất là các phương tiện thông tin đại chúng (86,5%), tiếp

đó là cơ sở y tế, bạn bè cùng lứa, thầy cô giáo, cha mẹ [1,tr.70] Những thông tin về sức khỏe sinh sản mà vị thành niên và thanh niên muốn được cung cấp là giáo dục tình dục cho vị thành niên và thanh niên (80,3%), tuyên truyền về các biện pháp tránh thai (78,7%) và cung cấp các biện pháp tránh thai (62,0%) [1,tr.71]

Nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ và hành vi của thanh thiểu niên về dân số -

kế hoạch hóa gia đình, phòng chống AIDS và các mô hình câu lạc bộ thanh niên”

(2007) của John Chalker tại Nghệ An và Hà Nội Với 271 người trong độ tuổi từ 15 –

21 tuổi (chiếm 27,3%) làm mẫu nghiên cứu, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính Nghiên cứu đã đưa ra nhận xét là có sự mâu thuẫn giữa kiến thức và hành vi, hành vi thực hiện các biện pháp tránh thai trong quan hệ tình dục của thanh thiếu niên còn hạn chế 80% người được hỏi không biết gì về tình trạng HIV/AIDS ở khu vực mình sống, gồm cả những người đang sống ở Hà Nội Hai mô hình câu lạc bộ “Thanh niên chưa lập gia đình” và “Các cặp vợ chồng” được hoan nghênh và ủng hộ Đài truyền thành là phương tiền truyền thông đại chúng đạt hiệu quả cao nhất trong việc tuyên truyền về sức khỏe sinh sản

Trang 17

Nguyễn Thị Hoài Đức, Anke Van Dam, Vũ Thu Hà, Phan Thanh Tuyền đã

nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ, hành vi của vị thành niên liên quan đến sức khỏe

sinh sản và tình dục tại Hà Nội và Ninh Bình” (2007) Theo kết quả nghiên cứu, nguồn

cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản cho vị thành niên cơ bản xuất phát từ trường học vì đây là nơi tập trung nhiều trẻ vị thành niên nhất Tuy nhiên, các giáo viên rất ngại đề cập tới vấn đề này; lượng thông tin cung cấp cho các em còn rất nghèo nàn và hạn chế Truyền thông đại chúng là kênh cung cấp thông tin nhiều nhất về lĩnh vực này Biện pháp tránh thai được biết tới nhiều nhất là bao cao su và đặt vòng Đa số đều không chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân nhưng tự chịu trách nhiệm trong việc có quan hệ tình dục trước hôn nhân hay không Các em đều cho rằng mình cần được giáo dục về giới tình, cha mẹ và thấy cô là những nhà giáo dục giới tính thích hợp nhất

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương Dung về “Nhận biết về sức khỏe sinh

sản của học sinh” (2007) Nghiên cứu tại trường THPT quận Hoàng Mai, Hà Nội Đối

tượng là học sinh lớp 10 và 12 Theo kết quả nghiên cứu đa phần các em học sinh đều

có những hiểu biết cơ bản về sự phát triển sinh lí của bản thân Nguồn cung cấp thông tin mà các em được tiếp cận nhiều nhất là phương tiện thông tin đại chúng, tiếp đó là thầy cô trong trường, bạn bè cùng trang lứa, cha mẹ Quan điểm về tình dục của các em trong thời gian học THPT có nhiều quan điểm khác nhau: do tò mò, do nhu cầu sinh lý,

do bắt chước bạn bè…nhưng các em đều biết dùng bao cao su khi quan hệ tình dục là biện pháp tránh thai an toàn nhất Các em có hiểu biết nhất định về nạo phá thai và hậu quả của việc này nhưng chưa thật rõ ràng Những nội dung kiến thức về sức khỏe sinh sản là nhu cầu các em muốn tìm hiểu

Một cuộc điều tra với quy mô lớn được thực hiện tại các tỉnh thành của đất nước

về vị thành niên và thành niên với tên gọi “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh

niên Việt Nam” với 02 giai đoạn, giai đoạn I, từ 2003 đến 2005 ( gọi tắt là SAVY I) và

giai đoạn II, tiến hành từ 2008 đến 2010 (gọi tắt là SAVY II) Cuộc điều tra tìm hiểu về

Trang 18

nhiều vấn đề khác nhau: giáo dục, lao động, việc làm, tình dục và sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tâm thần, tai nạn, thương tích và bệnh tật, hành vi, ước muốn, hoài bão của

vị thành niên và thanh niên Việt Nam Cuộc điều tra do Bộ Y tế, Tổng Cục thống kê, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp tiến hành, các tổ chức quốc tế UNICEF và WHO hỗ trợ về tài chính và kĩ thuật Kết quả của 2 cuộc điều tra cho phép so sánh sự thay đổi và xu hướng phát triển quan trọng trong kiến thức, thái

độ, hành vi, lối sống và điều kiện sống của thanh thiếu niên.[14]

SAVY 1 được thực hiện với 7.584 mẫu nghiên cứu là vị thành niên và thanh niên tại 42 tỉnh/thành Và ở SAVY 2 được tiến hành với 10.044 vị thành niên và thanh

niên trong độ tuổi 14-25 tại 63 tỉnh/thành Qua 02 cuộc điều tra kết quả thu được về

việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên và thanh niên cả nước thu được như sau:

Mang thai, nạo phá thai:

Vì số lượng nữ chưa có chồng nhưng đã có quan hệ tình dục và đã từng mang thai, nạo thai vào thời điểm điều tra của SAVY 1 và SAVY 2 quá nhỏ nên khó có thể bình luận Chỉ có thể ghi nhận là không thấy có diễn biến đáng lo ngại hơn ở SAVY 2 so với SAVY 1 trong số nữ chưa chồng Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao trên nhất thế giới, trong đó 20% là ở lứa tuổi VTN, trên cả nước có 5% em gái sinh con trước tuổi 18, 15% sinh con trước tuổi 20…

Trong Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 có đoạn nhấn mạnh

“Việc mang thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai là đáng lo ngại” (Uỷ ban Dân

số, Gia đình và Trẻ em, 2003) Còn trong Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010 cũng đề ra mục tiêu “Giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến nạo hút thai” (Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, 2003)

Hiểu biết về sinh lý thụ thai ở thanh thiếu niên:

71% (nam 67% và nữ 74%) trả lời “Có” với câu nỏi “Liệu một bạn gái có thể mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên?” cho thấy điều quan trọng là có đến gần 2

Trang 19

phần 3 thanh thiếu niên đã biết đánh giá cao nguy cơ mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên Số đông thanh thiếu niên (82%) cũng đã biết đến và có niềm tin vào các biện pháp tránh thai Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm nam nữ thanh niên trả lời đúng câu hỏi

về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh khá thấp Ở SAVY 2, chỉ có 13% (7% nam

và 18% nữ) trả lời đúng câu hỏi này (thời điểm” giữa 2 kỳ kinh”) Ở SAVY 1, có 17% (11% nam và 22% nữ) trả lời đúng Điều này có ý nghĩa ở chỗ cần thiết phát triển hơn nữa việc giáo dục thanh thiếu niên về SKSS và sinh lý thụ thai để biết tự bảo vệ “Thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh” là một mảng hiểu biết cần thiết, giúp phụ nữ có thể chủ động tránh thai, là cách để phụ nữ biết tránh thai bằng phương pháp tự nhiên

Tránh thai:

Tỷ lệ biết về các biện pháp tránh thai đều rất cao, trung bình từ 4 biện pháp trở lên Tuy nhiên, sử dụng hiểu biết về tránh thai trong thực tế như thế nào và các biện pháp tránh thai có đáp ứng nhu cầu không mới là điều quan trọng nhất

Bao cao su vẫn là biện pháp hỗ trợ hàng đầu cho nam (72,7%) nhưng viên tránh thai khẩn cấp cho nữ lại có tỷ lệ sử dụng không cao (chỉ 4,5%)

Biện pháp tránh thai hiện đại được sử dụng nhiều nhất: BCS vẫn đứng hàng đầu với 42,9%, tiếp theo là dụng cụ tử cung 26,5%, thuốc uống tránh thai 18,8%, xuất tinh ngoài âm đạo 7,7%, tính vòng kinh 2,0%, viên tránh thai khẩn cấp 1,8% (tỷ lệ thấp sử dụng viên tránh thai khẩn cấp có thể đã góp phần làm gia tăng số nạo phá thai ở VTN)

Bệnh lây truyền qua đường tình dục:

Có thể cho rằng sự hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục không thay đổi sau 2 lần điều tra Còn cần nhiều nỗ lực để nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các bệnh nói trên Trên thực tế, điều cần lưu ý các thầy thuốc thực hành là bệnh phụ khoa thường gặp nhất lại chính là viêm âm đạo (do nấm chiếm tỷ lệ cao nhất)

và sự dễ tái diễn của bệnh này, có nguyên nhân từ hiểu biết hạn chế về vệ sinh phụ nữ

và đời sống tình dục vợ chồng Cũng cần có chương trình kiểm soát bệnh viêm âm đạo

Trang 20

do virut gây u sui (HPV) ở phụ nữ trẻ vì là nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung sau này

Tóm lại, các nghiên cứu trên đã cung cấp cho chúng ta những cái nhìn tổng quát

về sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản của thanh thiếu niên và vị thành niên Việt Nam, chủ yếu đi vào phương pháp và nghiên cứu lý luận Những con số cụ thể qua các nghiên cứu đã mô tả và có các giải pháp về sức khỏe sinh sản phù hợp với từng đề tài nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu áp dụng và sử dụng các phương pháp công tác xã hội trong quá trình nghiên cứu để trợ giúp cho các thân chủ một cách cụ thể Nhất là đối với các em nữ trong độ tuổi vị thành niên, những đối tượng cần được quan tâm chăm sóc nhiều về sức khỏe sinh sản

Do đó, việc thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu về Công tác xã hội với những phương pháp và hoạt động phù hợp để trợ giúp cho các đối tượng là nữ vị thành niên là rất cấp thiết Đây sẽ là công trình nghiên cứu với phạm vi hẹp, sử dụng các phương pháp công tác xã hội để giúp các em nữ được nâng cao hơn nữa những hiểu biết, kỹ năng trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho chính mình và mọi người xung quanh

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa lý luận

Vận dụng những phạm trù, khái niệm, phương pháp nghiên cứu và các lý thuyết Công tác xã hội vào việc mô tả, giải thích về vấn đề CSSKSS của các em học sinh nữ; cũng như kiến thức về quá trình và quy luật nhận thức của các em với vấn đề CSSKSS

Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng nhận thức và hành vi CSSKSS của các

em nữ trong độ tuổi vị thành niên của trường THCS Nam Cường, để từ đó tìm ra mối quan hệ giữa độ tuổi, trình độ học vấn, quan niệm về tình dục…với sự nhận thức và hành vi CSSKSS của trẻ vị thành niên

Qua đó công tác xã hội thực hiện các vai trò giúp các em nữ trong độ tuổi vị thành niên nâng cao kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trang 21

Nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những kiến thức về sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em học sinh nữ vị thành niên ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn nói riêng và trẻ vị thành niên Việt Nam nói chung

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu tìm hiểu nhận thức và hành vi của các em học sinh nữ THCS Nam Cường về SKSS và CSSKSS, qua đó bổ sung thêm một phần hiểu biết về thực trạng đối với vấn đề CSSKSS cho trẻ vị thành niên Từ đó, công tác xã hội đưa ra những giải pháp để giúp học sinh nữ có những hiểu biết tốt hơn về CSSKSS vị thành niên

Trong một chừng mực nhất định những nội dung của nghiên cứu có thể suy rộng cho học sinh các trường THCS, THPT trên địa bàn huyện Chợ Đồn nói chung về nội dung CSSKSS cho các em nữ trong độ tuổi vị thành niên góp phần nâng cao chất lượng dân số

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đi sâu vào một số hoạt động của Công tác xã hội trong việc nâng cao kỹ năng CSSKSS cho các em học sinh nữ trong độ tuổi vị thành niên tại trường THCS Nam Cường nói riêng và trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn nói chung

Đề ra các kiến nghị nhằm nâng cao kỹ năng CSSKSS của các em học sinh nữ THCS Nam Cường nói riêng và các em nữ THCS huyện Chợ Đồn nói chung trên cơ sở phân tích những nguyên nhân tác động đến nhóm học sinh này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu nhận thức, hành vi của các em học sinh nữ về một số nội dung CSSKSS: hiểu biết về sự thay đổi sinh lí của cơ thể con gái khi đến tuổi trưởng thành; hiểu biết về quan hệ tình dục sao cho đúng và an toàn; hiểu biết về các biện pháp tránh

thai và kế hoạch hóa gia đình; hiểu biết về những kiến thức làm mẹ sao cho an toàn

Tìm hiểu nhu cầu kiến thức cần tìm hiểu về CSSKSS của học sinh nữ trường THCS Nam Cường

Trang 22

Đi vào tìm hiểu các hoạt động của CTXH trong việc giúp các em nữ vị thành niên được tiếp cận thông tin, nâng cao kỹ năng trong việc CSSKSS

5 Câu hỏi nghiên cứu

1 Thực trạng CSSKSS cho các em học sinh nữ trong độ tuổi vị thành niên ở trường THCS Nam Cường hiện nay như thế nào?

2 Những yếu tố nào tác động tới nhận thức và hành vi chăm CSSKSS của các

em học sinh nữ độ tuổi vị thành niên?

3 Công tác xã hội có vai trò như thế nào trong việc giúp các em học sinh nữ

trong độ tuổi vị thành niên nâng cao kỹ năng CSSKSS?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Thực trạng CSSKSS cho các em nữ độ tuổi vị thành niên trường THCS Nam Cường cả về nhận thức và hành vi đều ở mức độ thấp

Có nhiều yếu tố khách quan tác động tới việc tiếp cận thông tin về CSSKSS của các em nữ độ tuổi vị thành niên, trong khi các em có nhu cầu được tìm hiểu sâu và rõ hơn về vần đề này

Có sự tham gia của Công tác xã hội trong trường học nhằm giúp các em học sinh hiểu rõ hơn về nội dung CSSKSS vị thành niên Tuy nhiên chỉ mang tính chất kiêm nhiệm chứ chưa có sự chuyên nghiệp, người làm CTXH chưa được đào tào, tập huấn một cách bài bản, chuyên sâu về CTXH

7 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

7.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em nữ độ tuổi vị thành niên và vai

trò của công tác xã hội

7.2 Khách thể nghiên cứu

Học sinh nữ lớp 6, lớp 7, lớp 8 và lớp 9 của trường THCS Nam Cường

Giáo viên chủ nhiệm và thành viên ban giám hiệu của trường THCS Nam Cường

Trang 23

Cha mẹ học sinh của trường THCS Nam Cường

Cô đỡ thôn bản

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn

Phân tích một số tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu thông qua sách báo, tạp chí nghiên cứu chuyên sâu, một số công trình nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan đến SKSS VSF CSSKSS đã được xuất bản và công bố

8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

- Đối tượng phỏng vấn sâu: là học sinh, giáo viên, ban giám hiệu, phụ huynh học sinh của trường THCS Nam Cường Trong đó đi vào phỏng vấn sâu 10 học sinh, 2 giáo viên, 2 phụ huynh học sinh, 2 cô đỡ thôn bản

- Nội dung phỏng vấn sâu:

+ Tìm hiểu nhận thức và hành vi của học sinh nữ trường THCS Nam Cường về

sự phát triển về thể chất và tâm lý của bản thân, hiểu biết của các em về qua hệ tình dục, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, làm mẹ sao cho

an toàn v.v

+ Tìm hiểu về nội dung, hướng dẫn về SKSS và CSSKSS, những kiến thức về SKSS và CSSKSS đã được truyền đạt cho các em của giáo viên và phụ huynh học sinh của trường

+ Tìm hiểu công tác CSSKSS và nội dung cụ thể của việc CSSKSS cho các em

nữ độ tuổi vị thành niên tại địa phương thông qua các cô đỡ thôn bản

8.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Điều tra thực trạng mức độ nhận thức và hành vi của học sinh nữ trường THCS Nam Cường về các nội dung liên quan đến SKSS và CSSKSS vị thành niên

Quy trình làm việc của nhân viên CTXH khi điều tra bằng bảng hỏi được tiến hành theo 2 bước như sau:

Trang 24

(1) Điều tra bằng bảng hỏi được thiết kế sẵn với hai loại câu hỏi đóng và mở (2) Tập hợp kết quả thu được xử lý theo tỷ lệ phần trăm và lập bảng thống kê về mức độ nhận thức và hành vi của học sinh nữ về các nội dung liên quan đến SKSS và CSSKSS vị thành niên

Điều tra được thực hiện với học sinh nữ lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9 của trường THCS Nam Cường

9 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: từ tháng 4/2014 đến tháng 9/2014

Phạm vi không gian: trường THCS Nam Cường, xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Giới hạn nội dung nghiên cứu:

- Thực trạng nhận thức về SKSS và hành vi CSSKSS của học sinh nữ trường THCS Nam Cường và nhu cầu kiến thức cần tìm hiểu của các em

- Vai trò của nhân viên CTXH trong việc thực hiện một số hoạt động của mình nhằm giúp các em nữ nâng cao kỹ năng CSSKSS vị thành niên với học sinh nữ tại trường THCS Nam Cường, huyện Chợ Đồn

10 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo kết cấu nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 1 nêu lên các khái niệm công cụ, lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu, đặc điểm địa bàn nghiên cứu, tình hình CSSKSS cho trẻ vị thành niên trên địa bàn xã Nam Cường và huyện Chợ Đồn và một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về

CSSKSS vị thành niên

Chương 2 Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em nữ trong độ tuổi vị thành niên của học sinh trường THCS Nam Cường

Trang 25

Chương 2 đi vào tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi vị thành niên, đi vào tìm hiểu thực trạng nhận thức và hành vi của học sinh nữ trường THCS Nam Cường về các nội dung liên quan đến SKSS và CSSKSS cũng như nhu cầu kiến thức cần tìm hiểu liên quan tới vấn đề này của các em

Chương 3 Nhân viên Công tác xã hội với việc nâng cao kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em nữ vị thành niên

Chương 3 phân tích các vai trò của CTXH và người nhân viên CTXH nhằm giúp các em nữ trong độ tuổi vị thành nâng cao kỹ năng CSSKSS Rút ra những mặt đã

và chưa đạt được của nhân viên Công tác xã hội khi thực hiện vai trò tại cơ sở

Trang 26

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm “vai trò”

Theo Robertsons: Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đi sâu vào vai trò chính là vai trò của nhân viên CTXH, đây vốn là vai trò khá đa dạng Vai trò của người nhân viên CTXH có vị trí quan trọng vì đây là những người sẽ làm việc trực tiếp với các thân chủ đang gặp khó khăn, cần được hỗ trợ Thực hiện vai trò của mình nhân viên CTXH trợ giúp cho các em học sinh nữ độ tuổi vị thành niên của trường THCS Nam Cường trong việc nâng cao kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản Do chưa có CTXH trong trường học nên việc phát huy được hết vai trò của một nhân viên CTXH sẽ gặp rất nhiều khó khăn

vì các em chưa hiểu thế nào là CTXH Nhất là với đề tài sức khỏe sinh sản, đây là một

đề tài khá nhạy cảm nên khi tiếp cận với các em cũng gặp những khó khăn nhất định như các em ngại chia sẻ, chia sẻ không sâu, không muốn chia sẻ…chính vì vậy mà nhân viên CTXH cần có sự can thiệp sao cho phù hợp

1.1.2 Khái niệm “vấn đề”

Theo định nghĩa của “từ điển tiếng Việt”:“vấn đề là điều cần được xem xét,

nghiên cứu, giải quyết” [15, 1098] Một vấn đề cần được giải quyết là một việc chưa

rõ ràng hoặc là một khó khăn cần phải được xác định rõ và là một điều khó hiểu, khó hoàn thành hoặc khó giải quyết

1.1.3 Khái niệm “công tác xã hội”

CTXH chính là một khoa học, một nghề và đối tượng của nó chính là các hoạt động xã hội đặc thù nhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái, đồng thời chính họ tự vươn lên để giải quyết các vấn đề đã và đang đặt ra của mình, từ đó hòa nhập với cộng đồng xã hội [20,tr 8]

Trang 27

Nhân viên CTXH với các kỹ năng được đào tạo về chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp là người trực tiếp làm việc để đạt các mục đích được định rõ, vận dụng các phương pháp, kỹ năng cơ bản trong CTXH để làm cho đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu, giải quyết điều chỉnh những vấn đề đang đặt ra của mình cho phù hợp với

sự thay đổi mô hình xã hội [20,tr 7]

1.1.4 Khái niệm “sức khỏe sinh sản vị thành niên” và “chăm sóc sức khỏe sinh sản

vị thành niên”

a/ “Vị thành niên là những người chưa đến tuổi trưởng thành để chịu trách

nhiệm về những hành động của mình” Vị thành niên là một giai đoạn trong quá trình

phát triển của con người, là một thời kỳ chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ với tuổi trưởng thành.Với những sự thay đổi nhanh chóng vầ thể chất và tinh thần để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kinh nghiệm, kiến thức về gia đình và xã hội Từ đó định hình nên nhân cách của mỗi cá nhân có thể nhận trách nhiệm xã hội đầy đủ

b/ Khái niệm SKSS của Chương trình hành động tại “Hội nghị quốc tế về Dân

số và phát triển” (ICDP) họp lần thứ tư tại Cairo – Ai Cập tháng 9/1994 được định

nghĩa là: “SKSS là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh cả thể chất, tinh thần và xã

hội, không chỉ đơn thuần là không bệnh tật hay không tàn tật trong mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản cũng như các chức năng và quá trình của hệ thống này”

SKSS vị thành niên là khái niệm bao gồm những nội dung về SKSS được giới hạn ở lứa tuổi vị thành niên Một số lĩnh vực được đề cập khi nói về SKSS vị thành niên bao gồm: hiểu biết về những biến đổi của cơ thể khi đến tuổi dậy thì – giai đoạn phát triển quan trọng của mỗi con người, những hiểu biết về quan hệ tình yêu, tình dục

an toàn và lành mạnh, nhận thức được các biện pháp tránh thai và cách sử dụng các biện pháp tránh thai trong thực tế cuộc sống, biết được độ tuổi nào nên kết hôn, có con

và sinh con, hiểu biết về thai nghén và giữ gìn sức khỏe khi mang thai Ngoài ra, các

em ở tuổi vị thành niên còn cần được biết các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, viêm nhiễm đường sinh sản, nạo phá thai và hậu quả của nó…

Trang 28

c/ Chương trình hành động của Hội nghị Cairo 1994 cũng đưa ra khái niệm

CSSKSS: “CSSKSS là một tập hợp của các biện pháp, kỹ thuật và dịch vụ đóng góp

cho SKSS và sự khỏe mạnh bằng cách ngăn ngừa và xử lí các vấn đề về SKSS” Nó

cũng bao gồm sức khỏe tình dục với mục đích tăng cường các quan hệ đời sống và cá nhân chứ không chỉ là hoạt động tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh lây nhiêm qua đường tình dục

CSSKSS vị thành niên bao gồm tư vấn về tuổi dậy thì, vệ sinh kinh nguyệt, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn và phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết xã hội hóa cá nhân

Nhà khoa học người Nga, G Andreeva đã định nghĩa: “Xã hội hóa là một quá

trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập các mối quan hệ xã hội” Theo đó thì cá nhân

trong quá trình xã hội hóa của mình không chỉ nhận kinh nghiệm từ xã hội môt cách đơn thuần mà cá nhân còn chuyển hóa nó thành những giá trị, xu hướng, chuẩn mực

của cá nhân để tham gia vào việc “tái tạo” chúng trong xã hội [10,tr.259]

Quá trình xã hội hóa cá nhân là quá trình chuyển biến con người từ chỉnh thể sinh vật thành một chỉnh thể xã hội Cá nhân trong quá trình xã hội hóa sẽ học tập, lĩnh hội các giá trị, chuẩn mực của xã hội bên ngoài Đồng thời không ngừng sáng tạo ra các giá trị, chuẩn mực mới của chình mình để có thể hòa nhập vào các mối quan hệ xã hội Xã hội hóa cá nhân là một quá trình liên tục, bắt đầu từ khi cá nhân đó được sinh

ra cho đến khi chết đi Quá trình này diễn ra không giống nhau trong mỗi giai đoạn của cuộc đời con người và gắn liền với quá trình trưởng thành của cá nhân Trong quá trình

Trang 29

xã hội hóa mỗi cá nhân vừa thu nhận kiến thức, kinh nghiệm của xã hội, vừa tích lũy kinh nghiệm của bản thân và chuyển hóa nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân

Có nhiều học giả khác nhau đã có những định nghĩa khác nhau về xã hội hóa và trong mỗi định nghĩa cũng nhấn mạnh tới cá nhân trong quá trình xã hội hóa đó Nhà

xã hội học Mỹ, Fichter đã định nghĩa “Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa người

này và người khác Kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó” Mỗi cá nhân dù trong môi trường xã hội

nào cũng đều nhận được sự tương tác cũng như học hỏi kinh nghiệm từ xã hội đó Từ

đó cá nhân chấp nhận và sáng tạo những hành động mới được xã hội chấp nhận

Ở đây, ngoài khái niệm xã hội hóa, xã hội hóa cá nhân thì khái niệm môi trường

xã hội hóa cũng được đề cập tới Môi trường xã hội hóa là mơi mỗi cá nhân có thể thực hiện các tương tác xã hội của chính mình nhằm thu nhập và tái tạo những kinh nghiệm

xã hội của chính mình Môi trường xã hội hóa có thể chia thành môi trường chính thức

và không chính thức Môi trường chính thức là cá nhân thu nhận và tái tạo kinh nghiệm

xã hội, học hỏi nhằm thực hiện tốt vai trò của mình thông qua các bài giảng trên lớp của thầy cô, sách, báo…Môi trường không chính thức là các cá nhân lĩnh hội và tái tạo kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực xã hội qua sự tác động, định hướng của xã hội [10,tr.260-263]

Gia đình, nhà trường, các nhóm bạn bè và thông tin đại chúng là những môi trường xã hội hóa có thể kể đến trong quá trình xã hội hóa cá nhân và có những tác động nhất định tới mỗi cá nhân trong quá trình xã hội hóa của mình

a/ Gia đình: là môi trường quan trọng nhất của mỗi cá nhân vì đấy là nơi mỗi cá nhân được sinh ra và lớn lên, là môi trường đầu tiên mà mỗi cá nhân được tiếp xúc Gia đình như một xã hội thu nhỏ với những nét văn hóa riêng, bản sắc riêng, lối sống riêng của từng gia đình…và những nét riêng này được xây dựng trên cơ sở nền tảng văn hóa chung của xã hội mà gia đình đó đang là một thành viên Mỗi cá nhân sẽ bắt đầu học tập các giá trị, chuẩn mực đầu tiên từ tiểu văn hóa gia đình này

Trang 30

Trong nghiên cứu này, môi trường gia đình được tiếp cận dưới khía cạnh loại hình gia đình, dân tộc và nghề nghiệp của cha mẹ học sinh…Đây là những nhân tố tác động tới vấn đề chăm sóc sức khỏe của các em nữ vị thành niên

b/ Nhà trường/ trường học: đây là môi trường mà mỗi cá nhân thu nhận được những kiến thức khoa học cơ bản về văn hóa, xã hội và tự nhiên Bên cạnh đó cá nhân cũng bước đầu học cách tạo lập những mối quan hệ xã hội làm nền tảng cho cuộc sống sau này

Với nghiên cứu này, nhà trường được tiếp cận như một kênh thông tin cung cấp cho cá nhân những kiến thức, nội dung về sức khỏe sinh sản như sự thay đổi của tuổi dậy thì, sự phát triển của cơ thể, kinh nguyệt… Sự khác nhau về khối lớp THCS là một yếu tố tác động tới vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em nữ vị thành niên

c/ Nhóm bạn bè: Việc thu nhận những kinh nghiệm xã hội của mỗi cá nhân có vai trò không nhỏ của những người bạn theo cả con đường chính thức và không chính thức Những kinh nghiệm không chỉ được thu nhận qua việc học tập, báo đài, truyền thông…mà còn được thông qua những kênh giao tiếp cá nhân Nhóm bạn bè cũng là một nhân tố quan trọng tác động tới vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em nữ

vị thành niên

d/ Truyền thông đại chúng: là một kênh thông tin không thể thiếu trong xã hội hiện đại ngày nay Báo chí, đài, ti vi, internet…là những kênh thông tin quan trọng trong quá trình xã hội hóa cá nhân mà ta không thể không nhắc đến Không chỉ cung cấp cho cá nhân những thông tin chủ yếu, cần thiết mà cá nhân cần mà còn giúp các cá nhân có những định hướng, quan điểm của chính mình với các vấn đề mà cá nhân được tiếp nhận

Đối với nghiên cứu được thực hiện ở một xã miền núi này thì phương tiện thông tin đại chúng sẽ góp phần không nhỏ trong quá trình tiếp nhận những thông tin hữu ích cho cá nhân Đây cũng là nhân tố có tác động không nhỏ tới vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em nữ vị thành niên

Trang 31

Xã hội hóa ở lứa tuổi vị thành niên là vô cùng quan trọng vì lúc này các em bắt đầu bước ra xã hội, bước đầu tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn từ xã hội Tuy việc tiếp nhận này còn thụ động nhưng sẽ giúp các cá nhân có được những kinh nghiệm xã hội được bổ sung qua quá trình học tập và lao động Các các nhân sẽ học cách phân tích, đánh giá các giá trị chuẩn mực của xã hội được tiếp nhận để làm kinh nghiệm cho bản thân, từ đó sáng tạo nên hững giá trị chuẩn mực mới cho xã hội

và được xã hội chấp nhận

Vận dụng vào đề tài này, xác định và tìm hiểu việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em nữ độ tuổi vị thành niên được dựa trên quá trình xã hội hóa cá nhân của học sinh nữ lứa tuổi vị thành niên Những môi trường xã hội hóa quan trọng mà cá nhân được đặt vào trong như gia đình, nhà trường, các bạn đồng trang lứa, các bạn học cùng trường lớp, phương tiện thông tin đại chúng, xã hội ảnh hưởng tới việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em nữ cũng như sự trưởng thành, phát triển của chính các em Vận dụng lý thuyết về xã hội hóa cá nhân trong đề tài là cơ sở quan trọng khi nghiên cứu lứa tuổi vị thành niên (nghiên cứu tại trường THCS) với quá trình xã hội hóa cá nhân đang diễn ra mạnh mẽ, các em đang bắt đầu học hỏi và thiết lập các mối quan hệ

xã hội mới, các tương tác xã hội mới xung quanh, đồng thời chính cá nhân các em cũng chịu tác động từ sự biến đổi của đời sống xã hội Từ đó, nhân viên Công tác xã hội thực hiện những vai trò của mình trong việc giúp các em học sinh nữ nâng cao những kỹ năng trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản nói riêng và trẻ vị thành niên nói chung

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu

Nhu cầu là một yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân Nhu cầu của con người khi được thỏa mãn sẽ tạo cho họ cảm giác thoải mái, an toàn cho sự phát triển Nhưng khi nhu cầu của con người không được đáp ứng

sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng

Có thể hiểu định nghĩa nhu cầu theo nhiều cách khác nhau, theo định nghĩa thì

“nhu là cần thiết, cầu là đòi hỏi, mong muốn Vậy nhu cầu là một yếu tố cần thiết, tất

Trang 32

yếu để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cá nhân” Theo từ điển Tiếng Việt “nhu cầu là điều đòi hỏi của đời sống tự nhiên và xã hội” [15,tr 51-52]

Nhu cầu của con người có thể được sắp xếp theo nhiều cách nhưng nhu cầu của con người đều cơ bản bao gồm các nhu cầu sau:

Biểu đồ 1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow [17]

Abraham Maslow đã chia nhu cầu của con người thành 5 bậc thang theo vị trí từ thấp đến cao Theo ông thì con người cần thỏa mãn những nhu cầu ở vị trí bậc thang đầu tiên trước rồi mới hướng tới thỏa mãn những nhu cầu ở vị trí cao hơn

Nhu cầu thể chất/sinh lí: đây là những nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, ở, không khí, nước uống… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất của mỗi con người

để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của họ trong xã hội Nếu nhu cầu này không được đáp ứng thì sự sinh tồn của họ sẽ bị đe dọa

Trang 33

Nhu cầu an toàn: được đảm bảo trên nhiều phương diện khác nhau, con người sống cần có một môi trường an toàn, sức khỏe được đảm bảo để họ tồn tại Để đảm bảo nhu cầu này họ cần óc nhà ở, việc làm, sức khỏe, môi trường sống an toàn, lành mạnh không đe dọa tới tính mạng của họ Sống trong môi trường không an toàn con người sẽ rất khó phát triển khi họ luôn mang trong mình nỗi sợ hãi

Nhu cầu tình cảm xã hội: đây là nhu cầu mà các thành viên mong muốn được gắn bó, yêu thương Con người sống không thể chỉ sống một mình, họ cần có gia đình, được thuộc về một nhóm nào đó, được học tập giao lưu với thầy cô, bạn bè Khi được tham gia vào các nhóm họ sẽ thấy được vị trí, vai trò của mình, được mọi người thừa nhận về sự tồn tại của mình Mỗi cá nhân sẽ thấy được sự quan tâm, yêu thương của các thành viên khác trong nhóm dành cho mình

Đối với mỗi người gia đình là nhóm xã hội cơ bản nhất, họ sẽ cảm thấy được an toàn, được che chở khi sống với cha mẹ, anh chị em trong gia đình Việc tham gia các nhóm xã hội sẽ giúp họ được giao lưu, hòa nhập với những người khác, họ sẽ thấy tự tin và sức mạnh của mình được nhân lên Họ sẽ tự mình khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong xã hội khi tham gia các nhóm xã hội

Nhu cầu được tôn trọng: dù là trẻ em hay người lớn, là nam hay nữ, người lành lặn hay người khuyết tật… thì con người luôn cần được tôn trọng, được đối xử bình đẳng, được lắng nghe, không bị coi thường Khi con người được đối xử bình đẳng dù là

ở trong bất cứ môi trường, hoàn cảnh nào cũng sẽ tạo nên cho họ tâm lý thoải mái, tăng

sự tự tin và công việc sẽ đạt hiệu quả cao hơn Ai cũng có nhu cầu dược đối xử bình đẳng, được lắng nghe và được phát biểu ý kiến dù cho họ là ai

Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển: là nhu cầu phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình Khi đạt được tới nhu cầu này nghĩa là các nhu cầu

cơ bản ở bậc thang nên tảng bên dưới đã được đáp ứng Nhu cầu ở nhóm này thuộc về nhu cầu lý tưởng, tính thực tế trong cuộc sống, tinh thần đồng đội, nhu cầu về sự riêng

Trang 34

tư cá nhân… Đây là nhu cầu có ý nghĩa quan trọng song sẽ khó đạt được nếu không đáp ứng được các nhu cầu thấp hơn.[17,tr 66]

Nhu cầu của con người luôn tồn tại, thay đổi, phát triển và đan xem lẫn nhau, phụ thuộc và quan hệ qua lại nhau Sự đáp ứng nhu cầu này sẽ ảnh hưởng tới sự đáp ứng nhu cầu khác Các nhu cầu là quan trọng và cần thiết vì chúng là yếu tố bảo đảm

sự tồn tại và phát triển của con người, do đó con người luôn thực hiện các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu của mình

Vận dụng vào đề tài này, tìm hiểu nhu cầu của các em học sinh về kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản mà các em muốn tìm hiểu Những nội dung nào mà các em mong muốn được tìm hiểu sâu sắc hơn nữa Việc đáp ứng nhu cầu này là cần thiết với các em học sinh ở lứa tuổi này vì đây là nhu cầu cơ bản nhất về sinh lí của bản thân các

em mà các em cần được biết và đáp ứng Đối với các em học sinh trường THCS Nam Cường việc các em được đáp ứng những nhu cầu kiến thức mà các em mong muốn sẽ

là cơ sở để các em được tìm hiểu kỹ hơn những kiến thức mà các em chưa có cơ hội được tiếp cận nhưng lại rất cần thiết với các em Qua đó nhân viên công tác xã hội sẽ biết được các em có mong muốn tìm hiểu kiến thức ở những mảng nào để đáp ứng nhu cầu của các em nâng cao những kỹ năng trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản

1.2.3 Tham vấn

“Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý trong đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình”.[17,tr 7] Tham

vấn có thể được thực hiện với cá nhân, gia đình hay nhóm người có cùng vấn đề hay mối quan tâm Bản chất của tham vấn không phải là cho lời khuyên mà là hoạt động nâng cao nhận thức cho thân chủ của mình Giúp cho thân chủ tự mình giải quyết được những vấn đề họ gặp phải trong cuộc sống và giúp họ phát triển khả năng của chính

bản thân mình

Trang 35

Bản chất của tham vấn không phải là việc cho ai đó lời khuyên mà là một hoạt động nâng cao năng lực, điều này sẽ giúp bản thân mỗi cá nhân tăng khả năng tự giải quyết vấn đề của mình trong cuộc sống Hoạt động tham vấn sẽ giúp mỗi cá nhân tăng cường sự hiểu biết về bản thân, về môi trường xung quanh mình để từ đó thay đổi những cảm xúc, hành vi của mình sao cho phù hợp nhất Hoạt động tham vấn giúp các

cá nhân tăng cường kỹ năng sống, biết cách nhìn nhận vấn đề, tự tin vào chính mình Bằng những kỹ năng chuyên môn, nhà tham vấn sẽ giúp mỗi cá nhân khơi dậy tiềm năng và sức mạnh nội tại của chính mình để tự bản thân mỗi cá nhân có khả năng tự ứng phó với những tình huống phát sinh trong cuộc sống và tăng cường khả năng thích nghi xã hội của mỗi cá nhân [17,tr.7-10]

Trong quá trình tham vấn cho thân chủ nhà tham vấn cần tuân thủ đúng các giá trị đạo đức và nguyên tắc đạo đức trong tham vấn Điều này sẽ giúp nhà tham vấn làm việc hiệu quả, chất lượng và giúp thân chủ giải quyết vấn đề một cách khách quan nhất Đối với một nhà tham vấn thì các kỹ năng khi làm việc với thân chủ cũng rất quan trọng Các kỹ năng có thể được sử dụng chung hoặc riêng biệt với từng tình huống

Có nhiều loại hình tham vấn khác nhau tùy thuộc theo nhóm đối tượng hay cách thức can thiệp của nhà tham vấn Căn cứ theo nhóm đối tượng được can thiệp của tham vấn có tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm, tham vấn gia đình Căn cứ theo hình thức can thiệp có tham vấn trực tiếp và tham vấn gián tiếp Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ mang ý nghĩa tương đối vì trong một số trường hợp để giúp một cá nhân giải quyết vấn

đề ta có thể sử dụng cả tất cả các hình thức tham vấn Nhà tham vấn trong quá trình trợ giúp có thể sử dụng linh hoạt các loại hình tham vấn để giúp thân chủ trong giải quyết vấn đề của mình

Để tham vấn cho thân chủ đạt kết quả tốt nhất nhà tham vấn cần tiến hành theo một chuỗi các hoạt động tương tác giữa các yếu tố để tạo ra sự thay đổi trong một quá trình thời gian và theo một hướng nhất định gọi là tiến trình Nhà tham vấn trong tiến trình tham vấn sử dụng các kiến thức kỹ năng chuyên môn, các giá trị đạo đức nghề

Trang 36

nghiệp để giúp thân chủ Một tiến trình tham vấn có thể gồm nhiều bước khác nhau nhưng với các bước cơ bản như tạo lập mối quan hệ, thu thập thông tin nhằm xác định vấn đề, thực hiện giải pháp cho vấn đề đang tồn đọng nhà tham vấn cũng có thể giúp

đỡ thân chủ tốt nhất.[17,tr35-38]

Vận dụng vào đề tài này, tạo lập mối quan hệ với các em học sinh xác định và tìm hiểu việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em Từ đó thu thập thông tin liên quan tới vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em học sinh cả về mặt nhận thức cũng như hành vi Trong quá trình tham vấn, nhân viên xã hội sử dụng kiến thức và kỹ năng chuyên môn hỗ trợ các em học sinh vượt qua những khó khăn về tâm lý, bộc lỗ những suy nghĩ của mình Việc thúc đẩy các em chia sẻ những khó khăn, thắc mắc của mình để từ đó nhà tham vấn giúp các em nhận thức được vấn đề đang tồn tại hiện nay của mình là gì Từ đó các em học sinh sẽ nhận ra vấn đề hiện tại của mình nằm ở đâu

và tự xác định được giải pháp giải quyết vấn đề của mình sao cho hiệu quả nhất Với các em học sinh của trường do nhiều yếu tố khách quan khác nhau tác động nên nhà tham vấn cần liên kết các nguồn lực từ gia đình, nhà trường, cộng đồng nhằm giúp các

em tự mình giải quyết vấn đề tốt nhất Vận dụng tham vấn khi làm việc với các em nữ

vị thành niên là quan trọng vì đây là giai đoạn mà các em có những thay đổi lớn cả về thể chất và tâm lí nên việc tham vấn sẽ giúp các em không thấy khủng hoảng với những sự thay đổi này Nhất là với các em học sinh của trường ít có cơ hội tiếp cận các nguồn cung cấp thông tin về vấn đề này

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

Thanh thiếu niên là những thành phần cốt cán trẻ tương lai của đất nước, chính

vì vậy việc chăm sóc sức khỏe cho các em là rất cần thiết Trong đó việc CSSKSS cho thanh thiếu niên rất được quan tâm vì nó không chỉ ảnh hưởng về mặt sức khỏe mà còn ảnh hưởng tới việc duy trì những mầm non tương lai sau này Chính vì vây, Đảng và

Trang 37

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chương trình có liên quan tới việc CSSKSS cho thanh thiếu niên Việt Nam

Luật Thanh niên được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 đã quy định: Điều 21: “Nhà nước có chính sách đầu tư, khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng các cơ sở y tế, cơ sở hoạt động thể dục, thể thao; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho thanh niên, tổ chức tư vấn cho thanh niên về dinh dưỡng, sức khỏe tinh thần, sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống, phòng chống ma túy, HIV/AIDS, phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các bệnh xã hội khác”

Điều 22: “Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các hoạt động tư vấn về tình yêu, hôn nhân, gia đình, thực hiện kế hoạch hóa gia đình trong thanh niên”

Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 14 tháng 11 năm 2011 đã nêu: Để thực hiện mục tiêu tổng quát “Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân

số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, một trong mười một mục tiêu cụ thể được xác định trong chiến lược là “Cải thiện sức khỏe sinh sản của người chưa thành niên và thanh niên” với các chỉ tiêu “Tăng tỷ lệ điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thân thiện với người chưa thành niên và thanh niên lên 50% tổng số điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vào năm 2015 và 75% vào năm 2020; Giảm 20% số người chưa thành niên có thai ngoài ý muốn vào năm 2015 và giảm 50% vào năm 2020”

Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30/12/2011 đã quy định: “Chiến lược đưa ra chỉ tiêu đến năm

2020, có ít nhất 80% thanh niên được trang bị kỹ năng sống, kiến thức về bình đẳng giới, SKSS, xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng chống bạo lực gia đình; hàng năm tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng làm cha mẹ cho ít nhất 200.000 thanh niên đến tuổi kết hôn”

Trang 38

Ngoài các văn bản trên thì Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản có liên quan về lĩnh vực sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản tới các cơ sở y tế trên cả nước nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc chăm sóc SKSS cho thanh thiếu niên tại các địa phương:

+ Qui định nhiệm vụ kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc SKSS tại các cơ sở y tế (Bộ Y tế đã ban hành tháng 2 năm 2001): Theo qui định này thì tuyến tỉnh có nhiệm vụ quản lý và giám sát công tác chăm sóc SKSS trong phạm vi địa phương và tư vấn về SKSS Tuyến huyện có trách nhiệm đào tạo, đào tạo lại cho cán bộ tuyến dưới về SKSS bao gồm cả việc tư vấn SKSS cho vị thành niên Trạm y tế xã cũng có trách nhiệm “Giáo dục, tu vấn cho vị thành niên về quan hệ tình dục an toàn, lành mạnh Cung cấp các dịch vụ cần thiết như thuốc tránh thai, bao cao su để phòng tránh thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục”

+ Kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của VTN-TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 (Bộ Y tế đã ban hành theo Quyết định số 2010/QĐ-BYT ngày 7/6/2006) Mục tiêu chung nhằm duy trì

và cải thiện tình trạng sức khoẻ bao gồm cả sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của nhóm tuổi trẻ, cải thiện và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

có chất lượng, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến sức SKSS, SKTD, phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, phòng chống tai nạn thương tích, lạm dụng chất gây nghiện và sức khoẻ tâm thần Hạn chế tốc độ gia tăng, tiến tới làm giảm tỷ lệ có thai ngoài ý muốn, nhiễm HIV, tai nạn thương tích, lạm dụng chất gây nghiệm và rối loạn tâm lý ở vị thành niên và thanh niên; các chỉ tiêu cần đạt đến năm

2010 gồm: Giảm 30% có thai ngoài ý muốn ở vị thành niên và thanh niên; Giảm 30% nhiễm HIV ở vị thành niên và thanh niên

+ Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc chăm sóc sức khỏe sinh sản (Bộ

Y tế ban hành theo Quyết định số 4620/QĐ-BYT ngày 25 tháng 11 năm 2009) Để thực hiện mục tiêu Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức

Trang 39

khỏe của vị thành niên và thanh niên Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 và định hướng đến năm 2020 và góp phần thực hiện mục tiêu của Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010, phần 6 của bản hướng dẫn đề cập đến SKSS vị thành niên

và thanh niên, bao gồm: những đặc điểm giải phẫu, tâm sinh lý trong thời kỳ vị thành niên; kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục của vị thành niên

và thanh niên; Tình dục an toàn và lành mạnh; Tư vấn về sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên; Kinh nguyệt và xuất tinh ở vị thành niên; Thăm khám sức khỏe sinh sản cho vị thành niên và thanh niên; Các biện pháp tránh thai cho vị thành niên và thanh niên; Mang thai ở vị thành niên; Vị thành niên và thanh niên với vấn đề bạo hành; Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên và thanh niên

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Nam Cường

Huyện Chợ Đồn là một huyện vùng núi cao nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn với diện tích tự nhiên 912,93km2 với 21 xã và 01 thị trấn với tổng số dân trên 51 nghìn người Dù nhận được sự quan tâm, đầu tư giúp đỡ của Trung ương và của Tỉnh nhưng Chợ Đồn vẫn là một huyện nghèo với tỉ lệ hộ nghèo còn cao, chiếm tới 20,93% tổng dân số, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn nhất là vùng sâu vùng xa (vùng đồng bào dân tộc Mông, Dao) Các điều kiện về chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể chất cho người dân còn nghèo nàn chưa đáp ứng được nhu cầu Địa bàn huyện có nhiều dân tộc khác nahu cùng sinh sống, trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều giữa các vùng Một số hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại, nhất là trong đồng bào các dân tộc thiểu số

Nam Cường là một xã của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, có diện tích 30 km², dân số khoảng 2876 người, được chia thành 11 thôn bản: Nà Lịn, Nà Liên, Nà Mèo, Mới, Cốc Lùng, Phiêng Cà, Cọn Poỏng, Chảy, Quá, Lồm, Lũng Noong Với 04 cộng đồng dân tộc khác nhau cùng sinh sống như Tày, Mông, Dao, Nùng cùng sinh sống, ngoài ra trên địa bàn xã còn có một số dân tộc như Mường, Thái, Sản Chỉ sinh sống nhưng số lượng quá ít trong tổng dân số của xã (chiếm gần 0,45%) Trong các cộng

Trang 40

đồng dân tộc thì dân tộc Mông chiếm tỷ lệ lớn nhất với 42,5% dân số của toàn xã, sau

đó là Tày 25,3%, Nùng 17,4%, Dao 13,3% Các dân tộc sống rải rác tại các thôn, bản khác nhau, do đặc thù dân tộc nên người dân tộc Mông thường sống tách biệt tại các sườn núi, đồi…chỉ có một số ít sống tại trung tâm xã cùng các dân tộc khác Vì đặc thù

ấy mà họ ít được tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, các hoạt động thăm khám sức khỏe thường xuyên do điều kiện giao thông đi lại khó khăn, các hộ gia đình lại cách khá xa nhau

Người dân của xã chủ yếu sinh sống dựa vào hoạt động nông nghiệp, làm nương rẫy quanh năm nên nguồn thu nhập rất hạn hẹp Đời sống của người dân chưa có sự khởi sắc, không có nguồn thu ổn định mà chỉ đảm bảo mức sống tối thiểu nhất của người dân nơi đây Tuy có nhiều hộ gia đình đã biết sản xuất, kinh doanh thêm để trang trải cuộc sống nhưng do nhiều vấn đề cộng lại làm cho đời sống kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn Nhất là các hộ gia đình người dân tộc thiểu số Mông, Dao từ trình

độ nhận thức đến đời sỗng của họ đều cần nhận được sự quan tâm hơn nữa khi mà họ sống tách biệt với mọi người và nhiều hủ tục lạc hậu trong cuộc sống vẫn được duy trì ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của họ và gia đình

Trong những năm qua cùng với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo từ Trung ương tới địa phương xã Nam Cường đã nhận được nhiều sự giúp đỡ cả về vật chất, cơ

sở hạ tầng…nhưng đến nay nhiều hạng mục chưa được hoàn thiện, xuống cấp như trụ

sở làm việc, kênh mương thủy lợi…Trường học ở đây còn nhiều lớp tạm bợ, tềnh toàng chưa được xây dựng kiên cố nên còn nhiều khó khăn trong học tập và vui chơi của các em Do điểm xuất phát thấp, kinh tế hàng hóa chậm phát triển, đời sống người dân còn nhiều khó khăn khi người dân chủ yếu vẫn sống tự cung tự cấp, nhất là ở các bản làng xa như Bản Chảy, Nà Mèo, Phiêng Cà…Điều kiện giao thông đi lại khó khăn cũng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới đời sống của bà con nơi đây

1.4.2 Khái quát chung về trường THCS Nam Cường

Ngày đăng: 06/03/2023, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, Daniel Weitraub, Meredith Caplan (1999), Khảo sát, đánh giá về kiến thức, thái độ thực hành của vị thành niên, thanh niên Hải Phòng với các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát, đánh giá về kiến thức, thái độ thực hành của vị thành niên, thanh niên Hải Phòng với các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, Daniel Weitraub, Meredith Caplan
Năm: 1999
2. Nguyễn Hoàng Anh, luận văn thạc sĩ khoa học xã hội học (2007), Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay (nghiên cứu tại trường PTTH Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội và trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm, Hà Nội), ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay (nghiên cứu tại trường PTTH Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội và trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm, Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Nhà XB: ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
3. Trần Văn Chiến, Đỗ Ngọc Tấn, Giáo dục dân số sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho học sinh THPT và vị thành niên, Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục dân số sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho học sinh THPT và vị thành niên
4. Bộ Y tế, Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình (1998), Chương trình sức khỏe sinh sản, Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế, Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình
Năm: 1998
5. Bộ Y tế (2004), Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2004
6. Bộ Y tế (2001), Quyết định sô 385/2001/QĐ-BYT về việc ban hành qui định nhiệm vụ kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định sô 385/2001/QĐ-BYT về việc ban hành qui định nhiệm vụ kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế, Hà Nội
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2001
7. Bộ y tế (2006), Quyết định số 2010/QĐ-BYT ngày 7/6/2006: Kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của VTN-TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2010/QĐ-BYT ngày 7/6/2006: Kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của VTN-TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2006
8. Bộ Y tế (2009), Quyết định số 4620/QĐ-BYT ngày 25 tháng 11 năm 2009: Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc chăm sóc sức khỏe sinh sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4620/QĐ-BYT ngày 25 tháng 11 năm 2009: Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2009
9. Bệnh viện phụ sản Trung ương (2012), Thống kê 5 năm (2008 – 2012) của trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản – kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội – Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê 5 năm (2008 – 2012) của trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản – kế hoạch hóa gia đình
Tác giả: Bệnh viện phụ sản Trung ương
Nhà XB: Bệnh viện phụ sản Trung ương
Năm: 2012
10. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
11. Nguyễn Thị Phương Dung, luận văn thạc sĩ xã hội học (2007), Nhận biết về sức khỏe sinh sản của học sinh ( Nghiên cứu tại trường THPT quận Hoàng Mai, Hà Nội), ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận biết về sức khỏe sinh sản của học sinh
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Dung, luận văn thạc sĩ xã hội học
Năm: 2007
12. Nguyễn Thị Hoài Đức, Anke Van Dam, Vũ Thu Hà, Phan Thanh Tuyền, Kiến thức, thái độ, hành vi của vị thành niên liên quan đến sức khỏe sinh sản và tình dục tại Hà Nội và Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, hành vi của vị thành niên liên quan đến sức khỏe sinh sản và tình dục tại Hà Nội và Ninh Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Đức, Anke Van Dam, Vũ Thu Hà, Phan Thanh Tuyền
13. Trần Thị Minh Đức (2012), Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
16. Lưu Bích Ngọc (2004), Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên: Thực trạng kiến thức và những nhu cầu chưa đáp ứng về thông tin – giáo dục – truyền thông, Tạp chí Dân số và phát triển, số 2, tr 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên: Thực trạng kiến thức và những nhu cầu chưa đáp ứng về thông tin – giáo dục – truyền thông
Tác giả: Lưu Bích Ngọc
Nhà XB: Tạp chí Dân số và phát triển
Năm: 2004
17. Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), Nguyễn Thị Thái Lan, Lim Shaw Hui (2008), Giáo trình tham vấn, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), Nguyễn Thị Thái Lan, Lim Shaw Hui
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2008
18. Dương Thị Diệu Hoa (2012), Giáo trình tâm lí học phát triển, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học phát triển
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
19. Khuất Thu Hồng (1999) , Báo cáo kết quả cuộc thi khảo sát tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả cuộc thi khảo sát tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên
Tác giả: Khuất Thu Hồng
Năm: 1999
20. Mai Thị Kim Thanh (2011), Giáo trình nhập môn Công tác xã hội, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Mai Thị Kim Thanh
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2011
21. Nguyễn Thị Thiềng, Lưu Bích Ngọc (2006), Sức khỏe thanh thiếu niên Việt Nam, điều tra ban đầu – Chương trình Rhiya, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe thanh thiếu niên Việt Nam, điều tra ban đầu – Chương trình Rhiya, Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thiềng, Lưu Bích Ngọc
Nhà XB: Chương trình Rhiya, Hà Nội
Năm: 2006
22. Đinh Thị Minh Tuyết (2013), Chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, phòng chống HIV cho thanh thiếu niên, Học viện hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, phòng chống HIV cho thanh thiếu niên
Tác giả: Đinh Thị Minh Tuyết
Nhà XB: Học viện hành chính
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w