1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chức năng phương pháp luận quan điểm của chủ nghĩa mác lênin, tư tưởng hồ chí minh đối với công tác bảo đảm và đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người của chúng ta hiện nay

24 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chức năng phương pháp luận quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công tác bảo đảm và đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người của chúng ta hiện nay
Trường học Trường Đại học Chính trị Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 66,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chức năng phương pháp luận quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công tác bảo đảm và đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người của chúng ta hiện nay Quyền con người (QCN) là th[.]

Trang 1

Chức năng phương pháp luận quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công tác bảo đảm và đấu tranh trên lĩnh vực

quyền con người của chúng ta hiện nay

Quyền con người (QCN) là thành quả phát triển lâu dài của lịch sửnhân loại, là tài sản chung của các dân tộc Mỗi một bước tiến của lịch sử,QCN lại được mở rộng và nâng cao thêm một bước Dân tộc Việt Nam, trongthế kỷ XX bằng sự nghiệp cách mạng giành và bảo vệ độc lập dân tộc, đặcbiệt là trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng Cộng sản lãnh đạo đã có những đóng góp quan trọng vào việc mởrộng QCN với tư cách là một khái niệm chính trị - pháp lý quốc tế QCNkhông chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của mỗi dân tộc(1) Nói cáchkhác là một quyền tập thể của QCN

Mặc dù cộng đồng quốc tế đã thừa nhận giá trị lớn lao của QCN, đãthừa nhận các chuẩn mực pháp lý của các quyền và tự do cơ bản của QCNtrong các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự,chính trị (năm 1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và vănhóa (năm 1966), song vẫn còn không ít các vấn đề vẫn đang tồn tại cả về mặtquan điểm lý luận - chính trị và thực tiễn

Sự khác biệt về lý luận, pháp lý và thực tiễn về QCN một mặt do cácthế lực đế quốc chính trị hóa QCN, lợi dụng vấn đề QCN để thực hiện âmmưu, thủ đoạn xóa bỏ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), xóa bỏ cácnhà nước đi theo con đường độc lập dân tộc ; mặt khác, do sự khác biệt về

hệ tư tưởng, thế giới quan, lịch sử và văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc

Nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới vì mục tiêu "dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" đồng thời đấu tranh với chủnghĩa đế quốc và các thế lực tay sai trên lĩnh vực QCN, cần thiết phải làmsáng tỏ vai trò quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhtrên lĩnh vực lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề này

1() Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN trong Tuyên ngôn độc lập 1945, Tạp chí Cộng sản, số

9-2005

Trang 2

I Quyền con người và vấn đề quyền con người từ khi Liên hợp quốc ra đời đến nay

1 Quyền con người trước khi Liên hợp quốc ra đời

Trước khi Liên hợp quốc ra đời, chế định QCN ra đời gắn với cáccuộc cách mạng đầu tư tư sản xóa bỏ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ tưbản Ngày nay khi nói về lịch sử QCN người ta thường nhắc tới "Luật về cácquyền" của Anh năm 1689, "Tuyên ngôn độc lập" 1776 và Hiến pháp 1789của Mỹ, "Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền" của Pháp, năm 1789

Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, ngày 2 tháng 9 năm 1945(trước khi Liên hợp quốc ra đời - 10/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tríchdẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền củaPháp, và xem đó là những "lẽ phải không ai chối cãi được" Tuy nhiên, Ngườikhông dừng ở đó, mà con "suy rộng ra", tất cả các dân tộc đều có quyềnsống, quyền sung sướng và quyền tự do Đây là một đóng góp - mở rộng,phát triển khái niệm QCN của Hồ Chí Minh và của cách mạng Việt Namtrong thế kỷ XX

2 Quan niệm quyền con người

Căn cứ vào các văn kiện của Liên hợp quốc, bao gồm các văn kiệnkhông có tính ràng buộc về mặt pháp lý (nhưng có ý nghĩa quan trọng xét vềvai trò chính trị, đạo đức) và các văn kiện có tính ràng buộc về mặt pháp lý,nói cụ thể hơn, đó là các điều ước quốc tế về QCN, chúng ta có thể khái quátđược quan niệm của cộng đồng quốc tế về QCN

- Xét về chủ thể của quyền (cá nhân), đó là quyền của tất cả mọi

người, không phân biệt bất cứ vị thế, hoàn cảnh gắn với mỗi người, kể cả sựkhác biệt về năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật

- Xét về đối tượng của quyền, đó là tất cả nhu cầu và lợi ích về các mặt

- dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa

- Xét về cơ chế bảo đảm, trước hết đó là vai trò của Nhà nước Nhà

nước là người có trách nhiệm chủ yếu trong việc bảo vệ và thực hiện QCN

Trang 3

Quyền con người không chỉ được xác lập trong mối quan hệ giữa Nhànước và công dân, mà còn được xác lập trong mối quan hệ rộng lớn hơn, baogồm cả mối quan hệ giữa mỗi người với xã hội, với cộng đồng nhân loại.

- Xét về tính chất, QCN dựa trên nhân phẩm - tức là từ những nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người Xuất phát từ nhân phẩm, QCN là bình đẳng với

tất cả mọi người Sự khác biệt giữa loài người với động vật, là ở ý thức về sự

tồn tại của mình ý thức đó trước hết là nhu cầu về tự do và về lòng nhân đạo, tức là về tình đồng loại Như vậy có thể định nghĩa - QCN là quyền của tất cả

mọi người QCN xuất phát từ nhân phẩm, các nhu cầu, lợi ích (giá trị) và năng lực của con người được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật trong luật quốc tế và luật quốc gia.

Trước khi Liên hợp quốc ra đời, chế định QCN tồn tại trong khuônkhổ pháp luật quốc gia (trong các nhà nước tư bản chủ nghĩa (TBCN))

Trong chủ nghĩa tư bản (CNTB), QCN là thành quả đấu tranh củanhững người lao động, của nông dân, thợ thủ công và của tầng lớp trí thứcdân chủ Tuy nhiên, khi cầm quyền, giai cấp tư sản đã sử dụng QCN nhưmột công cụ chính trị nhằm củng cố địa vị thống trị của mình Nhân danh làlực lượng giải phóng con người khỏi sự thống trị của vương quyền, giai cấp

tư sản xem cuộc cách mạng mà họ thực hiện nhằm xóa bỏ chế độ phong kiến,giải phóng nông nô thoát khỏi các hình thức thống trị trước hết là về sở hữu

phong kiến và do đó họ xem đây là sự trả lại quyền tự nhiên cho con người.

Mặc dù bị hạn chế bởi ý thức hệ và lợi ích giai cấp (tư sản), về khách

quan, với sự ra đời của xã hội công dân, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản đã mở ra một giai đoạn mới, có

tính đột phá về quyền con người Quyền con người từ một quy phạm xã hội,mang tính tập quán, đạo đức đã trở thành một quy phạm pháp luật

Cuộc cách mạng XHCN tháng Mười (1917) mở ra một thời đại mớitrong lịch sử nhân loại Mặc dù sau sự kiện khủng hoảng, sụp đổ Liên Xô,Đông Âu năm 1989 - 1991, giới chính trị và lý luận đã đặt lại vấn đề thời đại

và chủ nghĩa xã hội (CNXH), song lịch sử đã chứng minh rằng, nhân loại cần

Trang 4

và có thể tìm tòi những con đường khác với con đường TBCN để đi tới một

xã hội văn minh, tốt đẹp hơn CNTB Các giá trị công bằng, bình đẳng và tự

do cho con người và quyền tự quyết cho các dân tộc cũng sẽ được bảo đảm tốt

hơn, thực chất hơn những lời tuyên bố và quy định pháp luật Trong CNXH,quyền của mỗi người sẽ được phát triển, thụ hưởng một cách hài hòa với lợiích chung của cộng đồng

3 Quyền con người từ khi Liên hợp quốc ra đời đến nay

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II đã tạo ra một bối cảnh chính trị mớiđối với cộng đồng nhân loại Các giai cấp, dân tộc, các hình thái ý thức hệ vẫncòn sự khác biệt về quan điểm và lợi ích, điều này dẫn đến các mâu thuẫn

cạnh tranh xung đột song nhân loại vẫn cần và có thể hòa hoãn, thỏa hiệp

với nhau để cùng tồn tại Điểm khởi đầu cho quá trình hòa hoãn đó là sự ra

đời của Liên hợp quốc cùng với bản Hiến chương của mình, trong đó các

nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia được xác định, như: "Bình đẳng,

tôn trọng chủ quyền của tất cả các thành viên Các thành viên cam kết giảiquyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình " Điều quan trọngtrong Hiến chương là sự thừa nhận và tôn trọng "quyền con người và các tự

do cơ bản của tất cả mọi người" Bảo vệ QCN được xem là một mục tiêu củaLiên hợp quốc, đồng thời là giá trị chung của tất cả các quốc gia dân tộc,không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, bản sắc văn hóa Nói nhưvậy không có nghĩa QCN từ đây không mang dấu ấn ý thức hệ, tính giai cấp

và bản sắc văn hóa mà chỉ với nghĩa các giai cấp, dân tộc đều có thể chia

sẻ với nhau những quan điểm, quan niệm của mình trong khái niệm QCN

Với sự ra đời của Liên hợp quốc, các văn kiện: Hiến chương Liên hợpquốc (1945), Tuyên ngôn thế giới về QCN (1948) và các Công ước quốc tế về

QCN, chế định QCN và vấn đề QCN, đã vượt ra ngoài phạm vi mỗi quốc gia

dân tộc trở thành một vấn đề chính trị và pháp lý quốc tế Cuộc đấu tranh

quan điểm về QCN đã diễn ra ngay từ khi nhà nước XHCN đầu tiên ra đời vàtrong quá trình soạn thảo Tuyên ngôn thế giới về QCN Đại diện của Liên Xôlúc đó đã kiên quyết bảo vệ quan điểm, xem các quyền kinh tế, xã hội và vănhóa là cơ sở của QCN và là quyền quan trọng hơn các quyền dân sự, chính trị;

Trang 5

đại diện của các quốc gia phải giữ vị trí quan trọng hơn vai trò của các họcgiả, chuyên gia, khi tham gia cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc; cũng nhưquyền của cộng đồng, của quốc gia dân tộc phải giữ vị trí quan trọng chứkhông phải chỉ quyền của cá nhân mới là quan trọng Ngược lại, đại diện củaAnh, Mỹ lại cho rằng, chỉ có quyền dân sự, chính trị mới được xem là QCN

và họ muốn tuyệt đối hóa quyền của cá nhân Kết quả là, kế hoạch soạn thảomột bộ luật nhân quyền quốc tế đã không thành công Thay cho "bộ luật",

Liên hợp quốc chỉ có thể thống nhất với nhau, thông qua văn kiện không có

tính ràng buộc về mặt pháp lý - đó là bản "Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người" (1948).

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh (từ sau chiến tranh thế giới thứ II đếnnhững năm 1989-1991 - Liên Xô tan rã) vấn đề QCN có hai xu hướng cơ bản sau:

- Xu hướng thứ nhất, trên phạm vi toàn cầu, QCN ngày càng được cộng

đồng quốc tế thừa nhận Các công ước quốc tế về QCN được lần lượt thông qua,trong đó có hai công ước cơ bản: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chínhtrị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966)

Về quan điểm chính trị - pháp lý, những quan điểm tiến bộ ngày càngđược cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi - như việc thừa nhận tầm quantrọng của các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, vai trò của quyền dân tộc tựquyết chính thức được thừa nhận cùng với sự ghi nhận ý nghĩa truyền thốnglịch sử, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc trong việc bảo đảm QCN ở mỗi quốcgia (Tuyên bố Viên và Chương trình hành động 1993)

Mặc dù vậy, sự khác nhau quan điểm về QCN giữa các nhóm quốc giavẫn tồn tại

Nhìn chung, đối với các quốc gia tư bản phát triển, người ta thường đềcao quyền của cá nhân, xem trọng các quyền dân sự, chính trị Các nướcXHCN và đang phát triển trong khi thừa nhận các quyền dân sự chính trị,song lại xem trọng các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Hoa Kỳ là mộttrường hợp đặc biệt Các lực lượng cực hữu luôn luôn lợi dụng vấn đề QCN

Trang 6

để thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình và can thiệp vào công việc của cácquốc gia khác, nhất là đối với các nước XHCN trong đó có Việt Nam.

- Xu hướng thứ hai, ở các nước XHCN, vấn đề QCN ngày càng được

nhận thức đầy đủ hơn Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, do nhận thức sai lầm

về CNXH và con đường đi lên CNXH, ví dụ như xoá bỏ kinh tế thị trường,thực hiện quản lý tập trung quan liêu, bao cấp - xây dựng nhà nước chuyênchính vô sản, xem nhẹ vai trò của pháp quyền Điều này đã hạn chế một sốquyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, thì trong thời kỳ cải cách, đổi mới,những hạn chếe trên đã được khắc phục

4 Quyền con người ở Việt Nam

ở nước ta, sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong Tuyên ngôn độc lập

và Hiến pháp 1946, các quyền con người dưới hình thức các quyền công dânkhông chỉ được ghi nhận, như là một thành quả của cách mạng, mà còn được

mở rộng, phát triển - QCN gắn với quyền tự quyết của các dân tộc Tuy nhiên,trong bối cảnh của các cuộc kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ chống lại cáccuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc hùng mạnh nhất, một số quyềncon người chưa thể bảo đảm được đầy đủ, thay vì tập trung cho mục tiêugiành và giữ độc lập dân tộc Vào những năm 80 (thế kỷ XX) trước đổi mới,Việt Nam đã gia nhập hai công ước quốc tế cơ bản về QCN: Công ước quốc

tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,

xã hội và văn hóa Điều đó nói lên rằng, Việt Nam cam kết với cộng đồngquốc tế bảo đảm tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người Hiến phápnăm 1992, lần đầu tiên ghi nhận QCN, là một chế định pháp luật cơ bản (Điều50)

Đại hội lần thứ VI (năm 1986) mở ra một thời kỳ mới, có tính bướcngoặt cả về lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng đất nước theo conđường XHCN Những quan niệm đổi mới của Đại hội không chỉ là phát hiện,phê phán những sai lầm trong nhận thức về con đường đi lên CNXH, mà cònđiều chỉnh cả quan niệm về CNXH, trong đó có nhận thức về tính chất củanhà nước XHCN, về con người và QCN Nội dung này đã được thể hiện trong

Trang 7

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991) vàChiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 Có thể nói,Cương lĩnh (1991) là cột mốc lớn nhận thức lý luận của Đảng ta về CNXH vàcon đường đi lên CNXH Lần đầu tiên, khái niệm quyền con người đượcchính thức đưa vào văn kiện quan trọng nhất và được xem như một mục tiêucủa cách mạng Cương lĩnh có đoạn: Kế thừa và phát huy những truyền thốngvăn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa vănhoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính

và phẩm giá con người Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải đượcthực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương phải được thể chế

bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm Nhà nước định ra các đạo luật

nhằm xác định các quyền công dân và QCN (CĐT - nhấn mạnh), quyền đi đôi

với nghĩa vụ và trách nhiệm Tuy nhiên, phải đến năm sau, vào năm 1992,Đảng ta mới có chỉ thị riêng về vấn đề QCN, chỉ thị đã thể hiện khá đầy đủquan điểm của Đảng ta về QCN(1) Cùng năm đó, trong Hiến pháp (Hiến pháp1992) Nhà nước ta đã thể chế hoá quan điểm của Đảng về QCN ở Điều 50, "ởnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người về chính trị,dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền côngdân và được quy định trong Hiến pháp và luật" Đây là lần đầu tiên khái niệmQCN với đầy đủ ý nghĩa của nó đã trở thành một nguyên tắc Hiến định của xãhội ta

Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) tiếp tục khẳng định và mở rộng

hơn quan điểm của Đảng về nhân quyền, đó là nghĩa vụ quốc gia đối với các cam kết quốc tế Báo cáo Chính trị có đoạn: "Chăm lo cho con người, bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người; tôn trọng và thực hiện các

Trang 8

Sau 12 năm thực hiện Chỉ thị 12, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị Tổng

kết thực hiện chỉ thị trên và ra Chỉ thị 41/2004/CT-TTg, 2-12-2004 Về tăng

cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền trong tình hình mới.

Chính phủ nhận định: Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhânquyền còn diễn biến phức tạp và lâu dài "Trong thời gian tới, các thế lựcphản động, thù địch sẽ gia tăng thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", bạoloạn lật đổ nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở nước

ta, trong đó lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc là mộttrong những mũi tấn công chủ yếu " (1) Chỉ thị 41 của Chính phủ đã lưu ý,

công tác nhân quyền bao gồm hai mặt - "bảo vệ" QCN của nhân dân ta và

"đấu tranh" với các thế lực thù địch Chỉ thị có đoạn: "Dân chủ, nhân quyền

là thành quả của nhân loại, là khát vọng của loài người; đồng thời là mục tiêu,động lực của quá trình xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng XHCN ởnước ta; việc phát huy dân chủ, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền conngười là bản chất của chế độ XHCN, là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước ta"

(2)

Sau Đại hội IX, công cuộc đổi mới của nhân dân ta tiếp tục phát triển

cả về chiều rộng và chiều sâu Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vàocộng đồng quốc tế Nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về CNXH và conđường đi lên CNXH ngày càng gắn liền với những đặc trưng của thời đại ngàynay Thời đại thông tin, xã hội thông tin - thời đại kinh tế tri thức và thời đại toàncầu hoá Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH của nhân dân ta thuậntheo xu hướng chung của thời đại, đồng thời giữ vững định hướng XHCN,như Cương lĩnh 1991 đã chỉ ra, "Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khókhăn, thử thách Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; songloài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hoá củalịch sử"(3)(3)

Nếu như trong Văn kiện Đại hội IX, Đảng ta đã khái quát quan điểmcủa mình về QCN, trong phần IX, về "đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt

1() (2) Chính phủ, Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg, 2-12-2004 - Tài liệu Viện Nghiên cứu QCN.

(3)(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh, 1991, tr 5.

Trang 9

động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế" - mục 3 "pháthuy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế", thì trong Vănkiện Đại hội X, cách đề cập về QCN mang tính thực tiễn, đồng thời thông qua

phương pháp tiếp cận quyền, trong đó nhiều nội dung QCN đã được trình bày

thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp và giám sát của nhân dân như:

- "Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dânchủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, QCN"(1)1)

- Hoàn thiện cơ chế chính sách "Phát huy vai trò của cơ quan dân

cử, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân" (2)

- "Hoạt động của Đảng và Nhà nước phải chịu sự giám sát của nhân dân"

(3)(3)

Sự nhận thức của Đảng ta về QCN, trong thời kỳ đổi mới là một bướcphát triển mới, bao gồm sự kế thừa quan niệm về quyền công dân, về chế độdân chủ, về nhà nước của dân, do dân, vì dân trong các giai đoạn lịch sử trướcđây, đồng thời gắn với đổi mới tư duy lý luận về CNXH và con đường đi lênCNXH trong thời đại ngày nay Đây là kết quả sự tương tác giữa hoạt động lýluận với kinh nghiệm thực tiễn trên 20 năm qua của Đảng ta

II Chức năng phương pháp luận quan điểm của Đảng ta trên lĩnh vực quyền con người

Hiện nay, công cuộc đổi mới của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo củaĐảng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Hơn 20 năm đổi mới ViệtNam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử về nhiều phươngdiện Đất nước, xã hội, con người đã có những thay đổi sâu sắc Với việc ViệtNam đã trở thành thành viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợpquốc, vị thế quốc tế, uy tín về chính trị của dân tộc ta đạt tới tầm cao mới sovới trước đây Tuy nhiên, đất nước ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khănthách thức, trong đó có những vấn đề đang gây nhức nhối cho xã hội như,

1)(1) (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội X, Nxb CTQG, HN, 2006, tr 124,

127.

(3)(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội X, Nxb CTQG, HN, 2006, tr 128.

Trang 10

phân hoá giầu nghèo trong xã hội, giữa thành thị với nông thôn, vùng sâu,vùng xa; tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu chưa bị đẩy lùi; bản sắc văn hoádân tộc đang đứng trước nguy cơ bị bào mòn Đặc biệt là chủ nghĩa đế quốc,

đứng đầu là các thế lực cực đoan, sô vanh Hoa Kỳ cùng với các thế lực tay

sai ở châu Âu và một số ít người Việt định cư ở nước ngoài, cũng như các phần tử cực đoan trong dân tộc thiểu tố, tôn giáo, những kẻ cơ hội, bất mãn

về chính trị mưu toan đẩy mạnh hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để phá hoại về chính trị, tư tưởng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, phá hoại vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội tiến hành diễn biến hoà bình về mặt chính trị, tư tưởng đồng thời chuẩn bị cho bạo loạn lật đổ.

Tình hình đó đòi hỏi chúng ta, một mặt phải đẩy mạnh công cuộc đổi mới,nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân trên cơ sở xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, xây dựng một nền văn hóa dựa trên bản sắc dân tộc vàtinh thần đại đoàn kết toàn dân; mặt khác phải giữ vững an ninh chính trị, ổn

định xã hội, điều đó đòi hỏi chúng ta phải giải quyết tốt những vấn đề QCN

đối nội cũng như đối ngoại Muốn vậy đồng thời với việc tiếp tục hoàn thiện

quan điểm, chính sách, pháp luật về QCN cần nâng cao năng lực xử lý những

vấn đề QCN đang nảy sinh trong thực tế Làm sáng tỏ chức năng phương

pháp luận quan điểm của Đảng trên lĩnh vực QCN là một nhiệm vụ lý luận chính trị cần thiết.

-1 Khái niệm quan điểm

Quan điểm là gì? Quan điểm ở đâu ra? Quan điểm khác chính sách vàpháp luật như thế nào? là những vấn đề mà những người làm công tác nghiêncứu khoa học xã hội nhân văn nói chung và làm công tác chính trị, tư tưởngnói riêng cần phải quan tâm

Quan điểm, theo cách hiểu phổ biến hiện nay là chỗ đứng để xem xét,

nhìn nhận và xử lý một vấn đề nào đó Ví dụ như người ta thường nói: "Quan

điểm giai cấp", "Quan điểm quần chúng", nghĩa là xem xét xã hội dựa trênnhận thức xã hội phân chia thành các giai cấp, mỗi giai cấp có lợi ích riêng

Trang 11

của mình tương tự như vậy, theo quan điểm quần chúng, nghĩa là nhìn nhận

xã hội dựa trên nhận thức - quần chúng giữ vai trò quan trọng trong sự pháttriển của xã hội Dựa trên một quan điểm nào đó, người ta nhận thức sự vật,hiện tượng đó là gì, bản chất của nó ra sao và cần phải xử lý vấn đề đó nhưthế nào

Thông thường quan điểm của một quốc gia được hình thành từ thế

giới quan, hệ tư tưởng và lợi ích của một giai cấp nhất định Đồng thời quan

điểm còn dựa trên lợi ích của dân tộc, mà giai cấp thống trị, lực lượng cầm

quyền nhà nước và xã hội đó đại diện Cũng có thể ví quan điểm như lăngkính nhìn nhận một sự vật hiện tượng của một giai cấp, một lực lượng cầmquyền nhất định, phục vụ cho lợi ích của họ

Trong khuôn khổ nội bộ quốc gia, sự khác biệt giữa quan điểm với

chính sách, pháp luật là ở tính khái quát, trừu tượng với tính cụ thể lịch sử.Thông thường mỗi nhà nước dựa trên quan điểm của giai cấp thống trị, củalực lượng cầm quyền, thường là của đảng chính trị để đề ra chính sách vàpháp luật Do đó chính sách, pháp luật là biểu hiện cụ thể và thường thốngnhất với quan điểm của lực lượng cầm quyền

Tính đúng đắn của chính sách và pháp luật được xem xét trong hai

mối quan hệ: thứ nhất, trong mối quan hệ với quan điểm, có nghĩa nó có phù hợp, có phục vụ cho quan điểm của giai cấp cầm quyền hay không? Thứ hai,

nó có đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn hay không?

Chính sách, pháp luật và nhiều quy phạm xã hội, là những khuôn khổ,thường được quy định chặt chẽ dưới hình thức các văn bản pháp quy của Nhànước Trong khi xem xét hành vi, hoạt động của cá nhân, cơ quan, tổ chức vềchính sách và pháp luật, người ta có thể đưa ra đánh giá "đúng - sai" dựa trêncác quy định của Nhà nước

Trong khi xem xét đánh giá quan điểm của một cán, cơ quan, tổ

chức của một lực lượng xã hội nào đó (tổ chức đảng phái, hội, nhất là của

một nhà nước (chính phủ, quốc hội, toà án )) hoặc của cá nhân, người ta

Trang 12

không thể đơn giản kết luận là "đúng" hay "sai" mà thường là những nhận xét:

"bảo thủ", "lạc hậu", là "cấp tiến", "cơ hội" hay "kiên định", "vững vàng",

"phù hợp" hay "không phù hợp"

Trong quan hệ quốc tế, quan điểm thể hiện lợi ích quốc gia của mỗi

nhà nước Cũng như trong quan hệ nội bộ của mỗi quốc gia, quan điểm củanhà nước thể hiện thế giới quan, lợi ích của giai cấp thống trị, của lực lượng

nắm giữ quyền lực nhà nước Trong quan hệ quốc tế, quan điểm của mỗi chính

phủ chủ yếu và trước hết thể hiện lợi ích của quốc gia, dân tộc nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc Nói chính xác hơn là lợi ích của giai cấp thống trị cầm quyền liên quan đến những vấn đề an ninh quốc gia và những vấn đề trọng yếu khác trong quan hệ quốc tế Kinh nghiệm lịch sử thế kỷ XX cho thấy, các nhà nước

thường đặt lợi ích quốc gia, dân tộc cao hơn lợi ích giai cấp

Khác với quan hệ nội bộ của mỗi quốc gia, trong quan hệ quốc tế, mốiquan hệ giữa chính sách, pháp luật với quan điểm không phải luôn luôn thốngnhất Nói chung, chính sách đối ngoại của các quốc gia thường có tính độc lậptương đối, xét về mặt hình thức với chính sách đối nội Trên lĩnh vực quyềncon người, Hoa Kỳ là một trường hợp điển hình về sự không nhất quán giữaquan điểm, chính sách, pháp luật quốc gia với chính sách đối ngoại trên lĩnhvực nhân quyền khi họ đề cập tới nhiều vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc,

tôn giáo Chính sách tiêu chuẩn kép (double stardan) là một ví dụ Tuy nhiên

nếu phân tích sâu hơn thì điều này không có gì là khó hiểu, suy đến cùng tất

cả sự nhất quán và cả sự không nhất quán của họ đều phục vụ cho lợi ích củagiai cấp thống trị, của lực lượng cầm quyền

Sự khác biệt về lợi ích giữa các quốc gia, dân tộc trong thời đại ngàynay về nhiều mặt, đặc biệt là về chế độ chính trị, về kinh tế, về môi trường, vềkhoa học, công nghệ, về sở hữu trí tuệ là một sự thật V.I Lênin đã từng đềcập tới "sự phân biệt giữa những dân tộc bị bóc lột và dân tộc bóc lột" (1).Theo V.I Lênin, đây là một đặc điểm trong thời đại đế quốc chủ nghĩa mà

chiến lược cách mạng của các đảng cộng sản phải tính đến Nói một cách khái

quát, quan điểm của một quốc gia là cách xem xét đánh giá, xử lý vấn đề lấy

1 () V.I Lênin, Tuyển tập (Bản tiếng Việt), Nxb Tiến bộ, Matxcơva, tr 703.

Ngày đăng: 05/03/2023, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w