1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ tiểu thuyết lịch sử việt nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại (qua việc khảo sát một số tác phẩm những năm gần đây)

100 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Thuyết Lịch Sử Việt Nam Nhìn Từ Góc Độ Loại Hình Thể Loại (Qua Việc Khảo Sát Một Số Tác Phẩm Những Năm Gần Đây)
Tác giả Nguyễn Thùy Minh
Người hướng dẫn PGS.TS Mai Thị Hương
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó chúng tôi đã lựa chọn đề tài “ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại Qua việc khảo sát một số tác phẩm những năm gần đây” cho luận văn của mình.. Theo khảo

Trang 1

NGUYỄN THÙY MINH

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHÌN TỪ

Trang 2

NGUYỄN THÙY MINH

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHÌN TỪ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Thị Hương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 4

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN 7

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN 8

PHẦN NỘI DUNG 11

Chương 1: ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 11

1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: 11

1.1.1 Giới thuyết khái niệm tiểu thuyết lịch sử: 11

1.1.2 Đặc trưng thể loại của tiểu thuyết lịch sử: 13

1.2 KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 20

1.2.1 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam qua các thời kì phát triển: 20

1.2.2 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong khuynh hướng phát triển chung của thể loại tiểu thuyết những năm gần đây: 22

Chương 2: CÁC PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 28

2.1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN, ĐIỂM NHÌN 28

2.1.1 Những vấn đề lý thuyết: 28

2.1.2 Khảo sát tác phẩm: 34

Trang 4

2.2 GIỌNG ĐIỆU: 48

2.2.1 Giọng điệu tự hào trước lịch sử : 49

2.2.2 Giọng điệu hoài nghi trước lịch sử : 51

2.2.3 Giọng điệu mang tính nhân đạo sâu sắc: 52

3.3 THỜI GIAN: 54

2.4 KẾT CẤU: 59

2.4.1 Tính “vòng tròn” của kết cấu: 60

2.4.2 Sự xâm nhập của các thể loại vào trong kết cấu tiểu thuyết: 61

Chương 3: VẤN ĐỀ HƯ CẤU VÀ XU HƯỚNG HUYỀN THOẠI HÓA TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 64 3.1 NHÂN VẬT: 64

3.1.1 Hệ thống nhân vật có thực trong lịch sử: 65

3.1.1.1 Kiểu nhân vật lập trường tư tưởng hoặc tâm lý: 66

3.1.1.2 Kiểu nhân vật số phận – tính cách: 74

3.1.2 Hệ thống nhân vật hư cấu hoàn toàn: 79

3.1.2.1 Các nhân vật nữ: 80

3.1.2.2 Nhân vật mang tính chất huyền ảo: 82

3.2 XU HƯỚNG HUYỀN THOẠI HÓA: 85

3.2.1 Không gian huyền ảo: 86

3.2.2 Việc sử dụng văn hóa dân gian và mô típ “vật hóa” nhân vật: 88

KẾT LUẬN 92

THƯ MỤC THAM KHẢO 94

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong khi các nhà phê bình và bạn đọc tâm huyết còn đang loay hoay với câu hỏi tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu thì tiểu thuyết, từ trong nội tại vẫn tồn tại và phát triển, thậm chí là bộ phận phát triển mạnh mẽ nhất của văn học Việt Nam đương đại Đặc biệt, những năm gần đây (chúng tôi tính từ năm

1986 đến nay), tiểu thuyết Việt Nam đang cố gắng đổi mới để theo kịp thế giới và theo kịp sự vận động của lý luận thể loại Dù chưa có những thành tựu đặc biệt, những cố gắng cách tân của tiểu thuyết Việt Nam thời gian qua là đáng ghi nhận Trong hiện trạng chung trên, tiểu thuyết lịch sử (TTLS) nổi lên như một mảng sáng dù nhỏ nhoi nhưng cũng để lại khá nhiều cảm xúc Xét trong không nhiều những tiểu thuyết gây được sự chú ý của giới phê bình và bạn đọc thì có đến gần một nửa là TTLS Ngoài việc nhận được sự quan tâm của độc giả, TTLS cũng “thu hoạch” được khá nhiều giải thưởng chính thức Năm 2003, giải thưởng tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam được trao cho

cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Năm tiếp theo, giải thưởng này lại được trao cho một tiểu thuyết lịch sử khác là Giàn thiêu của

Võ Thị Hảo Dường như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh rất có duyên với

TTLS vì một tác phẩm khác của ông, Mẫu thượng ngàn, cũng đã nhận được

giải thưởng tiểu thuyết của Hội nhà văn Hà Nội năm 2006

Nói như vậy để thấy rằng, TTLS Việt Nam những năm gần đây là một

bộ phận quan trọng trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung Vì thế, cũng đã có nhiều bài nghiên cứu, phê bình và luận văn, luận án viết về TTLS Việt Nam Tuy nhiên, vẫn

Trang 6

thực sự cần có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống nhìn từ góc độ đặc trưng thể loại Do đó chúng tôi đã lựa chọn đề tài “ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại (Qua việc khảo sát một số tác phẩm những năm gần đây)” cho luận văn của mình Chúng tôi tiếp cận đối tượng từ góc độ loại hình thể loại vì TTLS cũng là một tiểu loại trong thể loại tiểu thuyết Nó mang những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết và cũng có một

số đặc điểm riêng biệt của tiểu loại TTLS Chúng tôi hi vọng rằng luận văn này sẽ góp phần để có một sự tổng hợp rộng hơn (không dám nói là toàn diện)

về TTLS Việt Nam những năm gần đây Và nếu may mắn thì có thể tìm ra được một số qui luật nào đó trong sự phát triển của TTLS Việt Nam

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Mặc dù TTLS là một đối tượng hấp dẫn, nhưng chưa có những công trình nghiên cứu công phu về nó, đặc biệt là hầu như chưa có công trình nào

được xuất bản thành sách hay chuyên luận Chỉ có chuyên luận Tiểu thuyết

lịch sử của GS.VS Phan Cự Đệ được in trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX

Tuy nhiên, chuyên luận này chỉ dừng lại ở việc khảo sát TTLS Việt Nam đến hết thế kỷ XX, còn các tác phẩm gần 10 năm đầu thế kỷ XXI thì chưa được nhắc đến

Những bài nghiên cứu chủ yếu được đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành hoặc trên mạng internet Theo khảo sát của chúng tôi, về TTLS Việt Nam những năm vừa qua có các bài nghiên cứu sau:

- Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm

2005: Tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (từ góc độ

thể loại), của Nguyễn Danh Phú

Trang 7

- Bài nghiên cứu Tiểu thuyết và lịch sử của Lại Nguyên Ân đăng trên diễn đàn

“Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu” của báo điện tử Vietnamnet ngày 31/10/2005

- Bài nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam đương đại, suy nghĩ từ những tác

phẩm mang chủ đề lịch sử và báo cáo khoa học Cá nhân hóa hư cấu của TS

Phạm Xuân Thạch, được đăng trên website cá nhân của tác giả

- Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm

2008: Hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử qua Hồ Quý Ly và Giàn thiêu của

Lê Thị Bích Hòa

- Bài báo của nhà phê bình Hoài Nam có tên: Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam:

tiểu thuyết hay truyện kể đăng trên diễn đàn “Tiểu thuyết Việt Nam đang ở

đâu” của Vietnamnet ( http://www.vnn.vn ngày 17/10/2008)

- Bài nghiên cứu của TS Trần Thị An trên Tạp chí nghiên cứu văn học: Sức

ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết "Mẫu thượng ngàn”

- Bài phỏng vấn của nhà văn Trung Trung Đỉnh với tác giả Nguyễn Xuân

Khánh và Ngô Văn Phú Viết tiểu thuyết lịch sử cũng cần hư cấu được đăng

trên báo điện tử: http://www.vietbao.com

- Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1999, Luận án tiến sĩ

ngữ văn, trường Đại học Sư phạm, năm 1999 của Nguyễn Văn Lợi

Những bài viết và công trình nghiên cứu trên đã tìm hiểu tiểu thuyết trên nhiều khía cạnh khác nhau, như: nghệ thuật hư cấu, hình tượng nhân vật, ảnh hưởng của văn hóa đến TTLS hay quá trình cá nhân hóa lịch sử Tuy nhiên, thường những công trình ấy chỉ tập trung vào một vấn đề hoặc một tác phẩm cụ thể Chúng ta chưa thấy sự tổng hợp hệ thống các đặc trưng trong nhiều tác phẩm

Trang 8

Điểm dừng đó chính là gợi ý cho chúng tôi lựa chọn và thực hiện luận văn này

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Trong luận văn của mình, chúng tôi xuất phát từ góc độ loại hình

thể loại để nghiên cứu TTLS Việt Nam Như đã nói, TTLS là một loại hình

của thể loại tiểu thuyết Vì vậy, chúng tôi tiến hành khảo sát đối tượng ở khía

cạnh đặc trưng của thể loại tiểu thuyết trên các cấp độ: phương thức tự sự và

hình tượng thẩm mỹ Trong đó, cấp độ phương thức tự sự bao gồm các vấn

đề: người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu, thời gian và kết cấu

văn bản; cấp độ hình tượng thẩm mỹ gồm vấn đề hư cấu (được thể hiện ở các

khía cạnh: hình tượng nhân vật và xu hướng huyền thoại hóa)

3.2 Về mặt tác phẩm, do dung lượng mỗi cuốn tiểu thuyết rất lớn và giới hạn phạm vi đề tài nên chúng tôi không thể khảo sát tất cả TTLS đã từng xuất bản mà chỉ tập trung vào một số tác phẩm xuất bản từ năm 1986 đến nay,

là thời kỳ mà tiểu thuyết Việt Nam nói chung có nhiều biến đổi đáng kể Cụ thể là các tác phẩm sau:

- Bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần (4 tập) gồm: Bão táp cung đình, Thăng

Long nổi giận, Huyền Trân công chúa và Vương triều sụp đổ (Hoàng Quốc

Hải)

- Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác)

- Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)

- Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh)

- Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)

Sự lựa chọn tác phẩm hoàn toàn dựa trên quan sát và kinh nghiệm cá nhân Đây là những TTLS gây được sự chú ý của độc giả và những người

Trang 9

nghiên cứu văn học Trong số đó, chúng tôi chọn tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ

của Nguyễn Mộng Giác (một nhà văn gốc Việt đang định cư ở Mỹ) vì thứ nhất, về mặt ngôn ngữ thì đây là một tiểu thuyết viết bằng tiếng Việt; thứ hai,

về mặt nội dung, tiểu thuyết này nói về một thời kỳ lịch sử của Việt Nam, mang đậm văn hóa Việt Cũng vì xét trên hai phương diện đó nên một cuốn TTLS gây được tiếng vang lớn trong giới phê bình về sự cách tân hình thức

và nội dung là Vạn Xuân của Yveline Feray không thuộc đối tượng tìm hiểu

của luận văn Bởi, đây là cuốn tiểu thuyết do một nhà văn Pháp viết bằng tiếng Pháp, và mặc dù nội dung về lịch sử Việt Nam nhưng được nhìn với con mắt của một người nước ngoài

Trong số các tác phẩm trên, cùng là đối tượng khảo sát nhưng mức độ khảo sát của luận văn đối với từng tác phẩm cũng không giống nhau Do định

hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung hơn vào các tác phẩm: Hồ

Quý Ly, Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) và Giàn thiêu (Võ Thị

Hảo) Hai tác phẩm còn lại được khảo sát với mục đích tạo tính hệ thống và toàn diện cho đối tượng nghiên cứu

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN

Luận văn hướng tới một số mục tiêu cụ thể như sau:

- Tìm hiểu sự vận động, biến đổi của TTLS Việt Nam từ 1986 đến nay về

phương diện thể loại trên hai trục: lịch đại (trong tiến trình vận động, phát triển của TTLS Việt Nam ) và đồng đại (so sánh tương quan với sự vận động

của thể loại tiểu thuyết với tư cách là một bộ phận trong đó)

- Tiến hành phân tích tác phẩm trên các vấn đề thuộc về lý thuyết thể loại tiểu

thuyết là: phương thức tự sự và hình tượng thẩm mỹ

Trang 10

- Bước đầu nêu lên qui luật vận động của TTLS Việt Nam từ 1986 đến nay; đồng thời tìm hiểu xu hướng biến đổi của TTLS Việt Nam trong bối cảnh cách tân của tiểu thuyết Việt Nam nói chung

Với việc hướng đến những mục tiêu cụ thể trên, luận văn hi vọng đạt được ý nghĩa: Qua việc khảo sát một số tác phẩm, bước đầu xâu chuỗi các tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm gần đây thành một đối tượng thống nhất và nghiên cứu đối tượng này trên cơ sở lý thuyết về thể loại Từ đó, có cái nhìn khái quát hơn về đặc trưng, cũng như sự vận động, phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến nay

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đúng như tiêu đề, luận văn chủ yếu áp dụng phương pháp nghiên cứu

loại hình học, cụ thể là loại hình học thể loại (typolopgy of genres) Vì TTLS

chỉ là một bộ phận của thể loại tiểu thuyết nên thuật ngữ “thể loại” được nhắc đến ở đây chính là thể loại tiểu thuyết

Và khi nghiên cứu trên lý thuyết của thể loại tiểu thuyết, chúng tôi chủ

yếu sử dụng lý luận, phương pháp luận và các thuật ngữ, khái niệm của tự sự

học/trần thuật học (narratology) Bên cạnh đó lý thuyết của thi pháp thể loại

(poetist of genres) cũng cung cấp cho chúng tôi một số công cụ hữu ích để tiến hành luận văn này

Ngoài ra, chúng tôi tham khảo một số phương pháp nghiên cứu khác để

bổ trợ như: phương pháp nghiên cứu văn hóa, phương pháp so sánh,…

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Như trên đã nói, nội dung của luận văn là tìm hiểu TTLS Việt Nam những năm gần đây trên lý thuyết của thể loại tiểu thuyết ở hai cấp độ: cấp độ

Trang 11

phương thức tự sự (bao gồm các vấn đề: người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu, thời gian và kết cấu văn bản); cấp độ hình tượng thẩm mỹ

(gồm vấn đề hư cấu trên hai khía cạnh chính: nhân vật và xu hướng huyền

thoại hóa) Dĩ nhiên, việc phân chia hai cấp độ trên cũng mang tính tương đối

vì có những vấn đề vừa ở cấp độ phương thức tự sự, lại vừa ở cấp độ hình

tượng thẩm mỹ, ví dụ như vấn đề thời gian, vấn đề hư cấu

Những nội dung trên được chúng tôi triển khai trong luận văn theo kết cấu sau:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Đặc trưng thể loại của tiểu thuyết lịch sử và khuynh hướng

phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm gần đây

Chương 2: Các phương thức tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

những năm gần đây

Chương 3: Vấn đề hư cấu và xu hướng huyền thoại hóa trong tiểu thuyết

lịch sử Việt Nam những năm gần đây

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ:

1.1.1 Giới thuyết khái niệm tiểu thuyết lịch sử:

Theo M.Bakhtin thể loại là “nhân vật chính” của nền văn học trong sự

so sánh tương quan với các phạm trù khác như trào lưu hay trường phái…Ông cho rằng “Thể loại là hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm, của toàn bộ

sự biểu hiện nghệ thuật” [4,tr.150] Nói một cách đơn giản, thể loại là phạm

trù phân loại tác phẩm, là qui ước chung trong nhận thức của mọi người như một mô hình cấu tạo văn bản vừa để biểu đạt vừa để định hướng cho sự tiếp thu biểu đạt Trong phạm vi mỗi “loại” văn học (tự sự, trữ tình, kịch) là các

“thể” (tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ trữ tình…), sự phân chia của chúng chủ yếu dựa trên các tiêu chí: tố chất thẩm mỹ chủ đạo, giọng điệu, dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm

TTLS là một loại hình của thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất nào về TTLS Chúng ta lược qua một số

khái niệm trong các công trình chính thống: Trong cuốn Từ điển thuật ngữ

văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi xuất bản năm 1992

thì “tiểu thuyết lịch sử” không có khái niệm riêng mà được gộp trong khái

Trang 14

niệm “thể loại văn học lịch sử”, và được hiểu là “các tác phẩm văn học, nghệ

thuật, sáng tác về đề tài và nhân vật lịch sử” [6,tr.205] Còn trong cuốn Từ

điển văn học của nhiều tác giả, nhà xuất bản Thế giới, năm 2004 thì định

nghĩa: “Thuật ngữ tiểu thuyết lịch sử chỉ một loại hình tiểu thuyết hoặc tác

phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Lịch sử, trong ý nghĩa khái quát là quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội”[41,tr.1725]

Ngoài ra, trong Literary Terms and Definitions, thuật ngữ TTLS cũng được định nghĩa: “Tiểu thuyết lịch sử là tiểu thuyết trong đó nhân vật hư cấu tham

gia vào các sự kiện lịch sử, có liên quan đến các sự kiện lịch sử hoặc đóng vai trò là chứng nhân của các sự kiện lịch sử có thật; và có quan hệ qua lại với các nhân vật lịch sử” (tạm dịch) [46]

Như vậy có thể nhận thấy, tất cả các quan niệm trên đều khá thống nhất nhau ở điểm: TTLS là một loại hình tiểu thuyết có đề tài lịch sử, cụ thể hơn là các nhân vật hư cấu có liên quan đến lịch sử

Tuy nhiên, tất cả các khái niệm trên đều chưa nói rõ được như thế nào thì được coi là lịch sử và nhân vật hư cấu liên quan đến lịch sử ở mức độ nào thì được coi là tiểu thuyết lịch sử Vì sự chưa rõ ràng và cụ thể đó nên việc xác định tác phẩm nào là TTLS còn thiếu thống nhất

Bởi vì, lịch sử, trong nhận thức mang tính phổ quát và ở nội dung đơn giản nhất có thể, là cái thuộc về quá khứ Mà hầu hết các tác phẩm văn học đều viết về quá khứ Tuy nhiên, không phải quá khứ nào cũng sẵn sàng được coi là lịch sử và dĩ nhiên không thể coi tất cả các tiểu thuyết viết về quá khứ đều là TTLS Ví dụ rõ nhất là các tiểu thuyết Việt Nam viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ - quãng cách thời gian so với hiện tại ít nhất cũng đã trên 30 năm – nhưng chúng ta khó có thể gọi đó là tiểu thuyết lịch sử,

mà các tiểu thuyết này thường được gọi là tiểu thuyết về đề tài chiến tranh

Trang 15

cách mạng Vậy, quá khứ như thế nào mới được gọi là lịch sử và tiểu thuyết nào mới được gọi là tiểu thuyết lịch sử? Trên thực tế, chưa có bất cứ một hệ thống lý thuyết hay công cụ lý luận nào để xác định đâu là tiểu thuyết lịch sử Thường những tác phẩm được gọi là tiểu thuyết lịch sử đều do các nhà phê bình và bạn đọc mặc nhận mà thôi Điều đó dẫn đến việc một số tác phẩm được người này định danh là tiểu thuyết lịch sử (hay tiểu thuyết về đề tài lịch

sử), người khác lại nói rằng không Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo

Ninh là một ví dụ Vì thế, để tránh những mâu thuẫn trong việc xác định đối tượng nghiên cứu, trong luận văn của mình chúng tôi cũng xin giới thuyết khái niệm “tiểu thuyết lịch sử” như sau: TTLS là tiểu thuyết viết về đề tài lịch

sử Trong đó các nhân vật hư cấu tham gia trực tiếp vào các sự kiện lịch sử,

có liên quan đến các sự kiện lịch sử hoặc đóng vai trò là chứng nhân của các

sự kiện lịch sử có thật; và có quan hệ qua lại với các nhân vật lịch sử Cụ thể, lịch sử phải là quá khứ xa Chúng tôi đồng ý với ý kiến của nhà phê bình Hoài

Nam cho rằng: “lịch sử đích thực phải là lịch sử xa, thứ lịch sử mà con người

hiện tại được thừa hưởng (hoặc phải chịu đựng) như một thắt buộc định mệnh của quá khứ trong khi họ hoàn toàn vô can với nó (xét theo hành vi)” Một tiểu thuyết được coi là TTLS “chính danh” trong văn học Việt Nam từ trước tới nay chính là những tiểu thuyết lấy chất liệu từ loại “lịch sử” mà đối với người viết hay người đọc là bất khả tư nghị

Chúng tôi lựa chọn đối tượng khảo sát của luận văn này cũng dựa trên quan điểm trên

1.1.2 Đặc trưng thể loại của tiểu thuyết lịch sử:

1.1.2.1 Trước hết, TTLS là một loại hình của thể loại tiểu thuyết nên

nó cũng có những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết

Trang 16

Có lẽ, quan điểm chính xác nhất về đặc trưng của tiểu thuyết chính là thể loại này không có đặc trưng cố định, khép kín và hoàn tất Bakhtin cho rằng tiểu thuyết có “tính biến đổi”, “tính không hoàn thành” và vì thế không thể có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi về những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết Tiểu thuyết được coi là ra đời từ thời Hy Lạp – La Mã với những đoạn văn “Đối thoại theo lối Sokrates”, nhưng phải đến thời kỳ Phục Hưng, và chính xác hơn đến tận cuối thế kỷ XVIII nó mới có được vai xứng đáng trong đời sống văn học Đó là bởi vì trong thế giới cổ đại không diễn ra quá trình định hướng vào hiện tại và tương lai, mà chỉ có xu hướng quay về quá khứ Bắt đầu từ thời Phục Hưng cái hiện tại không chỉ là sự tiếp nối của quá khứ

mà được coi là sự khởi đầu cho tương lai và khi đó tiểu thuyết mới phát huy được vai trò của mình Khi mà thế giới hiện đại càng ngày càng phức tạp, sâu sắc, con người trở nên tỉnh táo và đòi hỏi hơn thì tiểu thuyết phát huy sức mạnh lấn át của mình bên cạnh các thể loại đã trở nên khô cứng và dường như

bị “cốt hóa” và tiểu thuyết trở thành “sử thi của thời đại chúng ta”

Tính “chưa hoàn bị” đó dẫn đến việc tiểu thuyết không hề có những qui phạm về cả nội dung lẫn hình thức Tiểu thuyết có khả năng lấn át cũng như thu hút, hấp dẫn, dung nạp trong mình rất nhiều thể loại khác “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình….Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể

dự đoán được hết khả năng uyển chuyển của nó” [4,tr.23] Bakhtin cho rằng tiểu thuyết “gây nên tác động trong quá trình lịch sử chỉ là từng hình mẫu tiểu thuyết riêng biệt chứ không phải một qui phạm thể loại cố định” [4, tr.24] Không có một cái khuôn nào có thể đúc vừa mọi hình thể của tiểu thuyết: lịch

sử tiểu thuyết là lịch sử vượt qua, giễu nhại và chối bỏ những hình thức được kiến tạo trước đó của chính mình “Đó (tiểu thuyết) là thể loại mãi mãi tìm

Trang 17

tòi, mãi mãi tự khảo sát bản thân mình và xét lại tất cả những dạng thức đã định hình của mình” [4,tr.84]

Tuy nhiên, trong quá trình “cố gắng tìm ra những đặc điểm cấu trúc cơ bản nhất của cái thể loại mềm mại nhất này”, Bakhtin đã đưa ra ba đặc điểm

cơ bản làm cho tiểu thuyết khác biệt về nguyên tắc với tất cả các thể loại khác:

1 Tính ba chiều có ý nghĩa phong cách học tiểu thuyết, gắn liền với

ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết

2 Sự thay đổi cơ bản các tọa độ thời gian của hình tượng văn học

trong tiểu thuyết

3 Khu vực mới, nơi xây dựng hình tượng văn chương tiểu thuyết,

chính là khu vực xúc tiếp tối đa với cái hiện tại (đương đại) ở

thì không hoàn thành của nó

[4,tr.36]

Có thể nói, ba đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết mà Bakhtin đưa ra trên

đã khái quát chính xác các đặc trưng tự sự của thể loại này Đặc điểm thứ ba cho thấy bản chất của thể loại tiểu thuyết xét trên cấp độ hình tượng thẩm mỹ Đây là đặc trưng khiến cho tiểu thuyết khác biệt cơ bản với sử thi Tiểu thuyết

là sự “đoạn tuyệt tuyệt đối” với sử thi Nếu như đối tượng của sử thi phải là

“cái quá khứ dân tộc anh hùng”, “cái quá khứ tuyệt đối” và thế giới của sử thi phải được cách ly với hiện tại bởi “một khoảng cách sử thi tuyệt đối” thì đối tượng của tiểu thuyết chính là cái hiện tại dang dở, và thế giới của tiểu thuyết xúc tiếp trực tiếp và tối đa với thế giới hiện tại Thế giới trong tiểu thuyết là thế giới hiện tại của tác giả, của bạn đọc Giữa tác giả, bạn đọc và những nhân vật của tiểu thuyết không hề có bất cứ khoảng cách nào Tiểu thuyết kéo tất cả mọi thứ xuống thấp hơn, gần cuộc sống hơn Khi mà những qui định, những

Trang 18

chuẩn mực đã có độ vênh nhất định với cuộc sống, khi mà những hình tượng nhân vật anh hùng đại diện cho cộng đồng không còn nhận được niềm tin của con người mà thay vào đó là những con người cá nhân phức tạp hơn, đòi hỏi hơn thì chính là lúc các “thể loại cao thượng” phải nhường chỗ cho tiểu thuyết Bakhtin khẳng định: “Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tất (…) do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn bản thân hiện thực Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu được sự biến đổi” [4,tr.30] Cũng bàn về khía cạnh này của tiểu thuyết, Kundera cho rằng tiểu thuyết không chỉ là một thể loại văn học mà nó là một cấp độ trong tư duy nghệ thuật Văn học đạt đến tư duy tiểu thuyết là khi nó từ bỏ niềm tin về tuyến tính nhân quả, về tính tất định của cuộc đời, và hiểu ra rằng ở đời có vô

số chân lý cùng tồn tại đồng thời Tiểu thuyết là sản phẩm tinh thần của thế giới hiện đại, của thời đại mà khi “chân lý thần thánh duy nhất bị tan rã thành hàng trăm chân lý tương đối mà những con người chia lấy cho nhau” Milan Kundera cho rằng tiểu thuyết thể hiện trong mình “tinh thần của phức tạp”,

“hiền minh của lưỡng lự” Tiểu thuyết không đưa ra các câu trả lời mà đặt ra

câu hỏi Trong tác phẩm Nghệ thuật tiểu thuyết, ông viết: “Tiểu thuyết không

khảo sát hiện thực mà khảo sát cuộc sống Và cuộc sống không phải những gì diễn ra, cuộc sống là vùng các khả năng của con người, tất cả những gì con người có thể trở nên, tất cả những gì nó có thể” [15,tr.22] Hiện thực đã là cái

bề bộn, vậy mà tiểu thuyết không khảo sát hiện thực mà khảo sát cuộc sống (hiện sinh) và khảo sát “vùng khả năng của con người” Vì vậy có lẽ tiểu thuyết sẽ phải mãi mãi tìm cách để thực hiện sứ mạng của mình – một sứ mạng không có sự kết thúc Bởi sẽ không bao giờ con người khám phá hết

Trang 19

khả năng của mình và càng ngày con người càng có nhiều dạng để trở nên và

có nhiều hơn khả năng có thể

Tính chất phức tạp và bề bộn trong sự xúc tiếp tối đa với “cái hiện tại ở thì không hoàn thành” có tính quyết định và chi phối hai đặc trưng còn lại của

tiểu thuyết (các đặc trưng ở cấp độ phương thức tự sự) là tính chất đa ngữ của

ngôn ngữ và tính chất thay đổi của thời gian Trong đó, có thể nói, đặc trưng

về thời gian là đặc trưng nổi bật ở tiểu thuyết

Tiểu thuyết có ưu thế vượt trội so với các thể loại khác trong việc phản ánh cuộc sống một phần nhờ vào đặc trưng thời gian của nó Tiểu thuyết có khả năng nhấn mạnh tính chất quá trình, tính chất dòng chảy thời gian của đối tượng tự sự Thời gian trong tiểu thuyết có thể căng ra hết cỡ, có thể rút ngắn hết cỡ một cách linh hoạt Chính vì vậy, trong khi nghiên cứu tiểu thuyết, phạm trù thời gian được chú ý hơn nhiều so với phạm trù không gian Thời gian trong tiểu thuyết được hiểu là một yếu tố tổ chức cốt truyện, vừa là trục tồn tại của nhân vật Nó là phạm trù vừa thuộc về kĩ thuật tự sự, vừa thuộc cảm quan thẩm mỹ của người viết

1.1.2.2 Tiểu thuyết lịch sử có tất cả những đặc trưng trên của tiểu thuyết Ngoài ra, TTLS còn có những đặc trưng riêng khác biệt so với các loại hình tiểu thuyết khác Những đặc trưng đó xuất phát từ đối tượng TTLS là lịch sử Phải chăng có mâu thuẫn khi mà ở trên chúng ta đã nói rất nhiều đến đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết là sự “xúc tiếp tối đa với hiện tại ở thì không hoàn thành” trong khi TTLS lại nói đến quá khứ, thậm chí là “quá khứ xa”, là cái “lịch sử tuyệt đối” Có vẻ như xét từ góc độ đối tượng phản ánh thì TTLS gần với sử thi hơn là tiểu thuyết Tuy nhiên, chính quá trình cố gắng để không trở thành sử thi mà trở thành tiểu thuyết đã tạo nên đặc trưng của TTLS so với các loại hình tiểu thuyết khác Đó là đặc trưng về nghệ thuật hư cấu

Trang 20

Nếu như đối với các loại hình tiểu thuyết khác, người viết có thể mặc sức hư cấu tất cả những gì mình muốn thì đối với TTLS lại không có được sự

tự do như vậy Người viết TTLS như một người thợ sửa chữa lại một ngôi nhà

cũ chứ không được phép xây dựng một ngôi nhà mới hoàn toàn theo ý muốn của mình Và công việc sửa chữa ấy đôi khi lại đòi hỏi kĩ thuật và sức sáng tạo nhiều hơn Người viết TTLS chỉ được hư cấu trên những cứ liệu có sẵn, thậm chí đã trở thành những nhận thức cố định trong suy nghĩ của mỗi người

Hư cấu làm sao để vừa phải đúng với những gì đã diễn ra trong lịch sử vừa phải làm cho cái “đã có”, “đã từng sống” ấy sinh động như cuộc sống đang diễn ra trước mắt Dù cho người viết muốn tái hiện lại cả một giai đoạn lịch

sử to lớn hay chỉ coi “lịch sử như là chiếc đinh để treo bức tranh cuộc sống” (nhà văn A.Dumas) thì sự hư cấu của người viết vẫn phải nằm trong “vòng kim cô” của những gì đã là lịch sử Dù cho A.Dumas muốn kể về một thời kì lịch sử phong kiến Pháp khác đi so với những gì được ghi trong chính sử thì ông vẫn phải dựa vào những cứ liệu lịch sử (như các sự kiện lịch sử lớn, phong tục tập quán, phong cách sống của thời kì đó) để tái hiện một cuộc sống “giống như lịch sử” ở mức độ nhất định mà người đọc có thể chấp nhận,

để người đọc không phải tự hỏi đó là lịch sử nước Pháp hay lịch sử nước Anh hay lịch sử bất cứ quốc gia nào khác Và dù cho Dumas muốn lãng mạn hóa các ông hoàng bà chúa bằng những mối tình thơ mộng thì cũng không thể tách họ ra khỏi những biến cố lớn đã từng xảy trong cuộc đời họ (mà lịch sử

đã ghi nhận)

Như vậy có thể thấy rằng, nghệ thuật hư cấu trong TTLS khác biệt so với nghệ thuật hư cấu trong các loại hình tiểu thuyết khác Đó là “hư cấu trong giới hạn” Nói như vậy không có nghĩa sự hư cấu ở TTLS ít hơn so với các loại hình tiểu thuyết khác, mà thậm chí ở TTLS còn đòi hỏi phải sáng tạo

Trang 21

hơn Bởi rõ ràng để sinh ra một cái mới thì dễ hơn nhiều so với làm sống lại những gì đã chết Và công việc tái sinh lịch sử ấy chính là công việc của các nhà văn viết TTLS

Trang 22

1.2 KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

1.2.1 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam qua các thời kì phát triển:

TTLS xuất hiện trong văn học Việt Nam từ thời kì trung đại Cụ thể, từ

cuối thế kỉ XVIII đã có các tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia

Văn Phái Dĩ nhiên trong thời trung đại, thời đại văn – sử - triết bất phân thì vấn đề thể loại của tác phẩm này còn phải bàn nhiều Tuy nhiên, văn học sử vẫn coi đây là TTLS đầu tiên Trong tác phẩm được coi là những TTLS đầu tiên này chúng ta có thể tìm thấy những cứ liệu lịch sử khá chính xác so với chính sử Nói cách khá, đứng về mặt đặc trưng thể loại thì TTLS thời kì trung đại gần với sử ký hơn là tiểu thuyết

Từ thời cận đại đến trước năm 1945, TTLS cũng có một vai trò nhất định thể hiện tinh thần yêu nước của người dân Việt trước cảnh nước mất nhà tan Một loạt các TTLS ra đời như một cố gắng lưu giữ lòng tự hào dân tộc của người dân mất nước, như một lời hiệu triệu đứng lên Tiêu biểu là các tác

phẩm Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu, 1925), Tiếng sấm đêm đông,

Đinh Tiên Hoàng, Vua Bố Cái (Nguyễn Tử Siêu), Đêm hội Long Trì, An Tư

(Nguyễn Huy Tưởng), , Bà Chúa Chè (Nguyễn Triệu Luật) Vua Hàm Nghi

với việc kinh thành thất thủ (Ngô Tất Tố), Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái

Hưng)…Mặc dù thời kì này, văn học đã bước sang cánh cửa hiện đại, thể loại tiểu thuyết được du nhập từ phương Tây với đúng bản chất thể loại (ở thời kì

sơ khai) của nó, nhưng vì xuất phát điểm TTLS đã được gắn với mục đích

“Góp một tiếng nói nhằm nhóm lên ngọn lửa sục sôi vì nước trong lòng nhân dân” nên các tác phẩm TTLS vẫn thấm nhuần triết lý văn học trung đại “văn

dĩ tải đạo” Các nhà văn muốn gắn những vấn đề của thời đó (vấn đề của con

Trang 23

người trong cảnh nô lệ) vào các tác phẩm của mình và họ lựa chọn những câu chuyện lịch sử, những nhân vật lịch sử phù hợp với tiêu chí ấy chứ chưa có tác giả nào có ý định lật lại vấn đề hay “xét lại” một nhân vật lịch sử, một sự kiện lịch sử nào đấy Các nhà văn vẫn trung thành tuyệt đối với chính sử với cảm hứng ngợi ca một chiều của cả cộng đồng Đứng trên phương diện đặc trưng thể loại thì chất tiểu thuyết chỉ là phương tiện để kể câu chuyện lịch sử hấp dẫn hơn, thu hút người đọc hơn mà thôi

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công đưa nhân dân thoát khỏi cảnh

nô lệ, mở ra một hiện thực hoàn toàn mới cho đất nước Tuy nhiên, trên chặng đường lịch sử từ 1945 đến 1975, đất nước Việt Nam vẫn không khi nào được phép ngừng đấu tranh Và khi đó, TTLS vẫn phải là loại hình văn học “có tác dụng mạnh trong việc giáo dục tư tưởng cho quần chúng” Quan niệm thẩm

mỹ của TTLS thời kì này cũng không có gì thay đổi so với trước Chỉ có điều, các tác giả biết chọn những đề tài lịch sử phù hợp với hoàn cảnh mới hơn (không phải dành cho những người nô lệ mà dành cho những người chủ đất nước đứng lên đấu tranh bảo vệ tổ quốc) Các TTLS thường có nội dung yêu nước, truyền thống đấu tranh anh dũng trước kẻ thù Có thể kể đến một số tác

phẩm như: Quận He khởi nghĩa, Bóng nước Hồ Gươm, Tổ quốc kêu gọi…

Mặc dù sau năm 1975, đất nước đã hoàn toàn thống nhất nhưng tư duy nghệ thuật vẫn là tư duy cộng đồng, tư duy tập thể nên cũng giống như các thể loại văn học khác, TTLS cũng không có bước tiến đặc biệt so với thời kì trước đó Dù cho đã có những mầm mống, những tiền đề cho một lối tư duy khác nhưng nó chưa được công khai Mười năm sau chiến tranh, cũng đã có một số tiểu thuyết mang cảm quan khác biệt so với trước với những suy tư

trăn trở khác như: Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Gặp gỡ cuối năm, Cha và

con và…(Nguyễn Khải), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Chim én bay

Trang 24

(Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong

vườn, Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), nhưng ở loại hình

TTLS thì chưa có sự xuất hiện như vậy Những suy nghĩ khác đi như trên vẫn rất dè dặt và chỉ là số ít trong đời sống văn học Các giá trị tập thể vẫn là các giá trị vững chắc của xã hội, chân lý vẫn thuộc về số đông nên văn học nghệ thuật vẫn chưa có bước đột phá nào cả về nội dung lẫn hình thức Toàn xã hội vẫn phải suy nghĩ theo một lối thống nhất nên TTLS cũng chẳng có ý định

“lật lại”, hay “xét lại” lịch sử làm gì

Chỉ sau năm 1986, khi tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống được “cởi trói”, TTLS cũng như các thể loại khác của văn học và nghệ thuật mới có bước đột phá khác hẳn so với những thời kì trước đó Và lúc đó TTLS mới thực sự bộc lộ những đặc trưng thể loại của mình chứ không đơn thuần là những câu chuyện lịch sử được cố gắng kể theo lối tiểu thuyết nữa

1.2.2 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong khuynh hướng phát triển chung của thể loại tiểu thuyết những năm gần đây:

Hơn 20 năm trở lại đây (từ 1986), tiểu thuyết Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung có sự chuyển biến mạnh mẽ Sự thay đổi bắt đầu

từ một hiện thực xã hội mới dẫn đến một lối tư duy mới Đó là một hiện thực

đa dạng hơn, nhiều màu sắc hơn, “cái tôi” được giải phóng khỏi cái cộng đồng cao thượng Không còn một chân lý tối thượng nữa mà bất cứ cá nhân nào cũng có thể phát biểu chân lý của mình Cuộc sống không đơn giản một chiều nữa mà trở nên phức tạp hơn, nhiều giằng xé, nhiều suy tư hơn Con người được giải phóng khỏi những khuôn khổ, những giáo điều, có thể tự do nói ra những ẩn ức, những trải nghiệm, những mong muốn cá nhân của mình

Sự tự do ấy cùng với xu hướng phát triển tất yếu của cuộc sống là mảnh đất

Trang 25

màu mỡ của thể loại tiểu thuyết Lúc này tiểu thuyết mới thực sự phát huy được sức mạnh nội tại của thể loại, sức mạnh ở khả năng “xúc tiếp tối đa với cái hiện tại ở thì không hoàn thành” Không khí dân chủ của cuộc sống đã đem đến cho thể loại tiểu thuyết sự phát triển mạnh mẽ Tiểu thuyết Việt Nam

đã thoát khỏi cái áo chật hẹp của giai đoạn trước 1986, nó đã khoác lên mình chiếc áo rực rỡ hơn và gần với thế giới hơn Dù cho “chiếc áo” của tiểu thuyết Việt Nam vẫn chưa đủ tầm vóc để sánh bước lên sàn thời trang cùng tiểu thuyết thế giới nhưng nó cũng không quá xa lạ, quá lạc hậu với xu thế chung Trong quá trình đổi mới mình, về cả nội dung lẫn hình thức, có thể nói tiểu thuyết Việt Nam tạo nên ba “làn sóng” nối tiếp nhau “Làn sóng thứ nhất” với

sự góp mặt của các tác giả: Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng…;

“làn sóng thứ hai” với Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp…Và đặc biệt, sang đến đầu thế kỉ XXI, “làn sóng thứ ba” xuất hiện với những cách tân táo bạo, mạnh mẽ hơn về nội dung và phương thức tự sự Trong các tác phẩm của Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương hay tác giả Việt kiều Thuận…nhu cầu cá nhân hóa một cách triệt để cách nhìn cuộc sống và những thử nghiệm kĩ thuật tự sự mới trở nên rõ nét hơn Những gì mà các nhà văn thuộc “làn sóng thứ nhất” và “làn sóng thứ hai” bắt đầu được các nhà văn “làn sóng thứ ba” nối tiếp một cách quyết liệt hơn với lối tư duy của một thế hệ “đã đủ xa cách để vượt qua khỏi những mặc cảm và giáo điều trong cả văn học và cuộc sống” (Nguyễn Thanh Sơn)

Trong sự vận động mạnh mẽ ấy của thể loại tiểu thuyết, TTLS cũng có

sự biến đổi đáng chú ý Tuy nhiên, do đặc trưng về đối tượng là lịch sử nên TTLS không thể có những đổi mới triệt để như các tiểu thuyết ở “làn sóng thứ ba” Sự tìm tòi và đổi mới của TTLS chủ yếu trên phương diện nội dung: đó

là cách nhìn mới đối với lịch sử, cách nhìn cá nhân hóa lịch sử và nhãn quan

Trang 26

hiện thực Từ sự đổi mới nội dung dẫn đến một số cách tân trên phương diện

phương thức tự sự như: đa dạng hóa điểm nhìn và giọng điệu trần thuật, có ý thức trong việc sử dụng các yếu tố kì ảo

Xét trên phương diện cách tiếp cận lịch sử, có thể chia TTLS Việt Nam

những năm gần đây thành ba loại chính như sau:

Thứ nhất là TTLS viết về lịch sử như nó vốn được nhìn nhận trong

chính sử và trong tâm thức chung của cộng đồng Tiêu biểu là một số tác

phẩm như: các tác phẩm đồ sộ của Vũ Ngọc Đĩnh: Mười hai sứ quân (8 tập),

Bắn rụng mặt trời (8 tập), Đất Việt trời Nam của Đan Thành, bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần, gồm 4 tập: Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ của Hoàng Quốc Hải Âm hưởng

chủ đạo trong các TTLS loại này là âm hưởng ngợi ca, tự hào Lịch sử được tiếp nhận với sự sùng bái của người viết và một “khoảng cách sử thi” rất rõ ràng Dĩ nhiên, các tác phẩm này cũng có cố gắng trong việc nhìn nhận lại

một vài nhân vật lịch sử (ví dụ Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung trong Bão táp

cung đình, hay Trần Ích Tắc trong Thăng Long nổi giận…) nhưng sự nhìn

nhận chỉ dừng lại ở giới hạn nhất định với mục đích làm sinh động hơn cho

nhân vật, cho tác phẩm mà thôi Tái hiện chính xác các sự kiện lịch sử, không

khí lịch sử là mục tiêu hướng đến của các nhà văn như Vũ Ngọc Đĩnh, Chu Thiên, Hoàng Quốc Hải…Cảm hứng “nhìn lại” không phải là cảm hứng chủ đạo, nó bị đè bẹp bởi cảm hứng tự hào bao trùm Vì vậy, về mặt đặc trưng thể loại, những TTLS này gần gũi với sử thi Và trong luận văn của mình, để tiện

cho việc gọi tên, chúng tôi tạm định danh những tác phẩm này là TTLS sử thi

Những tác phẩm này là sự tiếp nối của TTLS Việt Nam từ các thời kì trước Nói như vậy không có nghĩa những TTLS loại này không có chỗ đứng trong

sự phát triển của thể loại Mặc dù không có sự đổi mới đặc biệt cả về cảm

Trang 27

quan nghệ thuật lẫn phương thức tự sự nhưng TTLS sử thi vẫn phát triển như một dòng chảy trong sự phát triển chung của TTLS Bởi vì nó vẫn đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận người đọc, nó vẫn đảm nhiệm chức năng mà chỉ có loại hình TTLS mới làm được là giáo dục tinh thần yêu nước và là một hình thức hấp dẫn bổ sung kiến thức lịch sử cho người đọc Khi nói về tiểu

thuyết lịch sử Pi-ốt đại đế của mình, A.Tônxtôi từng khẳng định về đặc trưng

này của TTLS: “Bộ tiểu thuyết của tôi chính xác như một tác phẩm nghiên cứu lịch sử và đó chính là sức mạnh của nó” (dẫn theo Phan Cự Đệ) [40,tr.168] Nói gì thì nói, dù xã hội có biến đổi phức tạp như thế nào thì vẫn

có những giá trị, những chân lý cao cả của cộng đồng mà ở mọi thời đại, con người luôn hướng đến Chính vì vậy, trong bối cảnh xã hội mới, TTLS sử thi vẫn có chỗ đứng trong đời sống văn học và vẫn có không ít nhà văn theo đuổi hướng sáng tác này Cụ thể, gần đây (đầu năm 2009) cũng có một tác phẩm theo khuynh hướng này đã nhận được sự chú ý rất lớn của công chúng là cuốn

tiểu thuyết lịch sử viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp Không phải huyền

thoại của nhà văn Hữu Mai

Loại thứ hai là TTLS viết về lịch sử trong sự nhìn nhận, đánh giá lại

lịch sử Cảm hứng chủ đạo trong các tiểu thuyết này là sự đánh giá lại một số

nhân vật, sự kiện lịch sử còn gây nhiều tranh cãi (như Hồ Quý Ly trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Xuân Khánh, sử kiện "nồi da nấu thịt" giữa anh

em Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc) trong Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng

Giác) Trong những TTLS này, các nhân vật hay sự kiện lịch sử hiện lên với những nét mới mẻ theo quan niệm cá nhân của người viết chứ không hoàn

toàn lệ thuộc vào chính sử Có thể thấy được bước đầu của quá trình cá nhân

hóa lịch sử trong các tác phẩm này Các TTLS loại này là “những ấn tượng và

những suy tư cá nhân về các vấn đề của lịch sử, nó nêu ra các vấn đề lịch sử

Trang 28

và phản chiếu những suy tư cá nhân về những vấn đề đó” (Phạm Xuân

Thạch) Dĩ nhiên, trong những TTLS này thì nhà văn vẫn coi lịch sử là đối

tượng trung tâm, và nhiệm vụ của nhà văn là tìm cách giải mã nó theo cách nhìn của cá nhân mình Vì vậy, hầu hết những sự kiện lịch sử lớn vẫn được

lựa chọn và giữ nguyên như trong chính sử, chỉ có điều cách giải thích nguyên nhân cũng như bản chất của nó thì lại là những kiến giải mới mẻ đối với người đọc Mới mẻ ở cách giải mã của tác giả, cũng mới mẻ ở những vấn đề thế sự mà tác giả gắn vào cho nó Một điều có thể dễ dàng nhận thấy là trong các TTLS loại này là tâm lý nhân vật là một “vùng trắng” rất lớn để nhà văn tập trung khai thác khiến tác phẩm của mình có một cảm giác mới lạ so với chính sử Từ việc khai thác tâm lý nhân vật, các nhân vật lịch sử không còn bị

xa cách, không còn bị khô cứng, ước lệ nữa mà trở thành những con người theo đúng nghĩa của nó Đôi khi một anh hùng cũng là một nạn nhân của lịch

sử Vì vậy, đứng từ góc độ đặc trưng nổi bật của các TTLS loại này, chúng tôi

tạm gọi đây là những TTLS thế sự - tâm lý

Nếu như chúng ta thấy được bước đầu của quá trình cá nhân hóa lịch sử trong các TTLS như Hồ Quý Ly hay Sông Côn mùa lũ thì đến loại TTLS thứ

ba (với các tác phẩm như Giàn thiêu của Võ Thị Hảo hay Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh…) thì quá trình cá nhân hóa lịch sử diễn ra một

cách triệt để Lịch sử không được nhìn nhận như lịch sử của một đất nước,

một dân tộc, một vùng miền mà được nhìn nhận như lịch sử của cá nhân

người viết Ở loại thứ hai, lịch sử được nhìn nhận theo quan niệm cá nhân,

người viết có thể lật lại, xét lại, đánh giá lại lịch sử theo quan điểm riêng của mình, có thể gắn vào lịch sử những vấn đề của thời đại mình nhưng lịch sử vẫn phải là trung tâm của tác phẩm (dù không hẳn là mục đích) Còn trong

các TTLS loại thứ ba thì lịch sử không còn là vấn đề trung tâm nữa Người

Trang 29

viết chỉ coi lịch sử như “cái đinh”, như “chất liệu” để làm nổi lên những vấn đề “Con người ở tầm phổ quát” Với Giàn thiêu, mặc dù cả một triều đại

phong kiến qua mấy đời vua được tái hiện nhưng mục đích của Võ Thị Hảo

có lẽ không ở chỗ muốn đem lại cho người đọc một nhận thức nào đó về một giai đoạn lịch sử, mà tác giả muốn người đọc suy tư về sự giải thoát, về niềm tin tôn giáo và số phận, tâm hồn của một con người qua ba kiếp vẫn không thoát khỏi vòng cương tỏa của dục vọng về tình yêu và quyền lực Còn trong

Mẫu thượng ngàn thì lịch sử càng mờ nhạt hơn Ở đó, người đọc chỉ thấy một

cách lý giải rất thú vị và hấp dẫn về sức mạnh của văn hóa cội nguồn người Việt trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Đặc điểm nổi bật trong các TTLS này là chất chính sử bị xóa mờ bởi ảnh hưởng mạnh mẽ của dã sử Các câu chuyện dân gian, các truyền thuyết dân gian được người viết sử dụng rất nhiều khiến cho tác phẩm mang màu sắc huyền thoại Chính vì xuất phát từ đặc điểm này, chúng tôi tạm gọi

đây là những TTLS huyền thoại

Có thể nói, cách nhìn nhận, cách ứng xử của người viết đối với lịch sử

đã tạo nên ba khuynh hướng trên của TTLS Việt Nam những năm gần đây Chúng tôi không dám đánh giá khuynh hướng nào có ưu điểm hơn (vì một khuynh hướng sáng tác đã xuất hiện và tồn tại trong đời sống văn học thì nó phải có sức mạnh nội tại của mình) Tuy nhiên, xét từ góc độ đặc trưng thể loại thì các tác phẩm thuộc loại thứ hai và thứ ba có phần gần gũi hơn với sự vận động và biến đổi của tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây trên cả cấp độ hình tượng thẩm mỹ lẫn phương thức tự sự Vì vậy, trong các chương tiếp theo của luận văn, chúng tôi chủ yếu khảo sát những tác phẩm thuộc loại thứ hai và thứ ba

Trang 30

sự, mà luôn gắn nó với cái được biểu đạt Từ việc phân tích các phương thức tự

sự sẽ lý giải được một số vấn đề ở cấp độ hình tượng thẩm mỹ Cụ thể, chúng tôi tập trung tìm hiểu những yếu tố được các nhà nghiên cứu (G.Genette, Micke

Bal, Chatman ) coi là lý thuyết công cụ cơ bản của tự sự học như: Người kể

chuyện, Điểm nhìn, Giọng điệu, Thời gian và Kết cấu

2.1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN, ĐIỂM NHÌN

2.1.1 Những vấn đề lý thuyết:

Trong lý thuyết của “trường phái” tự sự học do Genette đứng đầu thì

Người kể chuyện – NKC (narrator) có vai trò hết sức quan trọng NKC là vấn

đề cốt yếu của phương thức tự sự Theo Manfred Jahn trong Narratology: A

Trang 31

Guide to the Theory of Narrative (Trần thuật học: nhập môn lý thuyết trần thuật), NKC là một trong hai yếu tố cơ bản của một truyện kể: “Một truyện kể

có một cốt truyện dựa trên hành động mà nhân vật tạo ra và trải nghiệm, và có

một người kể chuyện kể về nó” [13,tr.2] Trong Từ điển thuật ngữ văn học (A

Glossary of Literature terms), M.H.Abrams cho rằng “người kể chuyện biết

mọi thứ cần biết về nhân vật, sự kiện” [43;tr.134] Tuy nhiên, cần phân biệt

khái niệm NKC (narrator) với tác giả (authorial) NKC là một nhân vật

(character) do tác giả hư cấu nên, đảm nhận chức năng dẫn dắt câu chuyện, hoặc vừa dẫn dắt câu chuyện vừa là một nhân vật tham gia vào câu chuyện Còn tác giả là một con người thật (person) có cuộc sống thực ngoài đời Đối tượng tiếp nhận mà tác giả hướng đến là chúng ta (người đọc có thực), còn đối tượng mà NKC hướng đến không phải là chúng ta mà chỉ là một người tiếp nhận giả tưởng, bởi vì NKC không biết người đọc thực ngoài đời Để phân biệt mối quan hệ giữa tác giả-độc giả, NKC-người tiếp nhận giả tưởng… (những thành phần cơ bản của cấu trúc chuẩn mực cho giao tiếp trần thuật) Manfred Jahn đưa ra mô hình “Chinese Boxes” như sau:

(1) Tác giả và độc giả ở cấp độ giao tiếp không hư cấu

(2) NKC và người tiếp nhận ở cấp độ sắp xếp hư cấu và diễn ngôn

(3) Các nhân vật ở cấp độ hành động

[13,tr.5]

Như vậy, NKC chỉ có mối liên kết giao tiếp với người tiếp nhận của mình ở cấp độ hư cấu Tuy nhiên, trên thực tế lại có kiểu NKC vừa tham gia cấp độ thứ hai vừa tham gia cấp độ thứ ba, đó là khi NKC ở ngôi thứ nhất và

là một nhân vật của câu chuyện Vậy, có thể thấy lý thuyết tự sự về NKC khá

là phức tạp

Trang 32

Trong quá trình sáng tác, hầu hết các tác giả tiểu thuyết đều phải lựa

chọn cho NKC của mình một trong hai cách chủ yếu: kể ở ngôi thứ nhất hoặc

ngôi thứ ba (cũng có những tác phẩm kể ở ngôi thứ hai như Linh sơn của Cao

Hành Kiện và một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI thuộc “làn sóng thứ ba” Tuy nhiên, kể ở ngôi thứ hai không phải là mô thức phổ biến) Dựa vào ngôi kể của NKC, các nhà nghiên cứu gọi tên các kiểu trần thuật Genette

(1972) đã đưa ra hai thuật ngữ được sử dụng rộng rãi: homodiegetic - trần

thuật ở ngôi thứ nhất (tức là những truyện kể có người kể chuyện ở ngôi thứ

nhất) và heterodiegetic – trần thuật ở ngôi thứ ba (tức là những truyện kể có

người kể chuyện ở ngôi thứ ba)

NKC ở ngôi thứ nhất, theo Chatman là NKC lộ diện (overt narrator), được chia làm hai dạng: 1/ NKC xưng “tôi” chỉ có vai trò dẫn dắt câu

chuyện, không tham gia vào sự phát triển của cốt truyện Tức là, “tôi” không

tham gia cấp độ hành động (theo mô hình “Chineses Boxes” của M Jahn mà chúng tôi đã nhắc đến), mà “tôi” chỉ là chủ thể của hành vi kể (tức là chỉ tham

gia cấp độ sắp xếp hư cấu) Chúng ta gọi đây là kiểu NKC ngôi thứ nhất –

chứng nhân 2/ NKC xưng “tôi” là một nhân vật trong câu chuyện, tác động

trực tiếp vào sự phát triển của câu chuyện Tức là, khi đó NKC tham gia cả hai cấp độ liên kết: cấp độ sắp xếp hư cấu và cấp độ hành động Chúng ta gọi

đây là kiểu NKC ngôi thứ nhất – nhân vật

NKC ngôi thứ ba, Chatman gọi là NKC hàm ẩn (covert narrator) Đây là

kiểu NKC hoàn toàn chỉ tham gian cấp độ sắp xếp hư cấu mà thôi Việc phân

chia các kiểu NKC ngôi thứ ba còn phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề điểm nhìn

của truyện kể

Trong lý thuyết tự sự học thì vấn đề NKC luôn gắn liền với vấn đề Điểm

nhìn – ĐN (point of view – POV) Nói một cách nôm na nhất thì NKC trả lời

Trang 33

cho câu hỏi “Ai nói?”, còn ĐN trả lời cho câu hỏi “Ai nhìn?” So với vấn đề NKC, vấn đề ĐN phức tạp hơn với nhiều quan điểm khác nhau

Henry James trong Nghệ thuật văn xuôi (1884) coi ĐN chính là “mô tả

cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn” và “Điểm nhìn là sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với

cuộc sống hơn” (dẫn theo Thạc sĩ Cao Kim Lan trong Lý thuyết về điểm nhìn

nghệ thuật của R Scholes và R Kellogg) Còn J.A Cuddon trong Dictionary

of Literary Terms and Literary Theory cho rằng ĐN là “vị trí của người kể

trong mối quan hệ với câu chuyện của anh ta” (dẫn theo Ths.Cao Kim Lan)

Trong tiểu luận Điểm nhìn, Phối cảnh và Thời gian (Viewpoint, Perspective

and Time), Will Greenway quan niệm: “Viewpoint hoặc point of view (điểm

nhìn) là một kĩ thuật tự sự Đó là vị trí mà người kể chuyện tồn tại trong phạm

vi cơ cấu truyện kể” [5,tr.142] Trong Từ điển thuật ngữ văn học, M.H.Abrams cho rằng ĐN là một kĩ thuật tự sự, nó tương đương với thức

(mode) hoặc phối cảnh (perspective) Ông phân biệt ĐN của người kể chuyện

ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba như sau: Ngôi thứ nhất có: Người kể chuyện tự

ý thức (self-conscious narrator), Người kể chuyện không đáng tin cậy hoặc có khả năng sai lầm (fallible or unreliable narrator) Ngôi thứ ba cũng được chia

ra làm hai dạng: Điểm nhìn thông suốt (omniscient POV) với người kể chuyện thông suốt và người kể chuyện giáo huấn; Điểm nhìn hạn chế (limited

POV), tức người kể chuyện hạn chế bản thân trước những gì đã được trải nghiệm mà sau này các nhà văn đã phát triển kiểu điểm nhìn này thông qua

trần thuật dòng ý thức [43,tr.231-234]

Cũng về vấn đề ĐN, Genette trong Fingure III đưa ra thuật ngữ

Trang 34

focalization (tiêu điểm - TĐ) Vì theo Genette, xét về mặt chức năng, ĐN

mang ý nghĩa của sự chọn lọc và giới hạn thông tin trần thuật Cùng với thuật ngữ focalization chúng ta có thêm thuật ngữ focalizer Có rất nhiều cách dịch

thuật ngữ này sang tiếng Việt như: tiêu cự, người quan sát, người tiêu điểm hóa, hoặc người mang tiêu điểm Trong luận văn của mình chúng tôi sử dụng

cách dịch thuật ngữ focalizer là người tiêu điểm hóa (NTĐH) của TS Nguyễn Thị Thu Thủy trong bài viết Về khái niệm “truyện kể ở ngôi thứ ba” và

“người kể chuyện ở ngôi thứ ba” Vậy NTĐH là gì?

"Focalizer là một tác nhân mà điểm nhìn của nó hướng vào văn bản trần

thuật” [13,tr.50] NTĐH là “người thể hiện quan điểm, đánh giá của nhân vật

về thế giới nhân vật, sự kiện trong tác phẩm – người mà qua những hành động, cảm nhận, suy nghĩ làm điểm tựa cho NKC thực hiện hành vi kể” [40, tr.144] Cần phân biệt NTĐH với NKC là “người thực hiện hành vi kể, ghi lại những gì mà nhân vật thấy, nhân vật nghĩ…” [40,tr.144] Ngoài ra, cũng cần

phân biệt thuật ngữ NTĐH (focalizer) với thuật ngữ focalized character

Focalized character (nhân vật được quan sát) thuần túy là nhân vật được quan

sát bởi người khác chứ nó không có những cảm nhận, những quan sát về nhân vật khác như focalizer (NTĐH, hay còn có cách gọi khác là Người quan sát)

Trong khi Genette và Chatman chỉ quan tâm đến vấn đề giới hạn điểm

nhìn, đến nhân vật tiêu điểm (focal characters) thì các nhà trần thuật học khác

như Micke Bal hoặc Rimmon Kenan lại đề xuất ý kiến cho rằng: một NTĐH

có thể hoặc là “bên ngoài” (một người kể chuyện) hoặc “bên trong” (một

nhân vật) NTĐH bên ngoài được gọi là người kể chuyện – NTĐH (narrator – focalizer), hay có cách gọi khác là người kể chuyện mang tiêu điểm NTĐH bên trong (internal focalizer) được gọi bởi những thuật ngữ khác nhau: nhân

vật tiêu điểm (focal characters), người phản ánh (reflector), hay nhân vật lọc

Trang 35

Truyện kể ngôi thứ nhất (homodiegetic): NKC xưng “tôi” (hoặc “chúng

tôi”, “ta”, “chúng ta”…) gồm hai trường hợp: 1/ NKC xưng “tôi” chỉ đóng vai

trò dẫn chuyện, tức là NKC “tôi” không mang tiêu điểm (NKC khác NTĐH)

2/ NKC xưng “tôi” là một nhân vật trong câu chuyện NKC “tôi” vừa là chủ

thể của hành vi kể vừa mang tiêu điểm (NKC = NTĐH = “tôi”)

Truyện kể ngôi thứ ba (heterodiegetic): NKC kể từ ngôi thứ ba, chia

làm ba trường hợp: 1/ NKC hàm ẩn, không kể từ điểm nhìn của mình mà “tựa

vào điểm nhìn của nhân vật để kể” Giọng NKC hòa với giọng nhân vật đến

mức khó phân biệt, và thường người đọc cứ ngỡ đó là giọng kể của nhân vật

Khi đó dù kể ở ngôi thứ ba nhưng tiêu điểm của truyện kể là tiêu điểm bên

trong 2/ NKC hàm ẩn, kể một cách khách quan từ vị trí quan sát của chính

mình, tức là từ điểm nhìn bên ngoài 3/ NKC hàm ẩn có khả năng “biết tuốt”,

có khả năng soi tỏ, lý giải mọi vấn đề, cả những vấn đề từ bên ngoài lẫn những vấn đề bên trong chỉ nhân vật mới biết (tâm sự, tình cảm…) Anh ta trở thành NKC “toàn tri”, và có điểm nhìn thông suốt từ ngoài vào trong

(omniscient POV)

Trong truyện kể từ ngôi thứ hai, NKC đồng thời là một nhân vật, kể

chuyện dưới dạng đối thoại với nhân vật khác và sử dụng ngôi nhân xưng thứ

Trang 36

hai Tuy nhiên, mô thức truyện kể ngôi thứ hai không phổ biến trong tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng

2.1.2 Khảo sát tác phẩm:

Có một khẳng định là các TTLS mà luận văn khảo sát chỉ có hai mô thức trần thuật: từ ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất, còn hoàn toàn không xuất hiện trần thuật ở ngôi thứ hai

Dưới đây là những khảo sát của chúng tôi về ngôi kể của NKC và điểm

NKC-người

chứng (dẫn

chuyện) A1

NKC - nhân vật (tham gia vào cốt

truyện) A2

NKC hàm

ẩn -Điểm nhìn bên

trong B1

NKC hàm

ẩn – Điểm nhìn khách quan bên

ngoài B2

NKC hàm

ẩn – Điểm nhìn thông

phần lớn

Hồ Quý

Ly

“tôi” (Hồ Nguyên Trừng) trong các chương II, VI, XII

(P.3,4,5)

thỉnh thoảng

mình

chương XIII: NKC ngôi 3 kể

về huyền thoại ông

Trang 37

Nhìn bảng trên chúng ta có thể thấy, bốn trong năm mô hình NKC và điểm nhìn trần thuật đều xuất hiện trong các TTLS đang xét Chỉ riêng mô

hình B2 (NKC hàm ẩn với ĐN khách quan từ bên ngoài) được các nhà tiểu thuyết đương đại sử dụng rộng rãi như một sự thay thế cho mô hình B3 (NKC

hàm ẩn với ĐN thông suốt) thì không thấy xuất hiện Ngoài ra, tần suất xuất

hiện của các mô hình A1, A2, B1, B3 cũng không đồng đều nhau và không đồng đều giữa các tác phẩm, thậm chí trong chính bản thân một tác phẩm Mô

hình NKC ngôi ba hàm ẩn với điểm nhìn thông suốt (B3) truyền thống vẫn

chiếm vị trí lớn Xét trên phương diện sử dụng các mô hình NKC và ĐN, có thể chia các tác phẩm khảo sát thành ba nhóm:

Thứ nhất là bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần Chúng ta có thể thấy

xuyên suốt từ đầu đến cuối bốn tập của bộ tiểu thuyết này là sự thống nhất

trong việc sử dụng mô hình NKC ngôi ba hàm ẩn với điểm nhìn thông suốt

(B3) Sự thống nhất đó có lẽ do mô hình B3 này hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của tác giả trong việc thể hiện câu chuyện của mình Đó là một câu chuyện cũng thống nhất về tư tưởng thẩm mỹ, quan niệm nhân sinh, dẫn đến hình thức thể hiện nó cũng không cần sự khác biệt Mô hình B3 là mô hình NKC và ĐN truyền thống đã được sử dụng vô cùng rộng rãi trong các tiểu thuyết trước đây Sức mạnh của mô hình này là sự thống nhất giữa cái khách quan và chủ quan Ngoài ra, khả năng thông tỏ mọi sự việc của NKC ngôi thứ

ba với ĐN thông suốt từ ngoài vào trong giúp tác phẩm tái hiện chân thực một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc với rất nhiều chi tiết, sự kiện cũng như những nhân vật lịch sử đã trở thành những biểu tượng đầy tự hào trong lòng người đọc

Nhóm thứ hai là các tác phẩm Sông Côn mùa lũ và Giàn thiêu Hai tác phẩm này cũng chủ yếu sử dụng mô hình B3 Sông Côn mùa lũ là một thiên

Trang 38

tiểu thuyết hoành tráng dựng lại toàn bộ giai đoạn lịch sử thời Tây Sơn Thực

ra, về cơ bản tác phẩm này có đặc điểm rất giống với bộ tiểu thuyết Bão táp

triều Trần của Hoàng Quốc Hải Tác giả dựng lại lịch sử với cảm hứng đầy tự

hào, khá trung thành với chính sử Vì vậy, thiết nghĩ việc tác giả chủ yếu sử

dụng mô hình NKC và ĐN B3 là điều dễ hiểu Còn đối với Giàn thiêu, cách

tiếp cận lịch sử của Võ Thị Hảo khác hẳn so với Nguyễn Mộng Giác và Hoàng Quốc Hải Cũng là một thời kì lịch sử dài, cũng là những nhân vật đã định hình trong chính sử, nhưng mục đích của nữ nhà văn không phải ở cái hiện thực lịch sử ấy, mà là số phận của những con người trong quá trình tìm kiếm hạnh phúc và ý nghĩa đích thực của cuộc sống Một điểm nhìn toàn tri

và một người kể chuyện ngôi ngôi thứ ba (hàm ẩn nhưng vẫn có thể thể hiện giọng điệu của mình) là đủ để Võ Thị Hảo đi đến cuối mục đích của mình, vẫn đủ để đưa những số phận con người, những khao khát, ước mơ, những bi kịch, ẩn ức…đến với bạn đọc Dù không dụng công nhiều trong kĩ thuật tự sự trên phương diện NKC và ĐN, nhưng đó không phải là hạn chế của tác phẩm này Nếu như sử dụng cái bình thường, truyền thống mà vẫn tạo được hiệu quả như mong muốn còn hơn việc cách tân một cách gượng ép Bởi vì sự

cách tân hình thức phải xuất phát từ sự phát triển nội tại của nội dung Giàn

thiêu dù sử dụng một mô hình NKC-ĐN truyền thống nhưng vẫn mê hoặc

người đọc, bởi tác phẩm này còn có những điều khác nữa

Tuy nhiên, ngoài mô hình B3, Sông Côn mùa lũ và Giàn thiêu còn sử dụng thêm một mô hình nữa là NKC hàm ẩn với ĐN bên trong (B1) Sau đây

là khảo sát sơ lược của chúng tôi về mô hình NKC-ĐN này trong hai tác phẩm

Hãy xem xét một số đoạn văn sau trong Sông Côn mùa lũ:

Trang 39

- (1): “Lãng nghĩ: như vậy là cả nhà ghét bỏ mình Chỉ có mẹ thương mình (…) Cha không thương mình (…) Anh Kiên thì lạnh lẽo quá, chắc không thương ai Anh Chinh và chị An, rõ ràng họ ghét mình hơn ai hết Ngồi khóc

thút thít ngoài bờ tre, Lãng nhìn vào nhà chờ một tiếng gọi Cửa sổ đóng, nhưng cửa lớn mở Ánh đèn bên trong vẫn còn, tiếng nói chuyện lao xao từ

nhà mợ Hai Nhiều và nhà Lãng vẫn còn nghe được “Họ” vẫn còn đó, nhưng

“họ” không thèm biết mình đang chờ họ gọi vào, họ an ủi, họ vỗ về…”

[52,tr.71]

- (2): “Đột nhiên An cảm thấy trong thân thể mình có điều gì khác thường Đầu cô nhức, tay chân rã rời Chỉ vì mình vật vã khóc mấy ngày đấy thôi Nhưng…nhưng sao mình tệ thế này? Thằng Út mới lên ba còn có thể đái dầm, Lãng những hôm bệnh có thể…Nhưng mình chừng này tuổi đầu? Chao ôi,

nếu mấy chị biết được!( )Mẹ ơi, mẹ cứu con Chỉ có mẹ mới cứu được con

thôi (…) Nhưng mẹ bỏ con rồi còn đâu Làm thế nào bây giờ? Có ai cứu tôi

nữa không?” [52,tr.80]

Đoạn (1) kể về việc sau khi Lãng nói với An về việc Chinh nuốt sâu trong miếu hoang, An tức giận mắng Lãng và Lãng giận dỗi bỏ ra ngoài Rõ ràng đoạn kể này không được kể từ điểm nhìn NKC, mà kể qua điểm nhìn của nhân vật Lãng Dấu hiệu nhận biết là hệ thống các đại từ nhân xưng ngôi ba trong đoạn văn đều chỉ mối quan hệ với Lãng: mẹ, cha, anh Kiên, anh Chinh, chị An, mợ Hai Nhiều Những nhân vật này không có mối quan hệ với NKC nên nếu câu chuyện trong đoạn văn trên mà được kể từ điểm nhìn của NKC thì đại từ nhân xưng chỉ các nhân vật trên phải là: bà giáo, ông giáo Hiến, Kiên, Chinh, An, bà Hai Nhiều

Đoạn (2) là kể về “kinh nghiệm dậy thì của đời con gái” của An Những miêu tả và sự sợ hãi, hốt hoảng chỉ có thể là cảm nhận của nhân vật Rồi đến

Trang 40

những câu hỏi, những đại từ “mình”…Không thể phân biệt được giọng kể của NKC hay nhân vật Tất cả khiến cho người đọc có cảm giác An đang tự kể về những “trải nghiệm” của bản thân mình Tuy nhiên, ngôi kể vẫn là ngôi thứ

ba, dùng tên “An”, nên vẫn là NKC không tham gia cấp độ hành động

Trong Sông Côn mùa lũ, mô hình NKC-ĐN B1 xuất hiện với tần suất

tương đối nhiều (so sánh với các tác phẩm khác, chứ không phải tương quan

với mô hình B3, vì Sông Côn mùa lũ vẫn chủ yếu sử dụng mô hình B3)

Thường đó là những đoạn miêu tả tâm lý, tâm trạng hay tình cảm của nhân vật Dường như, về mặt nội dung, những đoạn này giống như những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật, nhưng về mặt hình thức văn bản thì lại không thể hiện là độc thoại nội tâm (vì những đoạn độc thoại nội tâm có dấu hiệu văn bản là nằm trong hai dấu ngoặc kép, trong khi các đoạn văn bản này không có)

Trong Giàn thiêu mô hình B1 được sử dụng ít hơn so với Sông Côn

mùa lũ, thỉnh thoảng mới xuất hiện Sau đây là một đoạn văn bản sử dụng mô

hình này:

- (3): “Lý Trác bậm môi cố săn tìm trong mớ ký ức đã khô cứng Sao trong

giọng nói và dáng điệu của mụ già này có cái gì đó quen quen Cái ánh mắt sắc tựa dao cau và giọng nói sang trọng kia thật chẳng giống một người đàn

bà quê mùa nghèo khổ

…Tháng Tám…cuối thu…Các học trò đeo tay nải lục tục lên kinh ứng

thí…Cái gã học trò nhỏ nhắn, vác tay nải màu vàng mang tên Lê Đóa đi trước Lý Trác, ứng đối văn chương trôi chảy rành rọt, văn bài qua mỗi kỳ khảo thí đều đứng đầu bảng Mỗi khi nói năng, đôi mắt sáng với đuôi mắt dài

sắc tựa dao cau…Phải rồi! Lý Trác vụt nhớ lại, Hội Tường Đại Khánh năm

thứ nhất Cái gã học trò nhỏ nhắn đó đỗ cùng khoa thi (…) Lý Trác nhớ, bữa

Ngày đăng: 06/03/2023, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[9]. Nguyễn Thái Hòa, Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[10]. Nguyễn Hòa, Tiểu thuyết Việt Nam năm 2005, những tín hiệu tốt lành, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam năm 2005, những tín hiệu tốt lành
Tác giả: Nguyễn Hòa
Nhà XB: Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Năm: 2006
[11]. Kate Humburger, Logic học các thể loại văn học, Vũ Hoàng Địch, Trần Ngọc Vương dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic học các thể loại văn học
Tác giả: Kate Humburger
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
[13]. Manfred Jahn, Trần thuật học - Nhập môn lý thuyết trần thuật, Nguyễn Thị Như Trang dịch, tài liệu Khoa Văn học, ĐHKHXH & NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần thuật học - Nhập môn lý thuyết trần thuật
Tác giả: Manfred Jahn
Nhà XB: Khoa Văn học, ĐHKHXH & NV
[14]. Julia Kristeva, Một thi học đổ nát, Phạm Xuân Thạch dịch, http://thachpx.googlepages.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thi học đổ nát
Tác giả: Julia Kristeva
[15]. Milan Kundera, Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, Nxb Đà Nẵng, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tiểu thuyết
Tác giả: Milan Kundera
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998
[17]. Mã Giang Lân (chủ biên), Quá trình hiện đại hoá văn họcViệt Nam 1900 - 1945, Nxb Văn hóa thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[18]. Nguyễn Văn Lợi, Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1999, Luận án Tiến sĩ văn học, ĐHSP Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1999
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi
Nhà XB: ĐHSP Hà Nội
Năm: 1999
[19]. IU. Lotman, Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Tác giả: IU. Lotman
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
[20]. E.M.Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch, Nxb Đại học Quốc Gia, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp của huyền thoại
Tác giả: E.M.Meletinsky
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2004
[21]. Hoài Nam, Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam: tiểu thuyết hay truyện kể, chuyên đề “Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu” trên http://www.vnn.vn ngày 17/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam: tiểu thuyết hay truyện kể, chuyên đề “Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu”
Tác giả: Hoài Nam
Năm: 2008
[22]. Nguyễn Danh Phú, Tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (từ góc độ thể loại), Luận văn thạc sĩ văn học, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (từ góc độ thể loại)
Tác giả: Nguyễn Danh Phú
Nhà XB: ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Năm: 2005
[23]. Salman Rushdie, Tiểu thuyết chưa chết, Báo Văn nghệ trẻ số 9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết chưa chết
Tác giả: Salman Rushdie
Năm: 2005
[25]. Diệp Tú Sơn, Mỹ học tiểu thuyết, Nguyễn Kim Sơn dịch, tài liệu khoa Văn, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học tiểu thuyết
Tác giả: Diệp Tú Sơn
Nhà XB: tài liệu khoa Văn
Năm: 2004
[26]. Borix Suskov, Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực
Tác giả: Borix Suskov
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1980
[27]. Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[29]. Phạm Xuân Thạch, Kết cấu truyện ngắn Thạch Lam, http://sites.google.com/site/thachpx/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu truyện ngắn Thạch Lam
Tác giả: Phạm Xuân Thạch
[30]. Phạm Xuân Thạch, Tiểu thuyết Việt Nam đương đại, suy nghĩ từ những tác phẩm mang chủ đề lịch sử, http://sites.google.com/site/thachpx/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại, suy nghĩ từ những tác phẩm mang chủ đề lịch sử
Tác giả: Phạm Xuân Thạch
[12]. Nguyễn Xuân Khánh, Ngô Văn Phú, Viết tiểu thuyết lịch sử cũng cần hư cấu, trên http://vietbao.com, cập nhật ngày 3/5/2003 Link
[28]. Phạm Xuân Thạch, Cá nhân hóa hư cấu, báo cáo khoa học đăng trên trang web cá nhân http://sites.google.com/site/thachpx/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm