VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT ĐỂ LÝ GIẢI SỰ THÀNH CÔNG CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN GẦN ĐÂY 2.1 Sự thành công đến từ việc phát triển tích lũy Lượng Tích lũy Lượng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có thể hiểu là tích lũy về số lượng sản phẩm hoặc năng suất lao động. Năng suất lao động càng lớn nghĩa là hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đó càng có hiệu quả tốt, nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp và dẫn đến thành công. Ở Việt Nam, năng suất lao động xã hội là một chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (quy định trong Luật Thống kê), được tính bằng GDP bình quân trên một lao động đang làm việc trong năm. Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian hay lượng thời gian lao động sử dụng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua tiếp tục cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN. Năng suất lao động năm 2020 của Việt Nam tính theo giá so sánh năm 2010 chỉ tăng 5,4% (so với mức tăng 6,2% năm 2019, và ở mức thấp nhất trong 5 năm gần đây), đạt mức 117,94 triệu đồnglao động theo giá hiện hành (tương đương 5.081 USDlao động). Mức tăng này cao hơn khi so sánh với các quốc gia trong khu vực. Để có thể nâng cao năng suất lao động, các doanh nghiệp cần đầu tư thêm về chất lượng lao động, cơ sở vật chất, máy móc, sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật – công nghệ… Thực tế trong thời gian qua đã cho thấy, nhờ nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ đã thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực công nghiệp chủ lực, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Tiêu biểu như, trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản, việc nghiên cứu, đầu tư đổi mới công nghệ đã góp phần tăng sản lượng than toàn ngành bình quân 9,4%năm, đồng thời giúp nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm và tạo ra các sản phẩm mới thay thế các sản phẩm nhập khẩu. Theo đó, tỷ lệ cơ giới hóa trong khai thác hầm lò đã tăng vượt bậc, từ 10% lên 80% trong những năm qua. Nói tóm lại, sự tích lũy về Lượng của các doanh nghiệp Việt Nam như sản lượng sản xuất, khai thác và xuất khẩu đều tăng lên; năng suất lao động ngày càng tốt và hiệu quả hơn khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao dần về số lượng. Cung hàng hóa ngày càng nhiều khiến cho cạnh tranh giữa các loại mặt hàng ngày càng gay gắt hơn, mà cạnh tranh ấy không chỉ diễn ra trong nước mà còn toàn bộ nền kinh tế. Chính vì thế, để nâng cao thị phần và năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay buộc phải có bước nhảy về Chất để tạo nên ưu thế cạnh tranh cho mình. 2.2 Sự thành công đến từ bước nhảy về Chất Mọi sự vật, hiện tượng đều là quá trình vận động về Lượng và về Chất. Khi sản lượng hàng hóa được sản xuất ra ngày càng nhiều, năng suất lao động ngày càng lớn sẽ diễn ra dư thừa của cải. Chính vì vậy, khi tích lũy Lượng đến một điểm giới hạn nhất định gọi là điểm nút thì buộc phải dẫn đến bước nhảy về Chất. Nói một cách dễ hiểu chính là: Khi sản lượng sản phẩm được sản xuất ra và năng suất lao động phát triển quá nhanh thì buộc các doanh nghiệp phải có “bước nhảy” để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng lao động và công nghệ máy móc để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra một độ mới để tích lũy Lượng mới. Thực tế chứng minh rằng, một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi, nhưng kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu quốc gia đó có nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực của Việt Nam đang ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của dân số. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, riêng trong năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid19, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước giảm 1,2 triệu người so với năm 2019, chủ yếu là do sự sụt giảm ở khu vực nông thôn (giảm hơn 1,1 triệu người). Trong số lực lượng lao động năm 2020, có 53,4 triệu người đang làm việc, trên 1 triệu người thất nghiệp; khoảng 17,3 triệu người (số liệu năm 2018 và 2019) không hoạt động kinh tế vì các lý do khác nhau. Xét một cách tổng quan, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, trình độ học vấn của nhân lực cũng được nâng cao, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Việt Nam cũng không ngừng được cải thiện. Tỷ lệ dân số có chuyên môn kỹ thuật đã tăng 6,3 điểm phần trăm, từ 17,7% (năm 2007) lên 24% (quý II2020). Tỷ lệ dân số có trình độ đại học trở lên tăng mạnh nhất, từ 4,9% (năm 2007) lên 11,1% (quý II2020). Điều này cho thấy trong những năm qua, giáo dục đại học và trên đại học của Việt Nam đã có những thay đổi lớn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Không chỉ nâng cao chất lượng lao động, sự thay đổi về chất cũng đến từ tiến bộ của Khoa học – kỹ thuật – công nghệ. Nhiều doanh nghiệp tham gia vào các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao do Nhà nước hỗ trợ đã tạo ra được các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của doanh nghiệp, nâng cao ý thức về vai trò của khoa học và công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhờ đó, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2020 (GII 2020) của Việt Nam tiếp tục duy trì được thứ hạng cao, là năm thứ hai liên tiếp xếp thứ 42131 quốc gia và nền kinh tế. Với thứ hạng này, Việt Nam đang dẫn đầu trong nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập và đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á. Như vậy, sự tích lũy về Lượng đã tạo nên các bước nhảy về Chất. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng hiểu rõ về quy luật này nên ngày càng có sự quan tâm để nâng cao Chất và Lượng trong hoạt động kinh doanh. Từ đó nâng cao được hiệu quả kinh doanh và gặt hái được những thành công nhất định cho nền kinh tế nước nhà. Chính vì vậy, để doanh nghiệp Việt Nam có được thành công như ngày hôm nay đều dựa vào quy luật phát triển về Lượng và Chất.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
NỘI DUNG 4
PHẦN I: QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Chất… 4
1.1.2 Lượng 4
1.1.3 Độ……… ………….5
1.1.3.1 Điểm nút 5
1.1.3.2 Bước nhảy 5
1.2 Nội dung quy luật Lượng – Chất 5
1.2.1 Sự thay đổi về Lượng dẫn đến sự thay đổi về Chất 6
1.2.2 Sự thay đổi về Chất tác động đến sự thay đổi về Lượng 6
PHẦN II: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT ĐỂ LÝ GIẢI SỰ THÀNH CÔNG CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN GẦN ĐÂY 8
2.1 Sự thành công đến từ việc phát triển tích lũy Lượng 8
2.2 Sự thành công đến từ bước nhảy về Chất 9
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hoá, chuyển giao Khoa học – Công nghệ đã trở thành một xu hướng quan trọng để phát triển kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia Ở Việt Nam đã có một số tập đoàn kinh tế gặt hái được những thành công nhất định khi hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng thị trường tại thời điểm hiện tại Lý giải nguyên nhân đó là bởi họ đã nhận thức được tầm quan trọng và cấp thiết trong quy luật chuyển hoá từ sự thay đổi về Lượng dẫn đến sự thay đổi về Chất trong quá trình hoạt động kinh doanh và phát triển
Chính vì thế, đứng trước bối cảnh thực tế, em xin lựa chọn đề tài: “Vận dụng quy luật Lượng – Chất để lý giải sự thành công của một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam trong thời gian gần đây” Do thời gian nghiên cứu và trình
độ hiểu biết bản thân còn nhiều hạn chế, em rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý của thầy cô để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Áp dụng cơ sở lý luận của Triết học Mác-Lênin vào trong thực tiễn cuộc sống để từ đó làm rõ các khái niệm về quy luật Lượng - Chất và mối quan hệ của chúng Từ đó lý giải sự thành công của một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quy luật Lượng - Chất và sự vận dụng quy luật Lượng – Chất vào sự thành công của một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Quy luật Lượng - Chất và một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3Phương pháp sử dụng là phương pháp quy nạp dựa trên cở sở thống kê, tổng hợp, nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan tới Triết học Mác- Lênin
về quy luật Lượng - Chất và mối quan hệ của chúng làm rõ các khái niệm liên quan
Trang 4NỘI DUNG PHẦN I: QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Chất
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, những yếu tố cấu thành nên chính nó và để phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác
Chất của sự vật là các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật nhưng không đồng nhất với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng Khi các thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vật thay đổi
Chất của sự vật, hiện tượng không chỉ được xác định bởi Chất của các yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng Do đó việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối
Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất mà còn có nhiều chất, tuỳ thuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác Chất không chỉ tồn tại thuần tuý tách rời sự vật, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó
1.1.2 Lượng
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật
về mặt số lượng, quy mô; trình độ; nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
Lượng cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật,
Trang 5quy định sự vật ấy là nó Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…
Một sự vật có thể có nhiều loại Lượng khác nhau Có Lượng biểu thị yếu tố bên ngoài, có Lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong sự vật, hiện tượng
Sự phân biệt giữa Chất và Lượng chỉ có ý nghĩa mang tính tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là Chất nhưng trong mối quan hệ khác lại
là Lượng
1.1.3 Độ
Độ là giới hạn mà trong đó Lượng biến đổi chưa gây nên sự thay đổi căn bản về Chất Sự vật, hiện tượng ấy vẫn là nó khi trong một độ thích hợp, khi Lượng biến đổi vượt quá giới hạn của độ thì sẽ dẫn đến biến đổi về Chất và sự vật, hiện tượng ban đầu sẽ không còn là nó nữa
Trong phạm vi độ nhất định, hai mặt Chất và Lượng tác động qua lại lẫn nhau làm cho sự vật, hiện tượng có thể duy trì vận động Mọi sự thay đổi về Lượng đều có ảnh hưởng đến trạng thái Chất, nhưng không phải những thay đổi
về Lượng nào cũng dẫn đến những thay đổi về Chất Chất sẽ thay đổi chỉ trong trường hợp khi sự thay đổi về Lượng phá vỡ mức độ cũ mà thôi
1.1.3.1 Điểm nút
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về Lượng Khi Lượng thay đổi đến một điểm giới hạn nhất định thì sẽ dẫn đến những sự thay đổi về Chất Điểm giới hạn đó chính là điểm nút
1.1.3.2 Bước nhảy
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về Chất của sự vật, hiện tượng do sự thay đổi về Lượng của sự vật, hiện tượng đó gây
Trang 6nên Bước nhảy là kết thúc một giai đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng; đây là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới Sự thay đổi dần dần về Lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về Chất thông qua bước nhảy
1.2 Nội dung quy luật Lượng – Chất
Trong bất kỳ sự vật, hiện tượng nào, Chất và Lượng cũng được thống nhất
và tác động qua lại lẫn nhau Trong sự vật, hiện tượng quy định về Lượng không bao giờ tồn tại nếu không có tính quy định về Chất và ngược lại
Sự thay đổi về Lượng và về Chất của sự vật, hiện tượng sẽ diễn ra cùng với sự vận động và phát triển của chúng Những sự thay đổi đó có quan hệ chặt chẽ với nhau chứ không tách rời nhau Sự thay đổi về Lượng có ảnh hưởng tới sự thay đổi về Chất và ngược lại, sự thay đổi về Chất tương ứng với sự thay đổi
về Lượng của nó
1.2.1 Sự thay đổi về Lượng dẫn đến sự thay đổi về Chất
Sự thay đổi về Lượng có thể làm thay đổi ngay lập tức về Chất của sự vật Mặt khác, có thể trong một giới hạn nhất định khi lượng của sự vật thay đổi, nhưng Chất của sự vật chưa thay đổi cơ bản Khi Lượng của sự vật, hiện tượng được tích lũy quá giới hạn độ, thì Chất cũ sẽ mất đi, Chất mới sẽ thay thế chất cũ Chất mới ấy tương ứng với Lượng mới tích lũy được
Khi sự vật, hiện tượng này tích lũy đủ về Lượng tại điểm nút sẽ làm cho Chất mới của nó ra đời Lượng mới và Chất mới của sự vật thống nhất với nhau tạo nên độ mới và điểm nút mới của sự vật ấy Quá trình đó liên tiếp diễn ra trong sự vật và vì thế sự vật luôn phát triển chừng nào nó tồn tại
1.2.2 Sự thay đổi về Chất tác động đến sự thay đổi về Lượng
Sự phát triển của bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bắt đầu từ sự tích lũy
về Lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về Chất Song điểm nút của quá trình ấy không cố định mà có thể có những thay đổi do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan quy định
Trang 7Chất mới của sự vật chỉ có thể xuất hiện khi sự thay đổi về lượng của nó đạt tới điểm nút Chất mới của sự vật sẽ tác động ngược trở lại Lượng đã thay đổi của sự vật, hiện tượng Chất mới ấy có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận độngvà phát triển của sự vật
Song cần lưu ý rằng bước nhảy dần dần khác với sự thay đổi dần dần về Lượng của sự vật Bước nhảy dần dần là sự chuyển hóa dần dần từ Chất này sang Cchất khác, còn sự thay đổi dần dần về Lượng là tích lũy liên tục về Lượng để đến một giới hạn nhất định sẽ chuyển hóa về Chất
Từ những sự phân tích trên có thể rút ra nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về Lượng thành những sự thay đổi về Chất và ngược lại, như sau: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa Lượng và Chất, sự thay đổi dần dần về Lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dần dần đến sự thay đổi về Chất của sự vật thông qua bước nhảy Chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của Lượng mới Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật, hiện tượng không ngừng vận động, biến đổi và phát triển
Trang 8PHẦN II: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT ĐỂ LÝ GIẢI SỰ THÀNH CÔNG CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN GẦN ĐÂY 2.1 Sự thành công đến từ việc phát triển tích lũy Lượng
Tích lũy Lượng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có thể hiểu là tích lũy về số lượng sản phẩm hoặc năng suất lao động Năng suất lao động càng lớn nghĩa là hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đó càng có hiệu quả tốt, nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp và dẫn đến thành công
Ở Việt Nam, năng suất lao động xã hội là một chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (quy định trong Luật Thống kê), được tính bằng GDP bình quân trên một lao động đang làm việc trong năm Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất lao động cụ thể trong quá trình sản xuất,
đo bằng số sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian hay lượng thời gian lao động sử dụng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua tiếp tục cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN Năng suất lao động năm 2020 của Việt Nam tính theo giá so sánh năm 2010 chỉ tăng 5,4% (so với mức tăng 6,2% năm 2019, và ở mức thấp nhất trong 5 năm gần đây), đạt mức 117,94 triệu đồng/lao động theo giá hiện hành (tương đương 5.081 USD/lao động) Mức tăng này cao hơn khi so sánh với các quốc gia trong khu vực
Để có thể nâng cao năng suất lao động, các doanh nghiệp cần đầu tư thêm
về chất lượng lao động, cơ sở vật chất, máy móc, sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật – công nghệ…
Trang 9Thực tế trong thời gian qua đã cho thấy, nhờ nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ đã thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực công nghiệp chủ lực, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Tiêu biểu như, trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản, việc nghiên cứu, đầu tư đổi mới công nghệ đã góp phần tăng sản lượng than toàn ngành bình quân 9,4%/năm, đồng thời giúp nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm và tạo ra các sản phẩm mới thay thế các sản phẩm nhập khẩu Theo đó, tỷ lệ cơ giới hóa trong khai thác hầm lò đã tăng vượt bậc, từ 10% lên 80% trong những năm qua
Nói tóm lại, sự tích lũy về Lượng của các doanh nghiệp Việt Nam như sản lượng sản xuất, khai thác và xuất khẩu đều tăng lên; năng suất lao động ngày càng tốt và hiệu quả hơn khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao dần về số lượng Cung hàng hóa ngày càng nhiều khiến cho cạnh tranh giữa các loại mặt hàng ngày càng gay gắt hơn, mà cạnh tranh ấy không chỉ diễn ra trong nước
mà còn toàn bộ nền kinh tế Chính vì thế, để nâng cao thị phần và năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay buộc phải có bước nhảy về Chất để tạo nên ưu thế cạnh tranh cho mình
2.2 Sự thành công đến từ bước nhảy về Chất
Mọi sự vật, hiện tượng đều là quá trình vận động về Lượng và về Chất Khi sản lượng hàng hóa được sản xuất ra ngày càng nhiều, năng suất lao động ngày càng lớn sẽ diễn ra dư thừa của cải Chính vì vậy, khi tích lũy Lượng đến một điểm giới hạn nhất định gọi là điểm nút thì buộc phải dẫn đến bước nhảy về Chất Nói một cách dễ hiểu chính là: Khi sản lượng sản phẩm được sản xuất ra
và năng suất lao động phát triển quá nhanh thì buộc các doanh nghiệp phải có
“bước nhảy” để nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng lao động và công nghệ máy móc để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra một độ mới để tích lũy Lượng mới
Trang 10Thực tế chứng minh rằng, một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi, nhưng kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu quốc gia đó có nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực của Việt Nam đang ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của dân số Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, riêng trong năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước giảm 1,2 triệu người so với năm 2019, chủ yếu là do sự sụt giảm ở khu vực nông thôn (giảm hơn 1,1 triệu người) Trong số lực lượng lao động năm 2020, có 53,4 triệu người đang làm việc, trên 1 triệu người thất nghiệp; khoảng 17,3 triệu người (số liệu năm 2018 và 2019) không hoạt động kinh tế vì các lý do khác nhau Xét một cách tổng quan, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt
Bên cạnh đó, trình độ học vấn của nhân lực cũng được nâng cao, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Việt Nam cũng không ngừng được cải thiện Tỷ lệ dân số có chuyên môn kỹ thuật đã tăng 6,3 điểm phần trăm, từ 17,7% (năm 2007) lên 24% (quý II/2020) Tỷ lệ dân số có trình độ đại học trở lên tăng mạnh nhất, từ 4,9% (năm 2007) lên 11,1% (quý II/2020) Điều này cho thấy trong những năm qua, giáo dục đại học và trên đại học của Việt Nam đã có những thay đổi lớn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước
Không chỉ nâng cao chất lượng lao động, sự thay đổi về chất cũng đến từ tiến bộ của Khoa học – kỹ thuật – công nghệ Nhiều doanh nghiệp tham gia vào các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao do Nhà nước hỗ trợ đã tạo ra được các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của doanh nghiệp, nâng cao ý thức về vai trò của khoa học và công nghệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh Nhờ đó, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2020 (GII 2020) của Việt Nam tiếp tục duy trì được thứ hạng cao, là năm thứ hai liên tiếp xếp thứ 42/131 quốc gia và nền kinh tế Với thứ