1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát Triển Nguồn Lực Trí Thức Nữ Trong Bối Cảnh Công Nghiệp 4.0 Tại Việt Nam.pdf

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Nguồn Lực Trí Thức Nữ Trong Bối Cảnh Công Nghiệp 4.0 Tại Việt Nam
Tác giả Hà Diệu Linh, Trần Thị Thanh Nga, Nguyễn Thị Hiền
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 138,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC TRÍ THỨC NỮ TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP 4 0 TẠI VIỆT NAM Hà Diệu Linh1 * Trần Thị Thanh Nga2 ** Nguyễn Thị Hiền3 *** Tóm tắt Nguồn lực trí thức nói chung và nguồn lực trí thức nữ n[.]

Trang 1

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC TRÍ THỨC NỮ TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP 4.0 TẠI VIỆT NAM

Hà Diệu Linh1

* - Trần Thị Thanh Nga2

** - Nguyễn Thị Hiền3

***

Tóm tắt: Nguồn lực trí thức nói chung và nguồn lực trí thức nữ nói

riêng là nguồn nhân lực có đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Trong bối cảnh công nghiệp 4.0, nguồn lực trí thức nữ có vị trí quan trọng trong đội ngũ trí thức nói chung không chỉ vì về mặt số lượng, mà còn do những đặc điểm về sinh lý, tâm lý Bài viết này nghiên cứu làm rõ đặc điểm, vai trò của nguồn lực trí thức nữ và kiến nghị các giải pháp phát triển nguồn lực trí thức nữ trong bối cảnh công nghiệp 4.0

Từ khoá: Nguồn lực; Trí thức nữ; Công nghiệp 4.0.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Phụ nữ Việt Nam chiếm hơn 48% lực lượng lao động xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn, chủ động tham gia các hoạt động của đời sống xã hội, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, đạt nhiều thành tích xuất sắc Ðồng thời, phụ nữ làm tốt vai trò người vợ, người mẹ, giữ thiên chức làm

mẹ, sinh con, duy trì nòi giống, là điểm tựa tinh thần vững chắc, gắn kết các thành viên trong gia đình, cùng chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc Do vậy, lực lượng lao động nữ chính là nguồn nhân lực

có vai trò đặc biệt

* Nghiên cứu sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

*** Thạc sĩ, Trường Đại học Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trang 2

Ở Việt Nam, nguồn lực trí thức nói chung và nguồn lực trí thức

nữ nói riêng là nguồn nhân lực có đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Kinh nghiệm và thực tiễn các nước có nền kinh tế phát triển cao cho thấy quá trình phát triển kinh

tế số đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, sức sáng tạo lớn, trong đó nguồn lực trí thức nữ đóng vai trò không nhỏ Do đó, việc phát triển và phát huy năng lực sáng tạo mọi lực lượng lao động trong xã hội, trong đó có trí thức nữ là một nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định

Trong bối cảnh công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra những bước nhảy vọt về năng suất lao động trong các ngành nghề nhưng đồng thời cũng đặt

ra các thách thức đối với lực lượng lao động khi máy móc sẽ dần thay thế lao động chân tay và dần thay thế cả những lao động có kỹ thuật

và nhân viên văn phòng (Đỗ Anh Đức, 2020), nguồn lực trí thức nữ có

vị trí quan trọng trong đội ngũ trí thức nói chung không chỉ vì về mặt

số lượng, mà còn do những đặc điểm về sinh lý, tâm lý Chính những đặc điểm tâm - sinh lý này là những lợi thế hoặc yếu thế của nữ giới so với nam giới trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoạt động Vì vậy, bên cạnh những chính sách chung, cần thiết phải đi sâu nghiên cứu đối tượng trí thức nữ để đề xuất những giải pháp, chính sách riêng hoặc trong chính sách chung có chú ý đến đặc điểm và điều kiện của trí thức

nữ Có vậy, đội ngũ trí thức nói chung, trí thức nữ nói riêng mới có thể phát triển mạnh về số lượng, nâng cao về chất lượng và phát huy được tiềm năng của mình trong sự nghiệp đổi mới

2 NGUỒN LỰC TRÍ THỨC NỮ

2.1 Nguồn lực trí thức

Ở nước ta, khái niệm trí thức cũng được nhiều người, nhất là các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu quan tâm Đã có nhiều cách tiếp cận

và lý giải khác nhau, song tất cả đều thống nhất ở một số đặc trưng: Người trí thức là khái niệm dùng để chỉ tất cả những người lao động trí óc, có trình độ học vấn, có khả năng sáng tạo và phẩm chất đạo đức

cá nhân

Trang 3

Theo Hồ Chí Minh, người tốt nghiệp Đại học, nhưng nếu chỉ thuộc kiến thức sách vở, không biết vận dụng vào thực tế, thì đó chỉ

là “trí thức học sách”, “trí thức một nửa”, “chưa phải là trí thức hoàn toàn” Như vậy, theo Hồ Chí Minh, ở người trí thức không chỉ cần có kiến thức chuyên môn, mà một dấu hiệu cơ bản khác phải có là biết vận dụng sáng tạo những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống Trên cơ

sở quan điểm của một số nhà nghiên cứu ở nước ta về trí thức, có thể

đi tới một quan niệm chung về trí thức như sau: Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, có trình độ học vấn cao; trình độ chuyên môn sâu,

có phẩm chất; lương tri; lao động trí óc phức tạp; sáng tạo, phổ biến

và nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học trong hoạt động thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Với khái niệm trí thức này chúng ta có thể nhận biết trí thức trên một số đặc điểm cơ bản sau: Một là, trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội Khi xã hội phân chia thành giai cấp, cái quyết định cho tính chất giai cấp của các lực lượng xã hội là quan hệ sở hữu Trong xã hội đó, trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu về tư liệu sản xuất, trí thức không hợp thành một giai cấp độc lập về kinh tế mà là tầng lớp

xã hội trung gian Như vậy, căn cứ vào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có thể khẳng định rằng, trí thức là một tầng lớp xã hội

Hai là, trí thức là người có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn sâu Trình độ học vấn của người trí thức phải được hiểu ở trình độ khoa học cơ bản và trình độ khoa học chuyên ngành Trình độ học vấn

và chuyên môn cao ở mức độ nào để được gọi là trí thức thì tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá của mỗi quốc gia tại mỗi thời điểm lịch sử Ngày nay, trình độ chuẩn mực về học vấn ở nước ta là bậc Cao đẳng, Đại học trở lên Tuy nhiên, bằng cấp mới chỉ là tiêu chí ban đầu; bởi vì trong thực tế, không ít người có bằng cấp đó nhưng lại không tham dự vào lao động trí óc phức tạp, không thể hiện được họ

có trình độ đó Cùng với trình độ học vấn cơ bản cao, người trí thức còn phải được trang bị kiến thức sâu về chuyên ngành Đó là cơ sở, điều kiện cho lao động sáng tạo khoa học của trí thức Để tham gia vào quá trình lao động sáng tạo khoa học, người trí thức phải đi sâu nghiên cứu

Trang 4

chuyên ngành được đào tạo hoặc tham gia nghiên cứu khoa học Có kiến thức sâu về chuyên ngành thì họ mới có thể sáng tạo ra những sản phẩm đích thực, được xã hội thừa nhận

Ba là, người trí thức chân chính phải là người có đạo đức, lương tâm Người trí thức chân chính phải là người có đạo đức, phục vụ lợi ích cho toàn dân tộc, luôn đặt lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân của mình Người trí thức trong giai đoạn phát triển kinh tế số đương nhiên phải là những người sáng tạo ra những thành tựu khoa học - công nghệ, những sản phẩm văn hoá có giá trị đích thực, đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bốn là, người trí thức là người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo Đây là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất phân biệt trí thức với bộ phận lao động khác Lao động trí óc có nhiều dạng khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp Tiêu chí để phân biệt hai dạng thức lao động này

là sự hao phí trí lực, hàm lượng chất xám ít hay nhiều trong quá trình lao động (Das và Kotikula, 2018) Lao động trí óc giản đơn như những người làm công việc hành chính, sự vụ, nhiệm vụ chủ yếu của họ là làm thông suốt các qui trình hành chính qua công văn, giấy tờ thì sự hao phí năng lượng trí lực không phải là cơ bản Lao động của người trí thức là sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo cái mới, cái tiến bộ đòi hỏi phải

tư duy ở mức độ cao, và ở đây, sự hao phí năng lượng thần kinh trung ương là chủ yếu Lao động trí óc phức tạp của trí thức là lao động sáng tạo Sự sáng tạo thường có mầm mống và tích luỹ dần qua giáo dục, đào tạo và nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi

2.2 Nguồn lực trí thức nữ

Trí thức nữ, trước hết họ là trí thức và là bộ phận nằm trong cơ cấu hợp thành của tầng lớp trí thức nước ta Họ có những đặc trưng cơ bản của người trí thức đã nói ở trên, nhưng đồng thời nguồn lực trí thức

nữ có những nét đặc thù riêng phân biệt với những người trí thức, bộ phận trí thức khác (Keinänen và Beck, 2017)

Rahman và Islam (2013) nhận định những nét đặc thù mang tính

tự nhiên mà ngày nay khoa học diễn đạt bằng thuật ngữ giới tính

Trang 5

(Sexual - Giới tính chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt y - sinh học, liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi) và những đặc thù mang tính xã hội được diễn đạt bằng thuật ngữ giới (Gender - Giới chỉ mối quan hệ và tương quan giữa địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội) Trong mỗi trí thức nữ có sự gắn bó hữu cơ giữa tư cách trí thức và tư cách nữ

Heintz và các cộng sự (2018) cho rằng, để tiếp cận nguồn lực trí thức nữ buộc chúng ta phải tiếp cận đồng thời từ hai phía: Họ là người trí thức đồng thời họ là người phụ nữ Nếu hiểu trí thức nữ chỉ với những đặc trưng người trí thức tuy là đúng nhưng chưa đủ, mà còn phải hiểu họ ở cả tư cách nữ, tức là từ góc độ giới tính Họ có những đặc thù, những thiên chức giới tính khác với lao động trí thức nam Xét cả mặt tự nhiên và xã hội, họ có những ưu thế và cũng có những yếu thế so với lao động trí thức nam trong quá trình hoạt động trí tuệ, sáng tạo của mình (Clarke và các cộng sự, 2017) Như vậy, trí thức nữ

là người lao động trí thức, họ có đầy đủ đặc trưng của người trí thức,

là một bộ phận của đội ngũ trí thức tham gia hoạt động lao động trên tất cả các lĩnh vực; đồng thời họ là một bộ phận tiêu biểu của phụ nữ với những phẩm chất của người phụ nữ như tinh thần cần cù, chịu khó, nhân hậu, đảm đang và thiên chức làm vợ, làm mẹ Nguồn lực trí thức nữ là những người phụ nữ có học vấn, có trình độ chuyên môn

từ cao đẳng, đại học trở lên, làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, thực hiện các chức năng của người trí thức nhằm phát triển kinh tế - xã hội

3 VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC TRÍ THỨC NỮ TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP 4.0

Trong bối cảnh công nghiệp 4.0 đang mang đến sự phát triển KH-CN như vũ bão trên phạm vi toàn cầu và với xu thế hội nhập quốc

tế như hiện nay, định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta là theo hướng toàn diện, bền vững Jagannathan và Maclean (2019) cho rằng lực lượng chủ yếu để thúc đẩy quá trình này là lực lượng trí thức Với mục tiêu xây dựng một xã hội phát triển bền vững, sự tăng trưởng không chỉ về mặt kinh tế - kỹ thuật, mà còn đảm bảo sự phát triển hài

Trang 6

hoà giữa kinh tế với xã hội nói chung, giữa kinh tế - kỹ thuật với việc đảm bảo sự cân bằng về sinh thái, môi trường Trên quan điểm này, sự phát triển kinh tế - xã hội ở đây chủ yếu là quá trình đẩy mạnh các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số và cải thiện đời sống nhân dân,

mở rộng quy mô và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trên cơ sở không ngừng nâng cao dân trí, mức hưởng thụ văn hoá cho mọi người Lực lượng lao động chủ yếu thực hiện việc thúc đẩy các quá trình này chính là đội ngũ trí thức, trong đó có các giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng, các thầy thuốc, kỹ sư Nguồn lực trí thức nữ nước ta ngày càng khẳng định vai trò trong nhiều lĩnh vực khác nhau Hiện nay, đội ngũ trí thức nữ hoạt động trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, bao gồm chính trị, quản lý, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế Họ tham gia hoạt động kể cả những lĩnh vực mà trước đây hầu như chỉ có nam giới tham gia như luật pháp, kiểm soát, thông tin, bưu chính, khoa học Mặc dù,

tỷ lệ tham gia của lao động trí thức nữ ở các lĩnh vực còn thấp, chưa tương xứng với tỷ lệ phụ nữ trong dân cư nói chung và khả năng to lớn của chị em phụ nữ nói riêng, nhưng chúng ta có thể thấy họ đã và đang thể hiện vai trò, khả năng trí tuệ của mình trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội

Trong lĩnh vực khoa học: Nguồn lực trí thức nữ được đào tạo ở nhiều ngành khoa học khác nhau và đang công tác ở hầu hết trong các ngành kinh tế quốc dân Phụ nữ đang tham gia ngày càng nhiều hơn trong các lĩnh vực khoa học đòi hỏi tư duy cao như công nghệ, kỹ thuật, tự nhiên Trong đội ngũ lao động trí thức nữ đã hình thành một

bộ phận chuyên gia có trình độ ngày càng cao Trong số các lao động trí thức nữ này rất nhiều người đã có những cống hiến xuất sắc trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên như PGS.TS Trần Thị Thu Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, với thành công nổi bật trong thực hiện quy trình nhân giống, nuôi trồng loài cây dược liệu và lâm nghiệp được áp dụng vào thực tiễn cho kết quả tốt, 12 giống dược liệu quý được Nhà nước cấp bằng bảo hộ đã được nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 2019,

Trang 7

ngoài ra còn nhiều người có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực khoa học và nhân văn Tất cả nguồn lực trí thức nữ này đó đã góp phần to lớn vào phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội

Trong lĩnh vực quản lý, lãnh đạo: Ngoài lĩnh vực khoa học, vai trò

to lớn của nguồn lực trí thức nữ còn tập trung thể hiện ở một bộ phận quan trọng cán bộ nữ đang tham gia công tác lãnh đạo và quản lý đất nước, giữ các cương vị cao trong cơ quan của Đảng và nhà nước Bộ phận trí thức này đang góp phần to lớn và trực tiếp vào việc hoạch định, hướng dẫn thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, thực

tế cho thấy một hiện tượng là nguồn lực trí thức nữ, các nhà khoa học

nữ tham gia vào công tác quản lý và lãnh đạo các xí nghiệp kinh doanh

có hiệu quả tăng lên rõ rệt Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh khốc liệt, nhiều doanh nghiệp, đơn vị kinh tế làm ăn thua lỗ và phá sản, nhưng đã có không ít các doanh nghiệp do trí thức nữ lãnh đạo chẳng những đứng vững mà có nơi, có mặt còn phát triển nhanh,

ổn định sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, nâng cao đời sống người lao động, góp phần đáng kể vào ngân sách Quốc gia (Ví dụ như Công

ty Liên doanh Đông Nam Á, Dệt 8-3, Bánh kẹo Hải Hà, Dệt 10-10 ) Hiện tượng trên đã khẳng định không chỉ các ngành như giáo dục, y tế mới phù hợp với nguồn lực trí thức nữ, mà cả trong các lĩnh vực sản xuất mang tính chất công nghiệp và hiện đại, trong môi trường cạnh tranh quyết liệt, vẫn hoàn thành tốt chức năng điều hành quản

lý Điều đó chứng tỏ trong lĩnh vực rất mới, phụ nữ đã tỏ rõ khả năng,

sự thông minh, nhạy bén của mình góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển đất nước

Trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo: Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ hai (khoá VIII), Đảng ta đã khẳng định giáo dục

và đào tạo (GD&ĐT), khoa học và công nghệ (KH&CN) là quốc sách hàng đầu, lấy phát triển GD&ĐT và KH&CN làm yếu tố cơ bản, coi đó

là khâu đột phá trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Sở dĩ như vậy là bởi vì GD& ĐT, KH&CN có vai trò hết sức quan trọng Trong bối cảnh công nghiệp 4.0, đội ngũ trí thức Việt Nam có trách nhiệm lớn trong

Ngày đăng: 06/03/2023, 08:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm