1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng tác trang phục dạ hội cho nữ thanh niên dựa trên nghiên cứu tranh Gustav Klimt

37 2,9K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng Tác Trang Phục Dạ Hội Cho Nữ Thanh Niên Dựa Trên Nghiên Cứu Tranh Gustav Klimt
Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang
Trường học Trường Đại Học Mỹ Thuật Công Nghiệp
Chuyên ngành Thời Trang
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 273 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn :Sáng tác trang phục dạ hội cho nữ thanh niên dựa trên nghiên cứu tranh Gustav Klimt

Trang 1

MỤC LỤC PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lời nói đầu

1.2.Lý do chọn đề tài

1.3.Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU SÁNG TÁC

CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU BỐI CẢNH LỊCH SỬ, CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VÀ NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG TRONG NGHỆ THUẬT SÁNG TÁC CỦA GUSTAV KLIMT

1.1 Nghiên cứu bối cảnh xã hội và nền mỹ thuật cuối thế kỷ thứ XIX vàđầu thế kỷ XX

1.1.1 Bối cảnh xã hội và nền mỹ thuật cuối thế kỷ thứ XIX

1.1.2 Bối cảnh xã hội và nền mỹ thuật đầu thế kỷ XX

1.2 Trường phái nghệ thuật tượng trưng và những nét tiêu biểu về cuộcđời và sự nghiệp của Gustav Klimt

1.2.1 Trường phái nghệ thụât tượng trưng

1.1.2 Những nét tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp của GustavKlimt

1.3 Nghiên cứu bút pháp sáng tác và nét đặc trưng trong các tác phẩmcủa Gustav Klimt

1.3.1 Nghệ thuật sáng tác, nét đặc trưng và những tác phẩm tiêubiểu của Gustav Klimt

1.3.2 Thời trang thể hiện trong tranh của Gustav Klimt

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1.Lịch sử và thực trạng thời trang thế giới và khu vực theo đề tài

2.2.Lịch sử và thực trạng thời trang Việt Nam theo đề tài

2.3.Xu thế thời trang thế giới 2008

Trang 2

CHƯƠNG III: ĐỐI TƯỢNG VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI SẢN PHẨM

SÁNG TÁC3.1 Đối tượng sáng tác

3.2 Tâm lý và thị hiếu đối tượng sáng tác

3.3 Yêu cầu về chất lượng đối với sản phẩm sáng tác

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SÁNG TẠO

4.1 Những kết quả đạt được về mặt lý thuyết

4.1.1 Kết cấu bộ sưu tập dựa trên nghiên cứu theo đề tài

4.1.2 Triển khai các phương án sáng tạo theo xu thế mốt

Trang 3

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lời núi đầu

Từ khi, con ngời xuất hiện trên trái đất biết chinh phục thiên nhiên,cải tạo cuộc sống và xây dựng cho mình một xã hội văn minh Thì công

cụ lao động cũng ra đời và ngày càng đợc cải tiến nhằm tạo ra hiệu quảcao trong sản xuất Nhờ đó mà hàng hoá ngày càng dồi dào đồng thời yêucầu về tính thẩm mỹ, chất lợng cũng ngày càng cao hơn Chính vì vậy mà

Mỹ Thuật Công Nghiệp (MTCN) đã ra đời

Trờng phái Bauhaus do Walter Gropius sáng lập năm 1919 ở Đức

đã đánh dấu sự ra đời chính thức của MTCN Từ đây MTCN đợc nghiêncứu một cách có hệ thống và phát triển theo một hớng riêng, nhằm phục

vụ rộng rãi có hiệu quả cho đời sống kinh tế, xã hội,và còn gọi là nền mỹthuật ứng dụng

Ngày nay, MTCN đã trở thành một ngành khoa học nghệ thuật thực

sự Thông qua sự kết hợp hài hoà giữa các nhu cầu về công năng sử dụng,công năng kinh tế, công năng thẩm mỹ, công năng tâm lý và công năngxã hội…MTCN đã đáp ứng đMTCN đã đáp ứng đợc đòi hỏi ngày càng cao trong đời sống xãhội của con ngời

MTCN bằng những phơng pháp đặc thù cơ bản đã tiếp thu tổng hoà

đợc các thành tựu, tinh hoa của các lĩnh vực khoa học khác nh khoa họckinh tế, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật và kiến thức, trí tuệ của nhânloại

Trong quá trình hình thành và phát triển đến nay MTCN không chỉmang chức năng kỹ thuật chất liệu mà nó còn là phơng tiện ứng sử giaotiếp Sản phẩm của MTCN không chỉ có vai trò là một sản phẩm sử dụng

đơn thuần, mà tự thân đã phản ánh nhiều ngôn ngữ khác nhau Với bachức năng chính: Chức năng kỹ thuật và thực tiễn, chức năng thẩm mỹ vàchức năng biểu tợng MTCN đã trở thành một lĩnh vực khoa học gắn bóchặt chẽ với đời sống con ngời

Ngành thời trang là một bộ phận của MTCN Thời trang giữ mộtvai trò không nhỏ trong việc góp phần làm đẹp cuộc sống bằng các sảnphẩm mang đầy tính thẩm mỹ, phù hợp yêu cầu và đem lại cho ngời tiêudùng những sản phẩm có chất lợng tốt nhất cả về mặt hình thức cũng nh

Trang 4

Nếu nh cách đây hàng vạn năm, trong xã hội nguyên thuỷ, con ngờichỉ sử dụng lá cây, da thú…MTCN đã đáp ứng đlàm quần áo, khố che thân với mục đích duynhất bảo vệ cơ thể khỏi tác động khắc nghiệt của môi tờng tự nhiên Thìngày nay, con ngời đã tìm tòi, sáng tạo và khẳng định trang phục ngoàichức năng chính là giữ gìn sức khoẻ, vệ sinh, che đậy cơ thể nó còn đợc

đa lên một tầm cao mới, đề cao giá trị bản thân và tôn thêm vẻ đẹp cá tínhcủa con ngời Ngành thời trang ra đời chính là để tìm ra những điểm mớicho trang phục vừa mang đợc vẻ đẹp hiện đại mà còn có tính thẩm mỹ,phù hợp với yêu cầu xã hội ở từng giai đoạn lịch sử hay một thời điểmnhất định

Mốt thời trang là một bộ phận của thời trang, là cái mới đợc số

đông ngời ủng hộ trong lĩnh vực thời trang Hay nói cách khác, mốt thờitrang là những gì xảy ra và tồn tại trên trang phục đợc lu truyền rộng rãi

và đợc số đông ngời ủng hộ trong một thời điểm nhất định mà đặc tínhcủa nó là mới mẻ và độc đáo

Từ khi ra đời, thời trang thực sự đã trở thành một yếu tố không thểthiếu trong cuộc sống hiện đại hiện nay Thời trang là một nhu cầu đợcthể hiện rất đa dạng và phong phú, phù hợp với điều kiện sống, đặc điểm

địa lý của từng vùng miền, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc hay giới tính,

độ tuổi và giai cấp trong xã hội Ngoài ra thời trang đối với mỗi cá nhânlại thể hiện đợc ý thức, quan niệm thẩm mỹ của cá nhân đó đối với việclàm đẹp bản thân, làm đẹp xã hội

Mặc đẹp luôn là nhu cầu xã hội văn minh Khát vọng vơn tới đỉnhcao của cái đẹp, cái mới, tạo nên vẻ đẹp đích thực luôn là động lực thúc

đẩy thời trang phát triển và cũng là nhiệm vụ của các nhà thiết kế thờitrang để góp phần đa yếu tố thẩm mỹ phát triển rộng rãi trong đời sống xãhội Bên cạnh đó trên thế giới việc giao lu kinh tế, chính trị văn hoá giữacác quốc gia cũng ngày càng phát triển mạnh và trở nên phổ biến Trong

đó, thời trang cũng góp phần không nhỏ trong việc đa sản phẩm của mìnhtrở thành phơng tiện biểu đạt khá đầy đủ những nét độc đáo trong vănhoá, truyền thống, t duy thẩm mỹ của từng quốc gia, từng dân tộc

Với thực tế khách quan đó đòi hỏi các nhá thiết kế Việt Nam phảiliên tục không ngừng tìm hiểu, mở rộng tầm nhìn, vừa tiếp thu cái mớivừa gìn giữ, phát huy tính dân tộc trong các mẫu thiết kế Với đồ án tốt

Trang 5

nghiệp này, tôi mong muốn sẽ mang đợc một nét đẹp trong văn hoá ViệtNam hội nhập với sự hiện đại của thời trang thế giới.

1.2.Lý do chọn đề tài

Cựng với sự phỏt triển của nhõn loại, ngành thời trang đó và đangtừng bước khẳng định vai trũ của mỡnh trong cuộc sống Trải qua nhiềuthế kỷ với biết bao thăng trầm, biến động, bộ mặt của ngành ngày càngđược định hỡnh rừ rệt và khụng ngừng phỏt triển Trong dũng chảy tiếnhoỏ đú thời trang nghiễm nhiờn trở thành một trong những ngành cụngnghiệp phỏt triển Mặt khỏc, sản phẩm của thời trang khụng chỉ là sảnphẩm cụng nghiệp đơn thuần, mà hơn thế nữa là sản phẩm văn hoỏ củamỗi dõn tộc, là chứng tớch của nền văn minh nhõn loại qua từng thời kỳlịch sử

Việc kết hợp giữa hội hoạ và thời trang, lấy hội hoạ làm cảm hứngsỏng tỏc cho thời trang, đó được rất nhiều cỏc nhà tạo mẫu trờn thế giới và

cả Việt Nam thể hiện thành cụng Bởi vậy qua quỏ trỡnh học tập và tỡmhiểu về nền hội hoạ thế giới, với lũng đam mờ nghệ thuật hội hoạ, sựngưỡng mộ cỏc kiệt tỏc của cỏc danh hoạ trờn thế giới em đó chọn đề tài

“sỏng tỏc trang phục dạ hội dựa trờn nghiờn cứu tranh của Gustav Klimt”

Gustav Klimt là một danh hoạ đại tài Tranh của ụng là những kiệttỏc, là nguồn cảm hứng vụ tận cho sỏng tỏc thiết kế thời trang Bởi khinhỡn vào tỏc phẩm của ụng chỳng ta luụn thấy được sự sỏng tạo khụngngừng, một vẻ đẹp thanh lịch, yờu kiều, quyến rũ Sự sỏng tạo trong tranhcủa ụng gần gũi với cả phương Đụng và phương Tõy, ụng đó biểu trưnghoỏ đặc điểm của cỏc nền nghệ thuật lớn, tỏi hiện quỏ khứ huy hoàng củacỏc nền văn hoỏ

Những tỏc phẩm của Klimt chớnh là những cỏi nhỡn độc đỏo về thờitrang Cú thể núi ụng là một hoạ sỹ của thời trang Việc nghiờn cứu kết

Trang 6

hội sẽ đem lại một hiệu quả rất lớn, tạo cho bộ sưu tập những ấn tượngmới, có được sự sang trọng, quý phái, độc đáo của tranh Klimt mà vẫntoát lên được vẻ đẹp quyến rũ của cơ thể thông qua trang phục.

Việc nghiên cứu và tìm ra được rất nhiều vẻ đẹp về màu sắc hìnhkhối, đường nét, nghệ thuật trang trí trong tranh của Gustav Klimt đã gợi

mở cho em nhiều cảm hứng sáng tác mới, nên em đã lựa trọn đề tài nàylàm đồ án tốt nghiệp của mình

1.3.Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài

Thế kỷ XXI như các nhà dự đoán đã nói là thế kỷ của tâm linh, là

sự quay về Châu Á, thì sự kết hợp giữa văn hoá Đông Tây, sự kết hợpgiữa hội hoạ với thời trang hiện đại cũng là chủ đề bùng nổ mãnh liệt hơnbao giờ hết Nhằm đáp ứng nhu cầu thời trang ngày càng cao của xã hộinói chung và của tầng lớp thanh niên nói riêng, việc sáng tạo ra những sảnphẩm thời trang cao cấp nhằm đáp ứng nhu cầu đó là mục đích hàng đầu

mà nhà thiết kế muốn đặt ra cho đề tài Ý thức được tầm quan trọng củamột đề tài tốt nghiệp, mỗi sinh viên đều trăn trở tìm ra cho mình một đềtài tâm đắc nhất

Với sinh viên MTCN thì vấn đề cần giải quyết là phải tư duy, tìmtòi sáng tạo để cho ra đời những sản phẩm mới lạ, đẹp, hợp với thị hiếungười tiêu dùng và hơn cả là phải bám sát đề tài nghiên cứu Là sinh viênngành thời trang với ý tưởng sáng tác khơi nguồn từ hội hoạ, tuy nhữngtác phẩm hội hoạ ấy không mấy xa lạ, nhưng những hiểu biết chỉ thôngqua tư liệu của các nhà chuyên môn, hay hình ảnh tái tạo qua in ấn nênyêu cầu đầu tiên là quá trình thu thập và nghiên cứu các tài liệu để cóđược sự hiểu biết đầy đủ và tổng quát về tác giả, bối cảnh xã hội, nền vănhoá nghệ thuật đương thời…liên quan đến tác phẩm Điều này rất quan

Trang 7

trọng, đó là cánh cửa đầu tiên mở ra để đi vào nghiên cứu một cách cóchiều sâu

Từ những hiểu biết, nghiên cứu đó nhiệm vụ tiếp theo của sinh viên

vô cùng quan trọng, đây là quá trình đòi hỏi sinh viên phải phát huy tính

tư duy sáng tạo, đề ra những phương án giải quyết, thực hiện sao cho bámsát với đề tài Truyền đạt thông tin thị giác và người hoạ sỹ phải chứng tỏđược năng lực sáng tạo cũng như con mắt thẩm mỹ để đem lại nhữngngôn ngữ sinh động bằng hình ảnh mà từ việc nghiên cứu thu được:những phác thảo…Tìm hướng đi đúng, chính xác và hiệu quả nhất nhờviệc thông qua các bước lập biểu trưng, lựa chọn các phương án mầu…

Và để tất cả những ngôn ngữ đó đến được với mọi người một cách

cụ thể, đầy đủ và toàn diện nhất thì mỗi sinh viên ngoài việc thể hiện kiếnthức đã học cộng với kinh nghiệm thực tế để từ đó đưa ra những sản phẩmthời trang bởi “ Nghệ thuật là thứ ngoại ngữ trong tiếng mẹ đẻ, ý tưởngnghệ thuật không phải là nghệ thuật mà nghệ thuật là tác phẩm vật chất”

và đối với em là một sinh viên MTCN thì thời trang cũng là một loại hìnhnghệ thuật

Chính sự hiểu biết nắm vững phạm vi nghiên cứu của đề tài để từ

đó chúng ta nhận ra được những hạn chế mà đề tài chưa đạt được

Qua việc nghiên cứu đề tài em muốn tìm ra những sản phẩm mangtính sáng tạo không chỉ về hình thức trang trí mà còn cả về cấu trúc bêntrong sản phẩm, không chỉ mới lạ về mặt hình thức mà còn thuận tiện chongười sử dụng, làm toát lên sự sang trọng và tôn lên vẻ đẹp của cơ thể conngười

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU SÁNG TÁC

CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU BỐI CẢNH LỊCH SỬ, CUỘC ĐỜI, SỰNGHIỆP VÀ NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG TRONG NGHỆ THUẬT

SÁNG TÁC CỦA GUSTAV KLIMT

Trang 8

1.1 Nghiên cứu bối cảnh xã hội và nền mỹ thuật cuối thế kỷ thứ XIX

và đầu thế kỷ XX

1.1.1 Bối cảnh xã hội và nền mỹ thuật cuối thế kỷ thứ XIX

Khoảng nửa sau thế kỷ thứ XIX, khuynh hướng hiện thực chủnghĩa có nền móng vững chắc ở các nước Tây Âu Trước đây, chủ nghĩahiện thực đã là một dòng độc lập trong nghệ thuật, đối lập lại chủ nghĩa cổđiển và chủ nghĩa lãng mạn, về sau nó lại trở thành chủ nghĩa tự nhiên vàchủ nghĩa tượng trưng Sự hưng vượng của chủ nghĩa hiện thực trong thế

kỷ thứ XIX gắn với giai đoạn của chủ nghĩa dân chủ - tư sản và sự lớnmạnh của phong trào giành độc lập tự do của các dân tộc bị áp bức Nhiềunghệ sỹ đã tham gia cách mạng và dùng nghệ thuật để phục vụ cáchmạng Chỉ khi phong trào cách mạng bị đàn áp khuynh hướng hiện thựctrong nghệ thuật có yếu dần đi, tính xã hội và tính đề tài trong các tácphẩm có sút kém

Tiếp đó sau thành công cách mạng 1848, chủ nghĩa hiện thực cũngthêm những xu hướng mới, những yếu tố mới: không phải chỉ có tính dânchủ mà còn có cả tính xã hội

Trong thời kỳ này, Pháp vẫn tiếp tục giữ vai trò dẫn đầu trong đờisống nghệ thuật Nghệ thuật hiện thực của Đức và Nga nơi có cao tràocách mạng cũng giữ một vị trí không nhỏ

Những thập kỷ cuối của thế kỷ thứ XIX, nghệ thuật xuất hiệnnhiều tìm tòi sáng tạo đa dạng, nhiều dòng nghệ thuật khác nhau Một sốhoạ sỹ thuộc khuynh hướng hiện thực có ý muốn quay sang “kiểu cáchhoá”, tượng trưng hoặc trang trí nghệ thuật của họ mang tính chủ quan, từchối việc nghiên cứu cuộc sông xung quanh

*Chủ nghĩa ấn tượng:Chủ nghĩa ấn tượng ra đời ở Pháp vào những

năm 1860, thuật ngữ này lấy từ tiếng Pháp “imprension” có nghĩa là ấntượng Chính bức tranh phong cách “Ấn tượng - Mặt trời mọc” (1872) của

Trang 9

C.Mônê tại triển lãm “Độc lập” tổ chức vào năm 1874, cùng với nhiều tácphẩm của các hoạ sỹ khác Đó cũng là triển lãm đầu tiên, mặc dù nhữngngười đại diện của chủ nghĩa ấn tượng đã được hình thành sớm hơn.

Các hoạ sỹ ấn tượng trong khi chăm chú vào ánh sáng và không khíthì không quan tâm đến hình hình khối của sự vật nên các vật thể trêntranh ấn tượng như “bằng bông nhuộm màu”, không có khối chắc nhưtrong thực tế Đó là chưa nói đến việc họ không quan tâm đến nội dungcủa tác phẩm

Cũng do han chế về tư tưởng của tác phẩm, chủ nghĩa ấn tượng chỉtồn tại trong một thời gian ngắn ngủi Đỉnh cao của sự phát triển này đượctính từ năm 1870 đến năm 1880 Năm 1886 là năm có triển lãm lần cuốicùng của các hoạ sỹ ấn tượng

- Ngoài Clốt Mônê còn có những đại diện tiểu biểu tiêu biểu của chủnghĩa ấn tượng:

+ Étga Đơga (1834 – 1917): Ông là hoạ sỹ Pháp tầm cỡ, người tổchức và tham gia gần như hầu hết các triển lãm của các hoạ sỹ ấn tượng + Piê Ôguýtx Rơnoa (1841 – 1919): Ông là một trong những đại diệnnổi tiếng nhất của chủ nghĩa ấn tượng một hoạ sỹ yêu đời, luông phản ánhtrên tranh mình những hình ảnh thơ mộng về người dân Pari, những cảnhđẹp của đời sống Pari

+ Camin Pitxaro (1830 -1903): Từ cuối năm 1860 ông được gầnMônê, rồi tiếp đó, gia nhập nhóm các hoạ sỹ trẻ, ông bắt đầu tiếp xúc với

Trang 10

cảnh trời bao la, với ánh sáng và đưa chúng lên tranh, từ đây ông trởthành một trong những đại diện “có cá tính” của chủ nghĩa ấn tượng + Anphrêt Xítxlây (1839 – 1899): Ông cảm thụ màu sắc tinh tế vàcũng nhạy cảm nắm bắt sự thay đổi của thiên nhiên, của các trạng thái ánhsáng – không khí Nhưng cũng phải nói thêm rằng, Xítxlây dù có nắm bắtđược phương pháp của chủ nghĩa ấn tượng, song ông cũng chỉ dừng lại ở

kỹ thuật có tính chất hình thức mà thôi

*Ấn tượng chủ nghĩa kiểu mới (Tân ân tượng):Vào giữa những năm

1880, chủ nghĩa ấn tượng gặp cơn khủng hoảng Nhiều đại diện chokhuynh hướng này trong đó có Rơnoa, từ bỏ nó và đi tìm con đường mớikhác Năm 1886 là năm có cuộc triển lãm cuối cùng của những hoạ sỹ ấntượng

Ngoài Gioócgiơ Xôra (1859 – 1891) còn có Pôn Xinhiấc (1863 –1935) là hai người dẫn đầu hoạ phái mới mà lịch sử mỹ thuật gọi là tân ấntượng chủ nghĩa Khác với những hoạ sỹ ấn tượng, họ không gây “ấntượng” đối với người xem mà họ muốn người xem bị khuất phục bởiphương pháp của mình Theo họ, do ánh sáng không ngừng biến đổi nênlúc ánh sáng chưa tắt thì mắt lại tiếp tục nhận những ánh sáng và nhữnghình ảnh khác Vì vậy, cần làm cho mắt người xem nhìn ra màu sắc thựchơn, khoa học hơn

Quy luật của quang học: Cần làm nổi bật mối tương phản giữa sáng

và tối đồng thời thay vào những “phát bút” ngắn dài của ấn tượng là cácvết, các chấm nhỏ lăn tăn Các hoạ sỹ tân ấn tượng xét cho cùng, vẽ tranhtheo sự chỉ dẫn của lý trí, theo thực nghiệm, chứ không theo cảm giác tuỳhứng

*Hậu ấn tượng chủ nghĩa: Nghệ thuật hiện thực Pháp trải qua cơn

khủng hoảng, biểu hiện rõ nhất của cơn khủng hoảng ấy là sự ra đời chậm

Trang 11

hơn nghệ thuật ấn tượng mà lịch sử mỹ thuật đã gọi là hậu ấn tượng chủnghĩa.

Các họa sỹ hậu ấn tượng vĩ đại nhất là: Xêdan, Vangốc và Gôganh,nghệ thuật của họ có ảnh hưởng đối với sự phát triển nghệ thuật của thế

kỷ 20

- Pôn Xêdan (1839 – 1960):

Là một hoạ sỹ tài năng biết khái quát hoá và tạo ra một hệ thốngcấu trúc những quan sát phong phú của mình trước đối tượng Nhờ đó,ông tìm ra được những phương pháp hội hoạ biểu hiện thực tiễn Tuynhiên, thế giới tư duy của Xêdan bị hạn chế và phạm vi sử dụng nhữngtìm tòi về hội hoạ của ông trở lên chật hẹp

-Vinxent Van - gốt (1853 – 1890):

Ông có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển nghệ thuật thế kỷ XX.Tranh của Van - gốt có những nét đặc biệt: màu mạnh phối hợp với nhữnghình hoạ dung chuyển, với không gian căng tràn nhằm tạo ra kịch tính.Trong nghệ thuật của Van - gốt biểu hiện rõ nét cái bi kịch của những đạidiện trí thức phương tây trong thời kỳ phức tạp và khủng hoảng lúc đó.Theo hướng đó ở thế kỷ XX, hoạ sỹ nhiều nước sẽ hướng tới một dòngnghệ thuật mới mà họ gọi là “chủ nghĩa biểu hiện”

Trang 12

1.1.2 Bối cảnh xã hội và nền mỹ thuật đầu thế kỷ XX

Những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc, những cuộc khởi nghĩa của giaicấp công nhân và những cuộc chiến tranh đế quốc đã dẫn đến cuộc khủnghoảng trầm trọng của xã hội tư sản Một bộ phân lớn của trí thức nghệthuật cảm thấy dấu hiệu của cuộc khủng hoảng đó nhưng không tìm đượclối thoát Mặt khác họ cũng không muốn tham gia vào các cuộc chiếntranh cách mạng mà chỉ sống giam mình trong bốn bức tường của xưởng

vẽ, tự hạn chế trong khuôn khổ “sáng tác cá nhân”, “sáng tác vị nghệthuật đơn thuần” Tâm trạng của họ là không tin vào sự phát triển tiến bộcủa xã hội loài người, là bi quan yếm chế Đó là vào những năm đầu thế

kỷ thứ XX

Những cuộc triển lãm cá nhân của Xiôra, Xedan, Gôganh,Vangôc… đã dẫn đến ảnh hưởng và làm thay đổi những khuynh hướngnghệ thuật “mới” Cũng trong thời gian này, ở Châu Âu đã tổ chức nhữngcuộc trương bày nghệ thuật của các bộ lac Châu Phi và Châu Đại Dương,khiến cho “ai đó” bỗng tìm được đường về với thời tiền sử! Thế là đếnnăm 1960 người ta tổ chức một triển lãm những “sáng tác ngây thơ” củaviên thuế quan đương nhiệm Hăngri Rutxô (1844 - 1910) Cùng với nó là

sự thích thú những bức vẽ trẻ con và sau đó là những bức vẽ của nhữngngười bị bệnh tâm thần

Thế kỷ XX đã mở ra một thế giới hội hoạ phong phú với nhiềuphong cách, trường phái:

*Chủ nghĩa dã thú (Fauvisme): Môritxơ Vlamik (1876 – 1956) và

một số người khác đi tìm những ngôn ngữ mới cho tạo hình trong đó cóMatixơ (1869 – 1954) Macke (1875 – 1947)

Chủ nghĩa dã thú chỉ dùng những mầu nguyên, không vờn nối các khốitheo ánh sáng và bóng tối và cũng không tạo những ảo giác về không giantheo luật xa gần Có nghĩa hoàn toàn tự do trong cách biểu hiện, mang

Trang 13

nhiều tính chất trang trí Matixơ người đại diện của hoạ phái này đã có lầntuyên bố: bố cục là nghệ thuật sắp đặt theo lối trang trí, những thành phầnkhác nhau mà người hoạ sĩ dung để biểu đạt tình cảm.

*Chủ nghĩa lập thể (Cubisme): Chủ nghĩa lập thể xuất hiện ở Paris

vào cuối năm 1907 khi tranh của Bracơ được trình bày tại “phòng triểnlãm Can – oailơ” và cũng là khi các nhà phê bình nghệ thuật nói rằng

“ông Bracơ coi thường hình thể, biến đổi tất cả cảnh vật, dung mạo conngười và nhà cửa bằng những bản phác thảo hình học, những hình lậpphương” Đó là nhận xét có tính chất khái quát Chủ nghĩa lập thể chịuảnh hưởng của nghệ thuật cổ đại, nhất là nghệ thuật điêu khắc của người

da đen Hoạ sĩ lập thể đặc biệt là Bracơ và Picasso đã tiếp nhận kinhnghiệp sáng tác của Xêđan: “ tất cả trong thiên nhiên đều hình thành theonhững khuân của hình cầu, hình tròn, hình trụ, cần phải học vẽ theonhững hình cơ bản đó” Picasso (1881 – 1973) Phecnan Legie (1881 –1952)

*Chủ nghĩa vị lai (Futurisme): Một số đại diện : Umbectô Bôcxiôni

(1882 – 1916); Nếu banla (1871 – 1958) thích dùng đường nét để nói lênchuyển động của người và vật, hay Dgino Xenerini (1983) lại thích chơimàu sắc để vẽ trang trí cho nhà thờ, vẽ mặt nạ… Nhìn chung, các hoạ sĩ

vị lai với tuyên ngôn và sáng tác của mình cho rằng mọi sự vật khôngngừng biến động do đó nghệ thuật trước hết cũng phải năng động, nói lênđược tốc độ của thời đại cơ khí và công nghiệp…Vì vậy, đối với nghệthuật của họ phổ biến là máy móc, xe cộ, đèn điện, những tiếng nổ…

*Chủ nghĩa biểu tượng (Exprexssionnisme): Hay còn gọi là chủ nghĩa

biển hiện Để chỉ ra những biểu lộ cải cách kỹ thuật từ đầu thể kỷ đến

1920 Hoạ phái này chú trọng trước hết ở cảm xúc nội tâm mà vẽ, cónghĩa là người và vật được vẽ bắt buộc phải theo tâm tính của người vẽ,bất chấp hiện thực đó ra sao Nếu người và vật đó không đúng ý mình,

Trang 14

hoạ sỹ có thể bóp mĩo hình thể hoặc biến đổi mău sắc sao cho phù hợpvới cảm xúc riíng Đại diện cho trường phâi năy lă Vangốc vă ÍduaMunchơ (1863 – 1944) được xem lă người dẫn đầu Hay Canđinxki (1866– 1944) lă một họa sỹ kiím lý thuyết gia nổi tiếng của chủ nghĩa biểuhiện.

*Chủ nghĩa đa đa (dadaisme): Chủ nghĩa đa đa đòi hỏi xoâ bỏ mọi

hình thâi xưa nay, nhạo bâng nghệ thuật hăn lđm chủ trương câi phi lý độcđoân Tinh thần đó phản ânh tình trạng vô chính phủ, hung bạo vă hư vôcủa Chđu Đu giữa thế kỷ thứ nhất

*Chủ nghĩa siíu thức (Surrealisme): Chủ nghĩa siíu thực được định

nghĩa như sau: tính tự động tđm thần thuần túy, qua đó người ta biểu hiệnhoặc bằng lời nói hoặc bằng chữ viết, hoặc bằng bất cứ phương tiện năokhâc sự vận hănh thực sự của tư tưởng Đấy lă sự đọc của tư duy măkhông có bất cứ sự kiềm chế năo của lý trí, đứng ngoăi mọi khiển kiếnthẩm mỹ hay đạo lý Họ quan niệm có hai thế giới, thế giới năy chỉ cảmthấy vă tìm được trong tiềm thức của con người lúc mí sảng, khi rối loạntđm thần, thần kinh, lúc đêng trí hay khi tinh thần suy nhược Họ quảquyết thế giới siíu thức lă mảnh đất chủ yếu của nghệ sỹ, lă nơi cần tìmkiếm, khâm phâ muôn văn điều thiíng liíng bí ẩn Với những thănh viínđầu tiín lă: Acpơ (Phâp), Mirô (Tđy Ban Nha), Magrit (Bỉ)… Đê để lạinhiều tâc phẩm lớn có giâ trị nghệ thuật cao

*Chủ nghĩa trừu tượng (Abstractionnisme): Đại diện lă Candinxki

(1866 – 1944 ) Nga, Malevich (1878 – 1935) vă Mondian (1872 – 1944).Ông khuyín họq sỹ không nín dùng những đường khĩp kín nhất lă hìnhtròn Vì hình tròn sẽ nhốt kín mọi nỗi riíng tư, u uẩn của con người Mẵng dùng trong khuôn khổ của những đường ngang vă đường thẳng…Từhai loại đó, tranh của Mondian tạo thănh những hình vuông hình chữ nhật

Trang 15

1.2 Trường phái nghệ thuật tượng trưng và những nét tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp của Gustav Klimt

1.2.1 Trường phái nghệ thụât tượng trưng

Trường phái tượng trưng là khuynh hướng nghệ thuật phát triển vàonhững năm 1890, mà Gustav Klimt là một đại diện tiêu biểu Nó bắtnguồn từ chủ nghĩa lãng mạn bí ẩn và diệu kỳ ở Đức và nhóm Nazaren

Xu hướng tượng trưng là sự phản ứng lại với chủ nghĩa ấn tượng, chủnghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa thực chứng khoa học, chủ trươngtác phẩm nghệ thuật phải thể hiện ý tưởng bằng ký hiệu, biển tượng Nhânvật trong tranh chỉ là hình ảnh ký hiệu mang một ý nghĩa nhất định chứkhông phải là đặc điểm chủ quan của chính nó

Trung tâm của xu hướng tượng trưng luôn là con người với nhữngmối quan hệ bí ẩn và kỳ diệu giữa cái chết và nhục dục nhất là phụ nữ,vừa là hiện thân của sự trong trắng, bí hiểm, của vẻ đẹp lý tưởng và đạođức; vừa là hiện thân của nhục cảm và sự dâm tục thuần tuý Nghệ thuậttượng trưng thể hiện nỗi lo sợ trước thời đại công nghiệp hoá, muốn tạo ramột thế giới hướng về trì tuệ để tìm đến một sự hoà hợp nội tại Chủ đềlớn thứ hai của xu hướng tượng trưng là huyền thoại và lịch sử, đôi lúc làtôn giáo, nhưng thường được biến đổi, chuyển thành một không khí mộng

mơ và ảo

Theo quan điểm của các nghệ sỹ thuộc trường phái tượng trưng, thếgiới vũ trụ đều hiện ra dưới hình thức các biểu trưng Bởi vậy, nghệ thuậtmuốn phản ánh thế giới phải tìm ra những “hiện thực ẩn giấu” bằngnhững suy tư triết học của người nghệ sỹ và thể hiện qua những biểutrưng thẩm mỹ

Trào lưu này lan rộng khắp Châu Âu và ảnh hưởng nhiều đến hộihoạ hiện đại Người tiên phong của xu hướng này là Gô-ganh, Rơdong

Trang 16

(O.Redon), Bueklin (A.Bucklin), Becna (E.Bermard) và ở Áo thì GustavKlimt là một đại diện tiêu biểu.

1.1.2 Những nét tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp của Gustav Klimt

Gustav Klimt là người gốc do thái, sinh ngày 14 - 7 năm 1862, tạiBaumgarten, gần thành phố Vienna, thủ đô nước Áo

1876 Học trường mỹ thuật - thủ công ở Vienna, được nhận họcbổng của nhà nước

1879 Thành lập công ty Mỹ thuật cùng anh trai là Ernst và bạn làFranz Matsch

1880 Công ty Mỹ thuật của ông nhận hợp đồng vẽ tranh trần chongôi nhà của Stuarany ở Vienna và tranh trần cho nhà tắm hơi ở Carlsbad.Minh hoạ cho cuốn sách ngụ ngôn

Công ty của Klimt cùng hai kiến trúc sư trang trí cho nhà hát ởLiberec Klimt bắt đầu vẽ tranh trần cho nhà hát mới Burgtheater ởVienna Trở thành thành viên của Hiệp hội hoạ sỹ Áo

Ông và Matsch bắt đầu làm việc tại khoa Hội hoạ tại trường Tổnghợp Vienna Nhận giải thưởng ở Antwerp cho công trình trang trí khukhán phòng ở cung điện Esterhazy ở Totis

Thành lập nhóm ly khai và Klimt đựơc bầu làm chủ tịch Ông từ bỏHiệp hội hoạ sỹ Áo

1898 Thiết kế quảng các cho cuộc triển lãm đầu tiên của nhóm Lykhai Tháng 10 năm đó triển lãm lần thứ hai cho nhóm Mặc dù chưa hoànthành nhưng bức tranh “Triết học” của Klimt được nhận huy chươngvàng tại Hội chợ Thế giới Paris

Giới báo chí Vienna lên tiếng chỉ trích nghệ thuật của Klimt Chủ

đề này còn được tranh cãi ở Nghị viện Áo

Vẽ mẫu cho bức tranh khảm ở phòng ăn lâu đài Stoclet ở Brussels

Trang 17

Nhóm ly khai tách làm đôi, Klimt và một số người bạn thành lậpnhóm Klimt

1908 Bức tranh “Nụ hôn” được trưng bày lần đầu tiên ở phòngtrưng bày Nghệ thuật Vienna và nhà nước đã mua bức tranh này

1918 Ngày 6 tháng 2 Ông qua đời

1.3 Nghiên cứu bút pháp sáng tác và nét đặc trưng trong các tác phẩm của Gustav Klimt.

1.3.1 Nghệ thuật sáng tác, nét đặc trưng và những tác phẩm tiêu biểu của Gustav Klimt.

Gustav Klimt là danh hoạ theo trường phái tượng trưng Áo thuộctrào lưu cách tân nghệ thuật Vienna cuối thế kỷ thứ XIX Các tác phẩmcủa ông bao gồm tranh vẽ, bích chương, bản thảo kiến trúc Chủ đề chínhtrong tranh của Klimt là đề tài phụ nữ Ông còn để lại một di sản đồ sộnhững bản vẽ bằng bút chì.Nhiều người nhận định, khi xem các bức hoạcủa Gustav Klimt, họ như chìm đắm trong suy nghĩ băn khoăn Điều này

do hoạ phẩm của Klimt thể hiện sự giằng xé giữa cái sống và cái chết,giữa tột cùng hạnh phúc và đỉnh điểm của sợ hãi

Gustav Klimt bắt đầu được công chúng biết đến qua cách thứctrang trí ở một số nhà hát và đặc biệt là công trình mỹ thuật trong bảo tàngKunsthistorisches ở Vienna Klimt đã biểu trưng hoá đặc điểm của cácnền nghệ thuật lớn, tái hiện quá khứ huy hoàng của các nền văn hoá: AiCập, Hy Lạp, La Mã, phục hưng ý trong tác phẩm của mình Tranh củaông rất “đẹp mắt” nhưng không dễ hiểu

Các tác phẩm của Klimt thường có nét vẽ gãy gọn, với bố cục rõràng và những mảng màu phức tạp Phụ nữ là chủ đề chính trong hầu hếtcác tác phẩm của ông Ông thường vẽ dưới ánh sáng ban ngày, thể hiệnlàn da thật và mịn màng của phụ nữ

Trang 18

Ông có một cách nhìn sáng tạo rất độc đáo, các tác phẩm của ôngtoát lên vẻ thanh lịch, yêu kiều, quyến rũ, tuyệt diệu và dễ chịu khi tangắm nó Sự sáng tạo trong tranh của ông gần gũi với cả phương Đông vàphương Tây.

Phương Đông và phương Tây có những điểm khác nhau trong nghệthuật hội hoạ, bản thân hội hoạ bắt nguồn từ không gian 2 chiều (mặtphẳng của tranh), từ đó diễn tả thành không gian 3 chiều thì chiều thứ 3 làchiều để diễn tả Vì thế phương Tây coi thế giới 3 chiều trong mặt phẳngcủa bức tranh là cao nhất, vì nó có thể miêu tả sự vật đúng nhất Cònphương Đông coi thế giới 3 chiều trong tranh là lệ thực và thế giới trênmặt phẳng 2 chiều trong tranh mới là cao siêu Vì vậy phương Đôngthường có lối vẽ khái quát, phong cách trang trí mơ hồ cộng với lối bố cục

có những khoảng trống thay đổi hình đơn giản, dễ hiểu nhưng có tính ẩn

dụ cao Còn phương Tây cũng vì thế mà có phong cách vẽ cụ thể theohình khối ánh sáng, màu sắc dựa trên những cái cụ thể, bố cục cụ thể vàrành mạch như tính triết học phương Tây

Klimt hiểu được vấn đề đó, ông đã kết hợp chúng, sử dụng chúngtrong tranh của mình Klimt đã hoà nhập được giữa cách diễn tả khối vàtrang trí khái quát thành sự tương phản của cái thật và cái ảo

Trong tác phẩm “ Mãn nguyện” 1905 (thuộc tranh tường ở lâu đàiStoclet), Klimt đã nghiên cứu và thể hiện rất thành công chiều hướng,hình thể, tả kỹ những phần da thịt của đôi nam nữ bên nhau, kết hợp vớinhững hình trang trí mang tính ẩn dụ, diễn tả tình cảm của đôi nam nữ yêuđương Nền đằng sau là những hình trang trí mô phỏng theo tranh khắc cổNhật Bản, bố cục người đàn ông che gần hết người đàn bà và được chiacắt bằng những hình tranh trí to nhỏ khác nhau tạo thành một hình trangtrí chắc khỏe, lộng lẫy trong bức tranh

Ngày đăng: 19/12/2012, 13:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w