1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Các mô hình tổ chức và quản lý ngân hàng tại việt nam hiện trạng thời cơ và thách thức

37 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các mô hình tổ chức và quản lý ngân hàng tại Việt Nam hiện trạng thời cơ và thách thức
Tác giả Nhóm 5
Người hướng dẫn Đỗ Hài Linh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị Ngân hàng
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 528,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tổ chức ngân hàng đơn vị (5)
  • 1.2. Tổ chức ngân hàng chi nhánh (7)
  • 1.3. Công ty sở hữu ngân hàng (9)
  • 1.4. Ngân hàng đại lý (10)
  • 1.5. Ngân hàng của các ngân hàng (11)
  • 1.6. Mạng lưới (12)
  • 1.7. Liên doanh (12)
  • 1.8 Tác động của loại mô hình tổ chức và quy mô đối với kết quả hoạt động của ngân hàng (13)
  • 2.1 Mô hình ngân hàng liên doanh (14)
    • 2.1.1 Hiện trạng (14)
    • 2.1.2 Thời cơ (15)
    • 2.1.3 Thách thức (16)
    • 2.1.4 Đề xuất giải pháp (16)
  • 2.2 Mô hình công ty sở hữu ngân hàng (17)
    • 2.2.1 Hiện trạng (17)
    • 2.2.2 Thời cơ (19)
    • 2.2.3 Thách thức (20)
    • 2.2.4 Đề xuất giải pháp (20)
  • 2.3 Mô hình ngân hàng độc lập (21)
  • 2.4 Mô hình tổ chức ngân hàng chi nhánh (21)
    • 2.4.1 Thực trạng (21)
    • 2.4.2. Vai trò của chi nhánh đối với hoạt động kinh doanh của NHTM (23)
  • III. ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP CHI NHÁNH, PHÒNG GIAO DỊCH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM (25)
    • 3.1. Điều kiện thành lập chi nhánh ở trong nước của ngân hàng thương mại (25)
    • 3.2. Điều kiện thành lập chi nhánh ở nước ngoài, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài (26)
    • 3.3. Điều kiện thành lập phòng giao dịch (27)
    • 3.4. Các chiến lược phát triển hệ thống chi nhánh ngân hàng thương mại (28)
      • 3.4.1. Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh tại thị trường sẵn có với các sản phẩm truyền thống (28)
      • 3.4.2. Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống của ngân hàng (29)
      • 3.4.3. Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường sẵn có với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển (29)
      • 3.4.4. Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh, PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển (29)
      • 3.4.5. Mở rộng chi nhánh thông qua hoạt động M&A (30)
    • 3.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch (31)
      • 3.6.1 Các nhân tố chủ quan (31)
      • 3.6.2 Các nhân tố khách quan (35)
  • KẾT LUẬN (37)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC *** BÀI TẬP NHÓM MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI LỚP CH26K GIẢNG VIÊN ĐỖ HOÀI LINH NHÓM 5 Hà Nội, tháng 11 năm 2018 DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1 Phùn[.]

Tổ chức ngân hàng đơn vị

Ngân hàng đơn vị (NHĐV) là một trong những loại hình ngân hàng lâu đời nhất, cung cấp tất cả các dịch vụ tại một văn phòng Tuy nhiên, một số dịch vụ như nhận tiền gửi và thanh toán séc có thể thực hiện qua các thiết bị kỹ thuật đặt tại nhiều địa điểm khác nhau như máy rút tiền tự động hay máy rút tiền tại các cửa hàng bách hóa, được kết nối mạng với hệ thống ngân hàng Mô hình ngân hàng đơn vị hiện nay rất phổ biến trên toàn thế giới vì phù hợp với điều kiện ban đầu hạn chế về vốn và nhân lực của ngân hàng mới thành lập Khi ngân hàng phát triển, mở rộng nguồn lực thì thường chuyển sang mô hình ngân hàng chi nhánh Ngoài ra, chính phủ nhiều nơi hạn chế tổ chức ngân hàng chi nhánh, tạo điều kiện thuận lợi để mô hình NHĐV tiếp tục phát triển.

Mô hình ngân hàng đơn vị Ưu điểm:

Mô hình quản lý nhỏ gọn giúp đảm bảo việc trao đổi thông tin trở nên dễ dàng và nhanh chóng khi có vấn đề phát sinh Nhờ vào cấu trúc linh hoạt này, thông tin từ cấp quản lý đến nhân viên được truyền đạt một cách hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các bộ phận cùng nhau chung tay giải quyết vấn đề nhanh chóng và chính xác.

Khu vực địa lý và tập khách hàng cụ thể giúp doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầu và hành vi của khách hàng, từ đó xây dựng các chính sách chăm sóc, quan tâm và hỗ trợ tốt hơn Điều này nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng và thúc đẩy sự trung thành với thương hiệu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh bền vững.

- Ngân hàng có thể nhận thức rõ được tầm ảnh hưởng của mình đối với cuộc sống tại địa phương mà nó hoạt động…

- Do thường hoạt động trên một khu vực địa lý nhỏ, tập khách hàng giới hạn nên ngân hàng dễ hứng chịu rủi ro khi tình hình kinh tế tại địa phương hoặc khả năng hoạt động, kinh doanh của khách hàng gặp vấn đề;

- Nguồn lực kém khiến ngân hàng hạn chế trọng việc cung cấp một cách đầy đủ các loại hình dịch vụ cho khách hàng của mình;

Một ngân hàng được cấp phép hoạt động

Một văn phòng cung cấp đầy đủ dịch vụ

Máy rút tiền tự động

Máy thanh toán tại nơi bán hàng Điểm phục vụ tại xe

Những địa điểm mà NHĐV phát triển mạnh thường có mức độ rủi ro thấp, mang lại sự ổn định cho hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, điều này đồng nghĩa với ít cơ hội để các ngân hàng tiến bộ nhanh chóng và thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ ngân hàng mới Vì vậy, các ngân hàng cần cân bằng giữa an toàn và khả năng đổi mới để duy trì sự cạnh tranh trên thị trường.

- Những nơi phát triển hình thức NHĐV sẽ hạn chế tính cạnh tranh, khiến các NH có thể tạo thế độc quyền, từ đó nâng giá dịch vụ…

Tổ chức ngân hàng chi nhánh

Trong nhiều khu vực theo quy định pháp luật, ngân hàng có thể thành lập chi nhánh nhằm phục vụ các khu vực phát triển nhanh và đáp ứng nhu cầu khách hàng di chuyển đến các vùng mới hoặc cạnh tranh từ các ngân hàng có vị trí thuận lợi hơn Các dịch vụ ngân hàng toàn diện thường được cung cấp tại trụ sở chính và các chi nhánh, trong khi các dịch vụ hạn chế có thể được thực hiện qua hệ thống điểm phục vụ như máy rút tiền tự động, chi nhánh nhỏ và các máy thanh toán tại trung tâm thương mại Việc mở rộng mạng lưới chi nhánh giúp ngân hàng nâng cao khả năng phục vụ khách hàng, đảm bảo sự tiện lợi và linh hoạt trong dịch vụ ngân hàng.

Trong quản lý chi nhánh ngân hàng, công việc quản lý trọng yếu thường do trụ sở chính chỉ đạo, nhưng mỗi chi nhánh vẫn có nhóm quản lý riêng với quyền hạn quyết định đối với các đơn vay của khách hàng và các hoạt động hàng ngày Các hoạt động ngân hàng tại chi nhánh bao gồm cả những nhiệm vụ tập trung cao, đồng thời tồn tại các hoạt động phi tập trung để phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng chi nhánh Sự phối hợp giữa quản lý tập trung và phi tập trung giúp duy trì hoạt động hiệu quả và linh hoạt của ngân hàng tại cấp chi nhánh.

Lý do mô hình ngân hàng chi nhánh đang ngày càng phát triển và trở nên phổ biến tại nhiều nơi trên thế giới là vì sự di chuyển của dân cư đặc biệt là từ các thành phố đến các vùng ngoại ô, khu vực mới phát triển Điều này bắt buộc các NH lớn ở trung tâm hoặc là đi theo, hoặc là mất các khách hàng này Kết quả là số lượng các chi nhánh ngày càng mở rộng Sự đổ vỡ cũng đóng một phần nguyên nhân khi các ngân hàng yếu kém bị các NH lớn thôn tính và trở thành một chi nhánh của nó Ngoài ra nhu cầu tính dụng của khách hàng ngày càng tăng đòi hỏi phải có những ngân hàng lớn, được đa dạng hóa, những ngân hàng có thể vươn tới nhiều thị trường thu hút những khoản tiền gửi nhỏ và tập trung chúng lại thành những món cho vay lớn.

Mô hình ngân hàng chi nhánh Ưu điểm:

Mô hình ngân hàng lớn với nguồn lực mạnh mẽ và đội ngũ quản lý, nhân viên có trình độ cao giúp nâng cao hiệu quả hoạt động Nhờ đó, các dịch vụ ngân hàng trở nên dễ dàng và tiện lợi hơn cho khách hàng, bởi các chi nhánh ngân hàng có khả năng cung cấp đầy đủ tất cả các dịch vụ ngay tại mỗi điểm giao dịch.

- Thúc đẩy phát triển kinh tế bởi chúng thưởng có khả năng cho vay nhiều hơn;

- Giảm khả năng bị phát sản, chịu rủi ro ít hơn do đa dạng hóa thị trường hoạt động, đa dạng hóa đối tượng khách hàng; Điểm phục vụ tại xe Máy rút tiền tự động/POS

Máy rút tiền tự động/POS

Các chi nhánh cung cấp đầy đủ dịch vụ Trụ sở chính

Các chi nhánh cung cấp đầy đủ dịch vụ

Ngân hàng được cấp phép hoạt động

- Thúc đẩy việc sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm của xã hội một các có hiệu quả bởi NH chi nhánh thu hút vốn và điều tiết, chuyển nó đến những đối tượng có nhu cầu và có khả năng sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất.

- Trái ngược với ưu điểm thứ 4 nói trên, nhiều người cho rằng, việc các NH chi nhánh tập trung vốn cho các đối tượng có khả năng sử dụng hiệu quả nhất dẫn đến việc khó tiếp cận nguồn vốn vay đối với các đối tượng còn lại trong đó có khách hàng địa phương.

Công ty sở hữu ngân hàng

Công ty sở hữu ngân hàng là một loại công ty được thành lập nhằm nắm giữ cổ phiếu của ít nhất một ngân hàng, nhằm thực hiện các mục đích chiến lược và tài chính Nhiều công ty này chỉ sở hữu phần cổ phần tối thiểu mang tính chất đại diện trong tổng số cổ phiếu của một hoặc nhiều ngân hàng để tuân thủ các quy định pháp luật của chính phủ Việc nắm giữ cổ phần hạn chế giúp các công ty này tránh các hạn chế pháp lý và duy trì hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực ngân hàng.

Lý do loại hình này phát triển là vì:

- Khả năng tiếp cận dễ dàng tới thị trường vốn nhằm mở rộng nguồn vốn huy động;

- Khả năng sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn so với các ngân hàng độc lập;

- Lợi thế về thuế khi thua lỗ của một đơn vị thành viên có thể được sử dụng để làm giảm thu nhập chịu thuế của toàn hệ thống;

- Khả năng mở rộng sang các bang hoặc các quốc gia khác.

Có hai loại hình công ty sở hữu ngân hàng:

Công ty sở hữu ngân hàng thường có thêm các công ty con cung cấp dịch vụ phi ngân hàng để đa dạng hóa hoạt động kinh doanh Việc này giúp công ty mở rộng nguồn thu và giảm thiểu rủi ro tài chính Hình thức này không chỉ tăng tính linh hoạt mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của tập đoàn.

- Công ty sở hữu nhiều ngân hàng: đây là hình thức phổ biến tại những nơi mà chính phú hạn chế hoạt động của mô hình ngân hàng chi nhánh, việc đồng sở hữu nhiều ngân hàng giúp chủ sở hữu đa dạng hóa về vị trí địa lý tốt hơn.

Mô hình công ty sở hữu ngân hàng Ưu điểm:

- Đa dạng hóa địa lý;

- Đa dạng hóa loại hình sản phẩm;

- Khả năng hạn chế tác động của thuế đối với thu nhập;

- Khả năng sử dụng đòn bẩy nợ hai chiều;

- Tạo năng lực mới cho công ty.

- Tương tự như ngân hàng chi nhánh;

- Mô hình quản lý nhiều cấp dẫn đến một số vấn đề phát sinh mất nhiều thời gian để giải quyết do cần thông qua nhiều cấp.

Ngân hàng đại lý

Ngân hàng đại lý hay ngân hàng liên lạc (correspondent bank) đóng vai trò là đối tác đại lý cho ngân hàng khác tại địa phương mà ngân hàng đó không có văn phòng hoặc không thể thực hiện một số nghiệp vụ nhất định Ngân hàng đại lý có thể thực hiện các nghiệp vụ như thanh toán séc, hối phiếu phát hành vào ngân hàng khách hàng, hoặc nhận tiền thanh toán từ ngân hàng đó, giúp mở rộng dịch vụ tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng Các lợi ích của ngân hàng đại lý bao gồm tăng cường khả năng phục vụ khách hàng, giảm thiểu thời gian và chi phí chuyển tiền quốc tế, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch xuyên quốc gia.

Ngân hàng thành viên 1 Ngân hàng thành viên 2

Các công ty phi ngân hàng thành viên

Thuận lợi cho ngân hàng nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng lớn hơn Việc này giúp ngân hàng nhỏ mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao năng lực tài chính Đồng thời, hệ thống này còn giúp san sẻ rủi ro tiềm ẩn trong các khoản cho vay lớn, mang lại sự an toàn và ổn định cho tất cả các ngân hàng tham gia Nhờ đó, ngân hàng nhỏ có thể phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh hiện nay.

- Thực hiện trao đổi tiền gửi để phục vụ hoạt động bù trừ và thanh toán séc khá dễ dàng.

- Mô hình này hiện tại ít được áp dụng do các ngân hàng nhỏ đã sáp nhập hoặc bán mình cho các ngân hàng lớn

- Ít còn phù hợp trong thời buổi cạnh tranh vì hoạt động của ngân hàng đại lý hiện nay có thể áp dụng luôn trong nội bộ 1 hệ thống của các ngân hàng lớn

Ngân hàng của các ngân hàng

Các ngân hàng chung tay thành lập công ty nhằm cung cấp các dịch vụ đặc biệt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành ngân hàng Hoạt động này giúp phân phối các dịch vụ tài chính một cách hiệu quả hơn, giảm thiểu chi phí so với việc mỗi ngân hàng tự thực hiện riêng lẻ Việc hợp tác này không chỉ tối ưu hóa nguồn lực mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường tài chính.

Các chức năng (giống với Ngân hàng đại lý):

- Cho các ngân hàng đang thiếu tiền mặt vay;

- Bù trừ séc và đầu tư chứng khoán cho các ngân hàng thành viên của hệ thống

- Trợ giúp đắc lực cho các ngân hàng thành viên của hệ thống trong việc mở rộng thị trường Ưu điểm

- Tiết kiệm chi phí phân phối đối với 1 số dịch vụ tài chính mà nếu thực hiện độc lập thì rất tốn kém

- Giống với ưu điểm của ngân hàng đại lý

Không phải tuân theo các quy định về dự trữ bắt buộc, đồng thời yêu cầu về vốn thường thấp hơn so với các yêu cầu áp dụng cho ngân hàng, giúp các tổ chức tài chính này linh hoạt hơn trong hoạt động.

- Quản lý hệ thống khá là phức tạp;

- Chính sách mà ngân hàng của các ngân hàng đưa ra không hợp lý có thể ảnh hưởng xấu tới toàn bộ hệ thống ngân hàng đó

Mạng lưới

Các ngân hàng được phép chia sẻ thông tin và phối hợp phục vụ lẫn nhau, nhằm tối ưu hoá hoạt động lưu thông vốn và thông tin tài chính Họ cùng sử dụng cơ sở vật chất và nguồn lực để nâng cao hiệu quả trong quản lý vốn và dữ liệu tài chính Việc hợp tác này giúp tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu rủi ro và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.

Mạng lưới ngân hàng bao gồm các cây rút tiền tự động (ATM) cho phép khách hàng rút tiền ở nhiều địa điểm khác nhau với mức phí linh hoạt dựa trên biểu phí của từng ngân hàng Ngoài ra, hệ thống máy POS tại các điểm bán hàng giúp khách hàng thanh toán bằng thẻ nợ một cách tiện lợi, bằng cách quẹt thẻ để xác nhận giao dịch, từ đó tài khoản của khách sẽ bị trừ tiền trong khi tài khoản của người bán được cộng có Các mạng lưới này mang lại nhiều ưu điểm về sự tiện lợi, linh hoạt và mở rộng khả năng thanh toán cho người dùng.

- Rất thuận tiện vì mạng lưới phát triển rộng khắp, đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng

- Giảm chi phí thanh toán do loại bỏ được thủ tục hành chính

- Độ chính xác cao và tốc độ nhanh

- Phụ thuộc phần lớn vào tốc độ truyền mạng internet

- Chi phí đầu tư ban đầu khá lớn, khả năng hoàn vốn cao, và gần như phí dịch vụ thu về không bù đắp được chi phí lắp đặt ban đầu

Liên doanh

Một số ngân hàng đã thành lập các chi nhánh chung với các công ty sản xuất, công ty bảo hiểm và công ty chứng khoán nhằm thúc đẩy hợp tác kinh doanh và mở rộng kênh phân phối sản phẩm Việc hợp tác này giúp các ngân hàng và đối tác tận dụng lợi thế của nhau, nâng cao hiệu quả bán hàng và đa dạng hóa dịch vụ khách hàng Các hoạt động hợp tác chéo này không chỉ tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho các bên liên quan.

Ngân hàng có thể thành lập chi nhánh chung với các công ty sản xuất ô tô để cho thuê xe, hợp tác với các công ty bảo hiểm để bán bảo hiểm nhân thọ, và liên kết với công ty chứng khoán để phân phối cổ phiếu, mang lại nhiều lợi ích về mặt đa dạng dịch vụ và tăng doanh thu Đây là một chiến lược hiệu quả giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường, tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại.

- Tăng nguồn thu cho ngân hàng từ việc linh hoạt trong các cách thức bán sản phẩm ở nhiều lĩnh vực khác nhau

- Liên doanh giúp san sẻ rủi ro, đặc biệt trong cung cấp các dịch vụ mới

- Giúp làm giảm chi phí giao dịch

- Phát sinh những tranh chấp giữa các đối tác liên quan trong việc ăn chia phí dịch vụ, phạm vi kinh doanh.

- Cần có bộ phận thẩm định tốt để tránh rủi ro nợ xấu nếu đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm.

Tác động của loại mô hình tổ chức và quy mô đối với kết quả hoạt động của ngân hàng

1 Khả năng sinh lời của một ngân hàng hầu như không bị quyết định bởi việc nó được tổ chức như thế nào, chất lượng quản lý và các điều kiện kinh tế tại thị trường nơi ngân hàng hoạt động có vai trò quan trọng hơn rất nhiều đối với sự thành công của ngân hàng;

Các ngân hàng nhỏ, bất kể mô hình tổ chức nào, hoàn toàn có khả năng cạnh tranh thành công với các ngân hàng lớn nếu chủ động tìm kiếm các phương thức hiệu quả để duy trì lợi nhuận và mở rộng thị phần Việc linh hoạt trong chiến lược kinh doanh và tận dụng các cơ hội thị trường sẽ giúp các ngân hàng nhỏ nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường tài chính.

Ngân hàng chi nhánh và ngân hàng thành viên của các công ty sở hữu ngân hàng thường có khả năng ổn định cao hơn so với các ngân hàng nhỏ độc lập Họ cũng có xu hướng cung cấp đa dạng dịch vụ tiện ích hơn, giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng và tăng cường sức mạnh tài chính của hệ thống ngân hàng.

Giá cả dịch vụ và suất lãi suất không bị ảnh hưởng bởi cách tổ chức của ngân hàng, mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh trên thị trường, tình hình lạm phát và cầu về dịch vụ ngân hàng Các yếu tố này quyết định mức giá và lãi suất phù hợp, đồng thời phản ánh mức độ cạnh tranh và nhu cầu thực tế của khách hàng trong ngành ngân hàng.

Trong những tháng gần đây, xu hướng thâu tóm và sáp nhập ngân hàng đang tăng cao, dẫn đến sự giảm mạnh số lượng các ngân hàng theo mô hình đơn vị Đồng thời, các ngân hàng có quy mô trung bình ngày càng mở rộng nhanh chóng, phản ánh xu hướng tập trung và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính Việt Nam.

II CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM: HIỆN TRẠNG, THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC

Dưới đây là các mô hình tiêu biểu của ngành ngân hàng tại Việt Nam hiện nay, bao gồm ngân hàng liên doanh, công ty sở hữu ngân hàng, và mô hình ngân hàng chi nhánh Các hình thức này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời giúp mở rộng dịch vụ ngân hàng đa dạng và phù hợp với nhu cầu thị trường Việc hiểu rõ các mô hình ngân hàng này là bước quan trọng để khách hàng và nhà đầu tư nắm bắt cơ hội và đưa ra quyết định phù hợp trong lĩnh vực tài chính.

Mô hình ngân hàng liên doanh

Hiện trạng

Tính đến ngày 30/6/2018, theo Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam có tổng cộng 35 ngân hàng thương mại, gồm 4 ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và 31 ngân hàng cổ phần.

Hiện tại, Việt Nam chưa có văn bản pháp luật riêng quy định về hoạt động của ngân hàng đầu tư và ngân hàng đa năng Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại vẫn thực hiện nhiều dịch vụ liên quan như tư vấn ngân hàng, tài chính, tư vấn doanh nghiệp, mua bán trái phiếu, lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận Đây chính là những nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư, buộc các ngân hàng thương mại phải thành lập công ty con hoặc công ty liên kết để kinh doanh các hoạt động như bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư, mua bán cổ phiếu, cho thuê tài chính, bảo hiểm, quản lý tài sản đảm bảo, kiều hối, ngoại hối và vàng.

Theo Tạ Hoàng Hà (2014), mô hình ngân hàng thương mại ở Việt Nam là mô hình “Ngân hàng thương mại đa năng hạn chế” Nghĩa là các ngân hàng thương mại được thực hiện các hoạt động ngân hàng truyền thống như: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán) và tùy theo mức độ rủi ro thị trường của từng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, các ngân hàng thương mại được phép trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua công ty con, công ty liên kết) thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư.

Việt Nam có mô hình tập đoàn đa năng sở hữu các công ty hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thương mại, chứng khoán, bất động sản và sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, mô hình này gặp nhiều hạn chế do môi trường quản lý chưa minh bạch và kiểm soát lỏng lẻo Các ngân hàng thương mại như Đại Dương (Ocean Bank) và NHTM Xây Dựng (VNCB) hiện nay là các công ty con trong các tập đoàn đã quốc hữu hóa và chuyển đổi thành doanh nghiệp không còn chức năng ngân hàng thương mại.

Nếu căn cứ theo phân loại của Trần Thanh Bình, Vũ Chí Dương (2013):

Ngân hàng đa năng tại Việt Nam là các ngân hàng có từ 2 công ty con hoặc công ty liên kết hoạt động ngoài nghiệp vụ ngân hàng, mở rộng hoạt động kinh doanh đa dạng để tăng trưởng thực lực Tính đến cuối năm 2015, Việt Nam có tổng cộng 17 ngân hàng đa năng, chiếm phần lớn trong tổng số 32 ngân hàng thương mại được khảo sát, cho thấy xu hướng phát triển của các ngân hàng đa năng trong thị trường tài chính Việt Nam.

Thời cơ

Việc phát triển mô hình ngân hàng đa năng là điều kiện thiết yếu để thúc đẩy công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, nhờ đó đảm bảo nguồn vốn trong nước được khai thác tối đa và quản lý hiệu quả vốn vay từ nước ngoài Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động ngân hàng không chỉ dừng lại ở cho vay và vay vốn mà còn bao gồm nhiều dịch vụ tài chính đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Hệ thống ngân hàng đa năng mạnh mẽ sẽ đảm bảo cung ứng kịp thời vốn phục vụ quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, đồng thời nâng cao uy tín tài chính của Việt Nam trên thị trường quốc tế Ngân hàng đa năng với lợi thế liên kết chéo, khả năng huy động vốn, uy tín cao và mạng lưới hợp tác rộng giúp hỗ trợ hiệu quả hoạt động của các công ty con, công ty liên kết, góp phần thúc đẩy phát triển kinh doanh và tăng cường vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Các ngân hàng Việt Nam đang đối mặt với những rủi ro lớn từ thị trường tài chính – kinh tế toàn cầu, do đó, yêu cầu về an toàn và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh trở nên cấp thiết Phát triển các chiến lược bù trừ rủi ro dựa trên nguyên tắc “không để tất cả trứng trong một giỏ” giúp hạn chế thiệt hại khi gặp biến động bất lợi Trong bối cảnh đó, việc xây dựng mô hình ngân hàng đa năng được xem là một giải pháp hợp lý và tất yếu để tăng cường khả năng chống chịu và mở rộng hoạt động hiệu quả.

Thứ ba, trong tiến trình hội nhập, đặc biệt là việc gia nhập AFTA và việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ sẽ mở ra cho các ngân hàng Việt Nam nhiều cơ hội kinh doanh nhưng cũng lắm thách thức cạnh tranh Các ngân hàng Việt Nam cần phải nhanh chóng nắm bắt các cơ hội kinh doanh trước khi nó rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài Việc đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh thông qua tiến trình thành lập mô hình ngân hàng đa năng dường như là một hướng đi hợp lý nhất.

Thách thức

Tuy nhiên, các ngân hàng Việt Nam hiện nay khi muốn phát triển theo mô hình ngân hàng đa năng cũng gặp phải không ít những trở ngại lớn Trong đó phải kể đến một thực tế là các ngân hàng Việt Nam quy mô còn quá nhỏ bé so với các ngân hàng nước ngoài Điều này khiến việc dàn trải nguồn lực để thực hiện đa dạng hoá kinh doanh sẽ là một điều rất mạo hiểm Như vậy thì các chiến lược như liên doanh, liên kết, tham gia các bên liên trong nước và quốc tế là hết sức cần thiết

Đề xuất giải pháp

Phát triển ngân hàng đa năng là xu thế phát triển tất yếu của hệ thống các ngân hàng, do vậy Ngân hàng Nhà nước cần định hướng các ngân hàng thương mại hoạt động tốt, phát triển thành các tập đoàn tài chính đa năng hùng mạnh như ở các nước trên thế giới Các ngân hàng hoạt động kém, hoặc có nguy cơ thua lỗ nên được tái cơ cấu, sáp nhập với các ngân hàng lớn hơn để tăng quy mô, tạo ra các thể chế tài chính đủ mạnh để nâng cao sức cạnh tranh trong AEC. Mặc khác, khi nền kinh tế vĩ mô suy giảm, lợi nhuận ngân hàng hoạt động đa năng theo đó cũng bị suy giảm Nghĩa là mô hình ngân hàng đa năng không phòng ngừa được rủi ro khi môi trường bên ngoài xấu đi Về lâu dài, Chính phủ cần xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh riêng hoạt động ngân hàng đầu tư, tách bạch quản lý và giám sát hoạt động huy động vốn và hoạt động đầu tư Phát triển đa năng cũng đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải đảm bảo các chỉ tiêu về an toàn hoạt động.

Gần đây trên thị trường tài chính xảy ra nhiều vụ bê bối Điều này chứng tỏ rằng hệ thống giám sát tài chính còn lỏng lẻo Các cơ quan giám sát riêng lẻ, các trung gian tài chính không còn phù hợp với mô hình ngân hàng đa năng hoạt động trên nhiều lĩnh vực tài chính Châu Âu đang chia hệ thống giám sát làm 2 cấp độ Cấp độ thứ nhất, là cấp vi mô thực hiện giám sát các định chế tài chính trên cơ sở từng cá nhân Cấp độ thứ hai, là cấp vĩ mô thực hiện ổn định hệ thống tài chính giảm thiểu các rủi ro tài chính dựa trên các chỉ số kinh tế.

Để nâng cao hiệu quả, cần tiến hành cải cách mạnh mẽ tổ chức và cơ cấu của hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng Việt Nam theo mô hình giám sát tổng hợp phù hợp với các ngân hàng đa năng Điều này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng, phù hợp với các mục tiêu và giải pháp đã đề ra trong Thông báo Kết luận số 191 – TB/TW của Bộ Chính trị về phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2010 và hướng đến năm 2020.

Và để có được một hệ thống ngân hàng đa năng phát triển bền vững, tác động tích cực đến nền kinh tế thì Việt Nam phải xây dựng được hệ thống pháp luật vững chắc, thể chế hỗ trợ thị trường vững mạnh và có một hệ thống giám sát chặt chẽ tất cả mọi hoạt động trên thị trường tài chính.

Mô hình công ty sở hữu ngân hàng

Hiện trạng

Trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng, nhiều Ngân hàng TMCP đang có kế hoạch chuyển đổi thành tập đoàn tài chính, bên cạnh việc cổ phần hóa các Ngân hàng Nhà nước như Ngân hàng Ngoại thương Các đặc điểm của tập đoàn TC-NH được thể hiện qua quy mô vốn lớn, phạm vi hoạt động đa dạng, khả năng chi phối thị trường, cũng như xu hướng mở rộng các hoạt động chức năng như bảo hiểm, chứng khoán và môi giới kinh doanh.

Các tập đoàn kinh tế thường được thành lập theo mô hình công ty mẹ – công ty con, trong đó công ty mẹ chính là tập đoàn và các công ty con là các công ty trực thuộc hoặc công ty cổ phần do tập đoàn đầu tư hoặc góp vốn Tuy nhiên, mô hình này chỉ duy trì mối quan hệ sở hữu vốn góp mà chưa xác định rõ quyền hạn, nghĩa vụ cũng như mối quan hệ chức năng giữa công ty mẹ và các công ty con Thực chất, mô hình tập đoàn kinh tế chưa thực sự tồn tại, nó chỉ là nhóm công ty được tổ chức theo mô hình công ty mẹ – công ty con mang tên gọi “tập đoàn kinh tế” Hiện tại, Luật Doanh nghiệp chưa có quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của tập đoàn công ty, mà giao cho Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí, tổ chức và hoạt động của mô hình này, tuy nhiên, Nghị định về tập đoàn công ty vẫn chưa được ban hành.

Hiện nay, mô hình quản trị điều hành tại các NHTMNN về thực chất là mô hình của DNNN (tổng công ty nhà nước) Mô hình này đã bộc lộ không ít khuyết điểm, do vậy việc chuyển sang mô hình ngân hàng cổ phần là cần thiết. Các NHTMNN đều được tổ chức thành 2 cấp: trụ sở chính và chi nhánh Tại hội sở chính, mô hình kết cấu chung bao gồm: Hội đồng quản trị, ban giám đốc điều hành, các phòng ban chức năng Tuy nhiên, hội đồng quản trị chưa thực sự đóng vai trò là cơ quan quản lý cao nhất của NHTM, chưa tập trung được thông tin về hoạt động của ngân hàng Chức năng, quyền hạn của hội đồng quản trị chưa được xác định rõ ràng, thiếu sự gắn kết thường xuyên giữa hội đồng quản trị và ban giám đốc điều hành

Xuất phát từ thực trạng hiện nay, việc xác định và lựa chọn mô hình tập đoàn TC-NH từ các Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là cần thiết để đảm bảo phát triển bền vững Việc này cần dựa trên các nguyên tắc rõ ràng nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn Chọn lựa mô hình phù hợp không chỉ giúp các NHTMNN tối ưu hóa nguồn lực mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Kế thừa và phát huy những ưu điểm củ-a mô hình tổ chức hiện hành; Không dập khuôn máy móc mô hình của ngân hàng nước ngoài- Không gây xáo trộn lớn đến hoạt động kinh doanh; Tập trung các chức năng quản lý cần thiết và chủ yếu tại ngân hàng gốc của tập đoàn; Bộ máy gọn nhẹ, không trùng lắp hay chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; Phù hợp với luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế

Theo nguyên tắc trên, tập đoàn TC-NH hình thành từ NHTMNN theo mô hình hỗn hợp giữa cấu trúc holding với cấu trúc nhất thể (tập trung quyền lực), hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con, vừa tập trung vừa phân quyền nhưng hướng tới hiệu quả tổng thể của tập đoàn Cụ thể là: Tập đoàn TC-NH là tổ hợp ngân hàng mẹ và các công ty con; Ngân hàng mẹ có tư cách pháp nhân, kế thừa quyền và nghĩa vụ hợp pháp của NHTMNN trước khi chuyển đổi Bộ máy quản lý của ngân hàng mẹ chính là bộ máy quản lý của tập đoàn Tập đoàn sử dụng bộ máy điều phối của ngân hàng mẹ làm cơ quan giúp việc quản lý điều hành và tư vấn chuyên môn Cấu trúc của ngân hàng mẹ gồm: Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý tập đoàn; tổng giám đốc thực hiện chức năng điều hành tập đoàn; ban kiểm soát thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của tập đoàn; văn phòng tập đoàn và các ban chức năng là bộ phận tham mưu giúp việc cho ban lãnh đạo tập đoàn; Các công ty con độc lập trực tiếp kinh doanh dịch vụ tài chính phi ngân hàng.

Thời cơ

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng, việc phát triển các tập đoàn kinh tế hiệu quả là yếu tố then chốt để nâng cao sức cạnh tranh và bảo vệ doanh nghiệp trước các rủi ro tiềm ẩn.

Tổ chức theo mô hình tập đoàn sẽ giúp các doanh nghiệp khai thác tốt hơn các lợi ích kinh tế về quy mô và phạm vi nhờ kết hợp kinh doanh nhiều loại sản phẩm.

Mở rộng quy mô kinh doanh giúp giảm các loại chi phí cố định và tối ưu hóa chi phí bằng cách giảm các khoản chi phí hoạt động không cần thiết Quá trình sáp nhập doanh nghiệp giúp loại bỏ các hoạt động điều hành trùng lặp và nhân viên dư thừa, từ đó nâng cao hiệu quả vận hành và giảm thiểu chi phí vận hành chung.

Thách thức

Mô hình này được đánh giá là ít rủi ro hơn so với mô hình đầu tiên nhờ sự phân định rõ ràng giữa các hoạt động ngân hàng, chứng khoán, và bảo hiểm Tuy nhiên, do ngân hàng mẹ vẫn có tác động và can thiệp hành chính tới các công ty con, nên vẫn tồn tại nguy cơ rủi ro liên quan đến rủi ro dây chuyền Hiện tại, tập đoàn tài chính OCBC đến từ Singapore hoạt động theo hình thức này, mang lại sự ổn định hơn cho toàn bộ hệ thống.

Việt Nam hiện chưa có Luật Tập đoàn riêng biệt, thay vào đó chỉ có Luật Doanh nghiệp Trong đó, khái niệm về tập đoàn được đề cập một cách sơ lược là “nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác,” phản ánh thực trạng pháp lý hiện tại của quốc gia trong lĩnh vực này.

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty gồm công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên khác hoạt động với quyền và nghĩa vụ độc lập theo quy định của pháp luật Trong lĩnh vực ngân hàng, các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Tổ chức tín dụng (2010), tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và sự phát triển bền vững của các tập đoàn trong ngành tài chính ngân hàng tại Việt Nam.

Có lẽ đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và chi tiết hơn để điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn tài chính ngân hàng Việc này giúp đảm bảo an toàn tài chính, nâng cao tính minh bạch và tăng cường sự kiểm soát của Nhà nước đối với các tập đoàn tài chính lớn Một khung pháp lý chặt chẽ sẽ thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của ngành ngân hàng và tài chính, đồng thời bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và toàn bộ nền kinh tế.

Đề xuất giải pháp

Để chuyển đổi các Ngân hàng TMNN thành tập đoàn TC-NH hiệu quả, cần xây dựng một khung pháp lý vĩ mô hoàn chỉnh, phù hợp với quy luật của thị trường, đặc biệt là thay đổi cấu trúc sở hữu theo hướng tư nhân hóa nhằm tạo nền tảng cho cơ chế quản trị minh bạch và hiệu quả Đổi mới hệ thống thanh tra, giám sát với việc hình thành bộ máy thanh tra giám sát hợp nhất, thay thế các đơn vị chuyên ngành hiện tại để đảm bảo bao quát toàn diện các đối tượng cần kiểm tra và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính Các biện pháp này giúp thúc đẩy phát triển bền vững, giảm thiểu rủi ro trong ngành ngân hàng Việt Nam.

Việc xây dựng các tập đoàn tài chính đòi hỏi đổi mới phương pháp và nâng cao năng lực quản lý, lãnh đạo do quy mô và độ phức tạp của tập đoàn lớn hơn nhiều so với một ngân hàng thương mại đơn thuần Kết quả hoạt động của các công ty con sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của toàn tập đoàn Vì vậy, bên cạnh việc tổ chức doanh nghiệp theo mô hình tập đoàn, việc chuẩn bị cán bộ có năng lực phù hợp vào các vị trí lãnh đạo là vô cùng quan trọng để đảm bảo sự thành công bền vững.

Mô hình ngân hàng độc lập

Ngân hàng cổ phần thường hoạt động dựa trên các nghiệp vụ ngân hàng thuần túy, không thuộc tập đoàn hay tổ chức nào khác, cũng như không sở hữu các công ty liên kết Những ngân hàng này có thể chỉ có một hội sở hoặc mở rộng ra nhiều chi nhánh để phục vụ khách hàng Thông thường, ngân hàng cổ phần tại Việt Nam là những ngân hàng nhỏ, trong đó một số mô hình tổ chức độc lập nổi bật như Ngân hàng An Bình, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Việt Á, và Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội.

Mô hình tổ chức ngân hàng chi nhánh

Thực trạng

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đều tổ chức theo mô hình quản trị gồm trụ sở chính quản lý sở giao dịch, chi nhánh, và công ty trực thuộc Các sở giao dịch và chi nhánh cấp 1 chịu trách nhiệm quản lý các điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm, cũng như các chi nhánh cấp 2 (nếu có) Trong đó, chi nhánh cấp 2 có nhiệm vụ quản lý các phòng giao dịch (PGD) và quỹ tiết kiệm của mình, đảm bảo hoạt động liên tục và hiệu quả trên toàn hệ thống ngân hàng.

Về mô hình tổ chức, các NHTM đang tổ chức theo 2 dạng:

+ Phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ.

Phân cấp quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ, còn gọi là quản lý theo nhóm khách hàng, giúp tổ chức phù hợp với đặc thù từng loại hình khách hàng Đối với mô hình này, Hội sở chính giao nhiều quyền năng cho chi nhánh nhưng mức độ can thiệp của Hội sở vẫn hạn chế, khiến hoạt động kinh doanh tại các chi nhánh diễn ra phân tán và chưa tập trung cao Do đó, tổ chức hoạt động tại cả Hội sở và chi nhánh thường rất đơn giản, với cơ chế thành lập các phòng, ban như phòng tín dụng, phòng dịch vụ khách hàng và các bộ phận hỗ trợ, tổng hợp nhằm phù hợp với đặc thù hoạt động của từng địa phương.

Mô hình tổ chức ngân hàng phù hợp với quy mô nhỏ, hoạt động tập trung quyền lực cao, nhưng khi ngân hàng mở rộng, số lượng chi nhánh tăng và công việc trở nên phức tạp hơn, mô hình này gặp hạn chế trong tổ chức và bố trí phòng nghiệp vụ Các ngân hàng hiện nay cần chuyển sang quản lý theo thị trường và đối tượng phục vụ để nâng cao hiệu quả hoạt động Áp lực cạnh tranh và yêu cầu chuẩn hoá tổ chức theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả đang là xu hướng chung trong ngành ngân hàng Trong những năm gần đây, mô hình ngân hàng hiện đại theo phân cấp quản lý theo nhóm khách hàng đã được áp dụng thành công tại một số ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ khách hàng.

Trong mô hình kinh doanh này, hội sở sẽ đóng vai trò chủ động, chủ đạo trong các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng Hội sở sẽ đặt trọng tâm vào việc phân loại khách hàng theo từng đối tượng và nghiệp vụ xử lý sản phẩm Theo đó Ngân hàng phân chia khách hàng thành 2 đối tượng là khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân Với mỗi nhóm nghiệp vụ kinh doanh chủ đạo sẽ thành lập nên một khối nghiệp vụ kinh doanh và giao toàn quyền kinh doanh cho khối nghiệp vụ đưuợc thành lập Khối đó là một tổng thể trải dài trên toàn hệ thống, từ hội sở đến các chi nhánh và đơn vị kinh doanh Việc phân loại này nhằm mục đích quản lý tập trung về việc nghiên cứu, phát triển các tiềm năng khách hàng, sản phẩm, quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận Bên cạnh đó là khối quản lý rủi ro như rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường; rủi ro tín dụng; rủi ro hoạt động; và rủi ro kinh doanh và quản lý các tài sản đặc biệt Hệ thống chi nhánh được tổ chức với lý thuyết chỉ là nơi bán hàng Điều này có nghĩa là tại chi nhánh sẽ có sự hình thành các bộ phận nghiệp vụ theo trục dọc phân loại nhóm đối tượng khách hàng Các bộ phận này chịu sự chỉ đạo, lệ thuộc hoàn toàn vào khối nghiệp vụ tại hội sở Lãnh đạo chi nhánh cũng được phân theo khối nhằm mục đích báo cáo trực tiếp với giám đốc khối nghiệp vụ về kết quả hoạt động.

Vai trò của chi nhánh đối với hoạt động kinh doanh của NHTM

- Sử dụng hiệu quả nguồn vốn điều lệ và tăng cường năng lực tài chính.

- Củng cố và gia tăng thị phần đồng thời phát triển thương hiệu:

Sự hiện diện của một ngân hàng trên nhiều địa phương giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận sản phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao nhận thức về thương hiệu và mở rộng thị trường nhanh chóng Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp ngày càng tăng cao Các tiện ích của các sản phẩm tài chính ngân hàng đã không còn giới hạn ở khu vực thành thị mà đã lan tỏa đến các vùng nông thôn và khu kinh tế mới, thúc đẩy sự phổ cập dịch vụ tài chính Đồng thời, trong môi trường kinh tế toàn cầu mở cửa, cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, đòi hỏi các ngân hàng phải mở rộng mạng lưới hoạt động để tận dụng lợi thế, thu hút khách hàng mới và chiếm lĩnh thị phần một cách hiệu quả.

Hệ thống chi nhánh đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách và triển khai chiến lược kinh doanh của ngân hàng Đây là đơn vị trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh doanh chủ yếu, mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng thương mại Việc phát triển mạng lưới chi nhánh giúp ngân hàng mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Do đó, hệ thống chi nhánh đóng vai trò then chốt trong thành công và tăng trưởng của ngân hàng.

Các chi nhánh của Ngân hàng thương mại là nơi diễn ra hoạt động kinh doanh chính, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng Thông qua mạng lưới chi nhánh rộng lớn, ngân hàng triển khai các sản phẩm dịch vụ phù hợp với chiến lược phát triển theo từng giai đoạn, đồng thời đẩy mạnh hoạt động giao dịch thanh toán Ngoài ra, các chi nhánh đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn và cho vay, hai hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Mạng lưới chi nhánh còn là trung tâm thực hiện các hoạt động tác nghiệp và giao dịch, đồng thời hỗ trợ mở rộng thị phần nhờ chiến lược phát triển kênh phân phối bán lẻ, góp phần gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng thương mại.

+ Thúc đẩy quá trình đa dạng hóa và hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng tạo nên các sản phẩm và phong cách kinh doanh đặc trưng từng ngân hàng.

Việc mở rộng mạng lưới giao dịch đến nhiều khu vực giúp khách hàng tiếp cận đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đồng thời kích thích sự sử dụng các sản phẩm tài chính trong cộng đồng Quá trình tiếp cận khách hàng và thực hiện giao dịch giúp các chi nhánh hiểu rõ hơn về nhu cầu và xu hướng tiêu dùng dịch vụ, từ đó hoàn thiện và phát triển các sản phẩm ngân hàng hiện đại, tiện ích hơn Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã thúc đẩy các ngân hàng nghiên cứu và giới thiệu các sản phẩm đặc trưng, nhằm tạo sự khác biệt và nâng cao lợi thế cạnh tranh.

ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP CHI NHÁNH, PHÒNG GIAO DỊCH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Điều kiện thành lập chi nhánh ở trong nước của ngân hàng thương mại

Dựa trên Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 09 tháng 09 năm 2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại, để thành lập chi nhánh trong nước, ngân hàng thương mại phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 6 của thông tư Các điều kiện chính cần lưu ý bao gồm việc đảm bảo các tiêu chí về vốn điều lệ, năng lực tài chính, uy tín và khả năng hoạt động của ngân hàng Việc tuân thủ những điều kiện này là bắt buộc nhằm đảm bảo hoạt động của các chi nhánh phù hợp với quy định pháp luật và nâng cao tính minh bạch, ổn định của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

1 Đối với ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên (tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị): a) Có giá trị thực của vốn điều lệ tại thời điểm 31 tháng 12 của năm trước liền kề năm đề nghị không thấp hơn mức vốn pháp định; b) Hoạt động kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng lẻ được kiểm toán của năm trước liền kề năm đề nghị; c) Tuân thủ các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng quy định tại các Điều 126, 127, 128, 129; khoản 1 Điều 130 và Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng và các hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước đối với các quy định này liên tục trong thời gian 12 tháng trước tháng đề nghị; d) Thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tại thời điểm 31 tháng 12 của năm trước liền kề năm đề nghị không vượt quá 3% hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ; đ) Tại thời điểm đề nghị, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát có số lượng và cơ cấu theo đúng quy định của pháp luật, không bị khuyếtTổng giám đốc; e) Tại thời điểm đề nghị, ngân hàng thương mại có bộ phận kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ bảo đảm tuân thủ Điều 40, Điều 41 Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định có liên quan của pháp luật hiện hành; g) Không thuộc đối tượng phải thực hiện biện pháp không được mở rộng mạng lưới theo quy định của pháp luật về xử lý sau thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài; h) Đáp ứng điều kiện về số lượng chi nhánh được phép thành lập theo quy định tại Điều 7 Thông tư này; i) Có đầy đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại Thông tư này.

2 Đối với ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động dưới 12 tháng (tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị): a) Có giá trị thực của vốn điều lệ tại thời điểm đề nghị không thấp hơn mức vốn pháp định; b) Hoạt động kinh doanh có lãi đến thời điểm đề nghị; c) Tuân thủ các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng quy định tại các Điều 126, 127, 128, 129; khoản 1 Điều 130 và Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng và các hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước đối với các quy định này liên tục từ ngày bắt đầu khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị; d) Thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tại thời điểm đề nghị không vượt quá 3% hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ;

Điều kiện thành lập chi nhánh ở nước ngoài, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài

ở nước ngoài Để được thành lập chi nhánh ở nước ngoài, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài, ngân hàng thương mại phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

1 Các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT- NHNN ngày 09 tháng 09 năm 2013 của NHNN (trừ các điểm b, h khoản 1 Điều 6).

2 Có thời gian hoạt động tối thiểu là ba (03) năm tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị.

3 Có tổng tài sản Có đạt 100.000 tỷ Đồng Việt Nam trở lên theo báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán tại thời điểm 31 tháng 12 của năm trước liền kề năm đề nghị.

4 Hoạt động kinh doanh có lãi theo các báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng lẻ được kiểm toán trong ba (03) năm trước liền kề năm đề nghị.

Điều kiện thành lập phòng giao dịch

Để được thành lập phòng giao dịch, ngân hàng thương mại phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

1 Đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 của Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 09 tháng 09 năm 2013 của NHNN

2 Chi nhánh dự kiến quản lý phòng giao dịch phải đáp ứng các điều kiện: a) Có thời gian hoạt động tối thiểu 12 tháng tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị; b) Có tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tại thời điểm 31 tháng 12 năm trước liền kề năm đề nghị không vượt quá 3% hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ; c) Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng bằng hình thức phạt tiền trong thời hạn 12 tháng trở về trước tính từ thời điểm đề nghị.

3 Đáp ứng điều kiện về số lượng phòng giao dịch được thành lập theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 09 tháng 09 năm 2013 của NHNN

Các chiến lược phát triển hệ thống chi nhánh ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại đều có chiến lược riêng để phát triển hệ thống chi nhánh của mình, nhằm mở rộng thị trường mục tiêu phù hợp Tuy nhiên, các chiến lược này có thể được phân thành bốn nhóm chính dựa trên hai yếu tố cốt lõi: một là ngân hàng sẽ tập trung phát triển trên thị trường nào, hai là loại sản phẩm tài chính mà họ cung ứng cho khách hàng Việc xác định thị trường mục tiêu và dòng sản phẩm phù hợp đóng vai trò quan trọng trong chiến lược mở rộng hệ thống chi nhánh, giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và cạnh tranh trên thị trường tài chính.

Thị trường sẵn có Sản phẩm truyền thống Thị trường mới Sản phẩm mới

3.4.1 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh tại thị trường sẵn có với các sản phẩm truyền thống

Chiến lược phát triển này thường được áp dụng tại các trung tâm kinh tế lớn và thị trường lớn, tập trung vào việc cung cấp các sản phẩm truyền thống của ngân hàng Các ngân hàng có quy mô lớn và tiềm lực tài chính mạnh thường lựa chọn chiến lược này nhằm củng cố vị thế trên thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh.

+ Số lượng khách hàng ổn định

+ Áp lực cạnh tranh gay gắt do thị trường cũ nên có nhiều ngân hàng đối thủ cạnh tranh

+ Sản phẩm không có đổi mới nên dễ mất lợi thế cạnh tranh

3.4.2 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống của ngân hàng

Chiến lược phát triển này thường được thực hiện tại các khu vực khó khăn, xa các trung tâm kinh tế lớn và thị trường lớn, nhằm mở rộng hoạt động ngân hàng đến những địa phương chưa phát triển đầy đủ Ưu điểm của chiến lược này là giúp ngân hàng tiếp cận các khách hàng tiềm năng ở vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương Ngoài ra, chiến lược này tập trung vào cung cấp các sản phẩm truyền thống của ngân hàng, đảm bảo sự ổn định và an toàn trong hoạt động kinh doanh Việc tập trung vào lĩnh vực này giúp ngân hàng duy trì được nguồn thu ổn định và xây dựng thương hiệu vững mạnh tại các khu vực đặc thù.

+ Mạng lưới trải rộng trên nhiều vùng miền địa lý

+ Khai thác đƣợc lượng khách hàng mới có tiềm năng

+ Dễ gặp rủi ro do chưa thông thạo thị trường

+ Sản phẩm vẫn không có gì đổi mới nên có thể chưa gây sự chú ý và nổi bật so với các đối thủ khác.

3.4.3 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh PGD tại các thị trường sẵn có với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển. Ưu điểm:

+ Số lượng khách hàng ổn định

+ Các sản phẩm mới độc đáo phù hợp với từng thị trường có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh

+ Thị trường cũ nên số lượng khách hàng bão hòa không tạo đột phá

3.4.4 Phát triển hệ thống mạng lưới chi nhánh, PGD tại các thị trường mới với các sản phẩm truyền thống kết hợp với các sản phẩm mới hiện đại, độc đáo phù hợp với từng thị trường phát triển Ưu điểm:

+ Mạng lưới trải rộng trên nhiều vùng miền địa lý.

+ Khai thác được lượng khách hàng mới có tiềm năng

+ Sản phẩm độc đáo tạo sự khác biệt nên có khả năng thành công lớn với nhiều bước đột phá.

+ Dễ gặp rủi ro thất bại do chưa thông thạo thị trường

+ Sản phẩm mới cũng tiền ẩn rủi ro không được thị trường tiếp nhận hoăc tiếp nhận một cách chậm chạp.

3.4.5 Mở rộng chi nhánh thông qua hoạt động M&A:

Hoạt động M&A đã thúc đẩy ngành dịch vụ ngân hàng phát triển theo hướng loại bỏ các ngân hàng yếu kém và chỉ giữ lại các ngân hàng mạnh có quy mô tài sản ngày càng lớn Quá trình mua bán và sáp nhập đã ảnh hưởng đến nhiều yếu tố cơ bản của hoạt động ngân hàng, như quy mô hoạt động, cơ cấu tạo thu nhập, chiến lược phát triển về lãnh thổ, công nghệ và lĩnh vực chuyên môn Đây là đặc điểm tiêu biểu của thời kỳ ngân hàng hiện đại, diễn ra rộng khắp các quốc gia, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu cũng như các quốc gia mới nổi và đang phát triển.

Mặc dù số lượng các ngân hàng mẹ giảm nhẹ, mạng lưới chi nhánh ngân hàng tại nhiều quốc gia vẫn được duy trì hoặc mở rộng Việc sáp nhập và mua lại các tổ chức tín dụng là giải pháp hiệu quả để nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng nhỏ, yếu kém, từ đó tăng vốn tự có phù hợp với tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel II Đây cũng là cách để các ngân hàng nội địa nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đối phó với sức mạnh của các ngân hàng nước ngoài.

Merger Ngân hàng + Ngân hàng  Ngân hàng

Acquisition Ngân hàng + Ngân hàng  Ngân hàng

Trong bối cảnh hệ thống các Tổ chức Tín dụng Ngân hàng (TCTD) tại Việt Nam hiện nay có số lượng tương đối nhiều nhưng trình độ phát triển không đồng đều, quy mô hoạt động nhỏ và chưa thật sự hiệu quả, việc mua lại và sáp nhập các ngân hàng yếu kém trở thành xu hướng tất yếu nhằm giảm số lượng TCTD không hiệu quả, khắc phục tình trạng thiếu thanh khoản và thúc đẩy sự lành mạnh hóa, ổn định của hệ thống ngân hàng Ưu điểm nổi bật của hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng là tạo cơ hội mở rộng mạng lưới chi nhánh ra các vùng địa lý mới dựa trên các mạng lưới chi nhánh và cơ sở vật chất hiện có, giúp giảm thiểu chi phí đầu tư và tăng khả năng chiếm lĩnh thị phần.

Nhược điểm của quá trình mua bán và sáp nhập chính là chất lượng cơ cấu tài sản của đối tác ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị sau khi thực hiện cơ cấu Việc này đòi hỏi doanh nghiệp cần xem xét kỹ lưỡng để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo sự ổn định lâu dài Chọn đối tác phù hợp và phân tích kỹ lưỡng các yếu tố tài chính giúp tối ưu hóa lợi ích từ các hoạt động mua bán và sáp nhập.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch

3.6.1 Các nhân tố chủ quan

- Quy mô và năng lực tài chính:

Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại thể hiện rõ qua khả năng mở rộng vốn chủ sở hữu, điều này phản ánh sức mạnh tài chính của ngân hàng và ảnh hưởng đến quy mô hoạt động như huy động vốn, cho vay, đầu tư tài chính và công nghệ Khả năng mở rộng mạng lưới chi nhánh đòi hỏi khoản chi phí đáng kể cho mặt bằng và thiết bị, trong khi khả năng sinh lời thể hiện hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Ngoài ra, năng lực phòng ngừa và chống đỡ rủi ro đóng vai trò quan trọng; nếu nợ xấu tăng, yêu cầu dự phòng rủi ro cũng tăng để bù đắp tổn thất, còn nếu không đủ sẽ làm giảm khả năng tài chính của ngân hàng trong việc xử lý các rủi ro phát sinh.

Các điểm giao dịch mới trong những năm đầu hoạt động chưa thể mang lại lợi nhuận sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động chung của hệ thống ngân hàng Quy mô lớn của ngân hàng cùng mạng lưới khách hàng sẵn có tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các chi nhánh mới, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán và tiền gửi Tiến trình mở rộng chi nhánh còn phụ thuộc vào quy định mới của NHNN, trong đó vốn điều lệ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định số lượng chi nhánh được phép mở mới.

Quy mô và năng lực tài chính đóng vai trò then chốt trong việc phát triển và duy trì hoạt động của mạng lưới chi nhánh/PGD (Phòng Giao Dịch) Đầu tư vào quy mô lớn giúp mở rộng mạng lưới, tăng khả năng tiếp cận khách hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh Đồng thời, năng lực tài chính vững mạnh đảm bảo sự ổn định và khả năng ứng phó với các rủi ro trong hoạt động ngân hàng Do đó, việc tập trung vào phát triển quy mô và củng cố năng lực tài chính là yếu tố then chốt để đảm bảo sự thành công bền vững của mạng lưới chi nhánh/PGD.

- Năng lực quản lý và khả năng kinh doanh:

Trình độ quản lý và khả năng điều hành hoạt động kinh doanh là những vấn đề mà ngân hàng thương mại cần tính đến khi mở rộng mạng lưới để có thể giảm bớt rủi ro thất thoát, kinh doanh kém hiệu quả Năng lực quản trị điều hành trước hết là phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại.

Trong điều kiện hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện nay diễn ra gay gắt, việc mở rộng mạng lưới cần đi kèm hệ thống quy trình và quy chế quản lý rủi ro chặt chẽ để đảm bảo chất lượng tín dụng và quản trị tác nghiệp Các ngân hàng thương mại đang trong quá trình cơ cấu lại toàn diện, tập trung vào tăng cường năng lực thể chế, tài chính và đổi mới cơ chế quản lý tổ chức từ trung ương đến chi nhánh Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý và kinh doanh phù hợp với thông lệ quốc tế là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả hoạt động Đồng thời, việc phân rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng quản trị và ban điều hành giúp xác định rõ trách nhiệm, tăng tính minh bạch và khả năng kiểm soát trong quản trị ngân hàng.

Bộ phận giúp việc Hội đồng quản trị ít nhất gồm có Ban Kiểm soát/Kiểm toán,

Hội đồng/Ủy ban quản lý rủi ro Mở rộng quan hệ đại lý, hợp tác kinh doanh, phát triển sản phẩm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ với các tổ chức tài chính nước ngoài Xúc tiến hiện diện thương mại của các NHTM Việt Nam tại các thị trường tài chính khu vực và quốc tế.

Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng chủ yếu hoạt động dựa trên việc tiếp nhận và xử lý thông tin, do đó việc ứng dụng công nghệ thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển bền vững và hiệu quả của từng ngân hàng nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng nói chung Công nghệ thông tin giúp giảm thiểu giấy tờ hành chính, tối ưu hóa cách phân bổ nhân lực bằng cách giảm bớt bộ phận nghiệp vụ và tăng cường nhân lực cho các dịch vụ chăm sóc khách hàng Điều này không chỉ thúc đẩy sự đổi mới trong phương thức kinh doanh mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.

Ngân hàng luôn đòi hỏi công nghệ hiện đại để đảm bảo an toàn và bảo mật cao trong các hoạt động Việc mở rộng mạng lưới mà không đầu tư vào công nghệ tiên tiến có thể gây ra rủi ro trong quản lý và quá trình thực hiện nghiệp vụ Điều này không chỉ làm tăng nguy cơ mất an toàn thông tin mà còn dẫn đến chi phí nguồn nhân lực cao hơn để xử lý các vấn đề phát sinh.

Công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị hệ thống ngân hàng hiện đại Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện qua khả năng liên kết mạnh mẽ giữa các ngân hàng, giúp thúc đẩy sự hợp tác và tối ưu hoá quy trình làm việc Ngoài ra, tính độc đáo về công nghệ cũng là yếu tố quan trọng, tạo ra lợi thế cạnh tranh và khả năng thích nghi với các xu hướng mới trong ngành ngân hàng.

Ngân hàng là tổ chức đặc thù của nền kinh tế thị trường, với hiệu quả kinh doanh và phát triển phụ thuộc lớn vào quy mô, chiều sâu hoạt động và nguồn lực Trong giai đoạn khởi nghiệp, vốn vật chất và công nghệ quyết định năng lực cạnh tranh, nhưng hiện nay, khi trình độ công nghệ và quy mô vốn của các ngân hàng đều tương tự, chất lượng nguồn nhân lực đã trở thành yếu tố then chốt để thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngân hàng hiệu quả.

Nhân lực đóng vai trò chính trong việc tạo ra nguồn vốn và vận hành công nghệ ngân hàng, đòi hỏi cả trình độ chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp cao Hiệu quả của các chính sách ngân hàng phần lớn phụ thuộc vào con người làm việc trong ngành này Hệ thống ngân hàng hoạt động như một dây chuyền truyền tải chính sách tiền tệ đến thị trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Thực tiễn nhiều quốc gia cho thấy nếu sự phát triển của hệ thống ngân hàng được hỗ trợ bởi sự phát triển tương xứng của nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tạo nên sự bền vững cho Ngân hàng.

Việc bùng nổ mạng lưới ngân hàng thương mại trong những năm 2006 -

2008 đã khiến nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính ngân hàng mà đặc biệt là nhân lực cấp cao lâm vào tình trạng thiếu hụt tạm thời.

- Chiến lược phát triển mạng lưới của mỗi ngân hàng:

Mỗi ngân hàng cần xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới phù hợp với điều kiện nội bộ và bên ngoài, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các chi nhánh Việc xác định vị trí hiện tại trong hệ thống ngân hàng, nhận diện điểm mạnh điểm yếu cũng như tận dụng cơ hội và đối mặt với thách thức giúp xây dựng chiến lược phù hợp với biến động thị trường tài chính Ngân hàng phải dự đoán các thay đổi môi trường để điều chỉnh chiến lược phát triển mạng lưới phù hợp theo từng giai đoạn Tùy theo chiến lược kinh doanh và tình hình thực tế tại từng địa bàn, ngân hàng cần lập kế hoạch, cân đối nguồn vốn và đề ra mục tiêu cho từng chi nhánh Trong bối cảnh thị trường tài chính biến động lớn hoặc có sự thay đổi chính sách của Nhà nước, ngân hàng mẹ linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu và chiến lược hoạt động của các chi nhánh để phù hợp, đồng thời các kế hoạch mở rộng mạng lưới cũng được điều chỉnh phù hợp với thực tế.

3.6.2 Các nhân tố khách quan

- Môi trường chính trị - pháp luật (Các quy định của pháp luật):

Mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật, bao gồm luật các tổ chức tín dụng và các văn bản pháp lý liên quan của Nhà nước Trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại thường được tổ chức theo mô hình tổng công ty, yêu cầu các chi nhánh không chỉ tuân thủ pháp luật chung mà còn phải thực hiện các quy định đặc thù do ngân hàng ban hành theo từng thời kỳ Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, một lĩnh vực có rủi ro rất lớn, do đó, việc tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo hoạt động an toàn và hiệu quả.

Ngành ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững khi xây dựng được lòng tin của công chúng Để đạt được điều này, cần có môi trường chính trị ổn định và hành lang pháp lý chặt chẽ, hợp lý, nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng được bảo vệ tối đa Chính sách và quy định rõ ràng sẽ tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động ngân hàng phát triển an toàn và hiệu quả.

Ngày đăng: 05/03/2023, 21:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w