TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH *** BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ BÀI Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời k[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ BÀI: Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Sự vận dụng quan điểm nêu trên của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc phát triển cơ cấu thành phần
kinh tế ở nước ta hiện nay.
Họ và tên SV: Lý Khánh Ly Lớp tín chỉ: LLTT1101(122)_12
Mã SV: 11202402 Giảng viên: TS Nguyễn Chí Thiện
Hà Nội - 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ.2 1.1 Quan điểm của Lênin về thành phần kinh tế trong thời kì quá độ lên CNXH 2
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam 4
2 Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc phát triển cơ cấu thành phần kinh tế nước ta hiện nay 8
2.1 Sự cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế ở nước ta: 8
2.2 Bản chất và cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ: 9
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà chính trị bàn về kinh tế, tư tưởng kinh tế của Người cơ bản là tư tưởng kinh tế - chính trị, tư tưởng ấy đã soi sáng cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến hết thắng lợi khác Trên cương vị lãnh đạo quốc gia, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển kinh tế ở một nước nông nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những thành phần kinh tế là một bộ phận đặc sắc trong tư tưởng kinh tế của Người và vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với đất nước ta trong công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và định hướng
xã hội chủ nghĩa hiện nay
Thời kỳ quá độ là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả tập trung là cuộc cách mạng kinh tế - xã hội sâu sắc vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá tình hình đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, luôn luôn ở tình trạng trì trệ, chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, tình hình trì trệ ấy có nguyên nhân khách quan như nền kinh tế đang gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài, viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ trong chiến tranh nhưng nguyên nhân chủ yếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn về kinh tế và xã hội vẫn là mô hình kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan Chính những khó khăn của đất nước buộc Đảng ta phải suy nghĩ, phân tích tình hình nguyên nhân, tìm tòi các giải pháp, trong đó Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần, đây là mô hình kinh tế được xây dựng trên cơ
sở tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta, vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm của Lênin về “chính sách kinh tế mới” vào điều kiện lịch sử ở nước ta và thế giới ngày nay, đặc biệt là từ khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ Thực hiện
mô hình kinh tế mới nhằm mục tiêu căn bản cấp thiết là tăng nhanh lực lượng sản xuất, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã hội Chính vì vậy mà việc tìm hiểu quan điểm Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam và sự vận dụng quan điểm ấy là vô cùng quan trọng, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay thì vấn đề đó lại càng cấp thiết hơn
Trang 4NỘI DUNG
1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ.
1.1 Quan điểm của Lênin về thành phần kinh tế trong thời kì quá độ lên CNXH.
Kế thừa những luận điểm của C.Mac và Ph.Ănghen, VI.Lênin đưa ra nhiều luận
điểm quan trọng về đặc điểm của thời kỳ quá độ như sau: Thứ nhất, thời kỳ quá độ là thời
kỳ xét trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, do thành phần không thuần nhất cấu tạo nên Đó
là thời kỳ có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa CNTB và CNXH, đúng như Lênin đã
viết:“Ngày nay, chúng ta không thể không đặt vấn đề CNTB nhà nước và CNXH, vấn đề
chúng ta cần có thái độ như thế nào trong thời kỳ quá độ; trong thời kỳ này một mẩu nhỏ CNTB và một mẩu nhỏ CNXH tồn tại cạnh nhau” Thứ hai, đó là thời kỳ mà sự phát
triển của cái cũ, của những trật tự cũ đôi khi lấn át những mầm mống của cái mới Lênin cho rằng, những mảnh vụn của trật tự cũ đôi khi chất đống lại một cách nhanh chóng, trong khi đó những mầm mống của cái mới lại phát triển chậm chạp và không phải bao
giờ thấy rõ ngay được Thứ ba, đó là thời kỳ xét trên mọi phương diện đều có sự phát
triển của tính tự phát tiểu tư sản, là thời kỳ chứa đựng mâu thuẫn không thể dung hoà được giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản và tính vô chính phủ, vô kỷ luật của tầng lớp tiểu tư sản Lênin cho rằng, tính tự phát tiểu tư sản là kẻ thù giấu mặt hết sức nguy hiểm và còn nguy hiểm hơn bọn phản cách mạng công khai Mâu thuẫn giữa tính tự phát tiểu tư sản và tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản là một trong những đặc
điểm nổi bật của “giai đoạn đặc biệt”, giai đoạn quá độ Thứ tư, đó là thời kỳ lâu dài với
rất nhiều khó khăn phức tạp, phải trải qua nhiều lần thử nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những con đường đúng đắn; và trong quá trình thử nghiệm ấy, nói như C Mác,
có thể sẽ phải trả giá cho những sai lầm nghiêm trọng Lênin đã sớm nhận thức được điều
đó khi ông viết: “Còn chúng ta thì biết rằng việc chuyển từ CNTB lên CNXH là cuộc đấu
tranh vô cùng khó khăn Nhưng chúng ta sẵn sàng chịu hàng nghìn khó khăn, thực hiện hàng nghìn lần thử, và khi chúng ta đã thực hiện được hàng nghìn lần thử rồi, thì chúng
ta sẽ giữ cái lần thứ một nghìn lẻ một” VI.Lênin còn nhận thấy những nước có nền kinh
tế lạc hậu, chẳng hạn như nước Nga có nền kinh tế tiểu nông, khi quá độ lên CNXH càng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, càng phải trải qua nhiều bước quá độ , nhiều bước thử nghiệm Ông nhắc lại nhiều lần quan điểm này vào những năm năm 1918 - 1921 Chẳng
hạn, tháng 10/1921, Lênin đã nói: “Kể từ năm 1917, khi nhiệm vụ nắm chính quyền được
đề ra và được những người bạn Bôn-sê-vích nói rõ cho toàn thể nhân dân biết, thì các tác phẩm lý luận của ta đã nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng: Tất yếu phải có một thời
kỳ quá độ lâu dài và phức tạp từ XHTBCN (xã hội đó càng ít phát triển, thì thời kỳ đó càng dài) tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa”
Trang 5Những năm sau cách mạng tháng Mười (trước chính sách kinh tế mới) VI Lênin
có nhiều luận điểm về sự không thuần nhất, sự đan xen giữa CNTB và CNXH trong thời
kỳ quá độ Đặc điểm đó được biểu hiện trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội, nhưng rõ nét nhất là trong lĩnh vực kinh tế VI Lênin đã định nghĩa danh từ “ thời kỳ quá
độ” trong lĩnh vực kinh tế : “Vậy danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có
nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của
cả CNTB lẫn CNXH không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có” Như vậy, trước khi có
chính sách kinh tế mới, Lênin mới chỉ vạch ra những nét đại thể của thành phần kinh tế phi XHCN, đó là tính tự phát của người tiểu tư hữu; là sự phản kháng ngoan cố của CNTB dưới nhiều hình thức Nhưng ngay sau khi có chính sách kinh tế mới, cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn, Lênin lại thừa nhận có 5 thành phần kinh tế đồng thời tồn tại trong thời kỳ quá độ Các thành phần kinh tế hoàn toàn mới so với trước là thành phần kinh tế tư bản và thành phần CNTB nhà nước Lênin đã xếp thứ tự các thành phần kinh tế như sau:
1 Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng
2 Sản xuất hàng hóa nhỏ
3 Chủ nghĩa tư bản tư nhân
4 Chủ nghĩa tư bản nhà nước
5 Chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô nhượng, hợp tác xã, tư nhân đại lý, cho tư nhân thuê cơ sở sản xuất, được xem là “chiếc cầu nhỏ vững chắc xuyên qua” chủ nghĩa tư bản để đi vào chủ nghĩa xã hội Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước không chỉ là biện pháp “quá độ đặc biệt” mà còn là khâu “trung gian” để chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội
Về kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, điểm xuất phát trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là phải đáp ứng lợi ích kinh tế cho đại đa số nông dân, mà trước hết là từ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dựa vào khôi phục và phát triển kinh tế tiểu nông để khôi phục và phát triển đại công nghiệp Ngay Đại hội X Đảng cộng sản Bôn-sê-vích Nga, Lênin đã yêu cầu chính quyền Xô Viết phải nhanh chóng phát triển nền sản xuất tiểu nông bằng cách khuyết khích nền kinh tế nông dân cá thể với những biện pháp “quá độ”, những hình thức “trung gian” có khả năng cải tạo nông dân, đổi mới nông thôn và chuyển đổi nền kinh tế tiểu nông của những người nông dân cá thể thành nền sản xuất tập thể có tính xã hội chủ nghĩa, diễn ra một cách tuần tự, có tính kế thừa, thận trọng Về kinh tế tư bản tư nhân, khi chính sách kinh tế mới được áp dụng trong thực tiễn nước Nga, Lênin hiểu rõ có thể chủ nghĩa tư bản sống lại, nhưng ông cho rằng không sợ
nó, mà kêu gọi Chính quyền Xô viết cần sử dụng tư nhân nông dân, thợ thủ công, thương nhân, để phát triển kinh tế đất nước, bởi vì tư bản tư nhân sẽ tạo ra nhiều hàng hóa tiêu
Trang 6dùng cho xã hội - cơ sở ổn định chính trị Đặc biệt, Lênin đánh giá rất cao vị trí, vai trò của thành phần kinh tế chủ nghĩa xã hội, coi đây là “xương sống” của nền kinh tế - những
“mạch máu” kinh tế cơ bản như công nghiệp, ngân hàng, tài chính tín dụng luôn nằm trong tay chính quyền Xô viết, thuộc sở hữu nhà nước Khi chính sách kinh tế mới được thực hiện, Lênin chủ trương các xí nghiệp quốc doanh hoạt động theo chế độ tự hoàn vốn, chế độ hoạch toán kinh tế, các xí nghiệp này được giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm vật chất với kết quả hoạt động của mình
Như vậy, Lênin đã nêu ra 5 thành phần kinh tế và sắp xếp thứ tự một cách có chủ đích và hàm chứa ý nghĩa phương pháp luậncấp độ tăng lên về tính chất xã hội chủ nghĩa của mỗi thành phần kinh tế; tỷ trọng của các thành phần kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử; sự biến đổi tỷ trọng các thành phần kinh tế phải theo hướng xã hội chủ nghĩa; tính đan xen, mâu thuẫn, đấu tranh và thống nhất giữa các thành phần kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế bền vững, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của đất nước và tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, thứ tự đó còn thể hiện mức độ gần gũi của các thành phần kinh tế với kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong một nước tiểu nông, muốn tiến lên CNXH phải trải qua một quá trình lâu dài, qua nhiều nấc thang trung gian, CNTB nhà nước chính là nấc thang trung gian đó Tóm lại, từ nền kinh tế tiểu nông xuyên qua CNTB nhà nước lên CNXH là tư tưởng nhất quán trong quan niệm xây dựng CNXH của Lênin Đồng thời, Lênin đã có sự thay đổi trong việc nhìn nhận về những đặc điểm kinh
tế của thời kỳ quá độ Ông cho rằng sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế khác nhau, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh dựa trên chế độ sở hữu khác nhau
về tư liệu sản xuất, dẫn đến có sự đối lập nhau về lợi ích là điều hiển nhiên, không thể dùng ý chí chủ quan hay sức mạnh hành chính mà phủ nhận sự đối lập đó dẫn đến xóa bỏ các thành phần kinh tế Lênin nhận thấy sự tồn tại 5 thành phần kinh tế trong thời kỳ quá
độ là tất yếu, là hợp qui luật; chúng cần tồn tại trong một thời gian cần thiết
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá
độ lên CNXH ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh cho rằng: “Có nước thì đi lên chủ nghĩa xã hội như Liên Xô, có
nước phải kinh qua chế độ dân chủ mới rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội” Có thể hiểu : “chế
độ dân chủ mới” mà Người nói là thời kỳ quá độ lên CNXH.Bác đã nhận thức rõ, thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là một thời kỳ lịch sử mà nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH,… tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở những nước như nước ta sẽ tất yếu tồn tại đan xen nhiều hình thức sở hữu khác nhau, chế độ sở hữu thiết yếu phải đa dạng, cơ cấu kinh tế phải có nhiều thành phần Và với điểm xuất phát đi lên CNXH của nước ta về kinh tế là thấp kém, cho
thấy cần sự tồn tại của một nền kinh tế nhiều thành phần Từ nhận định: “Trong nước ta
hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau: sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao
Trang 7động, sở hữu của người lao động riêng lẻ, một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản” Tiếp đó Người lí giải: nước ta phải trải qua một giai đoạn dân chủ mới vì “đặc điểm to lớn của thời kỳ quá độ là một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” Đây là điểm xuất
phát của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Chính điểm xuất phát này là cơ sở khách quan quyết định tính chất phức tạp của kết cấu kinh tế - xã hội và sự tồn tại các thành phần kinh tế khác nhau Từ đó người xác định cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta thể hiện ở ba khía cạnh sau:
Một là, Người xác định thành phần kinh tế ở nước ta (vùng tự do 1953) gồm:
- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô: Đây là thành phần kinh tế của chế độ xã hội
phong kiến Trong đó, giai cấp địa chủ chiếm ruộng đất và nông cụ nhưng không cày cấy,
“không nhắc chân đụng tay mà lại cửa cao nhà rộng, phú quý phong lưu” còn nông dân
phải mướn ruộng của địa chủ phải nộp tô, phải hầu hạ “nông dân không khác gì nô lệ”.
Trong chế độ mới, thành phần kinh tế đó đã lỗi thời, chỉ còn là tàn dư Nhưng để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phục vụ chiến lược giải phóng dân tộc, nhằm thu hút số địa chủ vừa và nhỏ theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến, Hồ Chí Minh không chủ trương xóa bỏ thành phần kinh tế này mà chỉ thực hiện giảm tô, giảm tức, tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này đóng góp cho kháng chiến
- Kinh tế quốc doanh: gồm các cơ sở sản xuất, kinh doanh của nhà nước, là của chung
nhân dân, phục vụ lợi ích của xã hội, Đây là thành phần kinh tế ra đời trong chế độ dân chủ mới, có vai trò đáp ứng yêu cầu to lớn và quan trọng của toàn xã hội, của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược Theo Hồ Chí Minh, kinh tế quốc doanh là “nền
tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển
nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó”
- Kinh tế tư bản tư nhân: là thành phần kinh tế của giai cấp tư sản dân tộc Giai cấp tư sản nước ta mới ra đời, còn non yếu do bị tư bản nước ngoài chèn ép Tuy nhiên “về mặt sản
xuất so với chế độ phong kiến thì chế độ tư bản là một tiến bộ to” Họ có nhiều kinh
nghiệm sản xuất, sử dụng vốn, khoa học kỹ thuật “cho nên, Chính phủ cần giúp họ phát
triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân”.
- Kinh tế tư bản quốc gia: Đây là thành phần kinh tế do Nhà nước và nhà tư bản cùng góp
vốn với nhau để kinh doanh do Nhà nước lãnh đạo Tư bản của tư nhân là tư bản chủ nghĩa Tư bản của Nhà nước là xã hội chủ nghĩa Theo Lênin, thành phần kinh tế này là nấc thang, bước trung gian để một nước kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội Và thành phần kinh tế "nửa chủ nghĩa xã hội" này sẽ tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Ngoài ra còn có kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa; kinh tế cá thể của nông dân và của thủ công nghệ
Trang 8Hai là: Sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Bắc, giành độc
lập về chính trị, chính quyền đã về tay Nhân dân, Bác chủ trương vừa xây dựng, vừa cải tạo đất nước Với sự đa dạng của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước tiền tư bản (Trung Quốc,
Việt Nam) phải “kinh qua chế độ dân chủ mới” Dưới chế độ dân chủ mới có 5 loại
thành phần kinh tế khác nhau là:
- Kinh tế quốc doanh (hay kinh tế nhà nước): là thành phần kinh tế có tính chất xã hội
chủ nghĩa, thể hiện ở chế độ sở hữu toàn dân: tài sản các xí nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của Nhà nước, chứ không phải của riêng Trong quan hệ tổ chức quản lý sản
xuất, “xưởng trưởng, công trình sư và công nhân đều có quyền tham gia quản lý, đều là
chủ nhân Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ nhân dân” Kinh tế
quốc doanh có vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, do đó, Nhà nước phải đảm bảo cho
nó phát triển ưu tiên nhằm xây dựng nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội
- Kinh tế hợp tác xã: bao gồm các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, các hội đổi
công ở nông thôn, là thành phần kinh tế có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa, được hình thành từ hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động Bởi vì, trong thành phần kinh tế
này, “nhân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng, hoặc để bán những thứ
mình sản xuất không phải kinh qua các người con buôn, không bị họ bóc lột” Chủ tịch
Hồ Chí Minh coi hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thông qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Đó cũng là sự thống nhất với quan điểm của Lênin về tổ chức hợp tác xã: đảm bảo tính dân chủ, tự nguyện, bình đẳng, chú trọng lợi ích của hội viên và phù hợp với điều kiện từng địa phương
- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là
nửa chủ nghĩa xã hội): Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đó là “kinh tế lạc hậu” bởi nó mang tính tự cung tự cấp, tự túc, ít trao đổi mua bán Đối với thành phần kinh tế này:
“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ
họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện”
- Kinh tế tư bản tư nhân: là thành phần kinh tế mang tính bóc lột Họ bóc lột công nhân,
nhưng đồng thời họ cũng góp phần quan trọng vào xây dựng kinh tế Do đó, Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ nhưng phải hướng dẫn
họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà
nước Người nhấn mạnh: “Nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng
theo chủ nghĩa xã hội” Đồng thời, những hoạt động đầu tư, phát triển kinh tế chính đáng
có lợi cho Việt Nam của kiều bào cũng được Nhà nước giúp đỡ và bảo hộ
- Kinh tế tư bản của nhà nước: là thành phần kinh tế hỗn hợp Nhà nước và tư nhân hùn
vốn để kinh doanh, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản, tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội Nhà nước thực hiện việc lãnh đạo hoạt động của thành phần kinh tế này
Trang 9theo kế hoạch thống nhất Để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh
tế, Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ các nhà tư sản công thương cải tạo theo chủ nghĩa
xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác Và, trong nền kinh tế nhiều thành phần ấy, để khỏi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh rằng phải làm cho kinh tế quốc doanh phát triển nhanh hơn và giữ vai trò chủ đạo.
Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và Nhân dân ta phải ủng hộ nó; những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ là tư Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà Phải phát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng cho kinh tế
XHCN; khuyến khích kinh tế hợp tác xã với các hình thức đa dạng, nhấn mạnh nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất cho họ, hướng dẫn và giúp họ cải tiến cách làm ăn Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản Thực chất, đó
là quan điểm về nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong
đó, Nhà nước cần quan tâm đến sự phát triển của các thành phần kinh tế ở các mức độ phù hợp
Ba là, Hồ Chí Minh đề ra chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ để đảm bảo
nguyên tắc đoàn kết, phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế:
- Công tư đều lợi: “công” là kinh tế quốc doanh, là thành phần kinh tế lãnh đạo của nền
kinh tế dân chủ mới Đảng, Nhà nước phải ra sức phát triển kinh tế quốc doanh, Nhân dân phải ủng hộ kinh tế quốc doanh; đồng thời phải trừng trị những người có hành động
phá hoại kinh tế quốc doanh như trộm cắp của công, khai gian lậu thuế “Tư” bao gồm
những nhà tư bản dân tộc, kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ
- Chủ thợ đều lợi: thừa nhận sự bóc lột của nhà tư bản là tất yếu, nhưng Chính phủ cần phải “ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay” Đối với công nhân, Đảng và Chính phủ
phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ Để đảm bảo lợi ích lâu dài, Người cũng căn
dặn: “Anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức Chủ
và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên” Sự hợp tác trong sản xuất,
việc chấp nhận những quyền lợi trong chừng mực nhất định của cả chủ và thợ cũng là một trong những động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- Công nông giúp nhau: lĩnh vực công thương đẩy mạnh phát triển thương nghiệp và chế
biến, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa trong nông nghiệp để làm sợi dây đoàn kết “Liên minh công nông”
- Lưu thông trong - ngoài: tức là phải thực hiện chính sách mở cửa phát triển hợp tác kinh
tế theo hướng các bên cùng có lợi Nói theo ngôn ngữ hiện nay là hội nhập kinh tế quốc
tế, hội nhập quốc tế, tham gia vào các chuỗi cung ứng, chuỗi sản phẩm, chuỗi giá trị
Trang 10“Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta” Chỉ bằng
những câu ngắn gọn Hồ Chí Minh đã cho chúng ta thấy những nguyên tắc, mục tiêu cần hướng tới của nền kinh tế nhiều thành phần là: các thành phần kinh tế phải tồn tại trong mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, tạo nên sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách mở cửa phát triển hợp tác kinh tế theo hướng các bên cùng có lợi Nói theo ngôn ngữ hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế, tham gia vào các chuỗi cung ứng, chuỗi sản phẩm, chuỗi giá trị Tư tưởng trên của Người
đã được đưa vào cuộc sống và đã đưa lại những thành tựu to lớn Công cuộc khôi phục kinh tế 1955-1957 nhanh chóng hoàn thành, công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế
1958-1960 giành được những thắng lợi to lớn, mở ra một thời kỳ “hoàng kim” của kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc phát triển
Như vậy, Bác đã kế thừa và vận dụng sáng tạo lý luận của V.I.Lênin về tính chất nhiều thành phần của nền kinh tế quá độ lên CNXH, và nhận thức cơ cấu các thành phần kinh tế ở Việt Nam trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nhận thức của Bác về nền kinh
tế nhiều thành phần ở Việt Nam không những tuân thủ quy luật chung của quá trình đi lên CNXH, mà còn thể hiện sự đánh giá sâu sắc tính đặc thù của những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khi bắt đầu xây dựng CNXH Những nhận thức đó đã tạo cơ sở cho những quyết sách khoa học ở Hồ Chí Minh và Đảng ta trên lĩnh vực kinh tế trong quá trình xây dựng CNXH ở miền Bắc trước đây và trên phạm vi cả nước sau này
2 Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc phát triển cơ cấu thành phần kinh tế nước ta hiện nay.
2.1 Sự cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế ở nước ta:
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, sự tồn tại của sản xuất hàng hoá là một tất yếu khách quan, bởi vì nước ta có lực lượng sản xuất còn rất thấp, đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau, sự phân công lao động xã hội gắn với nhiều chủ thể
sở hữu khác nhau như các thực thể kinh tế độc lập Trong những điều kiện đó, việc trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể sản xuất với nhau không thể thực hiện theo nguyên tắc nào khác là nguyên tắc trao đổi ngang giá, tức là trao đổi hàng hoá thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng hoá Ở nước ta trong thời kỳ quá độ, muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất thì phải xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động Quá trình ấy chỉ có thể diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế hàng hoá Sản xuất càng xã hội hoá, chuyên môn hoá, thì càng đòi hỏi phát triển sự hiệp tác và trao đổi hoạt động trong xã hội, càng phải thông qua sự trao đổi hàng hoá giữa các đơn vị sản xuất để đảm bảo những nhu cầu cần thiết của các loại hoạt động sản xuất khác nhau Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hoá mới làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động Kinh tế tự nhiên, do bản chất của nó chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn Trong cơ chế kinh tế cũ, vì coi thường quy luật kinh tế giá trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và động lực để phát triển sản xuất Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử dụng quy luật giá trị, quy luật này buộc mỗi người sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về hàng hoá do mình làm ra Chính vì thế mà nền kinh