1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận môn công pháp quốc tế đề tài quy chế pháp lý của thềm lục địa

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Chế Pháp Lý Của Thềm Lục Địa
Tác giả Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 4
Người hướng dẫn Cô Lớp: KTQT48C1 – Công pháp quốc tế 1
Trường học Học viện Ngoại Giao Khoa Kinh Tế Quốc Tế
Chuyên ngành Công pháp quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 332,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGОẠI GIАО KHОА KINH TẾ QUỐC TẾ ======***====== TIỂU LUẬN MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Đề tài QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA THỀM LỤC ĐỊA Giảng viên hướng dẫn Cô Lớp KTQT48C1 – Công pháp quốc tế 1 4 Nhóm sinh[.]

Trang 1

HỌC VIỆN NGОẠI GIАО KHОА KINH TẾ QUỐC TẾ

======***======

TIỂU LUẬN MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Đề tài

QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA THỀM LỤC ĐỊA

Giảng viên hướng dẫn: Cô

Lớp: KTQT48C1 – Công pháp quốc tế 1.4

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 4

Họ và tên Mã sinh viên

Đinh Thu Huyền KTQT48C1-0204

Nguyễn Đại Dương KTQT48C1-0165

Trịnh Hải Anh KTQT48C1-0120

Nguyễn Hữu Thông KTQT48C1-0316

Lê Ngọc Diệp KTQT48C1-0156

Phạm Quỳnh Anh KTQT48C1-0119

Bùi Anh Thư KTQT48C1-0320

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2022

Trang 2

Mục lục

PHẦN 1: LỜI NÓI ĐẦU ……… 3

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH VỀ CÁC QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA THỀM

LỤC ĐỊA

1 Định nghĩa ……….……… 4

2 Phương pháp xác định phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ ……….… 4

3 Quyền của quốc gia ven biển ……….……… 5

4 Nghĩa vụ của quốc gia ven biển ……… 6

5 Quyền của quốc gia khác ……… … 6

6 Thềm lục địa địa chất và thềm lục địa pháp lý …….……… 6

7 Phân tích vụ phân định thềm lục địa của Biển Bắc giữa Đan Mạch và Cộng hòa Liên bang Đức, giữa Hà Lan và Cộng hòa Liên bang Đức 7

8 So sánh Công ước luật biển về thềm lục địa năm 1958 và 1982 … … 8

KẾT LUẬN ……… 10

Trang 3

Phần 1: Lời nói đầu

Thềm lục địa có một vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia ven biển, nơi đây luôn xảy ra các tranh chấp về chế độ pháp lý của mỗi quốc gia Nhằm tránh xảy ra các tranh chấp này và giữ gìn trật tự hòa bình an ninh trên biển, luật biển quốc tế phải không ngừng xây dựng và hoàn thiện các quy định về cách xác định cũng như quy chế pháp lý của thềm lục địa Tuy nhiên luật biển quốc tế vẫn phải thể hiện rõ nguyên tắc của mình, đó là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của mỗi quốc gia

Trong phạm vi bài tập chúng em xin đưa ra các quy chế pháp lý của thềm lục địa và trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia liên quan Bên cạnh đó, chúng em

sẽ làm rõ các quy định về luật biển từ lần xuất hiện đầu tiên được nêu trong Công ước Giơnevo năm 1958 đến những quy định được cho là rõ ràng và công bằng nhất hiện nay về phương pháp xác định thềm lục địa của quốc gia trong Công ước về biển của Liên hiệp quốc 1982 để chứng minh rằng : quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định về cách xác định và quy chế pháplý của thềm lục địa trong luật biển quốc tế thể hiện rõ sự bình đẳng giữa các quốc gia trong khai thác và sử dụng biển

Trang 4

Phần 2: Nội dung chính

1 Định nghĩa

- Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền

- Điều 67 UNCLOS (Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982) quy định thềm lục địa có chiều rộng:

+ 200 hải lý

+ hoặc bằng chiều rộng của phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền + hoặc 350 hải lý (tính từ phần cơ sở)

+ hoặc 100 hải lý (tính từ đường đẳng sâu 2500m)

2 Phương pháp xác định phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ

Hai phương pháp: bề dày trầm tích và khoảng cách

- Bề dày trầm tích: Ranh giới ngoài của phần kéo dài của lãnh thổ tự nhiên

được xác định bằng đường vạch nối các điểm cố định tận cùng mà bề dày lớp đá trầm tích ít nhất bằng 1% khoảng cách từ điểm được xét đến chân dốc lục địa

- Khoảng cách: Ranh giới ngoài của phần kéo dài của lãnh thổ tự nhiên được

xác định bằng vạch nối các điểm cố định ở cách chân dốc lục địa không quá

60 hải lý Chân dốc lục địa trùng hợp với điểm biến đổi độ dốc rõ nét nhất ở nền dốc nếu không có bằng chứng khác

Trang 5

3 Quyền của quốc gia ven biển

Theo công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các quốc gia có những quyền như sau:

- Quyền chủ quyền trong việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên khoáng sản, phi sinh vật và các loài sinh vật định cư tại thềm lục địa Cần lưu ý là quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ nếu quốc gia đó không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây nếu không được sự đồng ý của quốc gia ven biển

- Quyền tài phán về nghiên cứu khoa học, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, lắp đặt các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa (Điều 77

và 79 khoản 4 theo UNCLOS)

- Quyền tự do sử dụng vùng biển và vùng trời ở bên trên thềm lục địa (Điều

78 UNCLOS)

- Quyền tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, nhưng phải thỏa thuận về tuyến đường với quốc gia ven biển và không làm ảnh hưởng đến những tuyến dây và ống đã được lắp đặt từ trước (Điều 79 UNCLOS)

Đối với riêng Việt Nam, quốc gia có những quyền như sau, phù hợp với các quy định của UNCLOS Điều 18 Luật Biển Việt Nam 2012 quy định về chế độ

pháp lý của thềm lục địa như sau:

 Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên

 Quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên có tính chất đặc quyền, không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa nếu không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam

 Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất kỳ mục đích nào ở thềm lục địa

 Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật Biển Việt Nam 2012 và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển

Trang 6

của Việt Nam Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam

 Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt thiết bị và công trình ở thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam

4 Nghĩa vụ của quốc gia ven biển

Khi thềm lục địa mở rộng có phạm vi lớn hơn 200 hải lý, quốc gia ven biển có nghĩa vụ:

- Đệ trình phương pháp xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa lên CLCS

- Đóng góp bằng tiền hoặc hiện vật về việc khai thác tài nguyên phi sinh vật tại thềm lục địa mở rộng cho ISA

5 Quyền của quốc gia khác

Quốc gia khác có quyền tự do sử dụng vùng biển và vùng trời ở bên trên thềm lục địa, có quyền tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm nhưng phải thỏa thuận

về tuyến đường với quốc gia ven biển và không làm ảnh hưởng đến những tuyến dây và ống đã được lắp đặt từ trước (Điều 78 và 79 UNCLOS)

6 Thềm lục địa địa chất và thềm lục địa pháp lý

Thềm lục địa địa chất là một bộ phận của rìa lục địa Rìa lục địa chiếm 22% bề mặt đại dương, là phần kéo dài ngập dưới nước của lục địa của quốc gia ven biển, cấu thành bởi ba thành phần:

- Thềm lục địa (continental shelf) là phần nền lục địa ngập dưới nước với độ dốc

thoai thoải (độ dốc trung bình 0,07-1°) thường kéo dài đến độ sâu 200 m

- Dốc lục địa (continental slope) là phần nằm giữa thềm lục địa và bờ lục địa,

phân biệt với thềm lục địa bằng một sự thay đổi độ dốc đột ngột, trung bình khoảng 4-5°, đôi khi tới 45°

Trang 7

- Bờ lục địa (continental rise): Vùng tiếp theo dốc lục địa khi độ dốc thoải trở

lại, thường rất nhỏ 0,5° mở rộng từ chân dốc lục địa cho đến khi gặp đáy đại dương

Theo Công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục địa, thềm lục địa pháp lý là đáy

và lòng đất dưới đáy của các khu vực ngầm dưới biển tiếp giáp với bờ biển nhưng nằm ngoài lãnh hải và ra đến độ sâu 200 mét nước hoặc vượt ra ngoài giới hạn đó ra đến độ sâu cho phép khai thác được tài nguyên thiên nhiên của các khu vực ngầm dưới biển đó

Công thức này không thực tiễn, bất hợp lý và không công bằng

Công ước luật biển 1982 đã đưa ra định nghĩa mới công bằng hơn, theo đó, thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm: đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý

7 Phân tích vụ phân định thềm lục địa của Biển Bắc giữa Đan Mạch và Cộng hòa Liên bang Đức, cũng như giữa Hà Lan và Cộng hòa Liên bang Đức

7.1 Nguyên nhân

Các bên liên quan gồm Đan Mạch, Hà Lan và Đức tìm kiếm một phương pháp

mà Thềm lục địa có thể được phân định một cách công bằng Tất cả các bên đã đồng ý rằng Tòa án không trực tiếp phân chia mà chỉ quy định một phương pháp phân định để các bên tuân theo

Đan Mạch và Hà Lan cho rằng nên thực hiện phương pháp bình đẳng Họ tuyên

bố rằng Công ước Geneva ủng hộ phương pháp này và được cho là một quy tắc pháp quyền tiên nghiệm, một quy tắc của luật tục quốc tế, và một quy tắc chung của thực tiễn thông thường

Đức, nước chưa phê chuẩn Công ước Geneva, cho rằng quy tắc bình đẳng là không công bằng và muốn phân bổ diện tích đất đai tỷ lệ thuận với diện tích đất liền kề của mỗi bang

7.2 Quyết định của tòa

Tòa nhận thấy rằng Công ước Geneva không ràng buộc đối với tiếng Đức, vì nó

đã không phê chuẩn

Trang 8

Khi kiểm tra Công ước Geneva và Tuyên bố Truman, sự công bằng được tìm thấy là phương sách cuối cùng chứ không phải là một quy tắc tiên nghiệm Các văn bản của luận án ban đầu bao gồm quy tắc bình đẳng chỉ làm như vậy cho các mục đích thứ yếu và việc sử dụng nó là không đủ để chứng minh nó là luật tục quốc tế hoặc luật chung về thực tiễn

Tòa án đã bác bỏ tuyên bố của Đức về việc phân bổ theo tỷ lệ vì làm như vậy sẽ xâm phạm đến các yêu sách tự nhiên của các Quốc gia dựa trên sự kéo dài tự nhiên của đất đai

=> Tòa án nhận thấy rằng hai bên phải lập một thỏa thuận có tính đến cả việc tối

đa hóa diện tích và sự tương xứng Những điều này phải dựa trên “các nguyên tắc công bằng”

8 So sánh Công ước luật biển về thềm lục địa năm 1958 và 1982

Công ước luật biển 1958 Công ước luật biển 1982

Thềm lục địa:

- Vùng đáy biển và lòng đất dưới

đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải

của quốc gia ven biển, trên phần

kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất

liền của quốc gia và ra đến độ sâu

200 mét

- Đến độ sâu cho phép khai thác

được tài nguyên thiên nhiên của

các khu vực ngầm dưới đáy biển

đó

Thềm lục địa:

- Vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục

- Đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải

lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn

Theo như Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa, có thể thấy rằng, ranh giới ngoài của thềm lục địa địa chất và thềm lục địa pháp lý tương đối trùng nhau, đến nơi có độ sâu 200m Ngoài ra, ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý còn

có thể đến nơi có độ sâu mà khả năng kĩ thuật cho phép khai thác được tài nguyên thiên nhiên Các đảo (vùng đất tự nhiên có nước bao bọc xung quanh luôn luôn nhô lên khỏi mặt nước tại mức thủy triều cao nhất) cũng có thềm lục địa như vậy

Trang 9

- Để xác định phạm vi thềm lục địa, Công ước Giơnevơ 1958 áp dụng hai nguyên tắc:

Nguyên tắc về độ sâu (200m) và nguyên tắc về kĩ thuật (khả năng cho phép khai

thác) Cách xác định phạm vi thềm lục địa này đã thể hiện tính bất hợp lý và không công bằng, cụ thể:

 Quy định này không thể hiện được bản chất của thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền

 Ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý được xác định bởi hai tiêu chuẩn mâu thuẫn nhau: Tiêu chuẩn độ sâu: 200m - một con số kác định, một tiêu chuẩn cố định; và tiêu chuẩn khả năng khai thác - một tiêu chuẩn động, phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học, kĩ thuật của từng quốc gia

Cách xác định thềm lục địa của Công ước Giơnevơ 1958 đã bị phê phán gay gắt Bởi nó không phù hợp với điều kiện thực tiễn, không hợp lý và không công bằng, nhất là tiêu chuẩn khả năng kĩ thuật, vì tiêu chuẩn này có lợi cho các quốc gia có sở hữu kĩ thuật tiên tiến, tạo ra sự bất bình đẳng và chênh lệch giữa các quốc gia

- Định nghĩa thềm lục địa theo quy định của UNCLOS 1982:

Khoản 1 Điều 76 UNCLOS 1982 đã đưa ra định nghĩa mới về thềm lục địa

Theo đó:

“Thềm lục địa của một quổc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn ”.

Theo khoản 3 Điều 76 UNCLOS 1982:

“Rìa lục địa là phần kéo dài ngập dưới nước của lục địa quốc gia ven biên, cấu thành bởi đáy biển tương ứng với thềm, dốc và bờ, cũng như lòng đất dưới đáy của chúng Rìa lục địa không bao gồm các đáy của đại dương ở độ sâu lớn, với các dải núi đại dương của chúng, cũng không bao gồm lòng đất dưới đáy của chúng’’.

Trang 10

Từ định nghĩa trên có thể thấy ranh giới của thềm lục địa pháp lý được xác định như sau:

 Ranh giới trong: Thềm lục địa pháp lý của quốc gia ven biển gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó Điều này có nghĩa

là, ranh giới phía trong của thềm lục địa pháp lý chính là ranh giới phía ngoài của lãnh hải

 Ranh giới ngoài: Ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý được xác định theo một trong hai trường hợp sau:

Thứ nhất, khi bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở một khoảng cách hẹp hơn hoặc bằng 200 hải lý thì quốc gia ven biển có quyền xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý tới đường nối liền các điểm cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách 200 hải lý

Thứ hai, khi bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở một khoảng cách lớn hơn 200 hải lý thì ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý chính là bờ ngoài của rìa lục địa Bờ ngoài của rìa lục địa được xác định theo quy định tại khoản 4 Điều 76 UNCLOS 1982 như sau:

Nhằm hạn chế việc các quốc gia mở rộng quá mức thềm lục địa pháp lý của mình, khoản 5 Điều 76 UNCLOS 1982 quy định ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý được xác định trong trường hợp này không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không được cách đường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách vượt quá 100 hải lý

Như vậy, để xác định thềm lục địa pháp lý, UNCLOS 1982 đã sử dụng và kết hợp các yếu tố khoảng cách và yếu tổ địa chất Việc áp dụng sự kết hợp này đã tạo ra sự bình đẳng giữa các quốc gia trong việc xác định thềm lục địa pháp lý của quốc gia

KẾT LUẬN

Công ước biển của Liên hiệp quốc ra đời năm 1982 đã khắc phục những nhược điểm, bổ sung thêm những điểm còn thiếu mà Công ước Giơnevơ chưa thể lường tính trước được Công ước Liên hợp quốc đã chứng minh một cách rõ ràng rằng các quy định về cách xác định, các quy chế pháp lý của thềm lục địa nói riêng và luật biển quốc tế nói chung đã và đang được quan tâm đúng mức nhằm xây dựng và hoàn thiện một cách đầy đủ hệ thống pháp luật Hơn hết, quá

Trang 11

trình hoàn thiện các quy định này đã chứng minh một nguyên tắc mà luật quốc

tế luôn muốn hướng tới và tuân thủ đúng, đó không chỉ là nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia trong khai thác và sử dụng biển mà còn là bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia

Ngày đăng: 05/03/2023, 21:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w