1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO " PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ " pptx

12 568 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 357,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tìm hiểu thêm về phổ loài cảm nhiễm của WSSV tại vùng nuôi tôm trọng điểm của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL để qua đó có thể hiểu r

Trang 1

PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG

(White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN

NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ

Trần Thị Tuyết Hoa 1 và Nguyễn Thanh Phương 1

ABSTRACT

The white spot syndrome virus (WSSV) is considered the most devastating pathogen causing mass mortality in different shrimp faming systems worldwide It has been well-documented that this pathogen infects different hosts/carriers (penaeid shrimps, freshwater prawns, variety crabs species, wild shrimps); targets various host tissues; and it easily spread through horizontal and vertical transmission; yet, no effective treatment methods against this pathogen has been developed Therefore, this study aims at obtaining information on the new host ranges of WSSV in shrimp culture areas in Mekong delta in order to understand the transmission pathway of this virus for appropriate management strategies

In this study, nested polymerase chain reaction with WSSV-specific primers was applied to detected the WSSV in live foods (squids, hermit crabs, polychaete and mantis shrimps - 130 samples) collected from 33 Penaeus monodon hatcheries in the Bac Lieu and Ca Mau province, Mekong Delta Additionally, the confirmation of WSSV infection in these hosts was done by the histology method (H&E) and nested PCR (IQ2000-WSSV) The results of those two methods led to the suggestion that WSSV did infect the live foods In addition, the amplified product of PCR-genotyping from the DNA of WSSV infection in those live food samples was similar to that of WSSV infection in Penaeus monodon samples collected from others farmed ponds in the Mekong Delta

Keywords: white spot syndrome virus, live foods, Penaeus monodon shrimp hatchery

Title: Detection of white spot syndrome virus in fresh feeds of black tiger shrimp (Penaeus monodon) broodstock maturation culture

TÓM TẮT

Vi rút gây bệnh đốm trắng được xem là một trong những tác nhân gây chết tôm hàng loạt ở nhiều mô hình nuôi tôm trên khắp thế giới Sự cảm nhiễm của loài

1 Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ

Trang 2

vi rút này trên nhiều loài vật chủ/vật mang mầm bệnh khác nhau (tôm biển, tôm nước ngọt, cua, tôm tép hoang dã) đã được chứng minh và công bố WSSV tấn công nhiều cơ quan khác nhau trên cơ thể vật chủ và sở hữu cả hai phương thức lây lan ngang và dọc Cho đến hiện nay, các phương thức phòng bệnh hiện đang được ứng dụng vẫn chưa mang lại hiệu quả cao Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tìm hiểu thêm về phổ loài cảm nhiễm của WSSV tại vùng nuôi tôm trọng điểm của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) để qua đó có thể hiểu rõ về phương thức lây nhiễm của loài vi rút này và đề xuất phương thức quản lý bệnh hiệu quả hơn

Trong nghiên cứu, phương pháp PCR hai bước với mồi chuyên biệt cho WSSV được sử dụng để phát hiện WSSV trong tổng số 130 mẫu thức ăn tươi sống (mực, ốc mượn hồn, giun nhiều tơ và tôm tít) Các mẫu thức ăn này được thu từ

33 trại sản xuất tôm sú giống ở tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau, ĐBSCL Song song

đó, phương pháp mô bệnh học (nhuộm Hematoxyline & Eosin) và phương pháp PCR hai bước (kit IQ2000-WSSV) cũng được sử dụng như là phương pháp kiểm khẳng định sự hiện diện của WSSV trong các mẫu này Kết quả của hai phương pháp trên cho thấy sự tồn tại của WSSV trong các mẫu thức ăn tươi sống được kiểm tra Ngoài ra, sản phẩm PCR-genotyping của các mẫu ADN-WSSV chiết tách từ các mẫu thức ăn tươi sống này cũng cho kết quả tương tự các mẫu ADN-WSSV chiết tách từ tôm sú nuôi ở các ao tôm thuộc khu vực ĐBSCL

Từ khóa: Vi rút gây bệnh đốm trắng, thức ăn tươi sống, trại sản xuất tôm sú

1 GIỚI THIỆU

Vi rút gây bệnh đốm trắng được phát hiện đầu tiên ở Fujian, Trung Quốc vào

khoảng năm 1992 (Cai et al., 1995), sau đó tiếp tục lan rộng khắp khu vực

châu Á (Flegel, 1997) Năm 1995, WSSV được phát hiện lần đầu ở khu vực châu Mỹ (Nunan & Lightner 1997) và sau đó hiện diện ở khắp các nước thuộc khu vực Tây bán cầu (Mexico, Guatemala, Honduras, Nicaragua, Panama, Ecuador và Colombia)

WSSV là tác nhân gây chết tôm cấp tính trên diện rộng, tác động lớn đến năng suất tôm nuôi và sinh kế của người nuôi tôm ven biển Tác nhân này đã được ghi nhận cảm nhiễm với số lượng loài lớn, từ các loài giáp xác nuôi vùng nước ngọt, lợ cho đến các nhóm loài hoang dã ngoài môi trường tự nhiên (copepods,

polychaete…) (Hameed et al., 2003, Jiravanichpaisal et al., 2001, Vijayan et

al., 2005) Phổ loài cảm nhiễm rộng là một trong những nguyên nhân dẫn đến

việc lây lan nhanh của tác nhân này trong hệ thống nuôi tôm trên toàn thế giới Ngoài ra, tốc độ lây lan nhanh trong hệ thống nuôi còn có thể là do tôm nhiễm

bệnh qua nguồn nước hoặc là từ việc ăn tôm chết do WSSV (Chou et al.,

1998)

Trang 3

Phương thức lây nhiễm dọc của WSSV cũng đã được đề cập trong nhiều báo

cáo, tuy nhiên Lo et al (1997) đã công bố về khả năng trứng tôm nhiễm WSSV

không thành thục WSSV có nhiều phương thức lây nhiễm ngang bao gồm lây lan từ tôm bệnh cho tôm khỏe, lây qua nguồn nước hay vật mang mầm bệnh (giáp xác hoang dã, thức ăn tươi sống) và đặc biệt lây lan do các hoạt động sản

xuất/ kinh doanh thủy sản DNA-WSSV có thể tồn tại trong trứng Artemia, tuy nhiên WSSV bị tiêu hủy trong quá trình cho nở trứng Artemia (Li et al., 2003)

Quá trình lây lan xuyên châu lục của WSSV có thể là do sự di chuyển các sản phẩm đông lạnh xuất khẩu Bùn đáy ao chứa WSSV, các dụng cụ sản xuất nhiễm WSSV và các sản phẩm thải không qua xử lý (chất thải của các nhà máy đông lạnh thủy sản) cũng là một trong những phương thức lan truyền của nhóm

vi rút này (Lightner et al., 1997, Nguyen Duc Quang et al., 2009) Chim/cò,

nhóm động vật chân đốt cũng có thể nhiễm WSSV từ nguồn chất thải này và sẽ

là vật mang mầm bệnh sang khu vực không nhiễm bệnh (Vanpatten et al.,

2004) Kết quả phát hiện WSSV bằng kỹ thuật PCR đã cho thấy WSSV nhiễm

trong nhiều vật chủ khác nhau bao gồm Portunus pelagicus, Acetes sp., copepods, và côn trùng (Chou et al., 1996, Lo et al., 1996, Flegel 1997) Đây là

những nhóm sinh vật phổ biến ở khu vực nuôi tôm và có khả năng lây nhiễm

cho tôm (Supamataya et al., 1998)

Nhiều tài liệu công bố tôm nhiễm WSSV từ nhiều nguồn khác nhau, phương thức lây nhiễm truyền thống là do quá trình di chuyển tôm hoặc các vật chủ có mang mầm bệnh sang khu vực không có bệnh Tuy nhiên, phương thức lây nhiễm chính là do tôm bố mẹ và tôm giống nhiễm WSSV Khả năng nguồn tôm giống nhiễm WSSV đưa đến bệnh bộc phát trong ao thả nguồn giống này

và sau đó lây lan sang các ao nuôi lân cận đã được thảo luận và đưa đến việc ứng dụng sàng lọc tôm giống trước khi thả nuôi ở nhiều khu vực trên thế giới

Do sự đa dạng của các mẫu thức ăn tươi sống sử dụng trong trại sản xuất tôm

sú giống và WSSV được phát hiện trên nhiều loài vật chủ khác nhau cho nên vấn đề nghiên cứu khả năng tồn tại của WSSV trong các mẫu này là rất cần thiết

2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Tổng số 130 mẫu thức ăn tươi sống (mực, ốc mượn hồn, giun nhiều tơ – không xác định loài và tôm tít) được thu ở các trại sản xuất tôm giống thuộc huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu trong khoảng tháng 3-5/2009 Các mẫu tôm sú thịt được thu từ các ao nuôi tôm thuộc huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Mẫu được thu sống và bảo quản trong cồn tuyệt đối (mẫu PCR) hoặc dung dịch Davidson’s AFA (mẫu mô)

Trang 4

2.2 Phương pháp PCR phát hiện WSSV

Qui trình nested-PCR sử dụng các đoạn mồi P1, P2, P3, P4 (Kimura et al.,

1996) để phát hiện WSSV (Bảng 1) Qui trình được thiết kế bao gồm hai bước với thành phần phản ứng của các bước như sau: (i) thành phần phản ứng bước

1 (20 μl): 1X PCR buffer; 1,5 mM MgCl2; 200 μM dNTPs mix, 20 pmol mồi

P1; 20 pmol mồi P2; 1,5 U DNA Taq Polymerase và mẫu ADN chiết tách (1

μl); (ii) thành phần phản ứng bước 2 (20 μl): 1X PCR buffer; 1,0 mM MgCl2;

200 μM dNTPs mix, 20 pmol mồi P3; 20 pmol mồi P4; 1,5 U DNA Taq

Polymerase và sản phẩm PCR bước 1 (1 μl) Điều kiện phản ứng PCR của hai bước được thực hiện ở cùng điều kiện như sau: nhiệt độ 94oC trong 5 phút, tiếp theo 94oC trong 30 giây, 56oC trong 30 giây, 72oC trong 1 phút, chu kỳ này được lặp lại 30 lần, cuối cùng là 72oC trong 5 phút

Bảng 1 Trình tự mồi sử dụng trong phản ứng PCR bước 1 và bước 2

Tên mồi Trình tự mồi sử dụng

P1 5’-ATC-ATG-GCT-GCT-TCA-CAG-AC-3’

P2 5’-CGC-TGG-AGA-GGA-CAA-GAC-AT-3’

P3 5’-TCT-TCA-TCA-GAT-GCT-ACT-GC-3’

P4 5’-TAA-CGC-TAT-CCA-GTA-TCA-CG-3’

Sản phẩm PCR được điện di bằng gel 1% agarose có chứa 0,5 µg/ml ethidium bromide, trong dung dịch 0,5X TAE (Tris-acetate-EDTA) ở 90V và ghi nhận với thiết bị chụp, xử lí ảnh gel (Geldoc XR, Bioad)

Căn cứ vào thang ADN 100 bp plus (Fermentas) hay thang ADN 1 kb plus (Invitrogen) để xác định trọng lượng phân tử của mẫu phân tích Kết quả được ghi nhận: vạch ở vị trí 570 bp là mẫu nhiễm WSSV (sản phẩm PCR bước 2)

2.3 Phương pháp PCR phát hiện WSSV (kit IQ2000-WSSV)

Mẫu tôm sú thu được chiết tách bằng qui trình CTAB-DTAB và khuyếch đại bằng qui trình PCR 2 bước Thao tác ly trích mẫu và khuyếch đại phát hiện WSSV được thực hiện theo qui trình hướng dẫn sử dụng Kit IQ2000-WSSV của công ty Farming Intelligene Technology Corperation, Đài Loan

2.4 Phương pháp mô học

Một số mẫu mô ốc được phân tích bằng phương pháp mô học (Lightner 1996) Mẫu mô ốc còn sống sau khi thu được cố định trong dung dịch Davidson’s AFA, sau 48h giờ được chuyển sang dung dịch cồn 70o Phương pháp thực hiện theo qui trình bao gồm các bước xử lý mẫu, đúc khối, cắt và dán lát cắt vào phiến kính Tiêu bản sau đó được nhuộm với Haematoxylin và Eosin

Trang 5

(H&E), quan sát và đọc mẫu mô dưới kính hiển vi quang học Những tế bào có nhân phì đại bắt màu hồng đỏ đều, có tính kiềm là thể vùi của WSSV

2.5 Phương pháp PCR-genotyping

Qui trình PCR-genotyping khuếch đại vùng lặp lại kép 45 bp và 102 bp thuộc ORF75 được thực hiện với thành phần phản ứng gồm có 1µl ADN mạch khuôn; 1X PCR buffer; 1,5 mM MgCl2; 10 mM dNTP mix; 2,0 U Taq DNA

polymerase (Promega); 20 pmol mồi ORF75 flank-Forward và 20 pmol mồi ORF75 flank-Reverse (Bảng 2)

Bảng 2: Trình tự mồi sử dụng trong các phản ứng PCR-genotyping

Điều kiện phản ứng bao gồm các bước 94oC trong 30 giây, 49oC trong 30 giây,

72oC trong 30 giây Lặp lại 30 chu kì và cuối cùng là kéo dài ở 72oC trong 10 phút

Sản phẩm PCR-genotyping được điện di bằng gel 2% agarose với qui trình được mô tả ở mục 2.2 Kích thước sản phẩm PCR được xác định dựa vào thang ADN 100 bp Plus (Fermentas)

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Xác định sự nhiễm WSSV trong các mẫu thức ăn tươi sống

Bảng 3 Thông tin mẫu thu và kết quả phát hiện WSSV với phương pháp

nested-PCR

Điểm thu

mẫu

Tổng số trại Loại mẫu Số lượng Tỉ lệ (số mẫu nhiễm

WSSV/tổng số mẫu phân tích)

- Mực

- Tôm tít

- Giun nhiều tơ

38

5

3

3

21/38 1/5 3/3 2/3

Thông tin các mẫu thức ăn tươi sống và kết quả phân tích được trình bày ở Bảng 3 Kết quả ghi nhận từ 33 trại sản xuất tôm giống cho thấy các trại sản xuất giống tôm sú ở Bạc Liêu sử dụng nhiều loại thức ăn tươi sống khác nhau

ORF75 flank - Forward GAAGCAGTATCTCTAACAC Dieu et al, 2004

ORF75 flank - Reverse CAACAGGTGCGTAAAAGAAG Dieu et al, 2004

Trang 6

như mực, ốc mượn hồn, tôm tít, giun nhiều tơ… trong khi các trại sản xuất tôm

ở Cà Mau chỉ sử dụng một loại thức ăn tươi sống là ốc mượn hồn

Các mẫu thức ăn tươi sống được thu và chiết tách ADN, khuếch đại PCR để

phát hiện WSSV bằng qui trình nested-PCR (Kimura et al., 1996) Kết quả của

qui trình PCR phát hiện sự tồn tại của WSSV trong các mẫu ốc mượn hồn, mẫu mực, mẫu tôm tít và mẫu giun nhiều tơ

Hình 1 Kết quả điện di sản phẩm PCR phát hiện WSSV trên ốc mượn hồn, mực

và tôm tít

Giếng M - thang DNA 1kb plus

Giếng 1, 2 - DNA chiết tách mẫu ốc mượn hồn dương tính với WSSV Giếng 3 - DNA chiết tách mẫu giun nhiều tơ dương tính với WSSV Giếng 4 - DNA chiết tách mẫu mực dương tính với WSSV

Giếng 5, 6 - DNA chiết tách mẫu tôm tít dương tính với WSSV

Giếng 7: đối chứng dương

Giếng 8: đối chứng âm

Hình 1 cho thấy, WSSV hiện diện trong các mẫu ốc mượn hồn được phát hiện bằng phương pháp PCR Trong đó có cả mẫu thu ở Bạc Liêu (giếng 1) và mẫu thu ở Cà Mau (giếng 2) Những mẫu này xuất hiện đồng thời hai vạch tương ứng 570 bp của WSSV và 240 bp là nội chuẩn của bộ giáp xác mười chân Ngoài ra, hình 1 cho thấy ADN chiết tách từ mẫu giun nhiều tơ (giếng 3), mẫu mực (giếng 4) cũng cho sản phẩm khuếch đại ở vạch 570 bp chứng tỏ WSSV

có hiện diện trong những mẫu này Tương tự, ba mẫu tôm tít thu từ một trại sản xuất giống thuộc khu vực Bạc Liêu đều dương tính với WSSV bằng PCR 2 bước Kết quả ở hình 1 (giếng 5, 6) cho thấy WSSV hiện diện trong các mẫu tôm tít với vạch khuếch đại của WSSV (570 bp) và nội chuẩn (240 bp) Như vậy, WSSV được xác định nhiễm trong các mẫu ốc mượn hồn, giun nhiều tơ, mực và tôm tít Kết quả này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ

(Hossain et al., 2001) Với phương pháp PCR 2 bước, nhóm tác giả này đã công bố sự hiện diện của WSSV ở nhiều loài khác nhau (Metapenaeus

570bp

500bp

1 2 3 4 5 6 7 8 M

570bp

500bp

1 2 3 4 5 6 7 8 M

Trang 7

dobsoni, Parapenaeopsis stylifera, Solenocera indica…) và tôm tít (Squilla mantis)

WSSV cũng được xác định hiện diện ở nhiều loài giáp xác hoang dã khác trong

tự nhiên Lo et al (1996) đã phát hiện WSSV nhiễm trên nhiều loài giáp xác thu từ môi trường tự nhiên như cua (Charybdis feriatus, Portunus pelagicus và

P sanguinolentus) và các nhóm động vật chân đốt (copepods, Helice tridens,

Palaemonidae, Ephydridae) Yan et al., (2004) đã thực hiện thí nghiệm cho

thấy rằng WSSV tồn tại trong luân trùng và có khả năng là phương thức lây lan cho tôm Đây là những nhóm loài hiện diện nhiều trong ao nuôi tôm và được

chứng minh là phương thức lan truyền WSSV trong ao nuôi Otta et al., (1999)

cũng đã dùng kỹ thuật PCR 2 bước phát hiện WSSV trên các loài giáp xác nuôi

và tự nhiên ở Ấn Độ Nghiên cứu này phát hiện WSSV trên nhiều đối tượng

khác nhau (tôm, cua, Artemia…), cả trên đối tượng biểu hiện bệnh và không

biểu hiện bệnh đốm trắng

3.2 Xác định sự nhiễm WSSV trong mẫu thức ăn tươi sống với kít WSSV-IQ2000

Hình 2 Kết quả điện di các mẫu chạy PCR với bộ kit IQ2000

Giếng M - thang DNA 1kb plus

Giếng 1 - ADN chiết tách từ mẫu ốc của Cà Mau

Giếng 2, 4 - ADN chiết tách từ mẫu ốc của Bạc Liêu

Giếng 3 - ADN chiết tách từ mẫu mực của Bạc Liêu

Trang 8

Bộ kít WSSV-IQ2000 là một trong những sản phẩm được tổ chức thú y thế giới (OIE) xác định về độ nhạy và chính xác cho việc phát hiện WSSV trong mẫu động vật thủy sản Do vậy, một số mẫu ADN chiết tách từ mực và ốc mượn hồn được chọn để kiểm tra với bộ kít WSSV-IQ2000 Các mẫu này đều

đã được xác định dương tính với WSSV bằng phương pháp nested-PCR

(Kimura et al., 1996) Kết quả cho thấy các mẫu được kiểm tra đều bị nhiễm

WSSV với cường độ nhẹ (hình 2) Các mẫu hiện vạch tương ứng 296 bp (giếng 1,2,3,4) và xuất hiện cả vạch nội chuẩn tương ứng 848 bp (giếng 2)

Kết quả này góp phần khẳng định sự nhiễm WSSV trong các mẫu được nghiên cứu Tuy sản phẩm PCR khi sử dụng bộ kít WSSV-IQ2000 cho vạch không rõ

như sử dụng phương pháp của Kimura et al., (1996) nhưng qui trình này có thể

đánh giá mức độ nhiễm của mẫu

3.3 Xác định sự nhiễm WSSV trong mẫu thức ăn với phương pháp PCR-genotyping (ORF75)

PCR-genotyping là một trong những phương pháp được sử dụng để phân biệt

các dòng WSSV (Marks et al., 2004, Pradeep et al., 2008) Trong nghiên cứu

này, phương pháp PCR-genotyping (ORF75) được sử dụng để xác định và so sánh ADN-WSSV được chiết tách từ tôm sú và các mẫu thức ăn tươi sống (ốc mượn hồn) Kết quả hình 3 cho thấy ADN-WSSV chiết tách từ mẫu ốc mượn hồn (giếng 1, 2) cho kết quả tương tự với ADN-WSSV chiết tách từ mẫu tôm

sú thịt (giếng 3, 4, 5) với khoảng khuếch đại trong khoảng 500 – 600 bp Kết quả xác định vùng lặp lại của ORF75 với WSSV chiết tách từ tôm sú cũng được ghi nhận trong khoảngkhuếch đại 500-600 bp (Dieu et al., 2004, Pradeep

et al., 2008)

Hình 3 Kết quả điện di sản phẩm PCR-genotyping ORF75

500bp

1000bp

500bp 1000bp

1 2 M 3 4 5 M

500bp

1000bp

500bp

1000bp

500bp

1000bp

500bp 1000bp

1 2 M 3 4 5 M

Trang 9

Giếng M - thang DNA 100 bp plus

Giếng 1, 2 - ADN chiết tách mẫu ốc mượn hồn dương tính với WSSV Giếng 3, 4, 5 - ADN chiết tách mẫu tôm sú dương tính với WSSV

Marks et al., (2004) đã so sánh trình tự gen hoàn chỉnh của 3 dòng WSSV thu

được ở Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc và cho nhận xét về tính tương đồng của ba hệ gen này là khoảng 99,32% Điểm khác biệt được phát hiện bao gồm

5 vị trí khác nhau trong đó có vùng lặp lại thuộc ORF75 được sử dụng trong nghiên cứu này Kết quả ghi nhận được ở hình 3 cho thấy, cấu trúc vùng gen lặp lại của ORF75 là giống nhau giữa ADN-WSSV chiết tách từ tôm sú và ốc mượn hồn Điều đó cho thấy, WSSV hiện diện trong các mẫu thức ăn tươi sống

có cùng kiểu gen với WSSV phân lập từ mẫu tôm sú nuôi

3.4 Xác định sự nhiễm WSSV trong mẫu thức ăn với phương pháp mô học

Kết quả nghiên cứu mô học trên ốc mượn hồn cũng cho dấu hiệu đặc trưng khi nhiễm WSSV Các tế bào của mô liên kết có sự hiện diện của các thể vùi

WSSV với vùng sáng bao quanh (hình 4) Tế bào có nhân phì đại và khoảng

vùng sáng bao quanh, đúng với mô tả về tác động của WSSV trên tế bào vật

chủ (Lo et al., 1997)

Hình 4 Tế bào mô liên kết dạ dày của ốc mượn hồn nhiễm WSSV (mũi tên)

(H&E, 100X)

Theo Lightner (1996), WSSV khi xâm nhập vào cơ thể tôm sẽ tạo các thể vùi trong nhân của tế bào mang, biểu bì ruột, dạ dày, biểu bì dưới vỏ, cơ quan lymphoid, tim, tuyến râu Cơ quan tấn công của WSSV trên ốc mượn hồn được phát hiện trong nghiên cứu này là tế bào liên kết của dạ dày Từ kết quả mô học

có thể kết luận rằng WSSV có khả năng gây ra những biến đổi về mô học ở tế bào liên kết của dạ dày của ốc mượn hồn với những dấu hiệu mô học tương tự trên tôm sú Kết quả này cũng cần được tìm hiểu thêm với số lượng mẫu nhiều hơn

Trang 10

4 KẾT LUẬN

WSSV được phát hiện trong các mẫu thức ăn tươi sống bao gồm ốc mượn hồn, mực, giun nhiều tơ và tôm tít Tỉ lệ nhiễm WSSV trong mẫu thức ăn tươi sống thu từ các trại sản xuất giống tôm sú ở Cà Mau cao hơn ở Bạc Liêu nhưng thành phần thức ăn tươi sống sử dụng ở Bạc Liêu là đa dạng hơn ở Cà Mau Do vậy, cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu phát hiện WSSV các mẫu thức ăn tươi sống dùng trong các trại sản xuất giống để qua đó đề xuất các biện pháp phòng bệnh chophù hợp với từng địa phương

LỜI CẢM TẠ

Tác giả xin chân thành cảm ơn sinh viên Cao Chí Thuận, lớp Bệnh học Thủy sản K31 và học viên Đào Bá Cường cao học K14 đã cùng tham gia quá trình thu và phân tích mẫu nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cai S., Huang, J., Wang, C., Song, X., Sun, X., Yu, J., Zhang, Y and Yang, C.,

1995 Epidemiological studies on the explosive epidemic disease of prawn in 1993–1994 J Fish China, 19: 112-117

Chou, H.Y., Huang, C.Y., Lo, C.F., Kou, G.H., 1998 Studied on transmission of

white spot syndrome associated baculovirus (WSBV) in Penaeus monodon and P japonicus via waterborne contact and oral ingestion Aquaculture, 164

(1-4): 263 - 276

Dieu, B T M., Marks, H., Siebenga, J., Goldbach, R., Zuidema, D., Duong, T P

& Vlak, J M., 2004 Molecular epidemiology of white spot syndrome virus within Vietnam J Gen Virol, 85: 3607-3618

Flegel T.W., 1997 Major viral diseases of the black tiger prawn (Penaeus

monodon) in Thailand World J Microbiol Biotechnol, 13:433-442

Hossain, M.S., Otta, S.K., Karunasagar, I and Karunasagar, I., 2001 Detection of white spot syndrome virus (WSSV) in wild captured shrimp and in non-cultured crustaceans from shrimp ponds/ghers in Bangladesh by polymerase

chain reaction Fish Pathol,.36: 93–95

Kimura T., Yamano K., Nakano H., Momoyama K., Hiraoka M & Inouye K

1996 Detection of penaeid rod-shaped DNA virus (PRDV) by PCR Fish Pathology, 31: 93–98

Lo, C F., Ho, C H., Peng, S E., Chen, C H., Hsu, H E., Chiu, Y L 1996 White spot syndrome baculovirus (WSSV) detected in cultured and captured shrimp, crabs and other arthropods Diseases in Aquatic Organisms, 27: 215 -225

Lo, C.F., Ho, C.H., Chen, C.H., Liu, K.F., Chiu, Y.L., Yeh, P.Y., Peng, S.E., Hsu, H.C., 1997 Detection and tissue tropism of white spot syndrome baculovirus

Ngày đăng: 02/04/2014, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Trình tự mồi sử dụng trong phản ứng PCR bước 1 và bước 2 - BÁO CÁO " PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ " pptx
Bảng 1. Trình tự mồi sử dụng trong phản ứng PCR bước 1 và bước 2 (Trang 4)
Bảng 2: Trình tự mồi sử dụng trong các phản ứng PCR-genotyping - BÁO CÁO " PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ " pptx
Bảng 2 Trình tự mồi sử dụng trong các phản ứng PCR-genotyping (Trang 5)
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR phát hiện WSSV trên ốc mượn hồn, mực - BÁO CÁO " PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ " pptx
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR phát hiện WSSV trên ốc mượn hồn, mực (Trang 6)
Hình 2. Kết quả điện di các mẫu chạy PCR với bộ kit IQ2000 - BÁO CÁO " PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ " pptx
Hình 2. Kết quả điện di các mẫu chạy PCR với bộ kit IQ2000 (Trang 7)
Hình 3. Kết quả điện di sản phẩm PCR-genotyping ORF75 - BÁO CÁO " PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ " pptx
Hình 3. Kết quả điện di sản phẩm PCR-genotyping ORF75 (Trang 8)
Hình 4. Tế bào mô liên kết dạ dày của ốc mượn hồn nhiễm WSSV (mũi tên) - BÁO CÁO " PHÁT HIỆN VI RÚT GÂY BỆNH ĐỐM TRẮNG (White Spot Syndrome Virus) TRONG THỨC ĂN NUÔI VỖ TÔM SÚ BỐ MẸ " pptx
Hình 4. Tế bào mô liên kết dạ dày của ốc mượn hồn nhiễm WSSV (mũi tên) (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm