Quyền con người trong thời kỳ đổi mới mấy vấn đề về nhận thức lý luận và thực tiễn Khác với văn hóa và đạo đức là những giá trị in đậm dấu ấn dân tộc, khu vực, giá trị nhân quyền tồn tại và phát triển[.]
Trang 1Quyền con người trong thời kỳ đổi mới mấy vấn đề về nhận thức lý luận và thực tiễn
Khác với văn hóa và đạo đức là những giá trị in đậm dấu ấn dân tộc,khu vực, giá trị nhân quyền tồn tại và phát triển xuyên suốt các hình thái kinh
tế - xã hội, chế độ chính trị, không phân biệt hệ tư tưởng, các quy phạm xãhội Bởi vậy có thể nói, quyền con người (QCN) là giá trị chung của nhânloại
Ngày nay QCN được cộng đồng quốc tế và các quốc gia đánh giá cao vàxem đó như một thành tựu của nền văn minh nhân loại, là thước đo của sự tiến
bộ xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, bản sắc văn hóa, trình độ pháttriển
Dân tộc Việt Nam, trong thế kỷ XX với ba sự kiện và quá trình lịchsử: Cách mạng Tháng Tám, hai cuộc kháng chiến anh hùng và công cuộc đổimới do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo khôngnhững đã giành lại độc lập cho dân tộc, quyền công dân và QCN cho nhândân mà còn có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển, mở rộng kháiniệm QCN Đóng góp đó trước hết thuộc về công lao của Chủ tịch Hồ ChíMinh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN bắt nguồn sâu xa từ truyền thống lịch
sử, văn hóa dân tộc; từ thiên tài trí tuệ - sự nhạy cảm về chính trị của Người.Ngay từ tuổi vị thành niên, Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận thấy những giá trịcao quý của QCN trong các bản Tuyên ngôn lịch sử của cách mạng Mỹ, 1776của cách mạng Pháp, 1789, đặc biệt Người đã tìm thấy con đường giải phóng
xã hội, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính đây là conđường giành lại quyền con người địch thực của nhân dân ta
Trong Tuyên ngôn độc lập, 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích lạiTuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ, 1776; Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyềncủa Pháp, 1789 - "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng"; "Người
Trang 2ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do vàbình đẳng về quyền lợi" và Người đánh giá đó là "những lời bất hủ", "lànhững lẽ phải không ai chối cãi được" Từ những tiền đề quyền cá nhân,Người đã suy rộng ra một chân lý mới: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đềusinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và tựdo".
Điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN, trước hết ở cách
tiếp cận: Người đã đứng trên lập trường lợi ích dân tộc, chọn lọc, kế thừa, cácgiá trị nhân quyền từ nhiều học thuyết, nhiều nền văn hóa, nhiều hệ tư tưởng,
nhiều chế độ xã hội Thứ hai về nội dung, Người đã mở rộng nội dung QCN
-Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của dântộc Đó là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia Cũng có thể hiểu đây là quyềntập thể của QCN Chức năng cơ bản của quyền này là bảo đảm các điều kiện
cho sự tồn tại và phát triển của các quyền và tự do của cá nhân Thứ ba, về cơ
chế, việc bảo đảm QCN không chỉ thuộc trách nhiệm của nhà nước mà cònthuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
1 Tư tưởng về quyền con người và chế định pháp luật về quyền con người.
ý tưởng về QCN có nguồn gốc sâu xa trong các nền văn hóa, tôn giáo
và học thuyết ở cả phương Đông và phương Tây Song do những lý do lịch sử
và chính trị, trong thời kỳ Phục hưng, việc nghiên cứu QCN đã phát triểnmạnh mẽ ở phương Tây hơn ở phương Đông, - có thể ở đây tư duy triết họcduy lý phát triển hơn ở phương Đông Từ sau Cách mạng Tháng Mười, trongthời kỳ chiến tranh lạnh, do nhiều nguyên nhân khác nhau …đặc biệt là cuộcchiến tranh chính trị- tư tưởng, chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa
đế quốc phát động chống lại các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) khiến choviệc nghiên cứu QCN ở đây đã không có cơ hội phát triển
Trong thời kỳ "cải tổ", "cái cách", "đổi mới", QCN được xem như mộtgiá trị cơ bản của xã hội XHCN Tuy nhiên trong nhận thức lý luận cũng như
Trang 3thực tiễn ở mỗi quốc gia do bị chi phối bởi các lực lượng chính trị khác
nhau-có những quan niệm khác nhau, dẫn đế hậu quả khác nhau
Sau chiến tranh lạnh, trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhiều hướng nghiêncứu mới, khách quan, toàn diện hơn đã được triển khai, nhiều công trình cho
rằng tư tưởng nhân quyền - xét từ những giá trị nền tảng: nhân phẩm, tự do,
bình đẳng, đặc biệt là Nhân đạo - Khoan dung thì tư tưởng nhân quyền đã tồn tại trong nhiều tôn giáo và học thuyết, ở cả phương Tây và phương Đông,
như đạo Phật, đạo Thiên Chúa, triết lý Nho giáo
Xét về mặt lịch sử học thuyết, cơ sở trực tiếp của QCN là học thuyết về
quyền tự nhiên với những tên tuổi lớn là H Grôtxi, T Hoble, J Lôccơ, B.
Spinoza, E Kant, S Montesquieu, J J Rouseau
Cơ sở chính trị, pháp lý trực tiếp của QCN là các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, và xã hội TBCN ra đời và tồn tại ở châu Âu trong thế kỷ
XVII, XVIII Những văn kiện nhân quyền tiêu biểu, có ảnh hưởng lớn đến sựphát triển của QCN trên thế giới có thể kể đến là: "Luật về các quyền củaAnh", 1689; "Tuyên ngôn độc lập", 1776 và "Hiến pháp" của Hoa Kỳ, 1789,
"Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền", 1789 của Pháp
Mặc dù còn bị hạn chế bởi ý thức hệ giai cấp, sự ra đời của xã hội công dân, nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường của CNTB về khách quan đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của QCN
Quyền con người xét về nguồn gốc tự nhiên, vốn có, phải là những giátrị tồn tại ở tất cả mọi người Trong các giá trị này (tùy theo mỗi cách tiếp cậnkhác nhau có thể có số lượng nhiều ít khác nhau) thì các giá trị nền tảng được
thừa nhận nhiều hơn cả là Nhân phẩm (Human dignity) và Bình đẳng (Equality)
và Tự do (Freedom) và Nhân đạo (Humanity) Nhân phẩm là đặc trưng, là phẩm chất chỉ có ở con người - Điểm cốt lõi của Nhân phẩm là tư duy, là trí
tuệ, là ý thức nói chung, đặc biệt là ý thức về loài của mình, Bình đẳng là các
nhu cầu và lợi ích (về tinh thần và vật chất) của loài người đều tồn tại ở mỗi
Trang 4người Tự do là nhu cầu và khả năng tự quyết định mọi hoạt động (tư duy và hành động) của con người Nhân đạo là tình yêu thương đối với con người.
Các giá trị nền tảng nói trên là sở hữu của tất cả mọi người, không phân biệt
về tất cả yếu tố tự nhiên và xã hội đối với mỗi con người Đây cũng chính làgiá trị phân định giữa con người với động vật cấp cao
C Mác và Ph Ăngghen không phủ nhận những giá trị tự nhiên vốn cócủa con người do các học giả học thuyết " Quyền tự nhiên" phát hiện, các ôngchỉ phê phán khái niệm "quyền"mà các học giả này gắn với những giá trị đó
Bởi vì "quyền" không thể là giá trị tự lập Quyền là một sản phẩm của nhà
nước và xã hội Nói một cách đơn giản - quyền là một phạm trù pháp luật.
"Không có pháp luật thì không có quyền" Mặt khác "quyền" chỉ có ý nghĩa khi
tồn tại các quan hệ xã hội Muốn có quyền tất phải có một quy chế pháp lý bảo
đảm cho nó Điều này đã được J J Rousseau đề cập tới trong công trình "Bàn
về khế ước xã hội"
Căn cứ vào những giá trị nền tảng của QCN, vào Tuyên ngôn thế giới
về QCN, vào các Công ước quốc tế về QCN thì QCN là nhân phẩm, các nhu
cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
2 Quyền con người trong thời kỳ đổi mới
2.1 Quyền con người trong mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội
Mặc dù Nhà nước Xô Viết- nhà nước XHCN đầu tiên ra đời, năm
1917 ở một nước tư bản trung bình nhưng đã là một nhà nước chăm lo, bảođảm các quyền con người chẳng những hơn hẳn chế độ Sa Hoàng mà còn tốthơn bất cứ một quốc gia tư bản chủ nghĩa nào vào thời điểm đó, trên tất cảcác lĩnh vực từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội Tuy nhiên trong xã hộiXHCN con đường phát triển của QCN không ở ngoài sự vận động biện chứngcủa mâu thuẫn giữa nhu cầu về các quyền và tự do của nhân dân với quy chế
xác lập, thực thi và giám sát "quyền" Nhưng mâu thuẫn này khác về bản chất
với mâu thuẫn QCN trong chủnghĩa tư bản Trong xã hội XHCN, mâu thuẫn
Trang 5về QCN biểu hiện ở một mặt QCN nằm trong mục tiêu lý tưởng của Đảng và Nhà nước Với mặt khác là sự hạn chế về năng lực, đặc biệt là năng lực giải
quyết những vấn đề lý luận, phẩm chất của cán bộ, công chức của Đảng vàNhà nước trong việc bảo đảm QCN của nhân dân Những mâu thuẫn này đãkéo dài, không được giải quyết trong nhiều thập kỷ Mâu thuẫn này trở nêncăng thẳng, phức tạp hơn do phải đấu tranh với âm mưu thủ đoạn lợi dụngdân chủ, nhân quyền tiến hành diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ các quốcgia đi theo con đường XHCN của chủ nghĩa đế quốc
ở các nước XHCN trước đây, do nhận thức sai lầm về lý luận, chủ quan,duy ý chí, phiến diện trong tổ chức thực tiễn, đồng nhất xây dựng XHCN vớiviệc xóa bỏ kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân, xây dựng và duy trì nhà nướcchuyên chính vô sản; xem nhẹ vai trò của các tổ chức xã hội những điều này
về khách quan đã dẫn đến hạn chế QCN của người dân như quyền dân chủtrực tiếp, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh làm tổn thương đến vai tròlãnh đạo của Đảng Cộng sản, uy tín của chủ nghĩa xã hội (CNXH)
Vào thập kỷ 20 của thế kỷ trước V.I Lênin phát hiện và sửa chữatrong thời kỳ thực hiện "chính sách kinh tế mới" Rất tiếc sau khi V.I Lêninmất những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã không được kế thừa vàphát triển được những tư tưởng sáng tạo của Người
Trong thời kỳ "cải tổ", "cải cách", "đổi mới" ở hệ thống XHCN,những của mâu thuẫn xã hội không được giải quyết đồng thời do tác động củachủ nghĩa đế quốc đã dẫn tới bùng nổ xã hội làm sụp đổ một phần của hệthống XHCN Các nước tiếp tục đi theo con đường XHCN còn lại đã nhận
thức lại CNXH và con đường đi lên CNXH bao hàm cả nhận thức mới về
QCN ở các nước này QCN đến nay đã có cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội vững
chắc cho sự phát triển của mình - đó là Nhà nước pháp quyền XHCN, là nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và xã hội dân sự
2.2 Quyền con người trong nhận thức lý luận của Đảng ta
Trang 6Cương lĩnh chính trị năm 1930 của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đếnVăn kiện Đại hội II, Đại hội III, Đại hội IV cho đến Đại hội X, đều thể hiệnnhất quán đường lối, chính sách vì lợi ích của dân tộc, vì quyền làm chủ và
hạnh phúc của nhân dân Tuyên ngôn độc lập 1945, Hiến pháp 1946, và các
Hiến pháp 1959, 1980, 1992, đều nhất quán xem quyền và lợi ích của nhândân là bản chất của xã hội ta Đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý của quyềncon người đã được ghi nhận và bảo đảm trong đời sống
Tuy nhiên, trong giai đoạn cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, dohoàn cảnh chiến tranh, phải tập trung vào mục tiêu giành và bảo vệ độc lậpdân tộc, Đảng và Nhà nước ta chưa có nhiều điều kiện để chăm lo đầy đủ đốivới đời sống của nhân dân, cũng như chăm lo đến việc kiện toàn, hoàn thiệnnhà nước của nhân dân, bảo đảm đầy đủ các quyền con người
Trong thời kỳ cả nước bắt tay vào sự nghiệp xây dựng CNXH (1975)đến năm 1986, chúng ta đã phạm phải sai lầm trong nhận thức lý luận, chủquan duy ý chí trong thời kỳ quá độ lên CNXH và giáo điều trong việc họchỏi kinh nghiệm của nước ngoài, phủ nhận kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân;quan niệm phiến diện về nhà nước chuyên chính vô sản, không thấy hết vaitrò của pháp quyền cũng như nội dung của công bằng, dân chủ trong xã hộimới Những sai lầm và hạn chế trên đã tác động tiêu cực đến nhận thức lýluận và bảo đảm quyền con người trong thực tiễn
Cũng cần phải nói thêm rằng, trong suốt thời kỳ từ khi Cách mạngtháng Mười thắng lợi cho đến nay, với sự xuất hiện của một xã hội mới, xãhội XHCN, mà bước khởi đầu là tìm kiếm một con đường xây dựng một xãhội không có tình trạng người bóc lột người, dân tộc này áp bức dân tộckhác đã diễn ra cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, ýthức hệ hết sức quyết liệt, giữa chủ nghĩa đế quốc với CNXH và phong tràogiải phóng dân tộc Trong điều kiện không cân sức về nhiều mặt khi CNXHmới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã giành được ưu thế, chủ động dùng quan điểmdân chủ, nhân quyền cực đoan tấn công các nước XHCN trên mặt trận tư
Trang 7tưởng Kết quả là, việc chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên về tư tưởng, đa đảngđối lập, "công khai", "dân chủ", "nhân quyền" theo mô hình cực đoan của chủ
nghĩa tư bản cùng với những nguyên nhân khác đã đưa Liên Xô và các nước
XHCN Đông Âu đến sụp đổ
Xét về bản chất, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước ta trong suốt các thời kỳ cách mạng đều tôn trọng và bảo đảm quyền conngười
Về mặt lịch sử, trong những tài liệu trước Cách mạng tháng Tám,
1945, thuật ngữ nhân quyền mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng như làmột thứ vũ khí đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân trong một số bài báo,công trình như: "Lên án chủ nghĩa thực dân" (1925), "Yêu sách 8 điểm củanhân dân Việt Nam" gửi tới Hội nghị Véc-xây, 1919 Với ý nghĩa là một kháiniệm tích cực, khái niệm QCN cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụngtrong khi đề cập tới chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, 1945, đặcbiệt là trong Tuyên ngôn độc lập Tuy vậy, khái niệm này đã không được sửdụng trong suốt một thời kỳ lịch sử kéo dài từ cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp (1946) cho đến những năm 80 của thế kỷ XX
ở các nước XHCN tình hình cũng tương tự Tuy vậy, khái niệm QCN
và cơ chế quốc tế bảo đảm QCN đã được Liên Xô và một số nước XHCNĐông Âu khác là thành viên của Liên hợp quốc sau chiến tranh thế giới thứhai đã nghiên cứu, sử dụng trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận với các nước
đế quốc,(còn được gọi là các nước phương Tây) trong khuôn khổ hoạt độngcủa Liên hợp quốc và đường lối, chính sách đối ngoại của các nước XHCNlúc đó Đại diện của Liên Xô đã có đóng góp to lớn trong việc hình thành tổchức Liên hợp quốc và đề xuất những quan điểm chính trị trong các văn kiệnquan trọng của tổ chức này, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc 1945 vàTuyên ngôn thế giới về QCN, 1948
Trong những năm đầu của thời kỳ cải tổ, ở Liên Xô, Đông Âu đã diễn
ra sự "giao thoa" giữa các quan điểm khác nhau về QCN Quyền con người
Trang 8được nhận thức lại và xem như một giá trị của CNXH đồng thời QCN đượcquan niệm là công cụ diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc.
Sự thất bại của cải tổ ở Liên Xô (1989 - 1991), sự kiện động loạn ởBắc Kinh (1989) do tác động của chiến lược diễn biến hòa bình, lấy dân chủ,nhân quyền làm công cụ khiến cho Đảng ta phải cân nhắc thận trọng trong việc
xử lý những vấn đề dân chủ và nhân quyền Tuy nhiên điều này không cản trởnhững đổi mới nhận thức lý luận của Đảng ta trên lĩnh vực này
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đã mở ra một thời kỳ mới, có tínhbước ngoặt cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng đấtnước theo con đường XHCN Những quan điểm đổi mới của Đại hội khôngchỉ nhằm khắc phục những nhận thức sai lầm về con đường đi lên CNXH, màcòn điều chỉnh cả quan niệm về CNXH, trong đó có nhận thức về tính chất củanhà nước xã hội chủ nghĩa, về con người và quyền con người Tinh thần này đã
được thể hiện trong văn kiện quan trọng - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH, 1991 và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 Có thể nói Cương lĩnh năm 1991 là một cột mốc lớn mang tính bước ngoặt trong nhận thức lý luận của Đảng ta về CNXH và QCN Cương
lĩnh có đoạn: "Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất
cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xâydựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá conngười"(1)(1) Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trongthực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị kinh tế, văn hóa, xã hộithông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thứcdân chủ trực tiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương phải được thể chế hóa
bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm Nhà nước định ra các đạo luật
(1)(1) Các nghị quyết của Trung ương Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr
299
Trang 9nhằm xác định các quyền công dân và QCN, quyền đi đôi với nghĩa vụ và
trách nhiệm(2)(2)
Từ đây thuật ngữ quyền con người với tư cách là một khái niệm tích
cực là một giá trị của nhân loại đã khôi phục lại sau một thời gian dài bị gián
đoạn trong lý luận cách mạng Việt Nam (kéo dài gần một nửa thế kỷ, từ 1945cho đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX)
Tuy nhiên, phải đến năm 1992, với Chỉ thị 12/CT-TW ngày 12-7-1992
của Bộ Chính trị, thì quan điểm về QCN của đảng ta mới được hoàn thiện.
Văn kiện này đã đề cập đến hầu hết những vấn đề cốt lõi của QCN và xácđịnh những quan điểm sau:
- Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dânlao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới QCN là giá trị chung của nhânloại
- Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, QCN mang tính giaicấp sâu sắc
- Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và CNXH thì QCN mới có điều kiệnbảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn
- Lợi ích của cá nhân, của con người là mục tiêu, động lực của sự pháttriển xã hội Bảo đảm lợi ích cá nhân đồng thời phải đảm bảo lợi ích tập thể
và cả cộng đồng
- Quyền cá nhân không tách với nghĩa vụ và trách nhiệm Dân chủ điđôi với kỷ cương Mở rộng dân chủ CNXH, phát huy quyền làm chủ của nhândân, đồng thời thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi íchcủa Tổ quốc, của nhân dân
- Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vichủ quyền quốc gia
Trang 10- Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụthuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước Do vậy không thể
áp đặt sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác
- Trong quan hệ quốc tế, chúng ta sẵn sàng hợp tác thiện chí trên cơ sởgiữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia đồng thời kiên quyết đấu tranh với các
âm mưu, thủ đoạn lợi dụng nhân quyền để chống phá ta
Nét đặc sắc về tư duy chính trị của Đảng ta trong Chỉ thị 12 là sự khẳng định mạnh mẽ: nhân quyền là bản chất của chế độ ta, do đó chúng ta cần phải giành lại thế chủ động trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này.
Quán triệt quan điểm của Đảng ta nêu trong Cương lĩnh 1991 và Chỉthị 12, Quốc hội dã đưa quyền con người vào Hiến pháp 1992 Tại Điều 50,Hiến pháp ghi: ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền conngười về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện
ở các quy định trong Hiến pháp và Luật Đây là lần đầu tiên quyền con người
trở thành một nguyên tắc hiến định của chế độ chúng ta.
Khẳng định lại quan điểm của mình đối với QCN, Báo cáo chính trị
Đại hội IX, 2001 của Đảng đã ghi: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của tất cả mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về QCN mà Việt Nam đã ký kết tham gia"(1)(1)
Ngày 11-1-2002, trong bài trả lời tạp chí Thời đại (Time - Mỹ) đồng chíTổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: "Chúng tôi cho rằng, việc xử lý và bảo vệQCN là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia dân tộc, phải phù hợp vớiđặc thù lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đồng thời phải phù hợp vớinhững mục tiêu, chuẩn mực và nguyên tắc quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi Chúng tôi không chấp nhận bên ngoài áp đặt quan điểm về QCN và lợi dụngQCN để can thiệp vào công việc nội bộ, đặt điều kiện trong quan hệ quốc tế"(2)(2)
(1)(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2001, tr 134.
Trang 11Trong hai tài liệu trên, Đảng ta đã bày tỏ rõ quan điểm của mình về
QCN trong các quan hệ quốc tế: Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các điều ước quốc tế về QCN mà mình đã tham gia Mặt khác, Việt Nam không chấp nhận sự áp đặt quan điểm nhân quyền của nước khác cho mình và dùng nhân quyền làm phương tiện để can thiệp vào công việc nội bộ, cũng như lấy nhân quyền làm điều kiện cho các quan hệ quốc tế khác.
Quán triệt quan điểm và chủ trương của Đảng, cho đến nay nhà nước
ta đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người.Năm nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa trong phápluật Việt Nam về cơ bản đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người
Như vậy là, sự phát triển nhận thức của Đảng ta trên lĩnh vực QCNtrong thời kỳ đổi mới được thể hiện trên những mặt sau:
Thứ nhất, về thế giới quan và phương pháp luận: nếu như trong các
giai đoạn trước, do chưa có điều kiện khách quan và do chưa nhận thức đượcđầy đủ khái niệm QCN, thì nay, trong thời kỳ đổi mới QCN được quan niệmđầy đủ hơn Quyền con người là thành quả của các cuộc đấu tranh của nhândân lao động và các dân tộc bị áp bức; là giá trị chung của nhân loại, là mụctiêu và động lực của cách mạng
Thứ hai, về nội dung khái niệm QCN, nếu như trước đây quan niệm
quyền công dân bao quát QCN thì nay được quan niệm chính xác hơn, cả về
nội hàm và ngoại diện của khái niệm này QCN không chỉ bao quát quyền
công dân, mà còn là quyền của tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch,
năng lực hành vì dân sự và năng lực pháp luật Đó còn là quyền của quốc gia.Đặc biệt một số quyền kinh tế, xã hội của người dân trong đó có quyền sở hữu
tư nhân, quyền tự do kinh doanh được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và thựchiện
Quan niệm về tính chất nhà nước đã có sự điều chỉnh quan trọng, từ
nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ XHCN sang nhà