1 MỤC LỤC A/ MỞ ĐẦU 2 B/ NỘI DUNG 3 I/ THAO TÁC HÓA KHÁI NIỆM 3 1, Tài sản 3 2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 7 4, Tòa án sơ thẩm 8 5, Tòa án phúc thẩm 9 II/ TÓM TẮT TÌNH HUỐNG 9 III/ GIẢI QUYẾT T[.]
Trang 1MỤC LỤC
A/ MỞ ĐẦU _2B/ NỘI DUNG 3
I/ THAO TÁC HÓA KHÁI NIỆM _3
1, Câu 1: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sảnkhông? Tại sao? 10
2, Câu 2: Nhận xét về các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phúcthẩm và đưa ra quan điểm giải quyết vụ việc trên của nhóm theo quyđịnh của Bộ luật dân sự 2015. _13
IV/ ĐÁNH GIÁ VỀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 25
2, Một số hạn chế về tài sản trong Bộ luật dân sự 2015 và các kiếnnghị để bộ luật hoàn thiện hơn _28
3, Cách giải quyết của Tòa án khi không có luật _30C/ KẾT LUẬN _33D/ TÀI LIỆU THAM KHẢO _34
Trang 2BÀI TẬP NHÓM SỐ 01 TÌNH HUỐNG SỐ 01 A/ MỞ ĐẦU
Từ lâu, pháp luật luôn đóng vai trò là một công cụ hữu hiệu nhất đểquản lí xã hội và đảm bảo trật tự của quốc gia Trong những năm gần đây, hệthống pháp luật ngày càng tiến bộ, cụ thể và rõ ràng hơn để đáp ứng yêu cầungày càng cao của cuộc sống Mỗi một lĩnh vực như thương mại, dân sự, đấtđai, lao động… đều có những bộ luật riêng điều chỉnh Trong mối quan hệ vớicác luật chuyên nghành, Luật dân sự đứng ở vị trí trung tâm với tư cách là luậtgốc Đặc biệt, trong bất kì Bộ luật Dân sự nào: từ Bộ luật dân sự năm 1995, đến
Bộ luật dân sự năm 2005 và gần đây nhất là Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản
luôn là vấn đề cốt lõi và giữ vị trí trọng tâm Khi xã hội ngày càng phát triển, sốlượng của cải vật chất tăng lên bao nhiêu thì sự chiếm hữu, sỡ hữu tư nhân vềtài sản càng nhiều bấy nhiêu Vì vậy, trong xã hội đã có sự phân hóa thành kẻgiàu - người nghèo, số lượng tài sản tham gia vào quan hệ vay vốn đã góp phầnlàm giảm sự chênh lệch khoảng cách đó đồng thời thúc đẩy sự phát triển củanền kinh tế Tuy nhiên, trên thực tế, khi các bên tham gia đem thế chấp tài sảncòn gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc về hành vi hợp pháp hay liên quanđến giấy tờ pháp lí Chính vì vậy, để có cách nhìn rõ hơn về các vấn đề liênquan đến tài sản, nhóm chúng em xin lựa chọn giải quyết tình huống tranh chấpdân sự cụ thể, liên quan đến vấn đề giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải
là tài sản không?
Chúng em làm bài tập nhóm này với mong muốn củng cố thêm kiếnthức cho chính bản thân mình, và nếu có thể bài tập nhóm này sẽ giúp đỡ cácbạn sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu môn học này Nhưng dochưa được tiếp xúc với nhiều tài liệu tham khảo, và với trình độ có hạn nên bàitập nhóm không tránh khỏi có các thiếu sót và hạn chế Do vậy chúng em rấtmong có được sự giúp đỡ, bổ sung, đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô và các
Trang 3bạn để làm cho bài tập nhóm của chúng em trở lên chất lượng hơn, thuyết phụchơn.
phương diện pháp lí Tài sản hiểu theo nghĩa thông thường là của cải vật chất
dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Trên phương diện pháp lí, tài sản được hiểu theo nghĩa rộng dưới nhiều dạng thức khác nhau 1
Theo Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015:
“ 1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình
thành trong tương lai.”
Nội hàm khái niệm “tài sản” theo Điều 105 được hiểu cụ thể như sau:
Thứ nhất, vật:
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại một cách khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình2 Với ý nghĩa phạm trùpháp lý, vật chỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nóđược con người kiểm soát, chiếm hữu và đáp ứng được lợi ích của các bên chủthể trong quan hệ Không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều
gia Sự thật, 2016, t 1, tr 226.
Trang 4được coi là vật Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thìđược coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật
Ví dụ, than đá còn tồn tại trong tự nhiên chưa được con người khai
phá thì chưa thể được coi là vật, vì chưa thể đưa vào giao dịch dân sự Chỉ khiđược khái thác, chế biến thành nguyên nhiên liệu, tức là con người có thể nắmgiữ, quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và được coi là vật.Hoặc ví dụ như nước còn ở ngoài hồ, ở dạng lỏng trong tự nhiên thì chưa thểđược coi là vật, vì chưa thể đưa vào giao dịch dân sự Chỉ khi được qua hệthống lọc và đem đóng chai, tức là con người có thể nắm giữ, quản lí được nóthì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và trở thành vật
Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điềukiện sau:
Một là, là bộ phận của thế giới vật chất.
Hai là, con người chiếm hữu được nó, tức là con người có thể nắm
giữ, quản lý và chi phối được thì mới có thể đưa vào giao dịch dân sự và đượccoi là vật
Ba là, mang lại lợi ích chủ thể và phải có đặc trưng giá trị.
Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ,phụ thuộc về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành vật chính và
vật phụ Trong đó, vật chính được hiểu là vật độc lập, có thể khai thác công
dụng theo tính năng (Khoản 1 Điều 110 Bộ luật dân sự năm 2015), ví dụ: ti vi,
điều hòa, máy ảnh…; vật phụ được hiểu là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai
thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính (khoản 2 Điều 110 Bộ luật dân sự năm 2015), ví dụ: điều khiển ti
vi, điều hòa, vỏ máy ảnh, Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khiđược chia ra thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật
chia được và vật không chia được Trong đó, vật chia được là vật khi bị phân
chia thì vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu (Khoản 1 Điều
111 Bộ luật dân sự năm 2015) Còn vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được đặc tính ban đầu, tính năng sử dụng ban đầu
Trang 5(Khoản 2 Điều 111 Bộ luật dân sự năm 2015) Dựa vào đặc tính, giá trị của tài
sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêu hao và không tiêu hao Trong đó, vật
tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu (Khoản 1 Điều 112 Bộ luật dân
sự năm 2015) Còn vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà
cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu (Khoản
2 Điều 112 Bộ luật dân sự năm 2015) Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật,
người ta phân loại vật thành vật thành vật cùng loại và vật đặc định Trong đó,
vật cùng loại là những vật có cùng dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường Còn vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất lượng, đặc tính, vị trí (Khoản 2 Điều 113 Bộ luật dân sự năm 2015) Ngoài
ra, còn có vật đồng bộ, là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ
với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút (Khoản 1 Điều 114 Bộ luật dân sự năm 2015)3
Thứ hai, tiền:
Theo kinh tế chính trị học, tiền là vật ngang giá chung được sử dụng
làm thước đo giá trị của các loại hàng hóa khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế Tiền được coi là một dạng đặc biệt của tài sản và cũng là thước đo để xác định toàn bộ khối tài sản của một chủ thể nào đó trong quan hệ pháp luật dân sự Loại tài sản này có những đặc điểm pháp lí khác với vật 4 Tiền không thể khai thác công dụng hữu ích từchính tờ tiền hay đồng tiền xu đó Tiền thực hiện ba chức năng chính là: công
cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài
gia Sự thật, 2016, t 1, tr 250 - 255.
Trang 6sản khác Tiền do Nhà nước độc quyền phát hành Tiền được xác định thôngqua mệnh giá của nó Chủ sở hữu tiền không được phép tiêu hủy tiền (khôngđược xé, đốt, sửa chữa, làm giả,…).
Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là đượcpháp luật thừa nhận và do Nhà nước độc quyền phát hành mới được coi là tàisản Ở Việt Nam là tiền Việt Nam và do nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam phát hành Tiền được coi là một dạng đặc biệt của tài sản và cũng là thước
đo để xác định toàn bộ khối tài sản của một chủ thể nào đó trong quan hệ phápluật dân sự
Thứ ba, giấy tờ có giá:
Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao dịch dân sự hiện nay, đặc biệt là giao dịch trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác 5 Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổphiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức, giấy tờ
có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Nội dungtrên giấy tờ có giá thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyềntài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ có giá là công cụ có thểchuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyểnnhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thờihạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro Bên cạnh đó còn có các loại giấy tờxác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký xe máy,…không phải là giấy tờ có giá Những loại giấy tờ này chỉ được coi là một vậtthuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó
Tóm lại, một giấy tờ có giá muốn được coi là tài sản cần phải có được
các thuộc tính sau đây: Xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định; Trị
Trang 7giá được thành tiền; Có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong các giao dịch dân sự như mua bán, cầm cố, thế chấp, chiết khấu 6.
Thứ tư, quyền tài sản:
Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015: “Quyền tài sản là quyền trị
giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”
Quyền tài sản hiểu theo nghĩa chung là quyền mà theo đó, chủ thể cóđược một lợi ích nhất định Bao gồm: Các quyền có được từ tài sản như quyềnđược dùng tài sản là các loại thực phẩm để thỏa mãn nhu cầu ăn uống, quyền sửdụng xe hơi làm phương tiện đi lại, quyền thu hoa lợi từ một tài sản, quyền sửdụng đất; các quyền đối với người khác như quyền đòi nợ, yêu cầu người khácthực hiện một công việc mà kết quả của công việc đó là một lợi ích vật chất; cácquyền đối với kết quả của hoạt động sáng tạo (quyền đối với tác phẩm văn họcnghệ thuật, quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, giống cây trồng)
Tóm lại, quyền tài sản là các quyền gắn liền với tài sản và khi thực
hiện các quyền đó, lợi ích vật chất sẽ phát sinh đối với chủ sở hữu Chỉ được coi
là tài sản khi quyền tài sản trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự 7
2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất trong ngôn ngữ dân gian gọi là “Sổ đỏ”, “Sổ hồng”.
Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013:
“16 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác
gắn liền với đất.”
Trang 8Ngoài ra có thể hiểu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thưpháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất để họ yêntâm đầu tư, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực hiện các quyền, nghĩa
vụ sử dụng đất theo pháp luật Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp chongười sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
3, Giao dịch dân sự
Theo Điều 116 Bộ luật dân sự năm 2015:
“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ quân sự.”
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.”
“ Điều 310 Hiệu lực của cầm cố tài sản
1 Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2 Cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố.
Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể
từ thời điểm đăng ký.”
5, Tòa án sơ thẩm
Tòa án sơ thẩm là Tòa án xét xử các vụ án mà các bản án do tòa công
bố chưa phát sinh hiệu lực pháp luật ngay (chưa được thi hành ngay), trừ cáctòa án chuyên trách của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương
Trang 9Theo Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành thì các Tòa án sơ thẩm ở Việt Namgồm có:
1 Tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực
2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu khi xét
xử những vụ án thuộc thẩm quyền cấp mình hoặc những vụ án tuy thuộc quyềncấp huyện nhưng lấy lên để xét xử
3 Tòa án chuyên trách của Tòa án nhân dân tối cao khi xét xử nhữngđặc biệt nghiêm trọng và phức tạp Bản án sơ thẩm của các tòa này có hiệu lựcthi hành ngay sau khi công bố
Khi xét xử, hội đồng xét xử của Tòa án sơ thẩm gồm có một thẩmphán và hai hội thẩm nhân dân, nếu xét xử vụ án nghiêm trọng, thì có hai thẩmphán và ba hội thẩm nhân dân Đối với các bản án sơ thẩm của Tòa án sơ thẩm,trong thời gian 15 ngày kể từ ngày công bố, đại diện Viện Kiểm sát có quyềnkháng nghị; bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, đại diện hợp pháp của họ
có quyền làm đơn chống án để yêu cầu tòa án phúc thẩm xét xử lại vụ án
5, Tòa án phúc thẩm
Tòa án phúc thẩm là Tòa án có thẩm quyền xét xử lại các bản án sơthẩm do Tòa án sơ thẩm đã xử nhưng bị kháng nghị, bị chống án đúng trình tự,thủ tục, quyền hạn do luật định Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
2015, các tòa phúc thẩm của Việt Nam gồm có:
1 Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quânkhu khi xét xử lại những bản án của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân
sự khu vực
2 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ươngkhi xét xử lại những bản án của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quânkhu
Khi xét xử phúc thẩm, hội đồng xét xử gồm có các thẩm phán, không
có hội thẩm nhân dân
Trang 10II/ TÓM TẮT TÌNH HUỐNG
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Nga sinh năm 1970
Bị đơn: bà Trần Thị Nguyệt, sinh năm 1964
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trịnh Văn Lâm sinh năm1960
Tháng 3/2009, bà Nga cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất củamình cho bà Nguyệt để vay 20 triệu đồng trong vòng một năm không tính lãi.Sau đó, bà Nguyệt mang giấy chứng nhận cầm cố cho ông Lâm Sau một năm,
bà Nga trả đủ 20 triệu cho bà Nguyệt để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụngđất của mình nhưng do đã mang đi cầm cố cho ông Lâm nên bà Nguyệt khôngtrả, dẫn đến bà Nga đã khởi kiện ra Tòa án huyện Q Tuy nhiên, tòa án đã quyếtđịnh không giải quyết vụ án do pháp luật hiện hành không có quy định Sau đó,ngày 15/5/2011, bà Nga kháng cáo Tòa án tỉnh B nhận định: tại Điều 105 Bộluật dân sự năm 2015 thì giấy chứng nhận đất là một loại tài sản Vì vậy, Tòa ántỉnh B quyết định hủy quyết định đình chỉ của tòa án huyện Q trước đó và yêucầu giải quyết lại theo thẩm quyền
Yêu cầu đối với nhóm:
Câu 1: Giấy chứng nhận quyến sử dụng đất có phải là tài sản không? Tại
sao?
Câu 2: Nhận xét về các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp
phúc thẩm? Đưa ra quan điểm giải quyết vụ việc trên của nhóm theo quy địnhcủa Bộ luật dân sự 2015?
III/ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Câu 1: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không? Tại sao?
Trang 11Qua những phân tích khái niệm về tài sản như trên, nhóm xin đưa ra
quan điểm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản dưới dạng vật vì
những lí do sau đây:
Theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản
là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Như vậy, để là tài sản thì giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phải thuộc ít nhất một trong các dạng tài sản nêutrên
Thứ nhất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tiền.
Tiền tệ là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hànghóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế Với định nghĩa như vậy, tiền
tệ còn được gọi là “tiền lưu thông” Tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy
hoặc tiền kim loại (tiền xu) do Nhà nước (Ngân hàng Trung ương, Bộ Tàichính, ) phát hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không nhằm phục vụnhững mục đích trên và cũng không mang hình thức của các loại tiền nêutrên.Vì thế, chúng ta hoàn toàn có thể loại trừ khả năng giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là tài sản dưới dạng tiền
Thứ hai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy
tờ có giá.
Theo công văn số 141/TANDTC-khxx ngày 21/09/2011, Tòa án nhândân tối cao đã dựa vào quy định hiện hành: Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam 2010, Điều 1 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005, Điều 4Pháp lệnh ngoại hối 2005, Điều 3 Luật quản lý nợ công 2009, Điều 6 luật chứngkhoán 2006 (Sửa đổi bổ sung một số điều năm 2010), Điều 2 Nghị định số52/2006/NĐ-CP thì giấy tờ có giá bao gồm:
a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại điều 1 của Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
Trang 12c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009;
d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản
1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định
số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”,
Văn bản này cũng giải thích các loại giấy chứng nhận quyền sở hữutài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữunhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ôtô ) không phải là
“giấy tờ có giá” Như vậy, có thể đưa ra kết luận giấy chứng nhận quyền sửdụng đất không phải là “giấy tờ có giá” quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sựnăm 2015
Cuối cùng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là quyền tài sản.
Căn cứ vào Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015: “Quyền tài sản là
quyền trị giá được bằng tiền,bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở
hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và tài sản khác” Còn giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chỉ là chứng thư
pháp lý do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất Quyền
sử dụng đất thực chất là một quyền vô hình nên giấy chứng nhận quyền sử dụngđất bản chất cũng chỉ là cái vỏ, hình thức biểu hiện ra bên ngoài của quyền sửdụng đất Nếu tách quyền sử dụng đất ra khỏi tờ giấy thì nó chỉ là một tờ giấy
có trị giá rất bé và không còn ý nghĩa nữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 13chính là cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất củachủ sử dụng Vì vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất càng không thể là tàisản dưới dạng quyền tài sản được quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sựnăm2015.
Vậy, để giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể là tài sản thì chỉ cóthể là dưới dạng vật Ta hãy xem nó có đáp ứng những điều kiện thiết yếu củadạng vật hay không?
Một là, nó phải là một bộ phận của thế giới vật chất Hiển nhiên ta
thấy rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng của thế giới vật chất
Hai là, con người phải chiếm hữu, kiểm soát hay chi phối nó Vì giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ, có thể cầm nắm, cất giữ được nên việccon người kiểm soát và chiếm hữu nó là điều hiển nhiên (trên giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất có ghi rõ họ tên của người chủ sở hữu)
Ba là, mang lại lợi ích cho chủ thể và có đặc trưng giá trị Nó là một
tờ giấy mà trong đó chứa đựng những thông tin cần thiết và sự chứng thực củanhà nước về quyền sở hữu đối với mảnh đất đó Không chỉ vậy còn có thể dùng
để phục vụ một số lợi ích cá nhân khác như đem đi thế chấp, cầm cố, …
Tóm lại, bản thân quyền sử dụng đất đã là tài sản dưới dạng quyền tàisản và được biểu thị dưới hình thức là giấy tờ để dễ thấy và kiểm soát được.Hơn nữa, đây là giấy tờ có sự chứng thực của Nhà nước chứ không phải chỉ là
tờ giấy đơn thuần nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có giá trị tài sảntương đương với giá trị của quyền sử dụng mảnh đất đó
Chính vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thỏa mãn những điềukiện trên nên theo quan điểm của nhóm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làtài sản dưới dạng vật
Câu 2: Nhận xét về các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm và đưa ra quan điểm giải quyết vụ việc trên của nhóm theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.
Trang 142.1, Các tình tiết pháp lý phát sinh
Về pháp lý, đây là một vụ tranh chấp dân sự giữa bà Nguyễn Thị Nga(nguyên đơn - bên A) với bà Trần Thị Nguyệt (bị đơn - bên B) và người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Văn Lâm (bên C) Từ đó, ta có thể
mô phỏng như sau: Bên A Bên B Bên C Trong đó, bên B thể hiện ở hai tư
cách: bên nhận cầm cố khi giao dịch với bên A và bên cầm cố khi giao dịch vớibên C Vì vậy, quyền lợi, nghĩa vụ ở bên cầm cố (bên A, bên B) sẽ giống nhau
và quyền lợi, nghĩa vụ ở bên nhận cầm cố (bên B, bên C) cũng sẽ giống nhau
Do đó, nhóm xin được phép không trình bày quyền lợi và nghĩa vụ phát sinhtrong giao dịch giữa bên B và bên C
Cụ thể, A cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình cho Bvới số tiền 20 triệu đồng (hợp đồng vay), trong đó, A dùng giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của mình “cầm cố” để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của
mình Lúc này, giữa A và B đã phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự như sau:
Bên A:
Về quyền lợi: Trở thành chủ sở hữu 20 triệu đồng (tài sản vay) kể từ
thời điểm nhận từ bên B Cụ thể cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền lợi này đượcquy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 312 và Điều 464 như sau:
“ Điều 312 Quyền của bên cầm cố
1 Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật này nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
2 Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
3 Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.
4 Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được
bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.”
“ Điều 464 Quyền sở hữu đối với tài sản vay
Trang 15Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài
sản đó.”
Về nghĩa vụ: Cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ bên A được quy định tại
Điều 311 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
“ Điều 311 Nghĩa vụ của bên cầm cố
1 Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận.
2 Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền huỷ hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.
3 Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài
sản cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”
Bên B:
Về quyền lợi: Cơ sở làm phát sinh quyền lợi bên B được quy định cụ
thể tại Điều 314 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“ Điều 314 Quyền của bên nhận cầm cố
1 Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.
2 Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
3 Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố
và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thoả thuận.
4 Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả
lại tài sản cho bên cầm cố.”
Về nghĩa vụ: Cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ bên B được quy định
trong Bộ luật Dân sự 2015 tại Điều 313 và Điều 465:
“ Điều 313 Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
1 Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
Trang 162 Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
3 Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4 Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo
đảm khác.”
“ Điều 465 Nghĩa vụ của bên cho vay
1 Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thoả thuận.
2 Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.
3 Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan
quy định khác.”
Thực tế, A đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình cho
B để vay một số tiền; sau một thời gian thì A đã trả lại số tiền vay từ B theođúng thỏa thuận giữa hai bên nhưng B lại không trả lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho A mà lại đem cầm cố cho C Như vậy, B đã làm trái với thỏathuận giữa B và A, vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều 313 Bộ luật Dân sự năm
2015 về nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
“ 2 Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
Trang 17chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi tên, thông tin của chủ sở hữu, cụ thể ởđây là A) Song theo Điều 194, Điều195 Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyềnđịnh đoạt, chỉ có chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyềnhoặc theo quy định của pháp luật thì mới có quyền định đoạt tài sản Như vậy,việc định đoạt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên A của B và việcchiếm hữu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên A của C là bất hợppháp.
2.2, Nhận xét về các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm (Tòa án nhân dân huyện Q) và phúc thẩm (Tòa án nhân dân tỉnh B)
Cách giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Q
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Huyện Q dựa trên công văn số141/TANDTC-KHXX ngày 21/09/2011 (gọi tắt là công văn số 141) và không
thụ lý vụ án “đòi tài sản” của A Tuy nhiên, đối với công văn này, ta cần phải
xem xét lại một số điểm như sau:
Một là, Công văn số 141 chứa quy phạm pháp luật, quy tắc xử sự
chung đó là từ chối thụ lý, hoặc đình chỉ vụ án nếu đã thụ lý đối với yêu cầu trảlại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,giấy đăng kí xe…), có hiệu lực bắt buộc chung, được gửi đến tòa án các cấp đểthi hành với quyền lực Nhà nước đối với mọi người dân trong cả nước Tuynhiên, công văn lại không được ban hành theo đúng hình thức, trình tự, thủ tụcquy định đối với văn bản quy phạm pháp luật (theo Khoản 6 Điều 2 Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định: Chánh án Tòa án nhân dânTối cao ban hành văn bản quy phạm pháp luật bằng hình thức thông tư và Điều
70 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định dự thảothông tư do Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao phải được đăng tải 60 ngày trênbáo điện tử để nhân dân góp ý, phải tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có liênquan và phải được Hội đồng thẩm phán tối cao thảo luận và cho ý kiến) Nhưvậy, công văn số 141 có chứa quy phạm pháp luật đã được ban hành không
Trang 18đúng hình thức Thông tư và không có đăng tải trên báo cũng như lấy ý kiến các
tổ chức có liên quan, có thẩm quyền theo đúng trình tự, thủ tục
Hai là, tại Điều 4 Luật Tố tụng dân sự quy định “Quyền yêu cầu toà
án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” của người dân là một nguyên tắc cơ bản
của luật Các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xemáy; Giấy đăng ký xe ô tô, …) dù có là giấy tờ có giá hay không vẫn là quyền
và lợi ích hợp pháp của người dân Vì vậy, yêu cầu tòa án giải quyết đòi lại cácgiấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản là yêu cầu chính đáng, đúng pháp luật củangười dân Việc Tòa án từ chối nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười dân, vi phạm nguyên tắc cơ bản luật dân sự
Ba là, Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân
dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Việc ban hành văn bản từ chối thụ lý yêu cầu bảo
vệ quyền sở hữu hợp pháp đối các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản(cũng là quyền, lợi ích chính đáng) của người dân, đồng nghĩa với việc Tòa án
đã không làm tròn nghĩa vụ của mình
Bốn là, cách giải thích của Công văn số 141 không hợp logic khi đưa
ra các tiền đề sau: Tài sản gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”
(Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005); giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sảnkhông phải là giấy tờ có giá (theo quy định của nhiều luật khác nhau) Rồi điđến kết quả: Yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản không thuộcthẩm quyền giải quyết của tòa án do giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
không phải là giấy tờ có giá Dường như Tòa án Nhân dân Tối cao đã “đồng
nhất” giấy tờ có giá và tài sản; vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không là
giấy tờ có giá nên tòa các cấp không được giải quyết Tuy nhiên, cần lưu ý rằng,khái niệm tài sản rộng hơn giấy tờ có giá, nó bao gồm cả vật, tiền, quyền tàisản Dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không là giấy tờ có giá (thậm chíkhông là quyền tài sản) thì nó vẫn là một tờ giấy, như đã trình bày, nó hoàn toàn