TÀI CHÍNH QUỐC TẾ BÀI TẬP NHÓM CHỦ ĐỀ 5 Nợ nước ngoài, quản lí nợ nước ngoài và khủng hoảng nợ nước ngoài, phân tích thực trạng ở Việt Nam (2011 2016) và nguy cơ của các cuộc khủng hoảng Nghiên cứu bà[.]
Trang 1TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
CHỦ ĐỀ 5: Nợ nước ngoài, quản lí nợ nước ngoài và khủng hoảng nợ
nước ngoài, phân tích thực trạng ở Việt Nam (2011-2016) và nguy cơ của các cuộc khủng hoảng Nghiên cứu bài học khủng hoảng nợ của các nước Mexico, Brazil, Hy Lạp,
Trang 2MỤC LỤC
I CƠ SỞ LÝ LUẬN: 3
1.1 Khái niệm nợ nước ngoài 4
1.2 Phân loại nợ nước ngoài 4
1.2.1 Phân loại theo chủ thể đi vay 4
1.2.2 Phân loại theo thời hạn vay 5
1.2.3 Phân loại theo loại hình vay 5
1.2.4 Phân loại nợ theo chủ thể cho vay 6
1.3 Vai trò của nợ nước ngoài 6
1.3.1 Đáp ứng các nhu cầu về vốn đầu tư 6
1.3.2 Góp phần chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản lý 7
1.3.3 Ổn định tiêu dùng trong nước 7
1.3.4 Bù đắp cán thanh toán cân 7
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài 7
1.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài 7
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài 8
1.5 Tổng quan về quản lí nợ nước ngoài 8
1.5.1 Khái niệm quản lí nợ nước ngoài 8
1.5.2 Sự cần thiết của công tác quản lý nợ nước ngoài 9
1.5.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý nợ nước ngoài 9
1.5.4 Mục tiêu quản lí nợ nước ngoài 10
1.6 Khủng hoảng nợ nước ngoài: 11
1.6.1 Khái niệm khủng hoảng nợ nước ngoài: 11
1.6.2 Khi nào một quốc gia bị khủng hoảng nợ nước ngoài? 12
1.6.3 Các phương pháp đánh giá nợ nước ngoài 12
II THỰC TRẠNG NỢ VÀ QUẢN LÍ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM – BÀI HỌC KHỦNG HOẢNG NỢ CÁC NƯỚC 14
2.1 Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam: 14
2.1.1 Các phương thức vay nợ chủ yếu ở việt nam 14
2.1.2 Diễn biến tình hình nợ công 14
2.2 Cơ cấu nợ công của Việt Nam 15
2.2.1 Cơ cấu theo loại tiền: 15
Trang 32.2.2 Cơ cấu theo chủ thể vay: 15
2.2.3 Cơ cấu theo nguồn gốc vay nợ: 17
2.2.4 Về cơ cấu kỳ hạn: 18
2.2.5 Về cơ cấu lãi suất huy động: 19
2.2.6 Về nghĩa vụ trả nợ: 19
2.3 Tình hình quản lý nợ nước ngoài tại Việt Nam 20
2.4 Nguy cơ khủng hoảng: 22
2.5 Nghiên cứu bài học khủng hoảng nợ của các nước: 24
2.5.1 Khủng hoảng nợ khu vực Mỹ Latinh những năm 1980 24
2.5.2 Khủng hoảng nợ công châu Âu 26
2.5.3 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 28
III GIẢI PHÁP: 31
3.1 Các giải pháp đảm bảo khả năng tiếp nhận nợ vay nước ngoài 31
3.1.1 Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững 31
3.1.2 Lựa chọn danh mục vay nợ hợp lý 31
3.1.3 Gia tăng dự trữ ngoại hối 31
3.2 Các giải pháp làm giảm chi phí vay nợ 32
3.2.1 Chính sách tỷ giá hối đoái 32
3.2.2 Ổn định lạm phát 32
3.2.3 Gia tăng hệ số tín nhiệm quốc gia 33
3.3 Các biện pháp sử dụng vốn vay hiệu quả 33
3.3.1 Kiểm soát nợ nước ngoài 34
3.3.2 Các biện pháp nhằm sử dụng nợ nước ngoài có hiệu quả 36
3.4 Các biện pháp hỗ trợ 37
3.4.1 Ổn định môi trường thể chế 37
3.4.2 Cải thiện môi trường đầu tư 38
3.4.3 Phát triển nội lực nền kinh tế 39
3.4.4 Xây dựng môi trường tài chính hiệu quả 39
I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Trang 4I.1 Khái niệm nợ nước ngoài
Theo khoản 8 điều 2 Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm
2005 của Chính phủ về việc Ban hành quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài thì: “
Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành(không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại một thời điểm củacác khoản vay nước ngoài tại Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợnước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cảcác pháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài và không bao gồm nợ của các thểnhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình)
Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng tái thiết quốc tế(BIS), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa nợ nướcngoài một cách bao quát hơn như sau:
“Tổng vay nợ nước ngoài là khối lượng nghĩa vụ nợ vào một thời điểm nào đó đã được giải ngân và chưa hoàn trả, được ghi nhận bằng hợp đồng giữa người cư trú
về việc hoàn trả các khoản gốc cùng với lãi hoặc không lãi, hoặc về việc hoàn trảcác khoản lãi cùng với gốc hoặc không cùng với các khoản gốc”
I.2
Phân loại nợ nước ngoài
Việc phân loại nợ nước ngoài có một vai trò quan trọng trong việc công tác theodõi, đánh giá và quản lý nợ có hiệu quả
I.2.1
Phân loại theo chủ thể đi vay
Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnhNợ công được định nghĩa là các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và nợ của khuvực tư nhân được khu vực công bảo lãnh
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh được xác định là cáccông nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theo hợp đồngbởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế với bên nợ đó
Nợ tư nhân Trang 5Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được khu vực côngcủa nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng Về bản chất đây là các khoản nợ do khu vực
tư nhân tự vay, tự trả
I.2.2
Phân loại theo thời hạn vay
Nợ ngắn hạnNợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống Vì thời gian đáohạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối tượngquản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả được sẽgây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng Đặc biệt khi tỷ trọng nợ ngắn hạn trong tổng nợ
có xu hướng tăng phải hết sức thận trọng vì luồng vốn rút ra đột ngột có thể gây bất ổncho nền tài chính quốc gia
Nợ dài hạnNợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã giahạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản thanhtoán cuối cùng Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả năng tácđộng lớn đến nền tài chính quốc gia
I.2.3
Phân loại theo loại hình vay
Vay hỗ trợ phát triển chính thức ODATheo định nghĩa của OECD, hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các chuyển khoảnsong phương (giữa các Chính phủ) hoặc đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho Chínhphủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trị chuyển khoản là cho không
Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãisuất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thứcthấp hơn nhiều so với vay thương mại Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài(có thể từ 10, 15 hay 20 năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các nước đang phát triểnthường hướng tới và tận dụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dựng và phát triểnđất nước
Trang 6Tuy nhiên, vay hỗ trợ phát triển chính thức cũng có những mặt trái của nó Tính ưuđãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức rất rõ rệt, bên cạnh đó, việc vay nợ hỗ trợ pháttriển chính thức đôi khi kèm theo những điều kiện ràng buộc khiến cái giá phải trả tănglên đáng kể.
Vay thương mạiKhác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không có ưu đãi cả về lãisuất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính quốc tế vàthường thay đổi theo lãi suất thị trường Chính vì vậy, vay thương mại thường có giá khácao và chứa đựng nhiều rủi ro Việc vay thương mại của Chính phủ phải được cân nhắchết sức thận trọng và chi quyết định vay khi không còn cách nào khác
I.2.4
Phân loại nợ theo chủ thể cho vay
I.3
Vai trò của nợ nước ngoài
Nguồn vốn vay từ nước ngoài chiếm vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xãhội của mỗi quốc gia, vai trò của nó được thể hiện qua các đặc điểm như sau:
I.3.1
Đáp ứng các nhu cầu về vốn đầu tư
Vốn vay nước ngoài đóng vai trò là một nguồn bổ sung cho nguồn vốn phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển luôn trong tìnhtrạng thiếu vốn Với việc đi vay nợ nước ngoài, quốc gia đó có cơ hội đầu tư phát triển ởmức cao hơn
Trang 7I.3.2
Góp phần chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản lý
Thông qua việc vay vốn nước ngoài, mỗi quốc gia sẽ góp phần bổ sung thêm nguồnvốn về nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại cùng kỹ thuật tiên tiến từ nước ngoài
I.3.3
Ổn định tiêu dùng trong nước
Khi xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính hoặc thiên tai bất ngờ làm ảnh hưởng đếnnền sản xuất, kinh tế của mỗi quốc gia thì bên cạnh các khoản viện trợ quốc tế thì vay nợnước ngoài đóng vai trò là biện pháp góp phần ổn định tiêu dùng trong nước ngắn hạn,giúp nền kinh tế phục hồi
I.3.4
Bù đắp cán thanh toán cân
Việc quản lí nợ nước ngoài trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động như hiệnnay là một vấn đề cần được quan tâm đặc biệt quan tâm Việc quản lí không chỉ dừng lại
ở việc sử dụng, giám sát các yếu tố nợ nước ngoài sao cho hợp lý mà còn phải đảm bảotính ổn định của yếu tố nợ nước ngoài
I.4
Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
Dựa trên quan trọng của vấn đề nợ nước ngoài trong việc xây dựng chính sách pháttriển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, hệ thống đánh giá các chỉ số nợ nước ngoài đãđược đưa ra nhằm xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với nền an ninhtài chính quốc gia
I.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài
Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài:
Chỉ tiêu này được xác định bằng tỉ lệ Tổng nợ/ Tổng kim ngạch xuất khẩu hànghóa, dịch vụ; nhằm phản nguồn thu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ mà một quốc gia cóthể sử dụng để trả nợ nước ngoài Tuy nhiên việc sử dụng chỉ tiêu này gặp một số khókhăn: nguồn thu xuất khẩu là một nhân tố biến động qua các năm và một quốc gia có thể
sử dụng nhiều biện pháp khác ngoài nguồn thu xuất khẩu để trả nợ nước ngoài
Trang 8 Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia (Nợ/GNI)
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng trả nợ thông qua tổng thu nhập quốc dân, phản ánhkhả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài của một quốc gia Tuy nhiên, các nước đnag pháttriển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỉ giá làm giảm tìnhtrạng trầm trọng nợ khiến cho việc sử dụng chỉ tiêu này không đánh giá đúng mức tìnhtrạng nợ
Tỉ lệ trả nợ (Tổng nợ phải trả hàng năm/ Kim ngạch thu xuất khẩu)
Tiêu chí này phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩuhàng hóa và dịch vụ của quốc gia đi vay
Tỉ lệ trả lãi (Tổng lãi phải trả hàng năm/ Kim ngạch thu xuất khẩu)
Đây là chỉ tiêu hay được dùng nhất để đánh giá nợ vì không đề cập đến gánh nặng
nợ mà còn chỉ ra chi phí vay nợ, điều này có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay cócao hơn chi phí lãi vay hay không
I.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài
Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việc vay nợ.Thông thường rủi ro sẽ cao khi tỉ trọng nợ ngắn hạn, tỉ lệ nợ thương mại và tỉ lệ nợ songphương cao Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu gồm:
Nợ ngắn hạn/ Tổng nợ:
Phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trong khoảng thời gian nhỏ hơnmột năm trong tổng nợ Tỷ lệ này càng cao, áp lực trả nợ càng lớn
Nợ đa phương/ Tổng nợ:
Các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích hỗ trợ, ít mưu cầu về lợi nhuận
Do đó, việc tăng cường nợ đa phương trong tổng nợ phản ánh tình hình nợ nước ngoàicủa một nước thay đổi theo chiều hướng tốt
1.5 Tổng quan về quản lí nợ nước ngoài
1.5.1Khái niệm quản lí nợ nước ngoài
Trang 9Có thể hiểu, quản lí nợ nước ngoài là việc khống chế mức gia tăng nợ trong mối quan hệ với năng lực tăng trưởng GDP và tăng trưởng xuất khẩu của đất nước Hoặc hiểu theo nghĩa rộng hơn,quản lí nợ nước ngoài là việc điều hành kinh tế vĩ mô với công cụ chủ yếu là tiền tệ sao cho vốn nước ngoài được sử dụng một cách có hiệu quả nhất và không gia tăng đến mức vượt quá khả năng thanh toán đúng hạn.
1.5.2Sự cần thiết của công tác quản lý nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài, trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đóng vai trò tạo sức đột phá cho bước nhảy vọt cũng như tạo cơ sở vững chắc cho việc đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững Tuy nhiên, ngoài những ảnh hưởngtích cực đối với nền kinh tế, thì nợ nước ngoài cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến nềnkinh tế như: nợ nước ngoài thường kèm theo những điều kiện, ràng buộc mang tính chính trị và nó là gánh nặng cho người dân trong tương lai Tuy vậy, nhưng những ảnh hưởng tiêu cực của nợ nước ngoài tới sự phát triển kinh tế không phải do chính bản thân nó gây
ra, mà đó chính là hậu quả của việc quản lý và sử dụng các món nợ đó như thế nào, hay nói cách khác chính là do chưa có một chiến lược vay nợ đúng đắn, cơ chế quản lý còn lỏng lẻo, kém hiệu quả Cho nên, cần thiết đối với tất cả quốc gia hiện nay, đặc biệt là ở các nước đang phát triển đó là một chiến lược quản lý hiệu quả, đúng đắn nợ nước ngoài của đất nước mình
1.5.3Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý nợ nước ngoài
Điều 5 theo Thông tư số 56/2011/TT-BTC ngày 29/4/2011 có quy định các chi tiêugiám sát nợ nước ngoài bao gồm:
Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP: phản ánh tương quan giá trị dư nợ nước ngoài của quốc gia so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài (gốc, lãi, phí) của quốc gia hàng năm so với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ: phản ánh khả năng hoàn trả nợ nước
Trang 10ngoài từ nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, qua đó phản ánh tính thanh khoản của nợ nước ngoài và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Dự trữ ngoại hối nhà nước so với nợ nước ngoài ngắn hạn: phản ánh khả năng sử dụng dự trữ ngoại hối nhà nước để trả các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
1.5.4Mục tiêu quản lí nợ nước ngoài
1.5.4.1 Mục tiêu giám sát nợ nước ngoài của quốc gia
Đảm bảo mục tiêu an toàn nợ, duy trì một danh mục nợ hợp lý trong giới hạn an toàn về nợ, đảm bảo sự bền vững nợ về mặt dài hạn, an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia
Xác định sớm các rủi ro tiềm ẩn đối với danh mục nợ và những tồn tại liên quan trong công tác quản lý nợ trong mối tương quan với môi trường kinh tế trong và ngoài nước
Làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia trong từng giai đoạn, phù hợp với các định hướng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
Tăng cường minh bạch tài chính, tăng cường quản lý các nghĩa vụ dự phòng
Nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ
1.5.4.2 Nguyên tắc quản lí nợ nước ngoài
Chính phủ thống nhất quản lý toàn diện nợ nước ngoài của quốc gia, từ việc huy động, tiếp nhận, phân bổ sử dụng, quản lý, theo dõi và giám sát bằng các công cụ sau:
Hiệu quả của chương trình, dự án sử dụng vốn vay là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong việc quyết định vay vốn nước ngoài.
Đảm bảo cân đối giữa vay và khả năng trả nợ, cân đối ngoại tệ và các cân đối
vĩ mô khác của nền kinh tế về dài hạn.
Trang 11 Việc ký kết các thoả thuận vay nước ngoài của Chính phủ thực hiện theo quy định của pháp luật về ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế Trường hợp thoả thuận giữa cấp có thẩm quyền của Việt Nam với người cho vay có quy định khác thì thực hiện theo thoả thuận với người cho vay
1.5.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ nước ngoài của một quốc gia
Các nhân tố chủ quan: nhóm các nhân tố chủ quan tác động đến hiệu quả quản lí nợ bắt nguồn từ chính bản thân nền kinh tế của quốc gia đi vay
o Môi trường kinh tế vĩ mô: môi trường kinh tế vĩ mô thể hiện tốc độ tăng giảm thu nhập thực tế, tích lũy tiết kiệm của người dân và khả năng đi vay của một quốc gia.Do vậy sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô luôn là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư cũng như các hành vi viện trợ và cho vay
o Cơ cấu bộ máy quản lí nợ của một quốc gia: quyết định hiệu quả của công tác quản lí.Mặt khác chính cơ quan quản lí này còn quyết định chiến lược
sử dụng và triển vọng phát triển kinh tế của đất nước
o
Hệ thống văn bản pháp luật: một hệ thống văn bản pháp luật về quản lí nợ đầyđủ và chặt chẽ sẽ đảm bảo được hoạt động quản lí có hiệu quả
Các nhân tố khách quan: hiệu quả của quá trình quản lí nợ không chỉ chịu tác động của các nhân tố chủ quan mà còn chịu tác động từ các yếu tố khách quan như: lãi suất,tỷ giá,cơ cấu vay nợ,các ràng buộc trong vay nợ và viện trợ đối với nước đi vay
1.6 Khủng hoảng nợ nước ngoài:
1.6.1 Khái niệm khủng hoảng nợ nước ngoài:
Nợ nước ngoài là khoản nợ của một quốc gia đối với một quốc gia khác Theo các
tổ chức của IMF thì: "Nợ nước ngoài là khoản nợ của người cư trú đối với người không
cư trú” Khái niệm đầy đủ được công nhận bởi 8 tổ chức quốc tế (IMF,…) định nghĩa về
Trang 12nợ nước ngoài của 1 quốc gia như sau: “tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào, là tổng dư nợ của các nghĩa vụ nợ tại thời điểm đó, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi người đi vay phải thanh toán nợ gốc có hay không có lãi trong tương lai vàkhoản nợ này là khoản nợ của người cư trú với người không cư trú trong quốc gia”.
1.6.2 Khi nào một quốc gia bị khủng hoảng nợ nước ngoài?
Theo IMF, “Khủng hoảng nợ nước ngoài xảy ra khi một quốc gia không có khả năng trả nợ nước ngoài, bao gồm khoản nợ của Chính phủ hay của khu vực tư nhân”. Nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo phải vay của nước ngoài để có tiền trang trải cho đầu tư phát triển đất nước và một phần
để tiêu dùng, ngoài ra còn một số trường hợp đặc biệt, như phải chi dùng cho chiến tranh.Khi kinh tế thị trường phát triển, vấn đệ tìm thị trường cho đầu ra là rất khó, cho nên các nước phát triển dù muốn hay không thì việc cho các nước kém phát triển vay thông qua quỹ tiền tệ quốc tế IMF, ngân hàng thế giới (WB) hay tiền cho vay từ chính bản quốc, giống như một sự đầu tư khéo nhằm vực dậy nền kinh tế của đối tác cũng là để giúp mình
có thị trường mua, bán
Khác với những khoản nợ tư nhân có thể thu hồi dựa trên cơ sở pháp luật, mức độ rủi ro vỡ nợ của các Chính phủ theo quan điểm gần như phổ biến là nợ Nhà nước bao giờcũng được chính phủ hoàn trả nên dù rủi ro cao, các ngân hàng nước ngoài vẫn sẵn sàng cho chính phủ các nước đang phát triển vay mà không tiên liệu được khả năng là gánh nặng trả món nợ nhà nước có thể trở nên gay go đến mức vượt quá dự trữ ngoại hối của quốc gia đó Một nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến khủng hoảng nữa chính là những cơn sốc kinh tế toàn cầu do giá cả của một số hàng hóa thay đổi đột ngột và những chính sách kinh tế ở nhiều nước cho vay, cũng như nước đi vay
1.6.3 Các phương pháp đánh giá nợ nước ngoài
Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá nợ nước ngoài của một nước đó là:
Căn cứ vào tổng thu nhập quốc dân (GNI - Gross National Income)/ bình
Trang 13quân đầu người, chia các nước ra thành một số nhóm: Các nước có thu nhập thấp nhất (=761 USD); Các nước có thu nhập trung bình thấp (761 đến 3030 USD); Các nước cóthu nhập trung bình cao (3031 đến 9360 USD); Các nước có thu nhập cao (> 9360 USD) Tất nhiên các nước có thu nhập cao thì khả năng trả nợ cao, hoặc không là nước đi vay mà còn là nước cho vay.
Căn cứ vào khả năng thanh toán để chia ra: Các nước có khả năng thanh toán
là bảo đảm việc trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi đều đặn; Các nước không có khả năng thanh toán là các nước không trả được nợ gốc khi đến hạn do đó phải thương lượng lại cơ cấu nợ, tiến độ trả nợ và kèm theo một ân hạn trong thời gian đó Thậm chí có những nước không có khả năng trả nợ, dẫn đến vỡ nợ, và các nước chủ nợ không có nào khác là phải xoá nợ, như một số nước Châu Phi đã được các nuớc G-8 phải xoá nợ tới trên 30 tỷ USD, vì có đòi nợ, các nước này cũng chẳng có gì để trả nợ
- Đánh giá theo mức độ nợ:
%Phân loại các
XK
Chi phítrả nợ/
Việc phân loại theo mức độ nợ này có chủ ý chỉ ra rằng các nước nếu rơi vào các nước
nợ quá nhiều thì khả năng trả nợ là rất khó khăn, thậm chí trong đó có nước không có khả năng trả nợ Liên Hợp Quốc đã lập danh sách Các nước nghèo, nợ nần quá nhiều (HIPC) trên toàn thế giới, bao gồm 24 nước, hầu hết ở Châu Phi và một số ít nước ở Châu Mỹ La tinh Với không ít nước thuộc nhóm nợ vừa phải, nhưng cũng không có khả năng thanh toán, thì các nhà tài chính và ngân hàng của các nước này thay mặt chính phủ để đi
thương lượng nhằm có thể kéo dài thêm thời gian trả nợ, có thể xin giảm bớt lãi suất,…
Trang 14II THỰC TRẠNG NỢ VÀ QUẢN LÍ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM – BÀI HỌC KHỦNG HOẢNG NỢ CÁC NƯỚC
2.1 Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam:
2.1.1 Các phương thức vay nợ chủ yếu ở việt nam
Ngoài yếu tố tiết kiệm trong nước, các nước đang phát triển- có thể cho là các quốcgia thiếu vốn- cần sự giúp đỡ của các yếu tố ngoại sinh , Chính phủ cần phải huy động nguồn lực từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Nợ nước ngoài xuất phát từ 3 nguồn sau :
- Nợ ODA( nguồn vốn vay phát triển chính thức – phần cho vay ưu đãi trong khoản
hỗ trợ phát triển chính thức ODA)
- Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương
- Phát hành trái phiếu quốc tế
2.1.2 Diễn biến tình hình nợ công
Theo các công bố thì tính đến năm 2015, dự tính nợ công của Việt Nam khoảng trên 2,7 triệu tỷ đồng (Bích Diệp, 2015) so với con số trên 1,8 triệu tỷ đồng của năm
2014, trên 1,5 triệu tỷ đồng năm 2013 và năm 2010 là trên 889.000 tỷ đồng
Xét về diễn biến nợ công, theo số liệu công bố của Bộ Tài chính thì tổng nợ công của Việt Nam có xu hướng tăng dần theo thời gian: từ 40% GDP cuối năm 2007 lên khoảng 56,3% GDP vào cuối năm 2010, giảm đôi chút xuống còn 54,9% GDP vào năm
2011, tăng lên mức 55,4% GDP vào năm 2012, 54,2% năm 2013, 60,3% năm 2014 (Thanh Giang, 2014) và khoảng 64% năm 2015 Đây là tỷ lệ không cao so với nhiều nước, song theo IMF, ngưỡng nợ công được coi là thận trọng cho các nước mới nổi là 40%/GDP Với mức này, IMF khuyến cáo Việt Nam nên giảm mức nợ công, bởi nợ công của Việt Nam tính theo GDP có khả năng cao hơn do các nguyên nhân sau: (i) Nhu cầu cho xây dựng kết cấu hạ tầng của Việt Nam khá cao, lên tới 11 - 13% GDP/năm Trong
đó, nhiều mặt hàng nguyên liệu cho xây dựng phải nhập khẩu như sắt, thép… với tỷ giá USD/VND có xu hướng ngày càng tăng cao; (ii) Tín dụng quốc tế của Chính phủ với các
Trang 15tổ chức quốc tế và NHTƯ các nước có thể vẫn tăng; (iii) Khả năng cắt giảm đầu tư của DNNN hoàn toàn có thể xảy ra, nhưng nó còn phụ thuộc vào quyết sách và quyết tâm của Chính phủ; (iv) Cơ chế quản lý tài chính công của Việt Nam chưa hoàn chỉnh; (v) Khả năng thay thế cho việc tài trợ từ đầu tư công bằng các nguồn vốn khác là khó khăn; (vi) Thâm hụt cán cân thương mại (TB) vẫn còn cao.
2.2 Cơ cấu nợ công của Việt Nam
2.2.1 Cơ cấu theo loại tiền:
Hiện nay, cơ cấu đồng tiền của danh mục nợ của Chính phủ đã từng bước được cải thiện theo hướng tích cực với việc tập trung vào một số đồng tiền chính bao gồm: đồng Việt Nam với tỷ trọng 55%; USD chiếm tỷ trọng 16%; Yên Nhật chiếm tỷ trọng 13% (tương đương khoảng 45 tỷ USD (Lưu Hảo, 2016)) và Euro chiếm tỷ trọng khoảng 7%, còn lại là các đồng tiền khác (T Hằng, 2016) Nếu so sánh với các năm trước 2010 (thể hiện trên Biểu 3) thì nhìn chung cơ cấu này đã có những cải thiện tích cực Tuy vậy, với việc tập trung vay nợ theo một số đồng tiền cũng tạo ra các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn gắn với
sự biến động giá trị của các đồng tiền đó, đặc biệt là với JPY
Biểu 3: Dư nợ Chính phủ phân theo loại tiền vay
Nguồn: Bản tin NNN số 7, Bộ Tài chính, 2011
2.2.2 Cơ cấu theo chủ thể vay:
Tính đến cuối 2015, cơ cấu nợ công bao gồm nợ Chính phủ chiếm 80,8%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 17,8% và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,4% Như vậy,
cơ cấu này có sự thay đổi từng bước so với những năm trước (thể hiện ở Bảng 1) Việc cải
Trang 16thiện cơ cấu chủ thể vay nợ chủ yếu là Chính phủ sẽ giúp kiểm soát tập trung nợ công, qua đó các nguy cơ sử dụng vốn vay tùy tiện sẽ từng bước được loại bỏ, nguồn vốn được đầu tư tập trung theo các mục tiêu kinh tế mang tính chiến lược quốc gia Tuy nhiên, các bất cập này chỉ trở thành hiện thực một khi các khoản đầu tư công ít bị thất thoát và thực
sự đem lại hiệu quả Nhưng nhìn từ thực tế thì thấy rằng các khoản đầu tư công của chúng
ta hiệu quả còn khá thấp với hệ số ICOR còn quá cao (Bảng 2)
Bảng 1: Cơ cấu nợ công của Việt Nam phân theo chủ thể vay nợ (%)
Nguồn: Bộ Tài chính (2013) và tính toán của tác giả
Bảng 2: So sánh hệ số ICOR của Việt Nam qua các giai đoạn
2000 / 2010
2000 / 2005
(Nguồn: Đỗ Thị Phương Lan, 2013; *Trịnh Mai Vân-Nguyễn Văn Đại, 2013; **Lê Việt Đức, 2014, *** Phạm Thị Tuyết Trinh, 2015)
Trang 172.2.3 Cơ cấu theo nguồn gốc vay nợ:
Biểu 4 cho thấy: Tỷ trọng nợ trong nước đang có xu hướng tăng 57% năm 2015 và
tỷ trọng nợ nước ngoài giảm tương ứng (năm 2015 tỷ trọng dư nợ vay trong nước tăng lên
và chiếm 57% trong khi nợ vay nước ngoài chỉ còn chiếm 43%), như vậy là phù hợp với Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến
2030 Với xu hướng cải thiện cơ cấu nguồn gốc vay nợ như vậy sẽ giúp giảm các nguy cơtiềm ẩn rủi ro nợ công gắn với vay nước ngoài Tuy vậy, cho dù là vay trong nước hay nước ngoài thì cuối cùng vẫn phải trả nợ, có chăng là việc tăng vay nợ trong nước sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro về tỷ giá và lãi suất gắn với các đồng ngoại tệ vay nợ mà thôi
Biểu 4: Diễn biến nợ công của Việt Nam theo nguồn gốc vay nợ
Trang 18Nguồn: An Ngọc, 2016
2.2.4 Về cơ cấu kỳ hạn:
Với nợ trong nước, chủ yếu phát hành trái phiếu trong nước Trước đây, do áp lực huy động vốn lớn trong khi thị trường vốn trong nước chưa phát triển, nguồn vay đầu tư TPCP chủ yếu là NHTM, nên giai đoạn 2011-2013 buộc phải vay với kỳ hạn ngắn dẫn đến áp lực trả nợ trong ngắn hạn tăng lên Thực hiện Nghị quyết số 78/2014/NQ-QH13 vàNghị quyết số 99/2015/NQ-QH13 của Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã chỉ đạo kéo dài thời hạn phát hành trái phiếu trong nước, nhờ vậy, từ năm 2014, kỳ hạn đang ở mức 3 năm, đến năm 2015, kéo dài lên 4,4 năm và 6 tháng đầu năm 2016 thì kéo dài lên 5 năm góp phần giảm thiểu rủi ro tái cấp vốn Đối với nợ nước ngoài, vay ODA, vay ưu đãi vẫn chiếm tỷ trọng cao (trên 94%) với kỳ hạn còn lại bình quân trên 10 năm Tuy vậy, nhìn một cách thực chất thì việc kéo dài kỳ hạn trả nợ các khoản vay của Chính phủ chỉ có tác dụng giảm các áp lực trả nợ ngắn hạn, nhưng trong dài hạn thì các nghĩa vụ trả nợ lại tănglên do LS vay dài hạn cao hơn đáng kể so với vay ngắn hạn
Trang 192.2.5 Về cơ cấu lãi suất huy động:
Lãi suất phát hành TPCP trên thị trường vốn trong nước bình quân giảm từ mức 12%/năm vào năm 2011 xuống còn khoảng 6,5% vào năm 2014 và khoảng 6% vào năm
2015, góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường trái phiếu trong nước Đối với nợ nước ngoài do các khoản vay ODA, vay ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn, lãi suất bình quân tính đến cuối năm 2015 khoảng 2%/năm (T Hằng, 2016)
2.2.6 Về nghĩa vụ trả nợ:
Nghĩa vụ trả nợ hàng năm của Chính phủ với các “áp lực” ngày càng tăng cao (Biểu 5)
Biểu 5: Nghĩa vụ trả nợ hàng năm của Việt Nam
(Nguồn: N Trần Tâm, 2014)
Các áp lực này đang khiến vấn đề bội chi ngân sách khó có thể được cải thiện trong tương lai gần. Theo các tư liệu thống kê đã được công bố cho thấy rằng nghĩa vụ trả nợ trên tổng thu ngân sách lên tới 24% của năm 2013 và dự kiến cuối năm 2016 này thì có thể sẽ vượt ngưỡng 30% (Minh Hằng, 2013) Hơn nữa, trong tổng số các khoản vay nợ hàng năm thì có một tỷ lệ đáng kể dùng để trả nợ các khoản vay đến hạn
Trang 202.3 Tình hình quản lý nợ nước ngoài tại Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay có 3 cơ quan tham gia quản lý nợ nước ngoài là Bộ tài chính,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng nhà nước
Bộ Tài chính mà cụ thể là Vụ Tài chính đối ngoại và Quỹ Hỗ trợ phát triển, thựchiện các chức năng như đàm phán các hiệp định vay nợ, ký kết hiệp định, theo dõi giảingân và chuyển các đề nghị thanh toán chi trả nợ cho Kho bạc nhà nước và chuẩn bị cácbáo cáo nợ trên cơ sở các thông tin được đăng ký khác và các báo cáo này về các khoảnvay nợ trực tiếp, được bảo lãnh và cho vay lại
Ngân hàng nhà nước: thay mặt Chính phủ, đàm phán các khoản nợ đa phương với
3 tổ chức tài chính quốc tế (IFI) là ADB, IMF, WB và chuyển các hiệp định chính thức đã
ký sang Bộ Tài chính; quản lý vay, trả nợ của các doanh nghiệp
Bộ Kế hoạch và Đầu tư: sẽ lập dự thảo nhu cầu hàng năm về vay ODA, xây dựngdanh mục các dự án chương trình được phê duyệt, đàm phán và ký kết các hiệp địnhkhung về ODA và chuyển cho Bộ Tài chính để dàn xếp các hiệp định vay nợ cụ thể Theodõi đánh giá việc sử dụng ODA và tiến hành báo cáo về ODA
Hiện tại nợ nước ngoài của Việt Nam chủ yếu vẫn là vay ODA và vay từ IDA theođiều kiện ưu đãi (Việt Nam sẽ tiếp tục được vay từ IDA 4 tỷ đô la Mỹ cho giai đoạn 2014
- 2017 Như vậy, liên tục trong vòng 9 năm từ 2008 đến 2017, Việt Nam là nước đượcnhận nguồn vốn vay ưu đãi IDA lớn thứ hai trên thế giới) Do vậy, trong thời gian tìnhhình vay, trả nợ của Việt Nam còn chưa thực sự diễn ra phức tạp, nhưng không có nghĩa
là Việt Nam không cần có các hệ thống quản lý nợ hữu hiệu Bởi các khoản dự nợ songphương hiện hành có thể không hẳn đã là ưu đãi vì lãi suất trên thế giới cũng đã giảmnhiều Ngay bây giờ, cần phải đánh giá các rủi ro về đồng tiền vay và lãi suất của cáckhoản vay hiện tại và các khoản vay mới trong tương lai từ nguồn ODA Việc tìm ra cácphương pháp mới về tài trợ thâm hụt là một nhu cầu cấp bách Hiện tại cần xây dựng hệthống quản lý nợ để có thể đáp ứng được các thách thức trong tương lai gần