1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một vài vấn đề về văn bản trong sách giáo khoa tiếng việt bậc tiểu học

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề về văn bản trong sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học
Tác giả Lê Thị Ngọc Điệp
Trường học Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chuyên ngành Ngôn ngữ và văn hóa
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2003
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 515,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

229 2 TS LÊ THỊ NGỌC ĐIỆP Trƣờng tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1, TP Hồ Chí Minh Điện thoại 0903 391 746 Email diepnbk@yahoo com MỘT VÀI VẤN ĐỀ VỀ VĂN BẢN TRONG SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU H[.]

Trang 1

2

TS LÊ THỊ NGỌC ĐIỆP

Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1,

TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 0903 391

746 Email:

diepnbk@yahoo.com

MỘT VÀI VẤN ĐỀ

TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC

TÓM TẮT

Các văn bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc tiểu học được sắp xếp theo hệ

thống, có tính liên kết về chủ đề Ngoài những bài văn súc tích, sách giáo khoa còn có

những bài thơ rất sinh động, gần gũi với trẻ em; góp phần tạo hứng thú cho học sinh đối

với môn Tiếng Việt, đồng thời tạo cơ sở để các em có thể phát triển năng khiếu và khả

năng sáng tạo trong quá trình học tập làm văn Tác giả biên soạn sách giáo khoa đã quan

tâm đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh, trong đó có chú ý đến năng lực văn bản

của trẻ

Từ khóa: văn bản, sách giáo khoa, tiếng Việt, tiểu học

ABSTRACT

Some Issues about the Vietnamese Language Text in Textbook at Primary Schools

The text in Vietnamese primary textbook is arranged systematically, related to

the subject Besides the concise compositions, the textbook also has the lively poems

close to the children; stimulating excitement for students to Vietnamese as well as

making students improve their potential and creativity in learning writing The textbook

writers have concerned about the children‟s language development, including the text

skills

Key words: text, textbook, Vietnamese, primary school

Trang 2

Để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của kinh tế công nghiệp, kinh

tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ trong những năm đầu thế kỉ XXI, từ đầu

những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, nhiều quốc gia đã rà soát và đổi mới chương trình

giáo dục theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO đề xướng là: Học để

biết, Học để làm, Học để cùng chung sống, Học để tự khẳng định mình

Chương trình giáo dục phổ thông của các nước trong khu vực và trên thế giới

ngày càng thể hiện sự quan tâm đúng mức đến mục tiêu và các năng lực cần phát triển ở

học sinh Các chương trình giáo dục mới xây dựng vào giai đoạn cuối thế kỉ XX – đầu

thế kỉ XXI đều coi trọng việc thực hành và vận dụng; nội dung chương trình thường tập

trung vào các kiến thức, kĩ năng cơ bản thiết thực, tích hợp được nhiều mặt giáo dục

Tại Việt Nam, chương trình giáo dục tiểu học mới được triển khai đại trà từ năm

học 2002 – 2003 là một sự kiện giáo dục quan trọng trong những năm đầu của thế kỉ

XXI Với nhu cầu đổi mới một cách toàn diện, nội dung chương trình sách giáo khoa

(SGK) phải theo kịp và đón đầu sự phát triển của trẻ em trong độ tuổi tiểu học trong xã

hội hiện đại; đáp ứng yêu cầu mới của việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; theo kịp xu thế phát triển chương trình tiểu học

của các nước phát triển trên thế giới và các nước trong khu vực, góp phần đảm bảo cho

nguồn nhân lực Việt Nam có đủ sức cạnh tranh và hợp tác khi hội nhập quốc tế; đóng

góp vào việc hình thành và phát triển hệ thống giá trị của các công dân trong một xã hội

công bằng, bác ái, có cuộc sống tinh thần và vật chất văn minh, vừa phải đậm đà bản sắc

dân tộc, vừa phải thích ứng với sự giao lưu hợp tác quốc tế rộng rãi

Ở nước ta, tất cả các trường tiểu học trên toàn quốc cùng sử dụng thống nhất một

chương trình và một bộ sách SGK do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn Trong số các

môn học được quy định trong chương trình tiểu học tại Việt Nam, môn Tiếng Việt

chiếm thời lượng nhiều nhất (40.7% so với tổng thời lượng chương trình tiểu học) Mục

tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,

đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông

qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu

biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và

nước ngoài

- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,

giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ

nghĩa [1, tr 9]

Trang 3

SGK Tiếng Việt bậc tiểu học được biên soạn theo quan điểm giao tiếp, quan

điểm tích hợp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Theo quan

điểm tích hợp, kiến thức tiếng Việt được tích hợp với các mảng kiến thức về văn học, tự

nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy Các phân môn Tập đọc, Chính tả,

Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện trước đây ít gắn bó với nhau, nay

được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc Vì vậy, các văn bản được sử

dụng trong SGK Tiếng Việt tiểu học có vị trí rất quan trọng Nó chứa đựng hầu hết các

ngữ liệu, làm cơ sở để học sinh học các phân môn khác của chương trình Tiếng Việt

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xin nêu một số vấn đề về Văn bản trong SGK

Tiếng Việt bậc tiểu học

1 Yêu cầu thụ đắc Văn bản trong SGK Tiếng Việt tiểu học

Theo yêu cầu trong sách hướng dẫn (SHD) về chuẩn kiến thức môn Tiếng Việt

tiểu học, chúng ta có thể thấy rằng yêu cầu thụ đắc văn bản đã có ngay từ lớp 1 Yêu

cầu “Luyện nói từ 2 – 3 câu theo chủ đề Chia quà” [2, tr 11], theo chúng tôi, đã xác

nhận điều đó Như vậy, có thể nói yêu cầu thụ đắc văn bản sẽ thực hiện ở 5 lớp học đối

với học sinh tiểu học là sự tiếp nối Điều này có nghĩa là, trong SGK, các tác giả cung

cấp cho học sinh về văn bản có từ lớp 1 đến lớp 5 Đương nhiên, sự phức tạp ở mỗi lớp

sẽ khác nhau Cho nên, việc phân bố văn bản trong SGK cũng sẽ đa dạng theo phân

khúc lớp học của học sinh

Đi vào cụ thể, đối với chuẩn kiến thức tiếng Việt lớp 1, chúng tôi thấy văn bản

thường gồm có “từ 2 – 3 câu theo chủ đề” Yêu cầu này được lặp đi lặp lại trong SGK

Tiếng Việt lớp 1, xác nhận văn bản được giới thiệu ở lớp học này là những cấu trúc đơn

giản Còn trong SHD chuẩn kiến thức Tiếng Việt lớp 2, cùng với vấn đề từ ngữ và câu,

văn bản đã được đặt ra một cách đầy đủ ở mức cao hơn Ngay từ tuần thứ nhất, với yêu

cầu “Bước đầu có khái niệm về một bản tự thuật (lí lịch)” [2, tr 6, lớp 2] Yêu cầu này

cho thấy văn bản được cung cấp cho học sinh trong SGK lớp 2 đã là những văn bản

hoàn chỉnh

Trong SHD chuẩn kiến thức lớp 3, lớp 4 và lớp 5, yêu cầu thụ đắc văn bản được

đặt ra ngay từ tuần học đầu tiên Ví dụ ở SHD lớp 3 đã yêu cầu “Trình bày được một số

thông tin về tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh” [2, tr 7] Hay như trong

SHD chuẩn kiến thức lớp 4, đã yêu cầu học sinh tiểu học “kể nối tiếp được toàn bộ câu

chuyện Sự tích hồ Ba Bể” [2, tr 6] Như vậy, yêu cầu tri nhận đơn vị này gắn liền với

việc sử dụng những đơn vị ngữ pháp thuộc cấp độ thấp hơn là từ và câu Nói cách khác,

tuy không thật rõ, nhưng hình như các tác giả SGK đã bước đầu vận dụng quá trình thụ

đắc ngôn ngữ từ trên xuống (top down process) Điều đó cho thấy việc cung cấp các văn

Trang 4

Việt lớp 3, 4 và 5 phải đáp ứng yêu cầu vừa “cung cấp những đơn vị ngôn ngữ” mới,

vừa dùng nó để ôn luyện kiến thức đã được giới thiệu ở những năm học trước đó

Tùy theo lứa tuổi, mức độ tiếp thu của học sinh và phụ thuộc vào nội dung chủ

điểm của đơn vị học trong từng tuần lễ, các văn bản giới thiệu trong SGK được chọn lọc

với nhiều loại khác nhau: văn bản hành chính, văn bản khoa học, văn bản báo chí, văn

bản nghệ thuật; trong đó, văn bản nghệ thuật chiếm đa số Những mô tả và nhận xét về

văn bản của chúng tôi dưới đây sẽ làm rõ hơn đặc điểm này

2 Mô tả và nhận xét về văn bản trong SGK Tiếng Việt tiểu học

2.1 Về chủ đề và độ dài của văn bản

Trong SGK Tiếng Việt, các văn bản được sắp xếp theo nội dung từng chủ đề, phù

hợp với đối tượng học sinh tiểu học ở mỗi lớp Theo đó, các chủ đề lần lượt là Em là

học sinh, Măng mọc thẳng, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất, Trên đôi cánh ước

mơ, Có chí thì nên, Tiếng sáo diều, Vẻ đẹp muôn màu,… Như vậy, chủ đề của các văn

bản được sắp xếp theo trật tự từ, từ hướng nội đến hướng ngoại, từ “bản thân” học sinh

phát triển dần ra “bên ngoài” xã hội Cách khai thác nội dung như thế là hợp với tâm lí

lứa tuổi, giúp ích cho học sinh luyện tập thực hành ở các phân môn khác

Các văn bản được sử dụng trong SGK Tiếng Việt tiểu học khá phong phú và đa

dạng Các loại văn bản tập đọc như thế tạo cơ hội cho học sinh được tiếp xúc với nhiều

mảng hiện thực, mở rộng tầm nhìn cuộc sống, giúp học sinh làm quen với nhiều phong

cách tạo lập văn bản khác nhau, thích ứng được nhiều kiểu văn bản đã học trong thực

hành giao tiếp

Tuy nhiên, về độ dài, chúng tôi nhận thấy cũng có những chỗ chưa thật phù hợp

Ngoài những bài trong SGK có độ dài vừa phải, phù hợp với khả năng tiếp thu của học

sinh, theo chúng tôi, vẫn còn một số bài có số lượng từ quá nhiều so với mức độ đọc của

học sinh lớp 1 và lớp 2 Có những bài trên 170 từ đối với lớp 1 và trên 250 từ ở lớp 2

Cụ thể đó là các bài “Không nên phá tổ chim” (TV1, T.2, tr 151), “Con chuột huênh

hoang” (TV1, T.2, tr 157), “Có công mài sắt, có ngày nên kim” (TV2, T.1, tr 4), “Tìm

ngọc” (TV2, T.1, tr 138), “Chuyện bốn mùa” (TV2, T.2, tr 4), “Tôm Càng và Cá Con”

(TV2, T.2, tr 68), “Chuyện quả bầu” (TV2, T.1, tr 116), “Ông Mạnh thắng thần gió”

(TV2, T.2, tr 13), “Kho báu” (TV2, T.2, tr 83) Đây là một điểm đáng lưu ý mà khi có

dịp biên soạn lại SGK, các tác giả cần quan tâm cân nhắc

2.2 Về thể loại văn bản

Hầu hết các văn bản được sử dụng trong SGK Tiếng Việt tiểu học thuộc thể loại

văn bản văn học Những bài tập đọc được trích tuyển hoặc chỉnh biên từ các tác phẩm

có giá trị trong kho tàng văn học Việt Nam và văn học thế giới Ví dụ: “Chuyện quả

bầu” (TV2, T.1, tr 116), “Vương quốc vắng nụ cười” (TV4, T.2, tr 143), “Dù sao trái

Trang 5

đất vẫn quay!” (TV4, T.2, tr 86), “Nhà bác học và bà cụ” (TV3, T.2, tr 32), “Ông

Trạng thả diều” (TV4, T.1, tr 104),… Ở lớp 5, SGK cũng đã có sử dụng văn bản hội

thoại (“Lòng dân”, TV5, T.1, tr 24), được trích từ một vở kịch để học sinh thực hành

phân vai, đọc diễn cảm

Các văn bản khác (văn bản thuộc phong cách báo chí, khoa học, hành chính,…)

có nội dung về thiên nhiên, môi trường, văn hóa, khoa học Đồng thời, những văn bản

này cũng đã giới thiệu cho học sinh một số vấn đề về xã hội như: những nghề nghiệp

phổ biến, an toàn giao thông, quyền trẻ em, giáo dục dân số,… phù hợp với trình độ và

lứa tuổi học sinh tiểu học Chẳng hạn một số bài như: “Đơn xin vào Đội” (TV3, T.1, tr

9), “Trên con tàu vũ trụ” (TV3, T2, tr.136), “Vẽ về cuộc sống an toàn” (TV4, T.2, tr

54), “Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” (TV5, T.2, tr 145),… Theo chúng tôi,

nhìn ở bình diện thể loại, việc sử dụng văn bản trong SGK Tiếng Việt tiểu học như thế

là hợp lí

2.3 Về tính mạch lạc và liên kết trong văn bản

Đối tượng tiếp cận với các văn bản trong SGK là học sinh tiểu học, do đó, tính

mạch lạc và mức độ đơn giản về bố cục cũng như sự liên kết trong văn bản phải được

quan tâm đúng mức Tính mạch lạc của văn bản được biểu hiện trong quan hệ giữa các

từ ngữ trong một câu, giữa các câu trong văn bản Mạch lạc cũng được thể hiện trong

quan hệ giữa chủ đề của các câu và được thể hiện ở cả hai dạng quan hệ: duy trì chủ đề

và triển khai chủ đề

Tính mạch lạc trong văn bản được thực hiện bằng những phương tiện liên kết

thích hợp Các phương thức liên kết này được thể hiện đa dạng trong các văn bản,

không gây trở ngại cho học sinh trong quá trình tìm hiểu; ngược lại, chính điều này đã

góp phần rèn cho trẻ kĩ năng sử dụng từ ngữ để viết thành câu và liên kết câu thành

đoạn văn với nhiều cách thức khác nhau

Qua phân tích những văn bản có trong SGK Tiếng Việt tiểu học, chúng tôi nhận

thấy các văn bản hiện có thường sử dụng phép nối, phép lặp và phép thế nhiều hơn

những phép liên kết khác Điều này có thể chấp nhận được vì học sinh tiểu học dễ dàng

tiếp thu và vận dụng vào bài tập thực hành đối với các phép liên kết đơn giản

Như chúng tôi đã nêu trên đây, sự ưu việt của ngôn ngữ SGK hiện tại về “tính

mạch lạc trong văn bản” là nhờ đã biết lựa chọn thông qua các bài văn, bài thơ được liên

kết linh hoạt bằng những phương tiện khác nhau, giúp học sinh được rèn luyện và nâng

cao kĩ năng viết tốt hơn ở phân môn Tập làm văn Chẳng hạn, với nghệ thuật dùng từ,

đặt câu cùng với việc sử dụng hài hòa phép liên kết trong văn bản, tác giả đoạn văn sau

đây đã khiến người đọc cảm nhận được mùi thơm đặc trưng của thảo quả:

Trang 6

hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San Gió thơm Cây cỏ

thơm Đất trời thơm Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng

nếp áo, nếp khăn (“Mùa thảo quả”, TV5, T.1, tr 113)

Hay như trong bài thơ “Quê hương” (TV3, T.1, tr 79), tác giả Đỗ Trung Quân đã

khéo léo sử dụng phép lặp từ ngữ và lặp cú pháp ở cả bốn khổ thơ, mang đến cho người

đọc những hình ảnh quen thuộc, những tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân đối với

quê hương đất nước:

Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là cầu tre nhỏ…

Quê hương mỗi người chỉ một…

Để đáp ứng yêu cầu trên, các văn bản trong SGK thường dùng các kết từ (và,

với, thì, mà, còn, nhưng, vì, nếu, tuy, cho nên,…), kết ngữ (vì vậy, do đó, bởi thế, tuy

vậy, với lại, thế mà, thì ra,…) và một số trợ từ, phụ từ (cũng, cả, lại,…) thông dụng

khác Việc thường xuyên dùng những phương tiện liên kết cụ thể ấy để làm phương tiện

liên kết, nối các bộ phận trong văn bản cũng là một ưu điểm trong lựa chọn văn bản của

SGK Ví dụ:

Bác sĩ bảo cụ bị sỏi thận, phải mổ lấy sỏi ra Cụ sợ mổ Hơn nữa, cụ không tin

bác sĩ người Kinh bắt được con ma người Thái Thế là cụ trốn về nhà Nhưng về đến

nhà, cụ lại lên cơn đau quằn quại (“Thầy cúng đi bệnh viện”, TV5, T.1, tr 158)

Ngoài ra, các văn bản còn sử dụng những từ ngữ đồng nghĩa hay đại từ để thay

thế những từ ngữ có ý nghĩa tương đương Cách làm như thế trong văn bản SGK Tiếng

Việt tiểu học cũng như việc sử dụng những từ hoặc ngữ để thay thế cho ý của cả đoạn

văn là một cách làm hợp lí Ví dụ:

Ngày mai, muôn thú trong rừng mở hội thi chạy để chọn con vật nhanh nhất

Ngựa con thích lắm Chú tin chắc sẽ giành được vòng nguyệt quế Chú sửa soạn không

biết chán và mải mê soi bóng mình dưới dòng suối trong veo […] Ngựa cha thấy thế,

Trang 7

bảo: Con trai à, con phải đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng Nó cần thiết cho cuộc

đua hơn là bộ đồ đẹp

(“Cuộc chạy đua trong rừng”,TV3, T.2, tr 80)

Thỉnh thoảng trong văn bản SGK Tiếng Việt cũng xuất hiện một số văn bản có

sử dụng phép liên tưởng Như chúng tôi đã nhận xét, phép liên kết này được sử dụng rất

hạn chế Ví dụ:

- Từ căn gác nhỏ của mình, Hải có thể nghe tất cả các âm thanh náo nhiệt, ồn ã

của thủ đô Tiếng ve kêu rền rĩ trong những đám lá cây bên đường Tiếng kéo lách

cách của những người bán thịt bò khô Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt Tiếng còi tàu

hỏa thét lên và tiếng bánh sắt lăn trên đường ray ầm ầm

(“Âm thanh thành phố”, TV3, T.1, tr 146)

Qua khảo sát về tính mạch lạc và liên kết trong văn bản, chúng tôi nhận thấy

thêm một vấn đề là vị trí của câu được các tác giả SGK quan tâm và đảm bảo đặc biệt

trong điều kiện triển khai nội dung văn bản Các đoạn văn trong bài đọc thường có câu

mở đoạn, câu thuyết minh, câu mở rộng chủ đề và câu kết đoạn Từng câu, từng đoạn

trong văn bản được liên kết chặt chẽ, mạch lạc, tạo nên những bài văn, bài thơ đầy hình

ảnh, giàu nhịp điệu và phong phú về từ ngữ Đây là ưu điểm nổi bật của các tác giả

trong việc lựa chọn văn bản để đưa vào SGK môn Tiếng Việt tiểu học Chúng tôi rất

tâm đắc với một số đoạn trích trong các văn bản sau đây:

- Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi Cánh diều mềm mại như cánh bướm Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên

trời Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,… như gọi thấp xuống

những vì sao sớm

(“Cánh diều tuổi thơ”, TV4, T.1, tr 146)

- Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng chú

lấp lánh Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như

thủy tinh Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu

(“Con chuồn chuồn nước ”, TV4, T.2, tr 127)

Ở đây, dễ thấy vai trò quan yếu của câu mở đầu văn bản Các câu còn lại chỉ làm

nhiệm vụ thuyết minh cho nó Theo quan sát bước đầu của chúng tôi, văn bản có cấu

trúc như thế chiếm một tỉ lệ khá cao Và đây là mô hình triển khai nội dung rất phù hợp

với tâm lí của trẻ em

Trong mỗi quyển sách đều có những bài văn hay được học sinh yêu thích Chính

Ngày đăng: 06/03/2023, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w