1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm trong luật hình sự việt nam

14 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 31,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A MỞ ĐẦU Khái niệm và đặc điểm của tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Khái niệm và đặc điểm của tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm và đặc điểm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã Để bảo

vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành

vi nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt đối với người nào thực hiện các hành vi đó Do đó, tội phạm không chỉ mang thuộc tính lịch sử-xã hội mà còn mang bản chất là một hiện tượng pháp lý Để làm rõ vấn đề trên, em

xin được lựa chọn đề tài “Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam” làm bài tiểu luận

cuối kì cho mình

Do kiến thức và tài liệu tham khảo còn nhiều hạn chế, bài tiểu luận của em sẽ không tránh khỏi những sai sót, khuyết điểm Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của các thầy cô giáo để bài tiểu luận được chất lượng hơn, hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

B NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM TỘI PHẠM

1 Khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự năm

1985

Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, khái niệm tội phạm lần đầu tiên được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự 1985 như sau:

“1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm

Trang 2

hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.

2 Khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999

Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm ở Bộ luật hình sự năm 1985, Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong

Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. 

3 Khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm từ các Bộ luật hình

sự trước đó, Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 quy định như

sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ

Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn

Trang 3

hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” Từ đây, chúng ta có thể phân tích các

khía cạnh của khái niệm này để hiểu rõ hơn về tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 như sau:

Thứ nhất, về chủ thể của tội phạm: Nếu như hai Bộ luật

hình sự trước quy định chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể, thì trong Bộ luật hình sự 2015, chủ thể của tội phạm ngoài con người còn có thể là pháp nhân thương mại Đây chính là điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 so với hai Bộ luật trước đó Tuy nhiên, không phải bất cứ con người cụ thể nào hoặc pháp nhân thương mại nào cũng là chủ thể của tội phạm

Họ chỉ có thể trở thành chủ thể của tội phạm nếu như thỏa mãn được những điều kiện nhất định theo quy định của Bộ luật hình

sự chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thể của tội phạm, mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới là chủ thể của tội phạm Bộ luật hình sự 2015 không quy định năng lực trách nhiệm hình sự là gì, mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) và tuổi chịu trách nhiệm hình

sự (Điều 12) Từ quy định này, có thể hiểu chủ thể của tội phạm phải là người đạt độ tuổi nhất định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình

Thứ hai, về hành vi của tội phạm: Khoản 1 Điều luật xác

định tội phạm phải là hành vi của con người Những gì mới chỉ trong tư tưởng, chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì

Trang 4

không thể là tội phạm Chỉ qua hành vi của mình, con người mới

có thể gây thiệt hại, gây ra sự nguy hiểm cho xã hội Hành vi của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội Đó là hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Nếu thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra không đáng kể thì không phải là hành vi nguy hiểm cho

xã hội và không bị coi là hành vi phạm tội Việc đánh giá hành

vi nào là nguy hiểm cho xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Khi đã xác định một hành vi là nguy hiểm cho xã hội cũng tức là đã coi hành vi đó là hành vi phạm tội Tuy nhiên người thực hiện hành vi đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn phải căn cứ vào các yếu tố khác như tuổi chịu trách nhiệm hình sự, lỗi và các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự,…

Thứ ba, về yếu tố lỗi: Tính có lỗi tuy là bộ phận hợp thành

của tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng để nhấn mạnh nguyên tắc lỗi, Bộ luật hình sự 2015 đã tách tính có lỗi thành dấu hiệu độc lập (cố ý hoặc vô ý) Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Luật hình sự coi lỗi là một dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm Nếu một hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị coi là có lỗi thì người có hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Thứ tư, về khách thể của tội phạm: Khách thể của tội

phạm là các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà các quan hệ xã hội đó được Bộ luật hình sự bảo vệ Khách thể là một yếu tố rất quan trọng, các hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội không phải là khách thể của tội phạm thì không phải là tội phạm Bộ luật hình sự 2015 chỉ bảo vệ những quan hệ xã hội có

Trang 5

liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân và những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

4 Ý nghĩa của khái niệm tội phạm

Khái niệm tội phạm là một trong những khái niệm cơ bản nhất của luật hình sự, trong đó xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hình sự của người phạm tội và các vấn đề khác Từ khái niệm tội phạm, luật hình sự xác định các khái niệm khác nhau như cơ sở của trách nhiệm hình sự, hình thức lỗi, các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự,…Cũng

từ khái niệm này, trong phần các tội phạm, luật hình sự quy định các điều luật với những khung hình phạt cụ thể để phân hóa trách nhiệm hình sự, hình phạt

Trong thực tiễn áp dụng, cơ quan có thẩm quyền tuy dựa vào cấu thành tội phạm để xác định tội phạm nhưng phải trên

cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ về khái niệm, bản chất cũng như những đặc điểm của tội phạm nói chung mới có thể

áp dụng luật hình sự một cách đúng đắn qua việc xác định đúng tội danh, đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

5 Điểm mới trong quy định về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015 so với các Bộ luật hình sự trước đó

Trang 6

Bộ luật hình sự 2015 đã có một số điểm mới tiến bộ hơn các Bộ luật trước đó trong khái niệm tội phạm Việc nghiên cứu những điểm mới cũng như những nội dung trong khái niệm tội phạm không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm của Đảng

và Nhà nước ta Điều này được thể hiện qua một số nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, Bộ luật hình sự 2015 bổ sung chủ thể chịu trách

nhiệm hình sự không những chỉ có cá nhân mà còn có pháp nhân thương mại Đây là nội dung hoàn toàn mới và là lần đầu tiên pháp luật hình sự Việt Nam bổ sung chủ thể pháp nhân thương mại với tư cách là một loại chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự để đáp ứng với tình hình mới Thực tế đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trên lĩnh vực kinh tế trong thời gian qua cho thấy một số tổ chức kinh tế lợi dụng việc Bộ luật hình sự chưa quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự nên đã thực hiện nhiều loại hành vi nguy hiểm gây thiệt hại rất lớn cho xã hội, trong khi đó chế tài xử lý vi phạm hành chính thì không đủ sức răn đe, nên việc bổ sung pháp nhân thương mại vào nhóm chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự là hết sức cần thiết

Thứ hai, Bộ luật hình sự 2015 đưa quyền con người vào

nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào chính thức đưa ra định nghĩa về quyền con người Hiến pháp năm 2013 được ban hành, tuy không nêu định nghĩa về quyền con người, nhưng nội dung của Hiến pháp đã xác định rõ chủ thể và nội dung của quyền con người Theo Hiến pháp thì quyền con người được hiểu là quyền tự nhiên sẵn có và bất cứ ai sinh

Trang 7

ra cũng được hưởng quyền đó, bao gồm cả công dân Việt Nam, người nước ngoài và cả người không có quốc tịch

Lý giải cho việc bổ sung quyền con người vào nhóm quan

hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, nhà làm luật lý giải là việc

bổ sung quyền con người nhằm phù hợp với tinh thần Hiến pháp mới về việc tiếp tục ghi nhận và bảo vệ mạnh mẽ hơn quyền

con người Khi “đạo luật gốc” xác định quyền con người là một

trong những quyền cơ bản cần được công nhận, tôn trọng, bảo

vệ thì Bộ luật hình sự 2015 bổ sung quyền con người vào các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là hợp lý và cần thiết

Thứ ba, bổ sung dấu hiệu về hậu quả pháp lý "phải bị xử lý hình sự" vào khái niệm tội phạm Trong khoa học hình sự, một

hành vi bị coi là tội phạm khi có đủ bốn dấu hiệu, bao gồm: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải

bị xử lý hình sự Tính phải bị xử lý hình sự đối với một hành vi được hiểu là hành vi đó phải được quy định trong Bộ luật hình

sự bằng một tội phạm cụ thể và kèm theo đó một hình phạt cũng như các biện pháp xử lý hình sự khác tương ứng Hay nói khác hơn, đấu hiệu phải bị xử lý hình sự là dấu hiệu luôn gắn với mọi tội phạm trong Bộ luật hình sự

Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự 1985 và Bộ luật hình sự

1999 thì dấu hiệu này chưa được ghi nhận trong khái niệm tội phạm Đây có thể nói là hạn chế, thiếu sót của hai Bộ luật này

Vì vậy, việc bổ sung dấu hiệu "phải bị xử lý hình sự" vào khái

niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015 là nhằm khắc phục hạn chế trong khái niệm tội phạm của các Bộ luật hình sự trước đây Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để khẳng định tính phải bị xử lý hình sự là một những dấu hiệu của tội phạm, đảm bảo tính răn đe của pháp luật hình sự, nhằm nâng cao hiệu quả

Trang 8

đấu tranh phòng, chống tội phạm trước tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi cần phải được ngăn chặn một cách có hiệu quả trên thực tế

II CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI PHẠM

Điều 8 Bộ luật hình sự quy định, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt

1 Tính nguy hiểm cho xã hội

Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm Hành vi của một cá nhân hoặc pháp nhân thương mại được coi là nguy hiểm cho xã hội nếu nó không phù hợp với chuẩn mực hoặc đạo đức xã hội, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội Thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về thể chất (tính mạng, sức khỏe con người), thiệt hại về vật chất (tài sản), thiệt hại về danh dự, nhân phẩm hay những tác hại gây ra cho an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Khoản 2 Bộ luật hình sự

2015 quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác” Ví dụ,

trộm cắp tài sản có giá trị chưa đến 2 triệu đồng mà chưa gây

ra hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử lý hành chính về hành

vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc đã

bị kết án nhưng đã được xóa án tích thì không coi là tội phạm

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tồn tại một cách độc lập, khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Tuy nhiên, những nhà làm luật xác định sự đáng kể

Trang 9

của hành vi nguy hiểm cho xã hội dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình phòng chống tội phạm Người áp dụng pháp luật xác định sự đáng kể của hành vi nguy hiểm cho xã hội dựa vào những quy định của Bộ luật hình sự Theo đó những tình tiết, căn cứ nhận thức, đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bao gồm: tính chất, tầm quan trọng của mối quan hệ xã hội bị xâm hại; tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội; mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra; tính chất, mức độ lỗi; động cơ, mục đích của người thực hiện hành vi; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện; hoàn cảnh chính trị - xã hội tại địa điểm và thời điểm hành vi phạm tội xảy ra; nhân thân người thực hiện hành vi; những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi

Tính nguy hiểm cho xã hội là đặc điểm thể hiện dấu hiệu

về nội dung của tội phạm Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu này không chỉ là căn cứ để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi vi phạm pháp luật khác mà còn là cơ sở để xác định tội phạm, phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa tội phạm

2 Tính có lỗi

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi (có tính gây thiệt hại cho xã hội) của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Người thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu họ đã lựa chọn và thực hiện trong khi họ có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác

Trang 10

không gây thiệt hại cho xã hội Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu không có lỗi thì không được coi là hành vi phạm tội Bộ luật hình sự 2015 quy định một số trường hợp không phải là tội phạm do người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không có lỗi như: sự kiện bất ngờ; phòng

vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên

Khi xác định “có lỗi” là một dấu hiệu của tội phạm cùng với dấu hiệu “nguy hiểm cho xã hội”, Bộ luật hình sự muốn nhấn

mạnh nguyên tắc có lỗi Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ căn cứ vào việc một người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của họ Việc áp dụng hình phạt không chỉ nhằm mục đích trừng trị mà qua đó còn nhằm mục đích giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa tội phạm xảy ra Mục đích giáo dục này chỉ có thể đạt được khi hình phạt được áp dụng cho người có lỗi Đối với người không có lỗi, hình phạt không thể phát huy được tác dụng giá

dục Do vậy, “có lỗi” phải được xác định là một nguyên tắc của

Bộ luật hình sự và được coi là một dấu hiệu quan trọng của tội phạm

3 Tính trái pháp luật hình sự (tính được quy định trong Bộ luật hình sự)

Đây là đặc điểm thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa của luật hình sự Việt Nam Theo đó, bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy định trong Bộ luật

hình sự Đặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc “Không ai bị kết

Ngày đăng: 05/03/2023, 19:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung
Tác giả: Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Năm: 2020
2. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, NXB. Công an nhân dân, năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB. Công an nhân dân
Năm: 2018
3. Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Năm: 2017
4. GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đối, bổ sung năm 2017) phần chung, NXB.Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) phần chung
Tác giả: GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2017
5. Đinh Văn Quế: Bình luận Bộ luật hình sự 2015, phần thứ nhất – Những quy định chung, NXB. Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Bộ luật hình sự 2015, phần thứ nhất – Những quy định chung
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: NXB. Thông tin và truyền thông
6. “Tội phạm và cấu thành tội phạm”,http://luanvan.net.vn/luan-van/tieu-luan-toi-pham-va-cau-thanh-toi-pham-72835 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
7. TS. Trương Quang Vinh, “Bàn về khái niệm "tội phạm" trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999”,http://www.luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/hinh-su-to-tung-hinh-su/2009/7994/Ban-ve-khai-niem-toi-pham-trong-Bo-luat-hinh-su-Viet.aspx Link
8. ThS. Nguyễn Thị Vân, “Những điểm mới trong khái niệm tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015”,http://tuphaptamky.gov.vn/2014/news/Linh-vuc-hinh-su/Nhung-diem-moi-trong-khai-niem-toi-pham-cua-Bo-luat-Hinh-su-nam-2015-3106.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w