1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khảo sát tình trạng các mảnh xương sọ vỡ nhiều mảnh bảo quản lạnh sâu tại trung tâm hỗ trợ sinh sản và công nghệ mô ghép – bệnh viện đại học y hà nội

6 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát tình trạng các mảnh xương sọ vỡ nhiều mảnh bảo quản lạnh sâu tại trung tâm hỗ trợ sinh sản và công nghệ mô ghép – bệnh viện đại học y hà nội
Tác giả Đỗ Đinh Tiệp, Trần Thị Thanh Bình, Phạm Thị Thu Thủy, Khổng Thị Võn Anh
Trường học Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Chấn thương sọ và công nghệ ghép mô
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 536,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG 188 KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG CÁC MẢNH XƯƠNG SỌ VỠ NHIỀU MẢNH BẢO QUẢN LẠNH SÂU TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ CÔNG NGHỆ MÔ GHÉP – BỆNH VIỆN[.]

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG CÁC MẢNH XƯƠNG SỌ VỠ NHIỀU MẢNH BẢO QUẢN LẠNH SÂU TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH SẢN

VÀ CÔNG NGHỆ MÔ GHÉP – BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Đỗ Đình Tiệp*, Trần Thị Thanh Bình*, Phạm Thị Thu Thủy*, Khổng Thị Vân Anh*

TÓM TẮT 28

Nghiên cứu được thực hiện trên 396 mẫu

xương sọ vỡ từ hai mảnh trở lên, được bảo quản

lạnh sâu tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Công

nghệ Mô ghép – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ

năm 2007 đến 2017 Kết quả: Tuổi trung bình

của bệnh nhân là 38,52 ± 17,19, độ tuổi 18 – 60

chiếm 77,7% 87,1% người là nam giới Nguyên

nhân mở sọ chủ yếu do tai nạn giao thông

(90,7%) 82,6% mẫu sau phẫu thuật mở sọ sạch

75,3% mẫu xương gửi có 2 mảnh vỡ Kết quả

cấy khuẩn lần 1 và 2 đều âm tính (100%) Tỷ lệ

ghép lại đạt 47,5%

Từ khoá: bảo quản lạnh sâu, mảnh xương sọ

SUMMARY

SITUATION OF THE DEEP TEMPERATURE CRYOPRESERVATION OF MULTIPLE

– FRAGMENT BROKRN SKULL

AT HA NOI MEDICAL UNIVERSITY HOSPITAL

Study on 396 samples have at least 2 pieces of

skull, deep temperature cryopreserved at Center

of IVF and Tissue Engineering, Ha Noi Medical

University Hospital from 2007 to 2017

Results: Mean age was 38.52 ± 17.19,

77.7% of cases aged 18 – 60 87.1% of cases are

*Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

Chịu trách nhiệm chính: Đỗ Đình Tiệp

Email: ddtiep@hpmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 13.3.2021

male The traffic accidents was the main cause (90.7%) 82.6% cases were clean after decompresive cranectomy 75.3% cases had 2 pieces Bacterial culture: 100% negative

Cranioplasty: 47.5%

Keywords: cryopreservation, fragment skull

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau một chấn thương sọ não nặng, đa phần bệnh nhân đều phải tiến hành phẫu thuật mở sọ giải áp Khi tình trạng bệnh nhân cho phép, phẫu thuật tái tạo hộp sọ được tiến hành để giảm thiểu các ảnh hưởng do khuyết

sọ, trả lại tính thẩm mỹ, sự tự tin cho bệnh nhân Hiện nay có rất nhiều vật liệu được sử dụng để tái tạo mảnh sọ bị khuyết [1], vật liệu được ưu tiên lựa chọn vẫn là mảnh xương sọ tự thân của bệnh nhân do có những

ưu điểm như: sẵn có, rẻ tiền, tránh được sự thải loại… [2] Trong thời gian chờ ghép lại, mảnh xương sọ phải được bảo quản tạm thời Với cách bảo quản dưới da bụng trước đây, bản thân người bệnh phải chịu thêm hai cuộc

mổ, đồng thời dễ bị nhiễm trùng, miếng xương bị tiêu, hoặc di lệch gây khó khăn cho người bệnh Khi kỹ thuật bảo quản lạnh sâu

ra đời, đã giúp khắc phục được các nhược điểm trên [3]

Labo bảo quản mô thuộc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Công nghệ mô ghép Bệnh

Trang 2

Trong các trường hợp gửi xương sọ thì

những mẫu xương sọ vỡ nhiều mảnh được

cho là sẽ phức tạp hơn trong xử lý, tiềm ẩn

nhiều nguy cơ hơn, chất lượng sau ghép

cũng sẽ bị ảnh hưởng nhiều Vì vậy, để khảo

sát thực trạng các mẫu xương sọ như vậy gửi

bảo quản tại Trung tâm, chúng tôi tiến hành

đề tài nghiên cứu với mục tiêu: “Khảo sát

tình trạng mảnh xương sọ vỡ nhiều mảnh

bảo quản lạnh sâu tại Trung tâm Hỗ trợ sinh

sản và Công nghệ mô ghép – Bệnh viện Đại

học Y Hà Nội và khả năng sử dụng để ghép

trở lại cho bệnh nhân”

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

396 mẫu xương sọ vỡ từ hai mảnh trở

lên, được bảo quản lạnh sâu tại Trung tâm

Hỗ trợ sinh sản và Công nghệ Mô ghép – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2007

đến 2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

– hồi cứu Thu thập các thông tin trên hồ sơ của bệnh nhân, kết hợp với khai thác bằng phỏng vấn qua điện thoại, số liệu được ghi vào bảng kiểm

- Xử lý số liệu: Số liệu sau khi thu thập

được làm sạch trước khi nhập vào máy Xử

lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0 với test thống kê thích hợp trong y học

2.3 Đạo đức nghiên cứu:

Nghiên cứu có sự đồng thuận của đối tượng nghiên cứu và thông tin về đối tượng chỉ được dùng với mục đích nghiên cứu và hoàn toàn được giữ kín

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Sau khi tiến hành thu thập số liệu từ Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Công nghệ mô ghép – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, chúng tôi thu được các kết quả như sau:

3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 1 Phân bố tuổi của bệnh nhân trong nghiên cứu Nhận xét: Tuổi trung bình của bệnh nhân gửi là 38.52 ±17.19, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là

2 tuổi và lớn tuổi nhất là 83 tuổi Đa số bệnh nhân nằm trong khoảng 18 đến 60 tuổi (308 bệnh nhân, chiếm 77.7%)

Trang 3

Biểu đồ 2 Giới tính của bệnh nhân trong nghiên cứu Nhận xét: Trong tổng số 396 bệnh nhân thì nam giới chiếm đa số: 345 bệnh nhân, tương

đương tỷ lệ 87.1% Nữ giới chiếm tỷ lệ 12.6% Có 1 trường hợp bệnh nhân không có thông

tin giới tính

Biểu đồ 3 Nguyên nhân tiến hành phẫu thuật mở sọ Nhận xét: Đa số bệnh nhân mở sọ sau tai nạn giao thông: 359 trường hợp (90.7%)

Nguyên nhân khác: tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, bệnh lý về não chiếm tỷ lệ nhỏ

Bảng 1 Số mảnh vỡ trong một mẫu bảo quản

Trang 4

Nhận xét: Số mảnh vỡ trong mỗi mẫu nghiên cứu trong khoảng 2 – 8 mảnh ¾ số mẫu có

2 mảnh vỡ Số mảnh vỡ càng nhiều tỷ lệ mẫu gửi càng giảm

3.2 Yếu tố liên quan đến quy trình bảo quản

Bảng 2 Tình trạng mảnh xương sọ trước và sau bảo quản lạnh sâu

Đặc điểm

Cân cơ, máu tụ

Nhận xét: Trước bảo quản có 15,9% mẫu có cân cơ máu tụ Tất cả các mẫu đều được xử

lý rồi mới đưa vào bảo quản, do đó sau bảo quản các mẫu đều sạch

Bảng 3 Tình hình cấy khuẩn và kết quả cấy khuẩn

Lần 1 (trước bảo quản)

43/396 10,9%

353/396

43 100% Lần 2

(trước ghép lại)

153/396 38,6%

243/396

153 100%

Nhận xét: Trong tổng số 396 mẫu xương trong nghiên cứu có 43 mẫu được cấy khuẩn lần

1 (10,9%); 153 mẫu cấy lần 2 (38,6%) Trong cả 2 lần cấy khuẩn, 100% số mẫu đều cho kết quả âm tính

Biểu đồ 4 Tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật ghép lại Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân được ghép lại và tử vong không chênh lệch nhiều (47,5%

ghép lại – 52% tử vong)

Trang 5

IV BÀN LUẬN

Từ biểu đồ 1, 2 và 3 cho thấy bệnh nhân

có mẫu xương sọ gửi tại trung tâm tập trung

nhiều nhất ở độ tuổi 18 – 60 (77% số bệnh

nhân), nam giới nhiều hơn nữ giới (gấp

khoảng 7 lần) và nguyên nhân thường gặp

nhất là do tai nạn giao thông (hơn 90%) Kết

quả này phù hợp với thực tế và tương đồng

với nhiều nghiên cứu trước đó [4],[5],[6] Độ

tuổi 18 – 60 là độ tuổi lao động, con người

tham gia nhiều vào các hoạt động xã hội,

hoạt động giao thông, do đó tỷ lệ gặp chấn

thương ở nhóm này cũng cao nhất Người

nam giới khi lao động thường làm những

công việc nặng hơn nữ giới nên dễ gặp phải

tai nạn lao động hơn; khi tham gia giao

thông thường là người cầm lái, nếu có tai nạn

xảy ra sẽ hay gặp chấn thương vùng đầu hơn

người ngồi sau Tình trạng sử dụng rượu,

chất kích thích khi tham gia giao thông gây

gia tăng tai nạn cũng thường gặp ở nam giới

hơn nữ giới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số mẫu

xương vỡ 2 mảnh chiếm tỷ lệ cao nhất, tới

75,3% Số mảnh vỡ của mẫu càng nhiều thì

tỷ lệ gặp càng thấp Những mẫu vỡ nhiều

hơn 8 mảnh được xếp vào nhóm vỡ vụn,

thường gặp sau một chấn thương rất mạnh,

khả năng liền của những mẫu xương này

kém, tỷ lệ được ghép trở lại cũng rất thấp

nên không cần thiết tiến hành nghiên cứu sâu

hơn trên nhóm này

Quy trình bảo quản lạnh sâu mẫu xương

sọ đòi hỏi các nhà phẫu thuật cũng như nhân

viên bảo quản tuân thủ rất nghiêm ngặt từng

bước trong quy trình Từ khâu lấy mẫu

xương sọ, khâu vận chuyển từ nơi phẫu thuật

cuối cùng là khâu chiếu xạ và cấy khuẩn lần

2 trước khi ghép lại Chỉ cần làm không tốt, không đảm bảo một trong các khâu, đều có thể ảnh hưởng đến chất lượng mẫu xương, chất lượng bảo quản, và cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả sau ghép lại cho bệnh nhân

Trước nghiên cứu của chúng tôi, Quách Thị Yến cũng tiến hành nghiên cứu tương tự tại cùng địa điểm với các mẫu xương gửi từ

2002 - 2010, kết quả cho thấy có 76,9% mẫu xương không cân cơ, máu tụ và khi cấy khuẩn cả 2 lần đều có một số mẫu dương tính [7] Ở nghiên cứu của chúng tôi, trước bảo quản chỉ có 15,9% mẫu có cân cơ, máu tụ; tất cả các kết quả cấy đều âm tính Điều

đó cho thấy sau thời gian dài hoạt động, công tác phổ biến kiến thức về kỹ thuật bảo quản đến các bác sĩ ngoại khoa của các bệnh viện

đã được cải thiện; quy trình của bảo quản, quá trình xử lý mẫu xương sau khi mở hộp

sọ được đảm bảo hơn rất nhiều

Về tỷ lệ bệnh nhân ghép lại, nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả 47,5%, thấp hơn

và chỉ bằng 70% tỷ lệ ghép lại của Quách Thị Yến (61,8%) [7] Giữa hai nghiên cứu có

sự khác biệt về chọn mẫu: Nguyễn Thị Yến nghiên cứu trên tất cả các mẫu gửi còn chúng tôi lựa chọn các mẫu vỡ nhiều mảnh, loại bỏ các ca vỡ đơn giản Như vậy có thể thấy khi lực tác động gây tổn thương là rất mạnh, xương sọ vỡ thành nhiều mảnh thì khả năng hồi phục sẽ thấp hơn rõ rệt so với vỡ đơn mảnh Khi tiến hành ghép trở lại thì các trường hợp vỡ đơn mảnh cũng dễ dàng hơn trong việc tái thiết vòm sọ để đảm bảo được

Trang 6

V KẾT LUẬN

Nghiên cứu 396 mẫu xương sọ vỡ từ hai

mảnh trở lên, được bảo quản lạnh sâu tại

Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Công nghệ Mô

ghép – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ năm

2007 đến 2017 thấy: độ tuổi hay gặp là 18 –

60, nam giới nhiều hơn nữ giới và nguyên

nhân chính là tai nạn giao thông 82,6% mẫu

sau phẫu thuật mở sọ sạch 75,3% mẫu

xương gửi có 2 mảnh vỡ Kết quả cấy khuẩn

lần 1 và 2 tất cả đều âm tính Tỷ lệ ghép lại

đạt 47,5% (thấp hơn so với tỷ lệ trong nghiên

cứu tương tự được thực hiện trên cả mẫu vỡ

đơn mảnh và nhiều mảnh)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Zanotti B, Zingaretti N, Verlicchi A, et al

(2016), Cranioplasty: Review of Materials, J

Craniofac Surg, Nov; 27(8): 2061 – 2072

2 Fan MC, Wang QL, Sun P, et al (2018),

Cryopreservation of Autologous Cranial

Bone Flaps for Cranioplasty: A Large

Sample Retrospective Study, World

Neurosurgery, Jan; 109: e853 – e859

3 Rosinski CL, Chaker AN, Zakrzewski J,

et al (2019), Autologous Bone Cranioplasty:

A Retrospective Comparative Analysis of Frozen and Subcutaneous Bone Flap Storage Methods, World Neurosurg, Nov; 131:e312-e320

4 Bùi Thanh Thuỷ, Trần Chiến (2018) Đánh

giá quy trình bảo quản lạnh sâu mảnh xương

sọ người tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Tạp chí Y học Việt Nam, 462(1), 41 – 44

5 Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Công Tô, Vũ Văn Hoè và cộng sự (2017) Hiệu quả giảm

áp lực nội sọ sau phẫu thuật mở sọ giảm áp ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng Tạp chí

Y học Việt Nam, 454(2), 1 – 4

6 Vũ Minh Hải, Phạm Thị Tỉnh (2017) Kết

quả phẫu thuật chấn thương sọ não nặng do máu tụ dưới màng cứng cấp tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình Tạp chí Y học Việt Nam, 455(2), 48 – 50

7 Quách Thị Yến, Ngô Duy Thìn (2012) Đặc

điểm hình thái các mảnh xương sọ bảo quản lạnh sâu tại labo bảo quản mô ĐHY HN từ

2002 đến 2010 – liên quan giữa tình trạng mảnh xương và khả năng nhiễm khuẩn Tạp chí Nghiên cứu Y học, số 3C, 228 – 233

Ngày đăng: 06/03/2023, 08:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w