Các nhà đầu tư nước ngoài khi cho các tổ chức tài chính trong nước vay cũng ngầm giả định rằng khoản cho vay của mình sẽ được chính phủ nước sở tại bảo lãnh khi nhìn thấy quan hệ gần gũi
Trang 1Mục lục
Đề tài môn Tài chính quốc tế:
Nhìn nhận khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997 – 1998 Liên hệ Việt Nam trong quá trình hội nhập
Giáo viên hướng dẫn: Ts.Lê Tuấn Lộc Nhóm 5-Rủi Ro Group-K09402B:
1 Nguyễn Sử Phương Anh K094020264
2 Nguyễn Hoàng Lệ Nga K094020318
3 Lương Thị Bích Ngọc K094020325
Trang 2Mục lục
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1
1.1 Khủng hoảng tài chính 1
1.2 Một số loại khủng hoảng tài chính 1
1.3 Đầu cơ 2
1.4 Bất động sản 2
1.5 Tăng trưởng nóng 2
Tóm tắt chương 1 3
CHƯƠNG 2 KHỦNG HOẢNG KINH TẾ-TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997-1998 4
2.1 Tiếp cận dưới góc nhìn cổ điển 4
2.1.1 Nguyên nhân khủng hoảng 4
2.1.2 Diễn biến: 6
2.1.2.1 Thái Lan 6
2.1.2.2 Philippines 8
2.1.2.3 Hong kong 9
2.1.2.4 Hàn Quốc 9
2.1.2.5 Malaysia 10
2.1.2.6 Indonesia 10
2.1.2.7 Nước Mỹ và Nhật Bản 11
2.2 Cách tiếp cận theo hướng hiện đại 11
2.2.1 Mô hình “Các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính” 11
2.2.2 Phát triển mô hình “các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính” ở nước Thái Lan 13
2.3 Hậu quả của khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998 14
Tóm tắt chương 2: 16
Trang 3Mục lục
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC RÚT RA VÀ TẦM NHÌN VIỆT NAM TRONG GIAI
GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP 17
3.1 Bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng 17
3.1.1 Đối với thế giới 17
3.1.2 Đối với Việt Nam 18
3.2 Những nguy cơ có thể gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện tại 19
3.2.1 Nguy cơ từ bên trong 19
3.2.2 Nguy cơ từ bên ngoài: 22
Tóm tắt chương 3: 24
KẾT LUẬN 25
Trang 4Dù đã hơn 10 năm trôi qua, đã có hàng nghìn trang sách về sự kiện này, tốn rất nhiều giấy bút của các chuyên gia Chính vì thế với vai trò là sinh viên năm 3 của khối ngành kinh tế, chúng tôi muốn tìm hiểu một cách chi tiết hơn về nguyên nhân, diễn biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997 -1998
“Khủng hoảng như vậy do những nguy cơ nào? Việt Nam có hay không sự tồn tại những nguy cơ ấy? Nếu có, thì nền kinh tế Việt Nam cũng sẽ rơi vào khủng hoảng trong một tương lai gần hay chăng?” Đó là những câu hỏi cứ xuất hiện mãi trong đầu chúng tôi Nhằm giải quyết những câu hỏi gây tò mò này, nhóm nghiên cứu sẽ đi tìm bản chất của cuộc khủng hoảng qua nhiều khía cạnh khác nhau để liên hệ cụ thể với Việt Nam, từ khi nước ta tham gia vào quá trình hôi nhập Đó cũng chính là những lí
do đề tài mang tên: “Nhìn nhận khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997 – 1998
Liên hệ Việt Nam trong quá trình hội nhập”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á 1997 -1998 thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong đó bao gồm: nguyên nhân, diễn biến
và hậu quả của cuộc khủng hoảng
- Từ cuộc khủng hoảng này, rút ra những bài học cho nền kinh tế trên thế giới và những bài học cụ thể cho nền kinh tế Việt Nam
- Phân tích nền kinh tế Việt Nam từ sau khi hội nhập WTO, để đánh giá nước ta
có tồn tại những nguy cơ gây ra khủng hoảng châu Á hay không Nếu có sẽ dự đoán khủng hoảng xảy ra như thế nào và tìm ra hướng giải quyết
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Để mục tiêu nghiên cứu được rõ ràng và cụ thể hơn Nhóm thực hiện đề tài đặt ra những để giải quyết:
- Tồn tại những nguy cơ nào để dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng năm 1997?
- Cuộc khủng hoảng diễn ra như thế nào? Và hậu quả nó để lại là những gì?
- Bài học nào cho các nước trên Thế giới và Việt Nam sau cuộc khủng hoảng châu Á 1997?
Trang 5Phần mở đầu
- Nền kinh tế Việt Nam từ khi hội nhập có tồn tại những nguy cơ gây ra khủng hoảng đó hay không? Nếu đúng là có sự tồn tại, thì dự đoán cuộc khủng hoảng tại Việt nam sẽ hình thành như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính Châu Á 1997 – 1998
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi lý thuyết: Đề tài tập trung vào các lý thuyết liên quan đến khủng hoảng kinh tế Những tài liệu về liên quan đến khủng hoảng dưới nhiều góc độ khác nhau + Phạm vi thời gian: Tập trung vào thời trước 1997 – 1998 đối với các nước bị ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng để phục vụ cho việc phân tích khủng hoảng Đồng thời, tập trung vào thời gian sau khi Việt Nam hội nhập để phân tích nền kinh tế Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp thu thập thông tin: tìm kiếm nguồn thông tin phục vụ đề tài thông qua dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
- Là nguồn tài kiệu quan trọng trong việc cung cấp khá nhiều thông tin về cuộc khủng hoảng châu Á 1997 – 1998 dưới nhiều cách nhìn nhận khác nhau
- Cung cấp các bài học cho nền kinh tế Việt Nam và các nước trên thế giới theo quan điểm của tác giả
- Dựa trên phân tích kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và so sánh đối chiếu với những nguy cơ của khủng hoảng châu Á 1997, giúp có cái nhìn rõ hơn về nền kinh tế Việt Nam và đặc biệt là góp phần nào để Việt Nam tránh được khủng hoảng trong tương lai
có khía cạnh của GS.Nguyễn Thiện Nhân khi nói về khủng hoảng 1997
Tuy nhiên, ngoài mục đích là tìm hiểu cuộc khủng hoảng cuộc khủng hoảng dưới nhiều cách nhìn khác nhau, mà còn là liên hệ với Việt Nam từ khi tham gia quá trình hội nhập Để dự đoán trong tương lai dựa trên cơ sở khoa học và quan điểm của tác giả nên đây vẫn là một vấn đề khá mới và mang tính thực tiễn hiện nay
Để giải quyết tất cả những vấn đề nêu ra,đề tài gồm 3 chương:
+ Chương 1: Nêu ra một số cơ sở lí thuyết liên quan đến khủng hoảng châu Á 1997-1998
+ Chương 2: Tìm hiểu rõ nguyên nhân, diễn biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng dưới góc nhìn cổ điển và hiện đại
Trang 7Chương 1 Cơ sở lý thuyết
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính (Financial Crisis) là tình trạng tài chính mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ Đặc trưng của mỗi quỹ cấu thành nên hệ thống tài chính là các dòng tiền vào/ra, nhận/ thanh toán, hình thành tài sản có /tài sản
nợ Khi xảy ra hiện tượng mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ phải thanh toán về số lượng, thời hạn, chủng loại tiền thì có thể xảy ra khủng hoảng tài chính Như vậy, khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó Chính vì vậy, khủng hoảng tài chính có đặc điểm của khủng hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra trong nền kinh tế thị trường từ nhiều năm nay
1.2 Một số loại khủng hoảng tài chính
- Khủng hoảng ngân hàng:
Ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi, huy động vốn để cho vay lại nên rủi ro rất lớn cả về mặt số lượng, thời hạn và chủng loại tiền Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại được dẫn đến nợ quá hạn cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ đến hạn
- Khủng hoảng nợ quốc gia:
Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều và sử dụng không hiệu quả nên không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ hoặc xin tuyên bố vỡ nợ
- Khủng hoảng tiền tệ:
Hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu (cả thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng
- Khủng hoảng thị trường tài chính:
Sự rối loạn nặng nề trên thị trường vốn Ồ ạt rút tiền gửi từ các ngân hàng thương mại, thu hẹp đáng kể quy mô tín dụng, tăng số vụ phá sản Giá chứng khoán biến động mạnh ngoài tầm kiểm soát hay do hiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị bán đổ bán tháo; thu hẹp phát hành Xảy ra khi thị trường bị “đông cứng’ vì không có giao dịch, tạo ra sự mất cân đối giữa tiền (chứng khoán) vào, ra thị trường chứng khoán
- Khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế: (Cán cân thanh toán vãng lai, cán cân vốn)
Khủng hoảng xảy ra khi các cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp Khủng hoảng cán cân thanh toán vãng lai thường xảy ra khi cán cân thương mại bị thâm hụt Khủng hoảng cán cân thanh toán khi tổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn luồng ngoại tệ vào (tổng cán cân vãng lai và tài khoản vốn) gây nên thâm hụt nặng nề
- Khủng hoảng khả năng thanh khoản:
Trang 8Chương 1 Cơ sở lý thuyết
Phản ánh sự mất cân đối chủ yếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của các giấy tờ có giá và một số loại tài sản tài chính đặc thù
- Khủng hoảng ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước thâm hụt kéo dài trong khi các nguồn bù đắp bị hạn chế hoặc không thể lạm dụng hơn nữa nếu muốn tránh hậu quả vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát
1.3 Đầu cơ
Trong lĩnh vực tài chính, đầu cơ là việc mua, bán, nắm giữ, bán khống các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,hàng hoá, tiền tệ, bất động sản, chứng khoán phái sinh nhằm thu lợi từ sự biến động giá mạnh của chúng Vì hoạt động đầu cơ áp dụng với các loại tài sản tài chính biến động như vậy cho nên đầu cơ là một kiểu kinh doanh
có rủi ro rất cao Ngược lại với đầu cơ là việc mua và nắm giữ các tài sản tài chính để tăng thu nhập thông qua cổ tức hoặc lãi suất, hay còn gọi là đầu tư
Lợi ích của hoạt động đầu cơ là nó cung cấp cho thị trường một lượng vốn lớn, làm tăng tính thanh khoản cho thị trường và làm cho cho các nhà đầu tư khác dễ dàng
sử dung các nghiệp vụ như phòng vệ hay kinh doanh chênh lệch giá để loại trừ rủi ro Tuy nhiên đầu cơ cũng gây ra những tác động tiêu cực Khi có hoạt động đầu cơ giá lên diễn ra, giá của một loại hàng hoá nhất định có thể tăng đột ngột vượt quá giá trị thực của nó, đơn giản vì việc đầu cơ đã làm gia tăng cái gọi là "cầu ảo" Giá tăng lại tiếp tục làm các nhà kinh doanh khác nhảy vào thị trường này với hi vọng giá sẽ còn lên nữa Hiệu ứng tâm lý này tiếp tục đẩy giá lên, làm cho thị trường này trở nên rất nóng và ẩn chứa rủi ro cao Toàn bộ quá trình này được gọi là "bong bóng kinh tế", một khi trái bong bóng này bị chọc thủng thì các nhà đầu cơ trên thị trường này có thể gặp những tổn thất vô cùng nặng nề
1.4 Bất động sản
Bất động sản (BĐS) theo nghĩa thông thường nhất được hiểu là đất đai và các công trình xây dựng cố định trên đất đai Theo điều 181 bộ Luật dân sự Việt Nam thì BĐS là các tài sản không di dời được, bao gồm: đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai, các tài sản do luật định
Thị trường bất động sản là địa điểm, là nơi mà tại đó người bán và người mua tài sản BĐS tác động qua lại lẫn nhau để xây dựng giá cả và số lượng hàng hóa BĐS được thực hiện
Bất động sản có vai trò khá quan trọng đối với thị trường tài chính Đó là nguồn vốn để phát triển thông qua hoạt động thế chấp Thị trường bất động sản phát triển thì một nguồn vốn lớn tại chỗ được huy động Theo thống kê, ở các nước phát triển lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp BĐSchiếm đến 80% tổng lượng vốn cho vay
1.5 Tăng trưởng nóng
Tăng trưởng nóng là hiện tượng nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc, vượt mức sản lượng tiềm năng Tại mức sản lượng tiềm năng các tiềm lực kinh tế được sử dụng một
Trang 9Chương 1 Cơ sở lý thuyết
cách hiệu quả nhất, tỷ lệ lạm phát vừa phải, thất nghiệp thấp nhất, tức là vẫn còn một tỷ
lệ thất nghiệp tự nhiên cho phép để ổn định nền kinh tế Tăng trưởng nóng tạo nên một
số chỉ tiêu vượt bậc về kinh tế từ đó gây ra một số hệ quả không tốt cho nền kinh tế Có
4 dấu hiệu chính để nhận biết một nền kinh tế tăng trưởng nóng là lạm phát và giá chứng khoán tăng nhanh, đầu tư trong nước và nhập khẩu hàng tiêu dùng gia tăng mạnh
Tóm tắt chương 1
Qua chương đầu tiên chúng ta đã biết được thế nào là khủng hoảng tài chính, các loại khủng hoảng tài chính, bất động sản, đầu cơ và tăng trưởng nóng Nguyên nhân, diễn biến và hậu quả sẽ được trình bày trong chương 2
Trang 10Chương 2 Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
CHƯƠNG 2 KHỦNG HOẢNG KINH TẾ-TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997-1998
2.1 Tiếp cận dưới góc nhìn cổ điển
Đây là cách tiếp cận một cuộc khủng hoảng theo kiểu logic “nếu A thì B” hay nói cách khác đi từ nguyên nhân A, B, C để dẫn đến kết cục D (khủng hoảng)
2.1.1 Nguyên nhân khủng hoảng
Theo các chuyên gia thì đây là một cuộc khủng hoảng kép: Khủng hoảng tài chính, tiền
tệ – ngân hàng Cuộc khủng hoảng này có mức độ lan truyền sâu rộng (với mức thiệt hại gấp 4 lần so với cuộc khủng hoảng 94-95 ở Mexico)
a.Dòng vốn nước ngoài vào ồ ạt
Những yếu tố dẫn đến khủng hoảng ở Đông Á không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội địa mà còn cả từ bên ngoài Thế giới đánh giá quá cao tốc độ tăng trưởng của các nước Đông Á Do hiểu lầm về phép lạ kinh tế của Đông Á nên mới có phản ứng theo bầy là ồ ạt đầu tư vào khu vực này, mà càng hồ hởi bao nhiêu thì càng hốt hoảng bấy nhiêu khi có biến động
Từ năm 1991 đến 1996, lượng vốn tư nhân chảy vào các nước đang phát triển tăng nhanh từ
24,8 tỷ USD lên 65,8 tỷ USD
Bảng: vốn tư nhân nước ngoài chảy vào 5 nước Đông Á 1991 – 1996
1991 1992 1993 1994 1995 1996 Vốn tư nhân ròng 24,8 29 31,8 36,1 74,2 65,8
Đầu tư trực tiếp ròng 6,2 7,3 7,6 8,8 7,5 8,4
Đầu tư chứng khoán ròng 3,2 6,4 17,2 9,9 17,4 20,3
Vay thương mại và đầu tư khác 15,4 15,3 7,0 17,4 49,2 37,1
Viện trợ chính thức ròng 4,4 2,0 0,6 0,3 0,7 -0,4
( Nguồn: NHTG, “World Economic Outlook”, 5/1998 và 3/2000)
Suất sinh lợi thấp ở các nền kinh tế phát triển, chênh lệch lãi suất giữa các nền kinh tế Đông Á và các trung tâm tiền tệ quốc tế luôn ở mức dương, các chính sách mở rộng tiền tệ của Hoa Kỳ, nới lỏng kiểm soát tài chính ở châu Âu…là những động lực thúc đẩy dòng vốn vận chuyển từ Nhật Bản, Hoa Kì và EU tới các nền kinh tế Đông Á Thêm vào đó lãi suất nước ngoài thấp hơn lãi suất nội địa trong khi tỷ giá được cố định rõ ràng chính là nguyên nhân khiến các tổ chức kinh doanh và nội địa đi vay nước ngoài
Một điểm đáng lưu ý nữa là hàng loạt các khoản vay nước ngoài ngắn hạn được đầu tư dài hạn Thái Lan vay nước ngoài chủ yếu thông qua các ngân hàng và công ty tài chính Ngân hàng Hàn Quốc cũng vay nước ngoài Chỉ có hai nước Malaysia và Philippines trong số năm nước chịu khủng hoảng là có dự trữ ngoại tệ cao hơn nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn nước ngoài cao hơn dự trữ ngoại tệ có nghĩa là trong thời gian ngắn nền kinh tế sẽ không có khả năng chi trả
Trang 11Chương 2 Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
Bảng: Nợ ngắn hạn vào quý II năm 1997
Nợ ngắn hạn nước ngoài ( tỷ USD)
Dự trữ ngoại tệ ( tỷ USD)
Tỷ lệ nợ ngắn hạn
so với dự trữ Hàn Quốc
34,07 31,36 20,34 26,59 9,8
2,06 1,45 1,70 0,61 0,85
( Nguồn: ADB, “Asian Development Outlook”, 1999)
b Tâm lý ỷ lại của các doanh nghiệp, ngân hàng… và cả bộ máy công quyền tin rằng nhà
nước sẽ giăng lưới đỡ cho các công ty lỗ
Từ đầu thập niên 1990, tự do hóa tài chính được tiến hành với nhịp độ từ từ ở hầu hết các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á Khi các ngân hàng cho vay theo chỉ đạo của chính phủ thì luôn tồn tại một giả định ngầm rằng chính phủ sẽ bảo lãnh và cứu giúp nếu khoản vay đó không đòi được Chính vì vậy, mặc dù không hề có sự bảo lãnh chính thức của chính phủ, nhưng các
tổ chức tài chính ở Đông Á, đặc biệt là các ngân hàng nhà nước hay ngân hàng lớn, luôn coi mình là “quá lớn nên không thể thất bại
Tâm lý ỷ lại cũng xuất hiện đối với dòng vốn nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài khi cho các tổ chức tài chính trong nước vay cũng ngầm giả định rằng khoản cho vay của mình sẽ được chính phủ nước sở tại bảo lãnh khi nhìn thấy quan hệ gần gũi giữa chính phủ với các ngân hàng nội địa Khi kinh tế tăng trưởng khá, lượng vốn nước ngoài chảy vào nhiều thì không ai nghĩ rằng lại có thể không đảo được nợ hay vay mới khi các khoản vay trước đây đến kỳ đáo hạn.Vì tin như vậy, các thành phần đã nói trên đã lấy quá nhiều rủi ro về tài chính, ngoại hối và tín dụng cho tới khi sụp đổ thì kéo xập luôn các ngân hàng và doanh nghiệp Do đó, khủng hoảng ngoại hối mới thành tài chính và kinh tế
c Sự quản lý của chính phủ và chính sách kinh tế vĩ mô
Chính phủ cứng nhắc trong việc thực hiện chiến lược phát triển hướng về xuất khẩu và sự kém linh hoạt trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng cuả thương trường
Chính phủ mắc sai lầm trong việc quản lý chính sách tỉ giá hối đoái, cố định tỉ giá đồng baht một cách cứng nhắc vào đồng đô la Mỹ rất lâu và nền kinh tế chịu ảnh hưởng của nạn đô
la hóa một cách trầm trọng Cố định giá đồng bạc vào một vài ngoại tệ mạnh và tin rằng sức xuất khẩu của mình lẫn nguồn đầu tư từ nước ngoài sẽ bảo vệ được chế độ hối đoái ấy với một
dự trữ ngoại tệ thấp Dân chúng thì lạc quan vay tiền ở nước ngoài với lãi suất rẻ để đầu tư vào trong với lợi suất cao nhờ chính sách ưu đãi và sự bảo vệ của nhà nước Trong 2 năm giá USD tăng 25 % nhưng chính phủ không có sự điều chỉnh tỉ giá thích ứng Giá đồng baht tăng làm suy yếu nhanh chóng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu và làm tăng tương ứng nợ nước ngoài, gây ra nạn đầu cơ tiền tệ, kích thích nhu cầu ngoại tệ giả tạo, nhập khẩu gia tăng, thúc đẩy thâm hụt cán cân thương mại và tài khoản vãng lai Ngoài ra do hệ thống tín dụng hoạt
Trang 12Chương 2 Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
động yếu kém, sự dễ dãi trong quản lý tiền mặt và mua bán ngoại tệ tự do,sự chiếm dụng vốn,
nợ đọng khó đòi, sự mất cân đối giữa đầu tư và tiêu dùng quá mức là nguyên nhân làm tăng cường độ khủng hoảng
d Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
Sự sụt giá trên thị trường BĐS và TTCK làm các nhà đầu tư lo ngại về tính bền vững của
hệ thống tài chính của Thái Lan Thâm hụt tài khoản vãng lai cao tạo nên kỳ vọng về sự phá giá của đồng baht Từ giữa năm 1996, đồng Baht đã được bán ra hàng loạt Những người vay ngoại
tệ trước đây tin rằng tỷ giá hối đoái được cố định thì nay bắt đầu lo ngại và cũng mua đô la vào
để đảm bảo có đô la để trả nợ khi đáo hạn Chính phủ Thái Lan ban đầu dùng dự trữ ngoại tệ để bảo vệ tỷ giá nhưng cũng không có khả năng duy trì được lâu Đồng Baht được thả nổi vào đầu tháng 7 năm 1997
Đi liền với khủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng ngân hàng Lãi suất cao trong thời gian chính phủ bảo vệ tỷ giá buộc cả các tổ chức tài chính và các đối tượng vay vốn lâm vào tình thế khó khăn Hàng loạt công ty tài chính của Thái Lan phá sản trước cả khi phá giá đồng baht Và khi đồng baht bị phá giá, trách nhiệm nợ phải trả tính ra đồng nội tệ của các khoản nợ nước ngoài tăng vọt, kéo theo sự phá sản của nhiều doanh nghiệp và tổ chức tài chính nữa
e Sự rút vốn ồ ạt và phối hợp không tốt giữa các nhà đầu tư
Radelet và Sachs (1998) đưa ra ý tưởng rằng trục trặc ở Đông Á nảy sinh do nhà đầu tư
mất niềm tin và khủng hoảng xảy ra là một cuộc khủng hoảng mất tính thanh khoản .Sự thất
bại trong phối hợp đã làm cho các nhà đầu tư đồng loạt rút vốn Một ngân hàng đang hoạt động tốt nhưng bị người gửi tiền đến rút tiền ồ ạt cũng lâm vào tình trạng khó khăn Đông Á rơi vào tình trạng các nhà đầu tư không còn tin rằng dự trữ ngoại tệ đủ để trả nợ ngắn hạn Cả các nhà đầu tự nước ngoài lẫn trong nước đều muốn chuyển vốn ra Ngân hàng đòi lại vốn cho vay, từc hối đảo nợ và ngưng cho vay mới; còn các nhà đầu tư chứng khoán thì bán chứng khoán, đổi ra ngoại tệ và chuyển ra ngoài
2.1.2 Diễn biến:
Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính ở châu Á nổ ra năm 1997 trước hết xuất phát từ Thái Lan, rồi sau đó lan sang các nước khác như Philippines, Malaysia, Indonesia, HongKong, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật bản, Mỹ…
2.1.2.1 Thái Lan
- Tình hình Thái Lan trước khủng hoảng:
Trước khi bắt đầu phân tích diễn biến khủng hoảng tại Thái Lan, ta nhìn lại sơ qua về nền kinh
tế của Thái Lan trước khủng hoảng:
+ GDP tăng cao, liên tục, xuất khẩu phát triển: Thái Lan bắt đầu thời kỳ công nghiệp hóa đất nước từ năm 1961, khi bắt đầu kế hoạch phát triển năm thứ nhất Tốc độ tăng trưởng GDP trong thập niên 60 khoảng 8%/năm, trong thập niên 70 khoảng 7%/năm và trong thập niên
80 khoảng 8%/năm Tổng sản phẩm nội địa theo đầu người tăng từ mưc 440 USD năm 1955 lên 3.012 USD năm 1996 Nông nghiệp chiếm tỷ trọng 39% trong nền kinh tế vào 1961 giảm xuống còn 26.7% năm 1976 và chỉ còn 10.4% năm 1996
Trang 13Chương 2 Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
Thái Lan đã thực thi một chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu từ thập niên 80 Năm
1986 -1990 tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân là 28%/năm Năm 1992 và 1993 khoảng 13%/năm Năm 1994 và 1995 khoảng 20%/năm/ Năm 1996, tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ chỉ còn 3.4% so với năm 1995 Giá trị xuất khẩu theo đầu người đạt 630USD/người năm 1991, đã tăng lên 1.177USD/người năm 1996
Như vậy, nhìn vào mức độ tăng trưởng GDP của Thái Lan suốt hơn 3 thập kỉ từ 1961 đến 1996,ta thấy rất đáng yên tâm vì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm luôn từ 7% đến 8% Tuy nhiên, chỉ tiêu GDP mới phản ánh đầu ra của nên kinh tế mà chưa đề cập đến đầu vào Trong khi đó từ năm 1991-1996, đầu tư Thái Lan rất cao, hàng năm chiếm khoảng 40% GDP Tăng trưởng cao dựa trên hiệu quả kinh tế cao của sản xuất kinh doanh mới lâu bền, tăng trưởng cao mà chi phí tăng trưởng thấp thì mới bên vững Bình quân từ năm 1991 tới 1996, hệ
số ICOR của Thái Lan là 5,22 Tức là phải đầu tư 5,22 Baht thì GDP mới tăng 1Baht
+ Các doanh nghiệp kinh doanh ngày càng kém hiệu quả: tăng trưởng GDP ở mức cao, kéo dài nhiều thập kỷ, cộng thêm lãi suất tiết kiệm trong nước cao (bình quân 16.3%, trong khi
ở Mỹ là 7,6), và tỉ giá hối đoái gần như cố định tạo ra môi trường kinh doanh khá hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư tài chính, cho vay ngắn hạn và tín dụng thương mại Như vậy, các doanh nghiệp trong nước nếu vay vốn trực tiếp từ các ngân hàng, công ty nước ngoài như Mỹ thì chỉ chịu lãi suất khoảng ½ lãi suất cho vay trong nước Nếu các doanh nghiệp tận dụng khả năng sử dụng vốn bên ngoài này không quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn vay thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm, dù tổng giá trị sản lượng có thể tăng
Việc sử dụng đến gần 90% nguồn vốn nước ngoài ở dạng đầu tư tài chính và tín dụng ngắn hạng sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty, vì phải trả lãi thường xuyên và bằng ngoại tệ Hậu quả, là nếu quản lý kinh doanh không tốt thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty sẽ thấp Hơn nữa, tỉ suất thu hồi hay tỉ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) bình quân của doanh nghiệp đã giãm từ 8%/năm vào năm 1991 xuống chỉ còn 1%/năm vào năm 1996 Trong một nên kinh tế mà lãi suất cho vay là 16,3%/năm, còn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
là 1%/năm thì rõ ràng đã đang tích lũy nguy cơ khủng hoảng ‘phá sản doanh nghiệp’
+ Ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả: Trước nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và do có phần buông lơi vai trò giàm sát hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đi vay nên các ngân hàng và công ty tài chính Thái Lan rất tích cực vay nợ từ nước ngoài để tài trợ cho doanh nghiệp trong nước
+ Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán: trong suốt các năm 1991 -1996, cán cân thương mại của Thái Lan luôn bị thâm hụt, tổng cộng là 35,26 tỉ USD/ Thâm hụt tài khoản vãn lai năm 1996 tới 14.6 tỉ USD
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9% Nhưng đếncuối năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm xuống chỉ còn 6,4%, nợ nước ngoài tăng quá lớn so với dự trữ ngoại tệ (nợ 90 tỷ USD, trong đó nợ ngắn hạn chiếm tới 40%) Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu
- Diễn biến khủng hoảng ở Thái Lan
Trang 14Chương 2 Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
Việc đầu tư ồ ạt vào BĐS dẫn tới hậu quả tỷ lệ phòng trống của các nhà cao ốc văn phòng
và khu nhà ở lên tới 20% Điều này đã gây khó khăn lớn cho các nhà đầu tư BĐS phải trả nợ ngân hàng khi lãi suất lại đang ở mức cao (thời điểm này, các Công ty tài chính và ngân hàng Thái Lan năm tới 30 tỷ USD các khoản vay không trả được của các công ty) Đồng thời Thái Lan dựa chủ yếu vào danh mục đầu tư ngắn hạn của nước ngoài mà phần lớn trong số này được thông qua các ngân hàng trong nước và các công ty tài chính Như vậy các khoản vay càng trở thành gánh nặng lớn với Thái Lan
Chính phủ Thái Lan giữ cố định tỷ giá đồng Baht đối với đồng đô la Mỹ trong suốt 13 năm qua khiến đồng Baht trở nên kém linh hoạt và gây cản trở đối với các nhà xuất khẩu Đồng Baht lên giá đã làm cho hàng hoá của Thái Lan trở nên quá đắt trên thị trường Châu Âu và kể
từ giữa năm 1995 khi đồng Baht lên giá theo với đồng USD đã làm Thái Lan mất đi hàng tỷ USD đầu tư trực tiếp của nước ngoài Như vậy từ việc mua sản phẩm và dịch vụ nước ngoài nhiều hơn là thu nhập từ xuất khẩu và đầu tư, Thái Lan trở thành nước có mức thâm hụt tài khoản vãng lai cao nhất thế giới (8% so với GDP năm 1996) Thêm vào đó, chính sách quản lý ngoại hối của Thái Lan tương đối tự do, cơ chế chuyển đổi ngoại tệ đồng Baht khá dễ dàng, do
đó tạo điều kiện cho các luồng vốn nước ngoài đổ vào hoặc chảy ra bất cứ lúc nào theo ý kiến của các nhà đầu tư Chính vì vậy, khi có biến động trên thị trường Tài chính tiền tệ, luồng vốn ngoại tệ chuyển ra ngoài tăng mạnh, đã kéo theo đồng Baht xuống giá Bối cảnh này càng thúc đẩy giới đầu cơ trong và ngoài nước muốn phá giá đồng Baht để kiếm lợi nhuận do chênh lệch
tỷ giá
Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan tuyên bố sẽ không phá giá Baht, song rốt cục ngày 2/7/1997 Ngân hàng trung ương Thái Lan lại tuyên bố thả nổi đồng Baht Ngay sau khi đồng Baht giảm giá (15 - 20% so với USD) với mức thấp nhất 32 Bath/1USD kể từ 20 năm trở lại đây, nó đã kéo theo phản ứng giảm giá dây chuyền đối với các đồng tiền trong khu vực như: đô
la Singapore giảm giá 5%, Peso Philippines 9 - 10% Ngày 14 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng Baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức
56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar
2.1.2.2 Philippines
Tháng 5/1997, Ngân hàng Trung Ương (NHTW) Philippines tăng lãi suất lên1,75 điểm phần trăm và tiếp tục tăng lên 2 điểm vào tháng 6/1997 Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ
bê bối của tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng
Trang 15Chương 2 Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
hợp PSE (Philippine Stock Exchange) của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá.Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống
2.1.2.3 Hong kong
Cuộc khủng hoảng nổ ra 24 giờ sau khi Vương Quốc Anh trao trảHong Kong lại cho Trung Quốc Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công Nhờ có dự trữ ngoại tệ lớn lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ Từ ngày 20 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng1 đã giảm 23% Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu Cơ quan này
và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính Hong Kong đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ DollarMỹ)
Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở
mức 7,8:1
2.1.2.4 Hàn Quốc
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn Ngày 28 tháng 11 năm
1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors Quỹ đầu tư mạo hiểm trị giá 5
tỉ USD của Samsung cũng giải thế do tác động quá mạnh của cuộc khủng hoảng, tiếp đó Daewoo Motors phải bán lại cho General Motors Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn
1
Chỉ số Hang Seng là chỉ số chứng khoán được xây dựng dựa trên giá trị vốn hóa thị trường của các công ty lớn nhất ở Hồng Kông
Trang 16Chương 2 Khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á 1997-1998
khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD Dù có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện GDP trên đầu người, nhưng sau khủng hoảng, nợ quốc gia của Hàn Quốc tăng gấp ba lần so với trước đó
2.1.2.5 Malaysia
Trước khủng hoảng, tài khoản vãng lai của Malaysia thâm hụt 5% Malaysia là quốc gia nhận được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, điều này phản ánh qua việc KLSE (sàn giao dịch chứng khoán chính thức của Malaysia) được coi là sàn giao dịch có hoạt động mạnh nhất trên thế giới (tổng giá trị giao dịch thậm chí vượt qua cả NYSE mặc dù có mức vốn hóa thị trường thấp hơn rất nhiều) Ở thời điểm đó, mọi người đều kỳ vọng quốc gia này tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và trở thành nước phát triển vào năm 2020 Vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, KLSE Index đang ở mức 1.200, đồng ringgit được giao dịch ở tỉ lệ 2.5:1 so với USD, lãi suất qua đêm dưới 7% Lãi suất qua đêm tăng từ dưới 8% lên 40%, làm cho mức đánh giá tín dụng tụt xuống và xảy ra làn sóng bán chứng khoán và tiền tệ ồ ạt Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là
từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997 Năm 1998, GDP giảm 6,2%, đồng ringgit mất thêm 4,7% giá trị và KLSE tụt xuống dưới 270 điểm
2.1.2.6 Indonesia
Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12% Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản
lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn Đồng Rupiah liên tục mất giá IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt Tháng 9,
cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử
Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và
tỷ lệ lạm phát tăng vọt
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống.Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa