HỘI THẢO KHOA HỌC TỔ NGOẠI NGỮ trang 171 190 THÁNG 6, 2011 TP HCM 171 Câu Điều Kiện Anh Ngữ Và Việc Giảng Dạy Câu Điều Kiện Cho Sinh Viên Không Chuyên Ngữ ThS Nguyễn Thành Trung Khoa Ngữ Văn, trường Đ[.]
Trang 1Câu Điều Kiện Anh Ngữ Và Việc Giảng Dạy Câu Điều Kiện
Cho Sinh Viên Không Chuyên Ngữ
ThS Nguyễn Thành Trung
Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Bài viết của chúng tôi hướng đến Câu điều kiện tiếng Anh và vấn đề giảng dạy nội dung này trong mối tương quan giữa tiếng Anh và tiếng Việt nhằm đưa ra những khái quát bước đầu về vấn đề thú vị này Trong giảng dạy tiếng Anh, việt so sánh với ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng Việt) đã được lưu ý đến từ khá sớm, vì thế chúng tôi nhấn mạnh việc đối sánh hai ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy mẫu câu điều kiện cho sinh viên không chuyên ngữ.
Từ góc độ tiếng Anh, bài viết trình bày những kết quả khảo sát, phân tích và luận chứng các dạng câu điều kiện đang tồn tại lẫn hai dạng đề xuất, sau đó phân nhóm với các giá trị
ổn định Bên cạnh đó, mối quan hệ nội tại giữa ba dạng chính của câu điều kiện cũng được chỉ ra Từ góc độ tiếng Việt, chúng tôi giới thiệu bảng phân loại và các nhận định về 14 cấu trúc câu điều kiện tiếng Việt, đây là một tham chiếu quan trọng khi giảng dạy câu điều kiện tiếng Anh Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra các lưu ý và đề xuất về hệ thống hóa cấu trúc câu điều kiện tiếng Anh, phát triển các dạng câu điều kiện kết hợp, giải quyết vấn đề
số lượng câu điều kiện , so sánh hệ thống liên từ điều kiện… nhằm hiệu quả hóa quá trình giảng dạy câu điều kiện tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ.
Abstract
Our article concentrates on the Conditional sentences and the process of teaching it in the concern to its correlation between English and Vietnamese in order to sketch out an initial summary of this interesting issue The correlation is early considered as its important role
Trang 2in language cognition, especially in teaching English Therefore, conditional sentences are surveyed in English and Vietnamese
In English, this writing expresses the result of research, statistics and proves nearly all kinds of conditional sentences, then they are divided into groups with specific quantity Besides, the relationship between these three main types of conditional sentences is also figured out In Vietnamese, some outlines and the table collecting 14 conditional sentences forms are introduced as a very important point in teaching by comparison with Vietnamese Based on these data, this article presents some notes and opinions including the way to systematize “If sentences” structures, develop some mix-types, explain the matter of conditional sentences’ quantity and compare the system of conditional conjunctions,… on process of teaching student whose major is not English.
1 Dẫn Nhập- Câu Điều Kiện, Những Vấn Đề Đặt Ra
Câu điều kiện (conditional sentences) là một phạm trù ngữ pháp khá lý thú trong tiếng Anh Trình độ tư duy về ngôn ngữ và cảnh huống của đối tượng phát ngôn được phân hoạch theo các thể thức, lớp ý nghĩa cũng như giải quyết mối quan hệ giữa hai mệnh đề trong câu điều kiện thể hiện một cấp độ phát triển khá cao trong
đó con người tự do xây dựng những thế giới hiện tượng riêng cho bản thân và tha nhân, điều này chỉ có thể là kết quả của quá trình “phản tư” mà nhà triết học lỗi lạc
sức hút này khi vận dụng vào quá trình giảng dạy nói chung và với đối tượng là nhóm sinh viên không chuyên Anh ngữ nói riêng, đã phần nào giảm sút nếu như không nói là mất đi vì có một thực tế rằng người học không thể sư dụng câu điều kiện thành thạo sau một thời gian vì một lý do đơn giản: không thể nhớ được công thức! Bản chất của vấn đề này là gì? Phương pháp khắc phục ra sao? Có thực phần này thuộc phạm trù võ đoán (arbitrary) của ngôn ngữ mà người học buộc phải chấp nhận và bắt chước (mimic) theo người bản ngữ? Thực trạng và những băn khoăn
trên thúc đẩy chúng tôi lưu ý và tiến hành đề tài “Câu điều kiện Anh ngữ và việc
1Immanuel Kant, Kritik der Urteilskraft, Bùi Văn Nam Sơn dịch (2007), Phê phán năng lực phán đoán,
NXB Tri Thức, TPHCM.
Trang 3giảng dạy câu điều kiện cho sinh viên không chuyên ngữ” với hy vọng phần nào
nhìn rõ vấn đề và khắc phục những khó khăn của người học trong điều kiện khả năng hạn chế của chúng tôi khả dĩ
Về mặt lý thuyết, ngữ pháp về câu điều kiện đã có một chặng đường dài chứng kiến
sự chuyển biến về góc nhìn, từ logic hình thức đến tâm lý học tri nhận Câu điều kiện được lưu ý khá sớm ở vấn đề tính đúng đắn của hai mệnh đề xét trong mối quan hệ phụ thuộc như một kiểu hàm ý nhân quả có công thức p→q; theo đó mệnh
đề đi trước thể hiện một cảnh huống có giá trị đến việc xác định tính đúng đắn của mệnh đề theo sau [Palmer 1986] Bên cạnh đó, phạm trù câu điều kiện, dưới góc nhìn của ngữ pháp nhà trường, được chủ yếu miêu tả từ góc độ hình thức thuần tuý thể hiện ở sự khác biệt về dạng động từ Theo đó câu điều kiện được quy vào ba dạng chính trên tiêu chí tính thực hữu của sự việc (có thực ở hiện tại hoặc tương lai, không thực ở hiện tại, không thực ở quá khứ) Gần đây, ngữ pháp tri nhận dựa trên nền tảng tâm lý học tri nhận đã đưa ra những mô hình về ngôn ngữ với sự lưu ý về
sự tác động của ngữ nghĩa vào cấu trúc ngữ pháp Các nhà ngôn ngữ như Fillmore,
trong phân tích ngôn ngữ Sweetser đã chỉ ra rằng câu điều kiện không phải là một
tổ hợp nhất thành bất biến giữa hai mệnh đề mà phải hiểu đây là một kết cấu những quan hệ riêng biệt giữa các mệnh đề được điều chỉnh bởi sự tri nhận và kinh nghiệm của người nói Theo đó quan hệ giữa hai mệnh đề p-q được quy về 3 dạng: nội dung mang tính nhân quả, nhận thức mang tính suy luận và hành động ngôn từ thể hiện quan hệ bình luận
Đối với mảng ngữ pháp thực hành, thông qua khảo sát nhóm các công trình bao
gồm: A Practical English Grammar (A.J.Thomson, A.V.Martinet), English
Grammar in Use (Raymond Murphy), Advanced English Practice (B.D Graver), Understanding and Using English Grammar (Betty Schrampfer Azar) và Oxford
2Fillmore, Ch.J (1986), Varieties of Conditional Sentences, ESCOL 3.
Langacker, R (1987), Foundations of cognitive grammar, Vol 1: “The Theoretical Prerequisites”, Stanford
University Press, Stanford, California.
Sweetser, E (1990), From the Etymology to Pragmatics, Cambridge University Press, Cambridge.
Trang 4Guide to English Grammar (John Eastwood) chúng tôi nhận thấy các tác giả
thường chia câu điều kiện thành các loại trên hai tiêu chí: tính thực hữu (real, unreal) và thời gian (future, present, past) Theo đó ba loại cơ bản được xác định là:
Loại 1- điều kiện mở [5,6], khả năng thực tế [7,9], có thực trong hiện tại hoặc tương lai [2] Các tác giả nhóm dạng Imperative (cầu khiến) và mệnh đề chính của loại này
Loại 2- điều kiện không thực, không thể [5,9], hoàn cảnh giả định [7], không thực
ở hiện tại hoặc tương lai [2], biến đổi theo khung giá trị không chắc chắn (tentative), giả thuyết (hypothetical) đến không thực (unreal condition) [6]
Loại 3- không thực trong quá khứ
Ngoài ba dạng cơ bản này, B.D Graver [6] và John Eastwood [5] còn phân thêm loại 0 (type 0) nhằm thể hiện quan hệ nhân quả, trong khi A.V.Martinet và Betty Schrampfer Azar nhóm dạng này vào loại 1 với ý nghĩa kết quả tự động, thói quen [9], diễn tả chân lý [2], còn Raymond Murphy [7] thì không thấy nhắc đến
Một phần thưởng nhưng đồng thời cũng là cạm bẫy cho người học câu điều kiện Anh ngữ là khả năng kết hợp các loại được nêu trên Trong giới hạn khảo sát của chúng tôi các tác giả như A.V Martinet [9], Betty Schrampfer Azar [2] và John Eastwood [5] đều có nhắc đến khả năng trộn lẫn loại 2 và 3 như một lưu ý [5] hay một phần riêng biệt có giá trị ngang bằng với ba dạng khác [2] Thêm vào đó, riêng John Eastwood đề cập đến dạng trộn 1-3 Rõ ràng là số lượng các dạng hỗn hợp (mix) vẫn còn nhiều điều cần bàn
Ở Việt Nam, Đặng Thị Hưởng trong Practical English Grammar đã tiếp cận câu
điều kiện từ góc nhìn phân lập hai mệnh đề và xuất phát bằng phạm trù Mood Cụ thể, tác giả cho rằng Mệnh đề If được chia làm hai loại, tuỳ theo quan niệm của người nói, thành Indicative và Subjunctive (dựa trên mối tương quan của tense và
Trang 5time); mệnh đề chính theo đó gồm hai bộ phận là Modal và Infinitive sẽ biến đổi nếu đề cập về quá khứ, hiện tại hoặc tương lai Hệ thống này xuất phát từ góc nhìn
lý thuyết và giải quyết vấn đề câu điều kiện rất linh hoạt, vì thế đây là nguồn tư liệu
lý luận quý giá cho người viết Tuy nhiên khi ứng dụng vào thực tế thì hướng tiếp cận này tỏ ra khá kén chọn người tiếp nhận và rõ ràng là gây khó khăn cho sinh viên không chuyên ngữ khi phải làm việc với phạm trù Mood
Chúng tôi ngờ rằng trong hoàn cảnh khác biệt về nhận thức câu điều kiện tiếng Anh
và ngôn ngữ gốc (tiếng Việt) dẫn đến việc học thuộc lòng cấu trúc của sinh viên là nguyên nhân chính tác động tiêu cực đến kết quả tiếp thu điểm ngữ pháp này Theo
đó giả thuyết của chúng tôi là nếu trình bày câu điều kiện một cách hệ thống, chỉ ra được mối liên hệ vận động của các thành tố kết hợp với đối sánh tiếng Việt sẽ có cơ may vạch ra một viễn tượng khả quan hơn chăng? Như vậy, với mục tiêu là lý giải, đối sánh và rút ra một số nhận định, kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy câu điều kiện tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ, phương pháp chúng tôi chọn là vận dụng lý thuyết điển mẫu (prototype theory) của ngôn ngữ học tri nhận nhằm
mở ra một góc nhìn rộng có thể dung nạp các kiểu câu điều kiện nhờ vào thang giá trị so sánh với điển mẫu chứ không loại bỏ do thiếu bất kỳ một đặc trưng nào trong
hệ thống, cũng có nghĩa là điền đủ các dạng thức kết hợp về mặt lý thuyết Theo đó chúng tôi xác định hệ thống đối tượng thao tác như sau bảng 1.1
Bảng 1.1 Đối tượng phân theo thang giá trị điển mẫu
Cấp độ trên cơ bản
Cấp độ cơ bản (basic
Cấp độ dưới cơ bản (subordinate level)
Các dạng Mix
Cấp độ cơ bản cho Mix
Cấp độ dưới cơ bản cho Mix
Trang 6Bên cạnh đó chúng tôi thiết nghĩ phương pháp so sánh đối chiếu vẫn phát huy hiệu quả trong hoàn cảnh cần có một góc nhìn đối chiếu, tương quan giữa hai ngôn ngữ với tư cách là tiếng mẹ đẻ (Việt ngữ) và ngoại ngữ (Anh ngữ) Vì vậy chúng tôi dùng phần 2 để trình bày những điểm khái quát nhất về câu điều kiện trong tiếng Việt như là một tham chiếu cần thiết trong quá trình tiến hành đề tài cũng như trong giảng dạy câu điều kiện Anh ngữ
2 Nội Dung- Giới Thiệu Câu Điều Kiện Tiếng Anh Trên Cơ Sở Đối Sánh Câu Điều Kiện Tiếng Anh và Tiếng Việt
2.1 Câu điều kiện trong tiếng Anh
Đây là những khái quát cơ bản nhất mà chúng tôi trình bày khi giới thiệu về câu điều kiện tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ, thực chất đây là những bước
đi dựa trên mô hình ngữ pháp truyền thống có bổ sung một số nội dung của ngôn ngữ học nhận
Bước thứ nhất - định nghĩa: Câu điều kiện tiếng Anh là một mệnh đề trạng ngữ bắt
đầu bằng If, unless hay các liên từ tương đương khác thể hiện một trạng thái hay tình huống trong một mệnh đề phụ thuộc vào điều gì có lẽ hoặc sẽ xảy ra (hoặc
Bước thứ hai - bàn về liên từ If: Có thể thấy If là dấu hiện thực hữu nhất để xác
định câu điều kiện và các mệnh đề thành phần của nó Có thể xem if mang hàm ý liên kết logic nhân quả có mối liên hệ không thể chối cãi với hình thái động từ, trật
tự mệnh đề và các nhân tố ngữ dụng trong việc quyết định ý nghĩa của câu điều
kiện Bản thân If đánh dấu tính phi thực hữu của mệnh đề nó trình xuất, ở đây cũng đồng nghĩa với kiểu If là một chỉ tố xây dựng “không gian tinh thần” (mental
spaces - chữ của Fauconnier, chuyển dẫn [3:15]) với ba chức năng chính trên ba
cấp độ Ở cấp độ tín hiệu, if báo hiệu sự tạo tác và diễn hành của không gian tinh thần, không gian điều kiện Ở cấp độ từ vựng, if thể hiện tính chất phi khẳng định
3Jack C.Richards (1993), Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics, Longman, Singapore,
p.76.
Trang 7hoặc tính chất phi thực của mệnh đề Và cuối cùng if kết nối hai mệnh đề trong một giả định ràng buộc các mối quan hệ hình thức ngữ pháp và ngữ nghĩa ở cấp độ kết cấu
Bên cạnh if còn có những liên từ khác như Even if, whether, unless, but for,
otherwise, provided, suppose,… mà chúng tôi sẽ bàn ở phần sau.
Bước thứ ba - chỉ ra mối quan hệ giữ hai mệnh đề: nhìn chung, hiện nay có thể đề cập đến 05 điểm cơ bản Thứ nhất, về nội dung mệnh đề if là điều kiện đủ cho mệnh đề chính Thứ hai, về nhận thức tính đúng của mệnh đề giả thiết có thể kết luận vế tính đúng của mệnh đề kết quả Thứ ba, về hành động ngôn từ, mệnh đề điều kiện là nguyên nhân hoặc dấu hiệu cho phép hành động ngôn từ trong mệnh đề
đi sau Như vậy, quan hệ nhân quả giữa hai mệnh đề là khá rõ nét Thứ tư, giữa hai mệnh đề còn có mối quan hệ tuyến tính theo thời gian tức là mệnh đề if diễn tả một
sự tình xảy ra trước rồi mới đến sự tình để mệnh đề chính Kiểu quan hệ siêu văn bản thể hiện ở mệnh đề điều kiện đi sau chỉnh sửa, bổ túc nội dung của mệnh đề chính đi phía trước, là kiểu thứ năm [xem 3:43-49]
Bước cuối cùng là phân loại và cho ví dụ: chúng tôi trình bày theo hướng chia câu điều kiện tiếng Anh thành bốn dạng cơ bản với cấu trúc và ví dụ như trong Bảng 2.1.1 và dạng kết hợp (mix) được khái quát theo Bảng 2.1.2
Như vậy, tính chất ý nghĩa của mệnh đề thành phần được phân định dựa vào sự biến đổi dạng động từ; động từ thay đổi dạng sẽ dẫn đến ý nghĩa biến đổi theo Vấn
đề là giúp sinh viên hiểu và nhớ được công thức Trong hoàn cảnh hiện nay công tác giảng dạy thường đặt trọng tâm ở bước thứ nhất và thứ tư, chúng tôi muốn nhấn mạnh bước thứ hai và thứ ba như những bộ phận trong hệ thống các bước để giải quyết vấn đề cốt yếu nêu trên Đồng thời nếu có một cái nhìn đối sánh với câu điều kiện tiếng Việt thì hiệu quả tiếp nhận cũng sẽ khả quan hơn