Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư là một lĩnh vực có từ rất lâu nhưng thực sự để nó mang lại hiệu quả cao thì đó là vấn đề mà tất cả các quốc gia quan tâm Không chỉ riêng đối với các nước phát triển mà cả những nước dang phát triển đầu tư là nhân
tố quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Đồng thời
là đầu tư tác động đến việc chuyển dịch cơ câu của mỗi quốc gia vì vậy Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí là một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong vấn chiến lược phát triển của mỗi quốc gia điều này còn có ý nghĩa to lớn đối với VIỆT NAM chung ta Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay , xu thế hội nhập vào khu vực và thế giới là tất yếu Mỗi quốc gia đều phải tự chủ động tìm lợi thế của mình trong quá trình hợp tác phát triển Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986 tới nay, rõ nhất là
từ năm 1990, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng các ngành công ngiệp và dịch vụ trong GDP của toàn nền kinh tế nước ta đã
và của các vùng tăng nhanh chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng của nông ngiệp có
xu hướng giảm dần, cơ cấu các thành phần kinh tế có xu hướng thay đổi theo hướng hợp lí hơn Những chuyển biến đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định
Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng mới chỉ
là bước đầu, và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, dân cư sống ở nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn Để đạt được mục tiêu đến năm
2020, “ đưa nước ta cơ bản trở thàn một nước công nghiệp có cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,…” mà Đại hội VIII của Đảng đề ra, thì còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cức và có giải pháp sát thực
Trang 2Để có một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý như hiện nay không thể không
kể đến vai trò của đầu tư Đầu tư được coi như một công cụ hữu hiệu, lá bài quan trọng nhất trong tay các nhà quản lý nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chính vì thế mà những năm gần đây, chủ trương chính sách mà Đảng và Nhà nước đặt ra là đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vậy tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế như thế nào, trên những phương diện nào và cách thức ra sao? Làm thế nào để có thể phát huy
tối đa vai trò đó của đầu tư? Chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu đề tài : "Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt nam "
Để thực hiện được đề tài này chúng em xin cảm ơn sự giúp dỡ của PGS.TS TỪ QUANG PHƯƠNG và Tiến sĩ PHẠM VĂN HÙNG Mặc dù đã
có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi thiếu sót vì vậy chúng em rất mong được sự góp ý của thầy và các bạn
Trang 3CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐẦU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.
1 Khái niệm về đầu tư.
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Các nguồn lực sử dụng trong hoạt động đầu tư có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ con người Còn những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hoặc cũng có thể
là tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội
Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự hi sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi không chỉ với người bỏ vốn ra mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà
cả nền kinh tế cũng được thụ hưởng
Trong thực tế có rât nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư Tùy từng góc độ tiếp cận với những tiêu thức khác nhau mà người ta cũng có thể có
Trang 4những hình thức phân chia khác nhau Một trong những hinh thức thường được sử dụng đó là tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư Theo tiêu thức này đầu tư được chia làm đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.
• Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực
tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện vận hành kết quả đầu tư Chẳng hạn nhà đầu tư khi bỏ vốn của minh ra mua cổ phiếu hoặc trái phiếu của một công ty hay một tổ chức nào đó, trong trường hợp này mặc dù chủ đầu tư không trực tiếp tham gia vào hoạt động của công ty, tổ chức hay nói cách khác là chủ đầu tư không trực tiếp quản lý vốn mà mình đã bỏ ra nhưng vẫn có thể được hưởng lợi ích từ nguồn vốn đó như lợi ích vật chất (cổ tức, tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (quyền biểu quyết, quyền tiên mãi)
• Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện vận hành kết quả đầu tư Chẳng hạn nhà đầu tư bỏ vốn của mình ra mở một công ty tư nhân, trong trường hợp này chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trình điều hành hoạt động của công ty, lợi ích của công ty đi liền với lợi ích của chính chủ đầu tư Đầu tư trực tiếp lại bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển Trong
đó, đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp mà việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản Chẳng hạn nhà đầu tư mua một số lượng cổ phiếu với mức khống chế để có thể tham gia hội đồng quản trị của một công ty, các trường hợp thôn tính sáp nhập doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
2 Đầu tư phát triển.
2.1 Khái niệm đầu tư phát triển.
Trang 5Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ
và sinh hoạt đời sống của xã hội.
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trực tiếp không chỉ tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ mà còn duy trì năng lực trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt của đời sống xã hội Được thể hiện ở chỗ, khi đi vào quá trình vận hành kết quả đầu tư thì máy móc kỹ thuật và khoa học công nghệ phải luôn được bảo dưỡng, nâng cấp để duy trì sản xuất, không những thế mà khoa học công nghệ phải luôn luôn được đổi mới để phù hợp với trình độ khoa học công nghệ hiên đại, để bắt kịp với nền khoa học tiên tiến trên thế giới Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của nền kinh tế tại mỗi quốc gia
Trong các hình thức đầu tư đã nêu ở trên thì đầu tư phát triển là tiền đề,
là cơ sở cho các hình thức đầu tư khác Các hình thức đầu tư gián tiếp, đầu
tư dịch chuyển nếu không có đầu tư phát triển sẽ không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển Thật vậy, nếu không có đầu tư phát triển thì năng lực mới trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống xã hội sẽ không được tạo mới, nói cách khác thì cơ sở hạ tang không được xây dựng mới, khoa học công nghệ không được đổi mới, trong điều kiện này thì những hình thức đầu tư còn lại khó có thể thực hiện được Chính
vì vậy, tất cả các khái niệm đầu tư thường được tiếp cận dưới góc độ của đầu
tư phát triển
2.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển.
Trang 6Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt với các loại
hình đầu tư khác, gồm những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi quy mô vốn, vật tư, lao động thường
là rất lớn Khi đi vào vận hành kết quả đầu tư, thì vốn đầu tư là yếu tố nằm
đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện Nó đòi hỏi người chủ đầu tư phải có những biện pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch hợp lý để quản lý vốn một cách chặt chẽ để hoạt động đầu tư có hiệu quả sử dụng vốn cao, tránh thất thoát vốn
+ Thời gian thực hiện đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công
thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
+ Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành các kết
quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời gian
sử dụng và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn Trong suốt quá trình vận hành, các kết quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
+ Nếu sản phẩm của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng thì thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên do đó quá
Trang 7trình thực hiện đầu tư và đi vào vận hành kết quả đầu tư sẽ chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu, điều kiện thuỷ văn của địa điểm đó
+ Dễ gặp phải rủi ro: Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và
thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài…nên mức rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao
2.3 Vai trò của đầu tư phát triển
2.3.1 Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư và việc tích lũy vốn cho đầu tư là một nhân tố quan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế Việc gia tăng vốn quy mô vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng trong việc gia tăng sản lượng bình quân cho mỗi lao động Theo mô hình Harrod-Domar, mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần
∆Y: là mức gia tăng sản lượng
∆K: là mức gia tăng vốn đầu tư
Trang 8I : là mức đầu tư thuần
K : là tổng quy mô vốn của nền kinh tế
Y : là tổng sản lượng của nền kinh tế
ICOR: là hệ số gia tăng vốn-sản lượng
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiến trình đổi mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua Với chính sách đổi mới, các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng đa dạng cả về quy mô, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đạt được cũng rất thỏa đáng
2.3.2 Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư Trong điều hành chính sách đầu tư, nhà nước thể hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hóa, xây dựng cơ chế quản
lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các công cụ chính sách như chính sách tài khóa, chính sách tiền tề và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý
Tỷ trọng vốn đầu tư cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và nền kinh tế Không những thế, giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối quan hệ khăng khít với nhau Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn dến hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư
Trang 9dồi dào, định hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn.
2.1.3 Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu
+ Tác động đến tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
cầu của toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không thay đổi
+ Tác động tới tổng cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính
là cung trong nước và cung từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…, thể hiện qua phương trình sau:
Trang 102.1.4., Đầu tư có tác động hai mặt đến tính ổn định của nền kinh tế.
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư
dù là lớn hay nhỏ đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia
Chẳng hạn, khi đầu tư tăng lên, cầu của yếu tố đầu tư tăng lên làm cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng ( giá chi phí vốn, công nghệ, lao động…), đến mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền
Trang 11lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại Mặt khác, đầu tư làm cho cầu các yếu tố liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển thu hút nhiều lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế Ngược lại khi giảm đầu tư cũng dẫn đến tác động hai mặt theo chiều hướng ngược lại so với các tác động trên đây Vì vậy trong điều hành nền kinh tế vĩ mô, các nhà hoặch định chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra chính sách nhằm hạn chế tác động xấu nhằm phất huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
2.1.5 Đầu tư có tác động lớn tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động.
Việc đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng chuyên môn cao, sản phẩm làm ra có chất lượng yêu cầu cần phải được đầu tư vào công tác đào tạo từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất, chi phí đào tạo ở đây bao gồm chi phí của nhà nước và chi phí của dân cư cho con em đi học Và như vậy, để có được đội ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ quản lý giàu kinh nghiệm cần phải thông qua tuyển dụng, chọn lọc,… để tiến hành khâu này cần phải tốn một khoản chi phí nhất định, khi đó sẽ có được đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, năng suất cao và sản phẩm làm ra có chất lượng tốt nhất
2.1.6 Đầu tư với việc tăng cường năng lực khoa học cộng nghệ của đất nước
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghê của môt doang nghiệp và quốc gia Đầu tư và đặc
Trang 12biệt đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế và của các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và đồng thời ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế
Trong giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên, qua trình chuyển
từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn ,thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học và công nghệ Mỗi doanh nghiệp mỗi nước khác nhau cần phải có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của tưng đơn vị cũng như toàn nền kinh
tế
II CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
1 Cơ cấu kinh tế.
1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan
hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành
Nội dung chủ yếu của cơ cấu kinh tế là:
- Tổng thể của các bộ phận (thành phần ) hợp thành
- Các mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định theo một tương quan hay tỉ
lệ nhất định
Cụ thể:
Trang 13Cơ cấu kinh tế được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống Cấu trúc được biểu thị như một tập hợp những mối liên hệ liên kết hữu cơ các yếu tố khác nhau của hệ thống nhất định Cơ cấu luôn là một thuộc tính của hệ thống Như vậy, khái niệm cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với quan điểm của hệ thống Nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian
và thời gian nhất định Các bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế bao gồm các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, và các lãnh thổ kinh tế Cơ cấu kinh
tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả mặt chất lẫn mặt lượng, tuỳ thuộc từng mục tiêu của nền kinh tế
1.2 Tính chất đặc trưng của cơ cấu kinh tế.
1.2.1. Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan.
Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan trong quá trình phân công lao động xã hội và phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất
Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, về hoạt động của các quy luật kinh tế đặc thù của các phương thức sản xuất sẽ quyết định tính khác biệt về cơ cấu kinh tế của mỗi vùng, mỗi quốc gia Vì vậy, cơ cấu kinh
tế phản ánh tính quy luật chung của quá trình phát triển, những biểu hiện cụ thể phải phù hợp với đặc thù của mỗi nước, mỗi vùng tự nhiên, kinh tế và
Trang 14lịch sử, không có một cơ cấu mẫu chung cho nhiều nước, nhiều vùng khác nhau.
Mỗi quốc gia, mỗi vùng có thể và cần thiết lựa chọn cơ cấu kinh tế phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển, với quy luật và chiến lược phát triển của mỗi quốc gia trong từng thời kì tạo ra sự cân đối mới giữa các ngành vùng nhằm phát huy nội lực kinh tế
Nền kinh tế có sự phân công lao động có các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một
cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận, tỉ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu
xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt,
cô đọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của từng giai đoạn phát triển nhất định Nhưng không vì thế mà áp đặt chủ quan, tự đặt cho các ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vộinhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ý muốn, thường dẫn đến tai hoạ không nhỏ, bởi sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầm chiến lược, khó khắc phục, hậu quả lâu dài
1.2.2 Cơ cấu kinh tế luôn biến chuyển theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Sự biến đổi cơ cấu chịu tác động thường xuyên của những quy luật kinh
tế - xã hội, do quá trình phát triển không ngừng của xã hội loài người Sự biến đổi đó gắn liền với sự biến đổi không ngừng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin cũng như các yếu tố kinh tế, các quá trình vận động và phát triển của các yếu tố kinh tế đó trong tổng thể nền kinh tế quốc dân
Trang 15Tương ứng với mỗi thời kì lịch sử là một cơ cấu kinh tế phù hợp với tri thức và nhu cầu của con người Các cơ cấu cũ dần dịch chuyển và hình thành cơ cấu mới, theo hướng tiến bộ và phát triển hơn Sự dịch chuyển của
cơ cấu là một quá trình vận động không ngừng từ đơn giản đến phức tạp, từ
ít hoàn thiện cho đến hoàn thiện đồng thời cùng với sự đi lên của tri thức và nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú của nhân loại
1.2.3 Cơ cấu kinh tế là một quá trình mang tính kế thừa và phát triển của lịch sử.
Sự biến đổi cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của lực lượng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị, xã hội của từng thời kì Cơ cấu kinh tế được hình thành khi quan hệ ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được xác lập một cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý
Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến của mọi quốc gia Song mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch
sử, mỗi quốc gia lại có sự khác nhau Sự khác nhau đó bị chi phối bởi quan
hệ sản xuất, bởi các đặc trưng văn hoá xã hội, bởi các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc Các nước có hình thái kinh tế-xã hội giống nhau, song có sự khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế, vì điều kiện kinh tế, xã hội và quan điểm chiến lược mỗi nước khác nhau
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế.
1.3.1 Sự phát triển của thị trường trong và ngoài nước.
Trang 16Thị trường bắt nguồn từ nhu cầu tiêu dùng của người lao động, đây là yếu tố hướng dẫn và điều tiết các hoạt động kinh tế kinh doanh Yêu cầu của thị trường đòi hỏi các nhà kinh tế kinh doanh phải đáp ứng; từ đó các doanh nghiệp định hướng kinh doanh theo chiến lược và chính sách kinh tế phù hợp
Sự thay đổi chính sách và chiến lược kinh tế phù hợp yêu cầu chung của thị trường là nhân tố tác động đến cơ cấu kinh tế, đòi hỏi phải thay đổi, dịch chuyển thích hợp nhằm đáp ứng được nhu cầu thị trường trong và ngoài nước
1.3.2 Các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước.
Đối với riêng Việt Nam là một quốc gia có nguồn TNTN phong phú, đa dạng; vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu buôn bán trên trường quốc tế Dân
số lao động chiếm tỉ lệ cao, truyền thồng cần cù và nguồn lao động ngày càng được đào tạo mới, chuyên sâu dễ học hỏi và tiếp thu khoa học tiến bộ Đây là một lợi thế cần được khai thác trong đầu tư phát triển
Các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước là cơ sở để hình thành và chuyên dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững và có hiệu quả Nhà nước và các doanh nghiệp cần có chiến lược đầu tư phát triển nhằm phát huy các nguồn lực sẵn có, tận dụng lợi thế so sánh để đầu tư hướng về xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế, tạo đà hội nhập và tham gia có hiệu quả vào phân công lao động và hợp tác quốc tế
1.3.3 Quan hệ đối ngoại và phân công lao động quốc tế.
Trang 17Phân công lao động giữa các quốc gia trên phạm vi thế giới, được hình thành khi sự phân công lao động xã hội vượt ra ngoài biên giới một quốc gia
do sự phát triển của lực lượng sản xuất PCLĐQT ngày càng phát triển và bao trùm toàn bộ nền kinh tế thế giới Điều kiện để phát triển PCLĐQT bao gồm:
1) Sự khác biệt giữa các quốc gia về điều kiện tự nhiên, do đó, các quốc gia phải dựa vào những ưu thế về tài nguyên thiên nhiên để chuyên môn hoá sản xuất, phát huy lợi thế so sánh và điều kiện địa lí của mình
2) Sự khác biệt giữa các quốc gia về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển của khoa học - kĩ thuật và công nghệ, về truyền thống sản xuất, lực lượng sản xuất
3) Trong một phạm vi nhất định, chịu ảnh hưởng và sự tác động của chế
độ kinh tế - xã hội của đất nước
Quan hệ đối ngoại và phân công lao động quốc tế là nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ tới sự hình thành cơ cấu nền kinh tế Chính vì thế quan hệ kinh tế đối ngoại tốt sẽ là điều kiện để tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.3.4. Sự tiến bộ về khoa học kĩ thuật trong thời kì mở cửa và hội nhập
kinh tế quốc tế.
Bùng nổ khoa học kĩ thuật bắt đầu từ thế kỉ XIX đã tạo ra bước nhảy vọt
về năng suất lao động và thành tựu trong phát triển kinh tế; là một cột mốc chói lọi trong lịch sử tiến hóa văn minh của con người, mang lại những tiến
Trang 18bộ phi thường, những thành tựu kỳ diệu và những thay đổi to lớn trong cuộc sống con người Cho phép con người thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng thấy về sản xuất và năng suất lao động, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống
Thời kì mở cửa và hội nhập hiện nay, tiến bộ khoa học kĩ thuật công nghệ cho phép tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, vốn đầu tư thấp, do
đó sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế tăng lên, tạo chỗ đứng trên trường quốc tế Từ đó, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng đầu tư xuất khẩu, thay thế nhập khẩu hội nhập vào đời sống kinh tế trong khu vực và quốc tế
1.3.5 Nguồn viện trợ chính thức ODA.
ODA giúp các nước nhận hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu kinh tế: Ở một số nước dân số tăng nhanh, sản xuất chậm và cung cách quản lý kinh tế, tài chính kém hiệu quả; đặc biệt nhiều nước vấp phải nhiều khó khăn kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày càng tăng
Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh
tế bằng cách phối hợp với Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế
1.3.6 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội và cơ chế quản lý của Nhà nước.
Từ chỗ bị bao vây cấm vận, nước ta đã phát triển quan hệ giao lưu kinh
tế với hầu hết các quốc gia trên thế giới, gia nhập và ngày càng có vị thế và vai trò tích cực trong nhiều tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, chủ động từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới
Trang 19Chiến lược phát triển và cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước là nhân tố quyết định sự hình thành cơ cấu kinh tế Trong chính sách kinh tế của mỗi nước đều có hai mặt cơ bản, đó là chính sách cơ cấu và cơ chế quản lý kinh
tế Cơ cấu kinh tế hình thành và phát triển trong sự điều chỉnh, chuyển dịch
để hoàn thiện, giai đoạn ở mức độ sau cao hơn giai đoạn trước vừa mang lại tăng trưởng kinh tế, vừa phù hợp với sự biến động chung của thị trường thế giới trong thời kì mở cửa
1.4 Phân loại cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu nền kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm ba bộ phận
cơ bản hợp thành: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ
1.4.1 Cơ cấu ngành kinh tế.
+ Khái niệm: Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương
quan tỉ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân
Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh được phần nào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động của một quốc gia
+ Bao gồm các ngành:
- Nông- lâm- ngư nghiệp
- Công nghiệp và xây dựng
- Dịch vụ
1.4.2 Cơ cấu thành phần kinh tế.
Trang 20+ Khái niệm: Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế
với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội Nó cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế, và cơ cấu lãnh thổ trong quá trình phát triển
+ Bao gồm các thành phần kinh tế sau:
- Kinh tế nhà nước
- Kinh tế tư nhân
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế tư bản nhà nước
1.4.3 Cơ cấu theo vùng lãnh thổ.
+ Khái niệm: Cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ được hình thành bởi việc bố
trí sản xuất theo không gian địa lý
Quy hoạch và phát triển kinh tế theo vùng là một quá trình nhằm phân ra những vùng lãnh thổ cùng với ngành kinh tế của nó, nhằm phát triển có hiệu quả để tận dụng các nguồn lực trong vùng và tạo ra những sản phẩm giá trị nhất Tuỳ theo tiềm năng phát triển kinh tế, gắn liền với sự hình thành phân
bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển toàn bộ hay ưu tiên một vài ngành kinh
tế nào đó
Trang 21- Đồng bằng sông Cửu Long.
2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2.1 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ
phận cấu thành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành,vùng
Tương ứng theo phân loại cơ cấu kinh tế, ta cũng xét sự dịch chuyển của
3 bộ phận này:
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ
2.2 Sự cần thiết khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất
kĩ thuật, trình độ lực lượng sản xuất chưa phát triển hoàn thiện
Trang 22Sự phân công lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật ở các ngành then chốt như: Công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp- dịch vụ chưa hợp lý và vẫn lạc hậu Hệ thống kết cấu hạ tầng và dịch vụ cho đời sống còn thấp kém so với các nước trong khu vực và thế giới Nhiều ngành, lĩnh vực còn thấp kém làm cho nền kinh tế chưa vững chắc, tài nguyên nhiều, lực lượng lao động dồi dào chưa có khả năng và khai thác có hiệu quả, giải pháp duy nhất để khắc phục là tiến hành CNH- HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mở đương cho sản xuất phát triển
Vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung hay cơ cấu ngành kinh tế nói riêng theo hướng CNH- HĐH nhằm huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân Từ đó thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
2.3 Một số nhân tố tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước các chủ thể kinh tế luôn hành động theo hiệu quả kinh tế thiết thực Ở một chừng mực nhất định quy hoạch phát triển của Nhà nước có tác động đến cơ cấu đầu tư, nhưng kết quả cuối cùng lại được thể hiện bằng cơ cấu trên các phương diện của nó
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo chiều hướng hợp lý hơn, sự thay đổi đó chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhìn chung chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của một nước thường phụ thuộc vào một số nhân tố bên trong và bên ngoài
Trang 23Nhóm nhân tố từ bên trong:
- Các lợi thế về tự nhiên của đất nước cho phép có thể phát triển ngành sản
xuất nào một cách thuận lợi; quy mô dân số của quốc gia; trình độ nguồn nhân lực; những điều kiện kinh tế, văn hóa của đất nước
- Ngoài ra, nhu cầu của từng xã hội, thị trường ở mỗi giai đoạn lại là cơ sở
để sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu không chỉ về số lượng mà cả chất lượng hàng hóa, từ đó dẫn đến những thay đổi về vị trí, tỷ trọng của các ngành nghề trong nền kinh tế
- Mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của từng quốc gia có tác
động quan trọng đến sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế vì mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, tính lịch sử xã hội nhưng lại chịu tác động, chi phối rất lớn bởi mục tiêu của Nhà nước Nhà nước có thể tác động gián tiếp lên tỷ lệ của cơ cấu ngành kinh tế bằng các định hướng phát triển, đầu
tư, những chính sách khuyến khích hay hạn chế phát triển các ngành nghề nhằm bảo đảm sự cân đối của nền kinh tế theo mục đích đề ra trong từng giai đoạn nhất định
- Cuối cùng, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước cho phép
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm, hiệu quả đến mức nào
Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghê, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới, biến đổi lao động giản đơn thành lao động phức tạp, từ ngành này sang ngành khác Sự phát triển đó phá vỡ cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế với một vị trí,
tỉ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn, thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội Quá trình đó diễn ra
Trang 24một cách khách quan và từng bước tạo ra sự cân đối hợp lý hơn, có khả năn khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài
Sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, nên cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi, song sự biến đổi của cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp, không mang tính đột biến như chính sách, cơ chế quản lý
Nhóm nhân tố tác động bên ngoài:
- Xu hướng chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực và thế giới Sự biến động
của chính trị, kinh tế, xã hội của một nước, hay một số nước, nhất là các nước lớn sẽ tác động mạnh mẽ đến dòng hàng hóa trao đổi, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của mình nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia và sự phát triển trong động thái chung của thị trường thế giới
- Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay có tác động rất mạnh mẽ đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng nước, vì chính sự phân công lao động diễn ra trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc và cơ hội thị trường rộng lớn được mở ra trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, cho phép các nước có khả năng khai thác những thế mạnh của nhau để trao đổi các nguồn lực, vốn, kỹ thuật, hàng hóa và dịch vụ một cách hiệu quả Quá trình
đó vừa bắt buộc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự phân công lao động trên quy mô toàn thế giới
Trang 25- Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổ
công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi lĩnh vực sản xuất góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước
vì thông tin nhanh chóng làm cho sản xuất, kinh doanh được điều chỉnh nhanh nhạy, hợp lý hơn, dẫn đến cơ cấu sản xuất được thay đổi phù hợp hơn với thị trường và lợi ích của từng nước
Cơ cấu kinh tế hợp lý:
Khai thác tối đa những điều kiện và thuận lợi về TNTN
Tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành phát triển
Bảo đảm và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của mỗi ngành vùng và thành phần kinh tế
Tạo tích lũy nhiều nhất cho quốc dân
Là cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng, đáp ứng các điều kiện sau:
- Phù hợp với quy luật khách quan
- Phản ánh khả năng khai thác, sử dụng nguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập với quốc tế và khu vực, nhằm tạo ra sự cân đối, phát triển bền vững
- Phù hợp xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới
2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Nếu:
Tỷ trọng của ngành nông nghiệp là:
NN NN
GDP (t)
(t)
GDP(t)
β =
Trang 26Tỷ trọng của ngành công nghiệp và xây dựng là:
CN CN
Trang 28nước hiện nay đều lựa chọn mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước mình theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu nhằm phát huy mọi lợi thế của đất nước, tham gia được vào sự phân công lao động trên quy mô toàn thế giới, tận dụng mọi cơ hội đem lại của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng
Để đi theo chiến lược mở cửa kinh tế, hội nhập quốc tế có hiệu quả, vấn
đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở trong nước có ý nghĩa rất lớn Bởi, sản xuất trong nước cần phải được dịch chuyển sao cho vừa khai thác được những tiềm năng, lợi thế của đất nước, vừa sản xuất được những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường thế giới Trong bối cảnh chung là phân công lao động quốc tế ngày một sâu sắc, sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu cũng vô cùng gay gắt, lại muốn phát triển được sản xuất của đất nước theo một chiến lược chung, việc lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lý, đem lại hiệu quả cao là điều rất cần thiết Tuy nhiên, ngày nay các nước thực hiện công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu đi sau không thể sử dụng nguyên mẫu của các mô hình sẵn có bởi dưới tác động của những nhân tố mới, những lợi thế
so sánh truyền thống không còn được đánh giá cao như trước đây, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước đi sau cũng cần phải được nhận thức lại nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hiện đại, cân đối, năng động và tăng trưởng nhanh một cách bền vững hơn
III TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
Trang 29Kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy rằng con đường tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, nhằm phát huy nội lực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực
Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sử dụng như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngành nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cường vật chất kĩ thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất lao động của ngành Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn Mặt khác, đầu tư là tiền đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động,tài nguyên,vốn dư thừa…) cho mục tiêu phát triển ngành Chính đầu tư chứ không phải các quyết định hành chính là nhân tố trực tiếp nhất có thể huy động tất cả các yếu tố đầu vào cần thiết cho sự phát triển của ngành Không những thế việc đầu tư còn tạo ra điều kiện vật chất cho sự ra đời của những ngành mới Sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành và
sự ra đời của những ngành mới chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Trang 30Đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư vào từng ngành nhiều hay
ít, việc sử dụng vốn có hiệu quả cao hay thấp… đều ảnh hướng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo điều kiện tiền đề vật chất cho sự phát triển các ngành mới…do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành
Đầu tư gây nên sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ nhất là trong ngành công nghiệp và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp được thực hiện gắn liền với sự phát triển các ngành theo hướng da dạng hóa, từng bước hình thành một số ngành trọng điểm và mũi nhọn, có tốc độ phát triển cao, thuận lợi về thị trường, có khả năng xuất khẩu Tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong GDP tăng dần thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế quốc dân Chuyển dịch của khu vực công nghiệp theo hướng hình thành, phát triển một số ngành và sản phẩm mới thay thế nhập khẩu cung cấp cho thị trường nội địa, nhiều mặt hàng có chất lượng cao đã chiếm lĩnh thị trường trong nước
Đối với ngành dịch vụ, đầu tư giúp phát triển các ngành thương mại, dịch
vụ vận tải hàng hóa, mở rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế Đầu
tư còn tạo nhiều thuận lợi trong việc phát triển nhanh các ngành dịch vụ bưu chính viễn thông, phát triển du lịch, mở rộng các dịch vụ tài chính tiền tệ Đối với các ngành nông lâm nghiệp, đầu tư tác động nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn bằng cách xây dựng kết cấu kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn, tăng cường khoa học công nghệ…
1.2 Tác động của đàu tư tới cơ cấu thành phần kinh tế:
Trang 31Đầu tư tác động nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ cấu thành
phần kinh tế Trong những năm qua, cơ cấu thành phần kinh tế của nước ta
đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, đa dạng về hình thức sở hữu Đặc biệt là sự đổi mới thành phần kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Bên cạnh đó còn có sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, sự liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được chú trọng
Phát triển kinh tế nhiều thành phần có tác động về nhiều mặt: giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tạo ra cạnh tranh - động lực của tăng trưởng; thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội; là con đường xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
1.3 Tác động của đầu tư tới cơ cấu theo vùng lãnh thổ:
Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thích hợp đều có điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình Những vùng tập trung nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển của một quốc gia Những vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùng khác cùng phát triển Những vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát khỏi đói nghèo và giảm dần khoảng cách với các vùng khác
Đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các
vùng lãnh thổ, đưa vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị…của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những
Trang 32vùng khác cùng phát triển Đầu tư vào những vùng kinh tế trọng điểm nhằm phát huy đươc thế mạnh và tiềm năng của vùng, bên cạnh đó chính phủ còn
có những hoạt động hỗ trợ đầu tư cho những vùng kém phát triển nhằm cải thiện đời sống nhân dân và giảm chênh lệch kinh tế giữa các vùng Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo
sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật và nguồn nhân lực Nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực
Nếu xét cơ cấu lãnh thổ theo góc độ thành thị và nông thôn thì đầu tư là yếu tố bảo đảm cho chất lượng của đô thị hoá Việc mở rộng các khu đô thị dựa trên các quyết định của chính phủ sẽ chỉ là hình thức nếu không đi kèm với các khoản đầu tư hợp lý Đô thị hoá không thể gọi là thành công thậm chí còn cản trở sự phát triển nếu cơ sớ hạ tầng không đáp ứng được các nhu cầu của người dân Các dịch vụ y tế, giáo dục… cũng cần được đầu tư cho phù hợp với sự phát triển của một đô thị
2 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của đầu tư chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
Trang 332.1 Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu ngành với thay đổi GDP.
Hệ số co dãn giữa việc
thay đổi cơ cấu đầu tư ngành
với thay đổi GDP
=
% thay đổi tỷ trọng đầu tư của ngành nào đó/ tổng vốn đầu tư xã hội kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
% thay đổi tốc độ tăng trưởng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với
thay đổi cơ cấu đầu tư với
thay đổi cơ cấu kinh tế
CHƯƠNG II
Trang 34THỰC TRẠNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
I. TỔNG QUAN VẾ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam đã trải qua
nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Nếu như trước thời kỳ đổi mới một trong
những khiếm khuyết lớn của tư duy cũ, của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp là cố gắng hình thành nên cơ cấu ngành kinh tế dựa trên ý chí chủ quan, bất chấp quy luật, do đó đã kéo theo tình trạng đầu tư lãng phí, không đem lại hiệu quả kinh tế, thì bước vào công cuộc đổi mới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước ta đã đem lại những kết quả rất tích cực Nhờ vậy, chỉ sau 3 năm của thời kỳ phôi thai về kinh tế thị trường (từ 1987 - 1989) nền kinh tế nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá trong những năm 1990 - 1997 Mọi dự kiến của kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 đều được thực hiện vượt mức khá cao Trong thời kỳ khủng khoảng tài chính tiền tệ ở các nước châu Á, tuy tốc độ tăng trưởng của nước ta có sự giảm sút, nhưng về cơ bản chúng ta vẫn tránh được "cơn bão" của cuộc khủng khoảng,
để sau đó tiếp tục tăng quy mô GDP của đất nước, tăng xuất khẩu, phát triển công nghiệp, trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới
Trang 35Việt Nam chính thức bước vào thời kì đổi mới nền kinh tế từ năm
1986 Sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới nền kinh tế, cơ cấu đầu tư ở nước
ta đã có nhiều thay đổi theo hướng ngày càng hợp lý hơn, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội trong thời kỳ CNH-HĐH.Trong điều kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn khi tiến hành đổi mới, nguồn vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội còn hạn chế, nguồn vốn chủ đạo là nguồn vốn nhà nước còn ít nhưng bằng cách huy động hợp lý các nguồn vốn trong xã hội và
sử dụng ngày càng hiệu quả hơn thì cơ cấu nguồn vốn đầu tư ở nước ta đang thay đổi theo hướng tích cực, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh
tế theo hướng ngày càng hợp lý, phát huy ngày càng tốt hơn các tiềm lực của nền kinh tế Cơ cấu bao cấp trong nền kinh tế dần được thay thế bằng một nền kinh tế thị trường theo định hướng CNH-HĐH Cơ cấu đầu tư của nền kinh tế chuyển dịch theo hướng phục vụ yêu cầu phát triển toàn diện của nền kinh tế, thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu ngành hợp lý bao gồm cả ngành sản xuất vật chất, dịch vụ và cả những ngành không vì mục đích lợi nhuận
Cơ cấu đầu tư theo vùng, địa phương có những chuyển biến tích cực, đầu tư góp phần hình thành những vùng chuyên môn hoá tập trung, những vùng kinh tế trọng điểm, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng
II THỰC TRẠNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ.
1 Thực trạng tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Trang 36Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư theo từng ngành và các tiểu ngành.
Cơ cấu đầu tư theo 2 nhóm ngành: Sản xuất sản phẩm xã hội và nhóm
ngành kết cấu hạ tầng.
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta diễn ra sự chuyển dịch theo hướng ngày càng hợp lý hơn về cơ cấu vốn đầu tư cho 2 ngành sản xuất kinh doanh và kết cấu hạ tầng, đảm bảo kết cấu hạ tầng được đầu tư đúng mức phát triển đi trước một bước để thúc đẩy ngành sản xuất sản phẩm xã hội phát triển Cơ cấu vốn đầu tư cho khối ngành kết cấu hạ tầng có xu hướng giảm xuống, dành vốn cho khối ngành sản xuất sản phẩm dịch vụ để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế
Bảng 1 Cơ cấu đầu tư thời kỳ 1996-2005.
Đơn vị tính:%
(Nguồn: Niên giám thống kê)
Cơ cấu đầu tư theo 3 nhóm ngành là: Công nghiệp, Nông lâm ngư nghiệp
và Dịch vụ.
Thực hiện đường lối CNH-HĐH của Đảng, cơ cấu đầu tư của nền kinh tế
chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng cho đầu tư phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ, chú ý đầu tư phát triển nông nghiệp hợp lý vì nước ta
hiện nay nông dân vẫn chiếm phần lớn trong dân số và nông nghiệp nông thôn có vi trí quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế