1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chủ nghĩa mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về quyền con người

36 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Chủ nghĩa Mác, Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 73,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người I Chủ nghĩa Mác Lênin về quyền con người Nói đến lịch sử tư tưởng nhân quyền không thể không nói đến những đóng góp của C Mác,.

Trang 1

Chuyên đề Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

I Chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con người

Nói đến lịch sử tư tưởng nhân quyền không thể không nói đến nhữngđóng góp của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và Hồ Chí Minh Hơn nữa,

những đóng góp của các ông là một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư

tưởng về quyền con ngườ i của nhân loại.

Có thể nói, ý tưởng về quyền con người, quy phạm pháp luật về quyềncon người có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, các nền văn hóa, tôn giáo và họcthuyết ở cả phương Đông và phương Tây

Cơ sở lý luận trực tiếp của quyền con người là học thuyết về quyền tự

nhiên, bao hàm cả pháp luật tự nhiên ra đời và phát triển vào thế kỷ XVI,

XVII Đây cũng là một nội dung của thời đại ánh sáng Những tên tuổi tiêubiểu cho học thuyết này là H Grotxi, T Hoble, J Lôccơ, B Spinoza, E Kant,

S Montesquieu, J.J Rousseau Học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng: - Conngười là một phần của giới tự nhiên, là một sản phẩm của tự nhiên chứ khôngphải là sự sáng tạo của một đấng siêu nhân nào như quan niệm của các tôn

giáo Sự khác biệt giữa con người với phần còn lại của thế giới là ở nhân

phẩm (Human dignity) Nhân phẩm là giá trị vốn có và chỉ có ở con người.

Cốt lõi của nhân phẩm là trí tuệ, là ý thức nói chung, ý thức về bản thân vàđồng loại Nội hàm của nhân phẩm bao hàm cả khả năng tự quyết định mọihành vi của mình Nhân phẩm là đặc trưng, là cái vốn có ở mỗi người Do đó,

khi người ta nói mọi người có quyền bình đẳng với nhau, thì cơ sở quyền bình đẳng tự nhiên chính là ở nhân phẩm Trong quá trình phát triển của nhân loại, những tư tưởng về quyền bình đẳng tự nhiên chuyển sang mong muốn quyền bình đẳng về xã hội, nghĩa là khắc phục những bất bình đẳng do xã hội sinh ra.

Học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng sinh ra con người đã có hoặcvốn có những quyền của mình Những quyền này bắt nguồn từ những nhu cầu

Trang 2

cơ bản, được xem là những quy luật tồn tại và phát triển của nhân loại Những

quyền đó là: Quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu, quyền kết hôn và quyền

được sống hòa nhập trong xã hội.

Theo các tác giả của học thuyết về quyền tự nhiên, những nhu cầu trênphải được xem là quyền đặc biệt Chính vì là đặc quyền nên bất cứ một nhànước nào cũng phải thừa nhận và bảo vệ nó Khác với quyền tự nhiên, quyềnthực định - là những quy định trên tất cả các mặt của đời sống, mỗi nhà nướctùy theo hoàn cảnh của mình mà đặt ra để quản lý xã hội

Cũng theo các học giả về quyền tự nhiên, đặc biệt là H Gôtxi, S.Montesquieu và J.J Rousseau, sự ra đời của pháp luật là một khế ước xã hội.Giữa một bên là nhà nước và một bên là người dân Nội dung cơ bản của khếước đó là: mỗi người từ bỏ quyền riêng của mình để gộp hết vào quyềnchung, mà đại diện là nhà nước Đổi lại nhà nước có trách nhiệm bảo vệ cácquyền và tự do cho mọi người

Về cơ chế bảo vệ quyền con người, đóng góp quan trọng của S.Montesquieu là đã phát triển tư tưởng về quyền tự nhiên, xây dựng lý thuyết

nhằm hạn chế quyền lực của nhà nước Ông đã đề ra học thuyết tam quyền

phân lập Học thuyết này nhằm khắc phục tình trạng độc quyền, lạm quyền từ

phía nhà nước, nhằm bảo vệ quyền của người dân

Học thuyết về quyền tự nhiên ra đời cùng với sự hình thành chủ nghĩa

tư bản học thuyết này là một đóng góp quan trọng đặt nền móng cho lý luận

về quyền con người Tuy nhiên, học thuyết về quyền tự nhiên đã không tránhkhỏi những hạn chế lịch sử và quan điểm giai cấp của các tác giả C Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin đã phân tích, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của họcthuyết về quyền tự nhiên đồng thời đã phát triển, làm sâu sắc hơn tư tưởngnhân quyền trong bối cảnh lịch sử nhân loại thế kỷ XIX, XX

1 Quyền con người là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp

Là những nhà cách mạng đồng thời là những nhà tư tưởng, nhà khoahọc lớn, Mác, Ăngghen tiếp cận lý luận về quyền con người từ thực tiễn và từ

Trang 3

yêu cầu giải phóng tư tưởng Đối với các ông, phục vụ cho các nhiệm vụ cáchmạng là sứ mệnh của khoa học Chính vì vậy, Mác, Ăngghen đã mổ xẻ, phêphán sâu sắc các học thuyết và thực tiễn nhân quyền ra đời trong thời kỳchuẩn bị cho cách mạng dân chủ tư sản và xã hội tư bản hiện đại

Với các ông, lý luận chính trị nói chung, lý luận về nhân quyền nóiriêng phải được phân tích dựa trên quan niệm duy vật về con người, conngười là "một khách thể tự nhiên", một sự sống có ý thức Mác viết: Conngười "là một thực thể tự nhiên sống, một mặt con người có được những lựclượng tự nhiên, những lực lượng sống, nó là một thực thể tự nhiên đang hànhđộng, những lực lượng này tồn tại trong con người với tư cách là sự chuẩn bị,năng lực, với tư cách là xu hướng Mặt khác, là những thực thể tự nhiên,sống, có cảm giác giống như thực vật, động vật " Song Mác nhấn mạnh:

"Con người là một động vật xã hội"(1)(1), "bản chất con người không phải là cái

gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bảnchất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội"(2)(2)

Với Mác, Ăngghen, quan niệm về quyền con người của các học giảquyền tự nhiên nếu dừng lại ở "một bộ phận của tự nhiên" với đặc trưng là cótrí tuệ là chưa đầy đủ Con người luôn luôn phát triển cùng với sự phát triểncủa kinh tế (mà động lực của nó là lực lượng sản xuất) và xã hội (nhờ cáctương tác giữa con người với con người, giữa các giai tầng xã hội) Việc phântích đặc trưng của con người là nhân phẩm, là trí tuệ, nếu không đi đến việcphân tích các quan hệ xã hội thì khó tránh khỏi quan niệm duy tâm về conngười, vì trí tuệ tự nó không thể sản sinh ra nó, mà chỉ có thể phát triển trongcác quan hệ giữa người với người và giữa con người với giới tự nhiên

Kế thừa Hêghen và các nhà tư tưởng lớn khác, Mác, Ăngghen nhấnmạnh quyền con người là một sản phẩm lịch sử Tuy nhiên, khái niệm lịch sử

ở đây không phải là lịch sử của ý niệm như quan niệm của Hêghen, mà là lịch

xã hội, tập 1, Hà Nội, 1996, tr 14.

(2)(2) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr 11.

Trang 4

sử đời sống hiện thực của xã hội.

Mác từng viết: sản xuất, trao đổi là hành vi lịch sử đầu tiên cho sựsinh tồn và phát triển của loài người, là cơ sở cho mọi chế độ xã hội, vì conngười trước hết cần ăn, uống, ở và mặc rồi mới có thể làm chính trị, khoa học,nghệ thuật ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử luôn tồn tại những quan hệsản xuất được quy định bởi sự phát triển của các lực lượng sản xuất hợp thành

cơ cấu kinh tế - xã hội, tức là cơ sở kinh tế hiện thực, trên đó là kiến trúcthượng tầng bao gồm các hình thái ý thức, chính trị, pháp lý, đạo đức tươngứng Quyền con người là một hình thức pháp lý, do đó hình thái kinh tế - xãhội là cơ sở, khuôn khổ quy định quyền con người Theo Mác, quyền conngười không phải là bẩm sinh, không phải là quyền tự nhiên, mà chỉ có thể rađời trong sự phát triển của xã hội Ông nói: "Quyền không bao giờ có thể ởmức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đóquyết định"(1)(1) Lý luận về quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và kiến trúc thượngtầng Mác chỉ ra rằng, kiến trúc thượng tầng không phải là nhân tố thụ động,trái lại các hình thái ý thức, trong đó có pháp luật có vai trò chủ động tích cựctới sự phát triển của hạ tầng, của kinh tế - xã hội Lý luận này có ý nghĩa quantrọng đối với chúng ta trong nhận thức về quyền con người

Dựa trên lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, chủ nghĩa Mác xem sự

ra đời của quyền con người gắn với sự ra đời của nhà nước và pháp luật Bởi

vì trong lịch sử nhân loại, sự tồn tại các quy phạm xã hội chỉ có thể là phongtục, tập quán, nhiều lắm là "lệ" làng, là những quy phạm về đạo đức, lối sống.Pháp luật là quy phạm xã hội gắn với thiết chế nhà nước, cũng như pháp luậtnói chung, quyền con người phản ánh mối quan hệ giữa người dân với nhànước dưới hình thức pháp luật Pháp luật phản ánh nhu cầu chung các lựclượng chính trị, nhằm duy trì sự ổn định xã hội Nhà nước là tổ chức đại diệncủa xã hội, là cơ quan ban hành và thực thi pháp luật Quyền con người do đóluôn phụ thuộc vào nhà nước, vào lực lượng cầm quyền, vào hệ thống chínhtrị của xã hội

(1)(1) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 19, tr

36.

Trang 5

Vì quyền con người gắn liền với nhà nước cho nên nó không thểkhông phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền dưới hình thức này hoặc hìnhthức khác, mức độ này hay mức độ khác tùy thuộc vào những hình thái kinh

tế - xã hội khác nhau, vào chế độ xã hội khác nhau ở các chế độ xã hội pháttriển cao thì sự phản ánh đó thường là gián tiếp, kín đáo Trái lại ở các xã hộiphát triển thấp thì thường bộc lộ trực tiếp, công khai C Mác viết: "Nhà nướchiện đại (tư bản chủ nghĩa - TG) thừa nhận nhân quyền và nhà nước cổ đạithừa nhận chế độ nô lệ là cùng một ý nghĩa, nghĩa là giống như cơ sở tự nhiêncủa nhà nước cổ đại là chế độ nô lệ, cơ sở tự nhiên của nhà nước hiện đại là

xã hội thị dân Nhà nước hiện đại thừa nhận cơ sở tự nhiên của nó với tínhcách như vậy trong nhân quyền phổ biến, chứ không sáng tạo ra nó"(1)(1) Theo

tư tưởng của Mác, Ăngghen, sự phát triển của quyền con người gắn liền với

sự phát triển của xã hội, gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, giải phóng xãhội, giải phóng con người Cứ mỗi bước phát triển của lịch sử, quyền conngười lại được nâng cao thêm một bước

Quyền con người, theo ngữ nghĩa pháp lý đó là các quyền vốn có,bình đẳng, của tất cả mọi người Song trong thực tế, nhất là việc thực thi nóluôn liên quan, hay nói đúng hơn là luôn mang tính giai cấp

Theo các nhà kinh điển mácxít, toàn bộ lịch sử nhân loại từ thời kỳ tan

rã của xã hội thị tộc (nguyên thủy) đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp Các

nhà nước chủ nô, phong kiến và tư sản đều là sản phẩm chính trị - xã hội của

các cuộc đấu tranh giai cấp Để duy trì sự tồn tại của cơ cấu xã hội đã hìnhthành, gắn liền với lợi ích cầm quyền của mình, tất cả các nhà nước đều tuyên

bố quyền đại diện hợp pháp của xã hội cùng với hệ thống pháp luật, xác địnhquyền và nghĩa vụ của mọi thành viên Đồng thời các nhà nước không thểkhông bảo đảm ở một mức độ nào đó quyền và tự do của đông đảo thành viêncủa cộng đồng dân tộc Điều đó không có nghĩa pháp quyền của các nhà nướccủa giai cấp bóc lột là vô tư, công bằng C Mác từng nói: "Pháp quyền củacác ông là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà

(1)(1) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, tr

172.

Trang 6

nội dung của nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyếtđịnh"(1)(1) Như vậy là, trong tính hiện thực của nó, quyền con người siêu giai

cấp là không có cơ sở

Khẳng định tính giai cấp của quyền con người không có nghĩa chủnghĩa Mác - Lênin phủ nhận tính nhân loại, tính phổ biến của quyền conngười Tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người tồn tại dưới dạngđặc trưng bản chất chỉ có ở loài người và những nhu cầu cơ bản được xem là

những giá trị xã hội tồn tại ở mọi nơi, mọi thời đại Đó là nhân phẩm, tự do,

bình đẳng, nhân đạo và hòa nhập cộng đồng.

2 Quyền con người trong chủ nghĩa tư bản là một bước phát triển lớn của lịch sử nhân loại song vẫn là những quyền hạn hẹp và hình thức

Xét về mặt ngôn ngữ, tư tưởng nhân quyền và nhân quyền là hai khái

niệm khác nhau Tư tưởng nhân quyền là những tiền đề, mầm mống của

quyền con người Tư tưởng nhân quyền trong lịch sử thường biểu hiện dưới

dạng các quy phạm xã hội như văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, lối sống và trong các tôn giáo, triết lý về con người và xã hội Hạt nhân của tư

tưởng nhân quyền là thừa nhận và đề cao con người, nhân phẩm, nhân đạo,khoan dung, yêu cái thiện, ghét cái ác

Tư tưởng nhân quyền có thể nói đã tồn tại từ khi xuất hiện loài ngườiđến nay Quyền con người với tư cách là những chế định của pháp luật đương

nhiên chỉ ra đời từ khi xuất hiện nhà nước Tuy nhiên trong nhà nước chủ nô,

nhà nước phong kiến, quyền con người chủ yếu được quy định ở việc bảo vệ

quyền sống của con người và những quy định hạn hẹp khác trên lĩnh vực hônnhân, gia đình và sở hữu trong khuôn khổ của chế độ chính trị hiện hữu nhằmduy trì sự thống trị của giai cấp cầm quyền

Quyền con người với đầy đủ ý nghĩa của nó, là một quy phạm pháp

luật, trong đó thừa nhận sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa tất cả các thành

(1)(1) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr

619.

Trang 7

viên của xã hội với nhau và bình đẳng giữa cá nhân với nhà nước (cơ quan,quan chức, công chức) chỉ ra đời trong chủ nghĩa tư bản và sau đó là ở cácnước xã hội chủ nghĩa và các nước đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội.

Cơ sở kinh tế của quyền con người của chủ nghĩa tư bản là kinh tế thị

trường tư bản chủ nghĩa, trong đó tồn tại tất cả các hình thức sở hữu (của nhà

nước và cá nhân) Cơ sở chính trị của quyền con người ở đó là xã hội dân chủ

trong đó tất cả người dân đều có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội,

đề bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ Đó là nhà nước pháp

quyền với hai đặc trưng cơ bản: pháp luật tối thượng và các nhánh quyền lực

(lập pháp, hành pháp và tư pháp) được phân lập, hạn chế lẫn nhau Ngoài ra,

cần phải nói tới một yếu tố nữa về mặt xã hội đó là xã hội công dân (có khi còn được gọi là xã hội dân sự) mà nội dung cơ bản của nó là sự tồn tại của

các tổ chức phi chính phủ (NGOs), như các hội, các đoàn thể, các tổ chứccộng đồng, tổ chức nhân đạo, từ thiện Những tổ chức này được pháp luậtthừa nhận và có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội

Nói tới lịch sử quyền con người nói chung và quyền con người trongchủ nghĩa tư bản, người ta thường nói tới Luật về các quyền của Anh,1689sau cách mạng dân chủ tư sản; Tuyên ngôn độc lập, năm 1776, Hiến phápHoa Kỳ, năm 1789 và điều khoản sửa đổi bổ sung năm 1791 và 1804; Tuyênngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, năm 1789

Tuyên ngôn độc lập Mỹ có đoạn: "Chúng tôi tin rằng những chân lýnày là hiển nhiên, rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họnhững quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy cóquyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"(1)(1)

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, năm 1789 cũng viết:

"Mọi người sinh ra sống tự do và bình đẳng về các quyền; mọi phân biệt xãhội chỉ có thể đặt trên cơ sở lợi ích chung (Điều 1), mục đích của các tổ chứcchính trị là gìn giữ các quyền tự nhiên và không thể bị tước bỏ của con người;

Nội, 2000, tr 15.

Trang 8

các quyền này là quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được bảo đảm an ninh vàchống áp bức (Điều 2) Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều mà phápluật không cấm đoán đều không thể bị ngăn cản (Điều 4 và 5) Mọi côngdân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 6)"(1)(1) Trong bản Tuyên ngôn độclập, năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích lại hai bản tuyên ngôn trên vàxem đó là những lời "bất hủ", "những lý lẽ không ai chối cãi được".

Khác với văn hóa, đạo đức - là những giá trị luôn mang tính dân tộc, khu vực; khác với chính trị - là những giá trị luôn mang tính lịch sử cụ thể gắn với lợi ích của một giai cấp cầm quyền nào đó; quyền con người trong các hình thái kinh tế - xã hội nói chung, trong chủ nghĩa tư bản nói riêng là thành quả đấu tranh của nhân dân lao động và các tầng lớp bị áp bức chống lại các lực lượng thống trị chứ không phải chỉ của một giai tầng xã hội nào

đó Nói một cách đơn giản, quyền con người trong chủ nghĩa tư bản là thành

quả của sự phát triển, tiến bộ của nhân loại trong xã hội tư bản chủ nghĩa.Chính vì vậy, khi nghiên cứu nhân quyền trong chủ nghĩa tư bản chúng ta cầnphân biệt đâu là những giá trị vốn có, đích thực? Đâu là những điều mà cácthế lực cầm quyền xuyên tạc, lợi dụng, phục vụ cho những lợi ích của họ

C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin đã vạch ra những hạn hẹp, hìnhthức và mỵ dân trong những tuyên ngôn, tuyên bố về nhân quyền của giai cấp

tư sản

C Mác đã chỉ ra rằng, sở dĩ quyền con người trong chủ nghĩa tư bản

là những quyền hạn hẹp vì những quy định về quyền trong xã hội này dựa trên tiền đề bất bình đẳng về sở hữu và lợi ích của cá nhân tách khỏi lợi ích của cộng đồng Mác viết: "Giai cấp tư sản gọi quyền lợi của mình là nhân

quyền Kỳ thực, nhân quyền của giai cấp tư sản cũng là một loại đặc quyền,đặc quyền che đậy bằng nhân quyền - đặc quyền của giai cấp tư sản"(2)(2) Ôngcòn nhấn mạnh: Tự do trong xã hội tư bản là "quyền tự do chiếm hữu tư liệu

Nội, 2000, tr 21-22.

(2)(2) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr

619.

Trang 9

sản xuất, "quyền bóc lột một cách công nhiên" là quyền "người này có quyềnlàm cái việc mà người kia không có quyền làm"(1)(1).

Về quyền con người nói chung và quyền tự do nói riêng trong các họcthuyết nhân quyền và các văn kiện chính trị của giai cấp tư sản, các nhà kinhđiển mácxít đã chỉ ra rằng, đây là biểu hiện của chủ nghĩa vị kỷ không quantâm đến lợi ích của cộng đồng Mác viết: "Cái gọi là nhân quyền mà Tuyênngôn nhân quyền và dân quyền tuyên bố chẳng qua là quyền là thành viên của

xã hội thị dân, tức là quyền của những người theo chủ nghĩa vị kỷ tách rờikhỏi cộng đồng và bản chất con người"(2)(2) Tư tưởng này của chủ nghĩa Mác,

có thể nói vẫn đang là sự phê phán mang tính hiện thực, sâu sắc đối với nhữngquan điểm nhân quyền phương Tây

Nghiên cứu Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Mỹ, các ông đã phêphán: "Hiến pháp của nước Mỹ, Hiến pháp đầu tiên thừa nhận quyền conngười, đồng thời lại chuẩn y luôn cả chế độ nô lệ của người da mầu đang tồntại ở nước Mỹ; đặc quyền giai cấp bị cấm chỉ, đặc quyền chủng tộc được thầnthánh hóa"(3)(3)

89 năm sau Tuyên ngôn độc lập, chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ mới được

Hiến pháp (sửa đổi năm 1865) ghi nhận Mác cũng đã chỉ ra rằng, khái niệm

quyền bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là một khái niệm hạn hẹp - bình đẳng

về mặt pháp luật, trên lĩnh vực chính trị Ông đòi hỏi: "Quyền bình đẳngkhông được chỉ ở tính chất bề ngoài, chỉ được áp dụng trong lĩnh vực nhànước, mà phải là quyền bình đẳng thật sự được áp dụng trong cả lĩnh vực kinh

tế và xã hội"(4)(4)

3 Quyền con người trong xã hội cộng sản chủ nghĩa

Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,

(1)(1) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr

Trang 10

Mác, Ăngghen đã dự báo về xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó bao gồm các

vấn đề nhà nước, xã hội và con người Mác không trực tiếp nói về chủ đềquyền con người trong xã hội cộng sản, tuy nhiên từ sự phê phán nhân quyềntrong chủ nghĩa tư bản cũng như tự sự uốn nắn nhận thức, chiến lược, sách

lược đấu tranh của giai cấp công nhân, các ông đã đề cập tới chủ đề này Nói

đúng hơn Mác, Ăngghen đã đặt cơ sở lý luận cho những vấn đề lý luận về quyền con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Chủ nghĩa Mác cho rằng, vấn đề quyền con người không thể nằmngoài tiến trình lịch sử nhân loại, nằm ngoài các cuộc đấu tranh xã hội, nằmngoài quy luật tiến hóa của loài người Trên cơ sở lý luận đó, Mác cho rằngbảo đảm (hay bảo vệ) quyền con người về bản chất là một bước trong quátrình giải phóng xã hội và giải phóng con người Muốn vậy phải xóa bỏ tất cảcác chế độ xã hội dựa trên áp bức, bóc lột, bất bình đẳng Đồng thời phải giảiphóng con người trên cả lĩnh vực tinh thần - thần quyền và kiến tạo các quan

hệ xã hội nhân văn, bảo đảm sự hài hóa giữa quyền, lợi ích, tự do của cá nhânvới lợi ích của cộng đồng

Vào thời kỳ ra đời của chủ nghĩa Mác, giai cấp vô sản và các tầng lớpnhân dân lao động đang sống trong chủ nghĩa tư bản, cuộc đấu tranh chính trịcủa giai cấp vô sản lúc này là dựa vào chính những khẩu hiệu về dân chủ,nhân quyền mà giai cấp tư sản đã giương cao trong thời kỳ cách mạng dânchủ tư sản Ăngghen viết: "Giai cấp vô sản cần nắm thực chất lời nói của giaicấp tư sản: bình đẳng không chỉ là bề ngoài, không phải chỉ thực hành tronglĩnh vực nhà nước, nó còn phải thực tế, còn phải thực hành trong lĩnh vực xãhội, kinh tế Yêu cầu về xã hội và kinh tế trở thành khẩu hiệu chiến đấu đặctrưng của giai cấp vô sản Pháp Nội dung thực tế của yêu cầu bình đẳng củagiai cấp vô sản là yêu cầu thủ tiêu các giai cấp Bất cứ yêu cầu bình đẳng nàovượt ra ngoài phạm vi này sẽ dẫn tới một điều vô lý"(1)(1)

Theo Mác, Ănghen, trong thời kỳ quá độ lên xã hội cộng sản, nhiều

(1)(1) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr

447-448.

Trang 11

quyền con người nói chung, quyền bình đẳng nói riêng vẫn phải chấp nhậnpháp quyền tư sản ví như trong phân phối lao động, Mác viết: "Quyền bìnhđẳng mà nguyên tắc phân phố lao động thể hiện vẫn là pháp quyền tư sản"(1)(1)

vì như Mác đã phân tích, "những thiếu sót này là không thể tránh khỏi tronggiai đoạn đầu của xã hội cộng sản được sinh ra từ xã hội tư bản sau cơn đau

đẻ kéo dài"(2) Ăngghen còn chỉ rõ: "Coi xã hội xã hội chủ nghĩa là vươngquốc của bình đẳng, đó là cách nhìn phiến diện của người Pháp, lấy khẩu hiệu

cũ "tự do, bình đẳng, bác ái" làm căn cứ, giống như các học giả phái xã hộichủ nghĩa trước đây, bây giờ cũng cần được khắc phục, bởi vì nó có thể dẫntới sự hỗn loạn về tư tưởng"(3)

Sự phê phán của Mác, Ăngghen đối với phong trào công nhân Pháp làmột mẫu mực trong công tác tư tưởng, lý luận, nhất là đối với tư tưởng chủquan, duy ý chí trong hoạch định cương lĩnh, đường lối, chính sách trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Con người và các quan hệ xã hội trong chủ nghĩa cộng sản là mộttrong những vấn đề quan trọng trong dự báo của Mác, Ăngghen về xã hộitương lai Theo các ông, xã hội cộng sản chủ nghĩa, con người phải được pháttriển toàn diện, nghĩa là tất cả những năng lực sẵn có của con người phải đượcphát triển đầy đủ, từ thể chất đến trí tuệ và đạo đức Chỉ trên cơ sở đó cácquan hệ xã hội mới có thể tốt đẹp được Việc tuyệt đối hóa các nhu cầu vềquyền và tự do của cá nhân; cũng như việc xem nhẹ nghĩa vụ, trách nhiệmcủa cá nhân đối với cộng đồng, xã hội, là một khiếm khuyết lớn của tư tưởngnhân quyền tư sản Mặc dù trong quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa tư tưởngnày đã được điều chỉnh song vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia, ở nhiều họcgiả, trường phái, nhất là ở Âu - Mỹ

Theo chủ nghĩa Mác, xã hội cộng sản về bản chất là "chủ nghĩa nhânđạo hiện thực", là "vương quốc của tự do" Để tiến đến xã hội đó, để thực hiệntriệt để những giá trị nhân quyền - tự do, bình đẳng, bác ái, thì nhân loại phải

(1)(1) (2) (3) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3,

tr 304, 305, 325.

Trang 12

tiến tới một giai đoạn lịch sử, trong đó "nhờ những lực lượng sản xuất hùngmạnh người ta mới có thể thực hiện được một trạng thái xã hội trong đókhông có sự phân chia giai cấp, không phải lo âu về phương tiện sinh sống cánhân và trong đó lần đầu tiên mới có thể nói tới tự do thật sự của con người,tới một đời sống hài hòa với những quy luật tự nhiên đã nhận thức được"(1)(1).Đồng thời chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản, mối quan hệ giữa quyền, lợi ích,

tự do của cá nhân với lợi ích của cộng đồng, xã hội mới được giải quyết mộtcách hài hòa Mác viết: "Thay cho xã hội tư sản cũ với những giai cấp và đốikháng giai cấp, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗingười là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người"(2)(2)

Nói tóm lại, chủ nghĩa Mác cho rằng, quyền con người trong chủnghĩa tư bản là những quyền hạn hẹp, hình thức, chủ yếu về chính trị Quyềncon người đúng nghĩa thật sự chỉ có thể thực hiện được trong sự nghiệp cáchmạng, cải tạo và xây dựng xã hội mới Đó là sự xóa bỏ mọi chế độ nô lệ, nô lệcho chủ nô, cho lãnh chúa, cho nhà vua, cho nhà thờ và nô lệ cho đồng tiền

Quyền con người cần và phải thoát khỏi mọi hình thức đặc quyền, đặclợi tồn tại trong các chế độ xã hội; phải thực hiện triệt để quyền bình đẳng.Bình đẳng không chỉ trong nhân cách nói chung, trong chính trị, xã hội màphải cả trong kinh tế

4 Những đóng góp của V.I Lênin về quyền con người

Khác với thời đại ra đời của chủ nghĩa Mác - thời đại của chủ nghĩa tưbản trong giai đoạn tự do cạnh tranh, chủ nghĩa tư bản nhìn chung mới phát

triển trong khuôn khổ quốc gia, thời đại ra đời của chủ nghĩa Lênin là thời

đại đế quốc chủ nghĩa Đế quốc chủ nghĩa là thời kỳ trong đó kinh tế phát

triển cao nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và các tập đoàn xuyên quốcgia; đó là thời kỳ "phát triển không đều" giữa các quốc gia tư bản chủ nghĩa

Và do đó là thời kỳ của các cuộc chiến tranh xâm lược, chia lại thuộc địa Tất

(1)(1) C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 20, tr

164-165.

(2)(2) C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập (Bộ 2 tập), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, tập 1, tr

250.

Trang 13

cả những vấn đề tài chính, kinh tế, xã hội của nhân loại đều có những biến đổisâu sắc Vấn đề quyền con người do đó cũng có những thay đổi lớn lao Mộtmặt tư tưởng nhân quyền của nhân loại ra đời từ các cuộc cách mạng dân chủ

tư sản vẫn được phát triển, vì những mục đích khác nhau, dưới những hìnhthức khác nhau lan tỏa tới các thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Đồng thời cáccuộc chiến tranh xâm lược dã man cùng với sự câu kết với giai cấp phongkiến thối nát và thống trị một cách tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, trái hẳn vớicác giá trị nhân quyền mà người ta đã tuyên bố, chủ nghĩa đế quốc đã tướcđoạt không chỉ chủ quyền quốc gia mà còn cả quyền sống còn của các dântộc Việt Nam là một trường hợp điển hình

Khác với Mác, Ăngghen, tư tưởng nhân quyền của Lênin không chỉtrong lý luận, trong các trước tác, các văn kiện, mà cả trong thực tiễn lãnh đạoxây dựng nhà nước Xô viết - Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.Cho dù ngày nay Liên Xô đã tan rã, song sự ra đời và tồn tại của một nhànước do nhân dân lao động làm chủ trên 60 năm vẫn để lại những kinhnghiệm quý giá cho nhân loại

Cũng như Mác và Ăngghen, Lênin vừa là nhà cách mạng, vừa là nhàkhoa học Tuy nhiên mục tiêu lý tưởng của ông là giải phóng nhân dân laođộng và các dân tộc bị áp bức Hoạt động lý luận của ông được tập trung vàonhững mục tiêu của cách mạng, ông không có công trình riêng, trực tiếp

nghiên cứu về nhân quyền Cũng như Mác, Ăngghen, đóng góp của Lênin

trên lĩnh vực nhân quyền chủ yếu là ở những tư tưởng tạo thành nền tảng lý luận trên lĩnh vực này.

Sự đóng góp của Lênin trên lĩnh vực quyền con người là rất phongphú, song chủ yếu ở ba vấn đề sau:

- Về chính trị, đó là quyền làm chủ của nhân dân lao động trong nền

dân chủ xã hội chủ nghĩa

- Về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đó là những chính sách, pháp

Trang 14

luật của nhà nước trong những năm đầu của nhà nước Xô viết.

- Về quyền dân tộc tự quyết - đó là chính sách của Lênin và nhà nước

Xô viết bảo đảm quyền của các dân tộc tự quyết định vận mệnh của mình, baogồm cả quyền phân lập, tách khỏi Liên bang

Theo Lênin, không có khái niệm dân chủ thuần túy Dân chủ luôn

luôn gắn với những lực lượng xã hội nhất định Đồng thời, như hai mặt củamột vấn đề, dân chủ phải đi đôi với chuyên chính

Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng Lênin đã viết: "Xã hội tư bản

chủ nghĩa, trong những điều kiện phát triển thuận lợi nhất của nó, đem lại chomột chế độ dân chủ ấy ít nhiều hoàn bị trong chế độ cộng hòa dân chủ Nhưng chế độ dân chủ ấy trước sau vẫn bị bó trong khuôn khổ chật hẹp của

sự bóc lột tư bản chủ nghĩa và do đó thực ra trước sau vẫn là chế độ dân chủđối với riêng giai cấp có của, đối với riêng bọn giàu có mà thôi , trong xã hội

tư bản chủ nghĩa đa số nhân dân bị gạt ra ngoài chính trị và xã hội"(1)(1)

Lênin cho rằng chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội dựa trên dânchủ Ông viết: "Chủ nghĩa xã hội không thể có được nếu không có dân chủ ởhai khía cạnh: 1- giai cấp vô sản không thể tiến hành cách mạng xã hội chủnghĩa nếu nó không được chuẩn bị tiến hành bằng cuộc đấu tranh cho dânchủ; 2- Chủ nghĩa xã hội thắng lợi không thể giữ được thành quả của mình vàdẫn loài người tới thủ tiêu nhà nước nếu không thực hiện đầy đủ nền dânchủ"(2)(2)

Chủ nghĩa xã hội "đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân

chủ, lần đầu tiên thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho

nhân dân "(3)(3)

Ngay sau khi giành được chính quyền, Lênin đã sớm phát hiện ra bệnhquan liêu trong các Xôviết Lênin cho rằng, giữ vững mối quan hệ giữa nhândân với chính quyền, với Đảng, bảo đảm quyền được tham gia quản lý nhà

(1)(1) V.I Lênin, Tuyển tập (1 tập), Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr 376.

(2)(2) V.I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tập 30 tr 128.

(3)(3) V.I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tập 30 tr 377.

Trang 15

nước và xã hội của nhân dân lao động trong đó có quyền "bãi miễn" các đạibiểu được bầu ra có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, với Lênin, chế độ dân chủ, quyền tham gia quản lý nhà nước

và xã hội của nhân dân không có mục đích tự thân mà nhằm chống quan liêu,củng cố nhà nước, phát triển xã hội Lênin viết: "Không có gì ngu dại hơn làbiến các Xôviết thành một cái gì cứng đờ, thành một mục đích tự thân Ngày

nay, chúng ta càng kiên quyết chủ trương rằng phải có một chính quyền mạnh

mẽ và hết sức kiên quyết - thì những hình thức và những phương pháp kiểm

soát từ dưới lên càng dồi dào để làm tệ liệt mọi khả năng, dù là nhỏ đến đâu,

có thể làm hư hỏng chính quyền Xôviết, để tiếp tục và luôn luôn trừ cho tiệt

thứ cỏ dại quan liêu chủ nghĩa"(1)(1)

Trong điều kiện Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng, lãnhđạo Xô viết và xã hội, chống quan liêu, tham nhũng, thoái hóa trong nội bộđảng cầm quyền có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng nhà nước, chế độ

xã hội và bảo đảm quyền con người

Lênin đã đi sâu, phát triển thiết chế dân chủ tư sản, xây dựng chế độ

dân chủ xã hội chủ nghĩa Người đưa ra nguyên tắc tập trung dân chủ vào tổ

chức và quản lý nhà nước nhằm phát huy cao độ sự tham gia của người dânđồng thời hạn chế "dân chủ vô chính phủ", gắn quyền với trách nhiệm

Lênin viết: "Nguyên tắc tập trung dân chủ ở hình thức cao nhất điều

đó có nghĩa là mỗi đại diện của quần chúng, mỗi một công dân phải được đặtvào trong các điều kiện để họ có thể tham gia thảo luận luật pháp của nhànước, bầu cử các đại biểu của mình, thực thi pháp luật, nhưng họ phải chịutrách nhiệm cụ thể đối với các hành vi nói trên của mình"(2)(2)

Đối với các quyền tự do của người dân, Lênin cho rằng trong xã hội

xã hội chủ nghĩa phải chuyển từ sự thừa nhận các quyền tự do một cách hìnhthức sang việc bảo đảm thực tế sử dụng các quyền tự do đó cho người lao

(1)(1) V.I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tập 30 tr 502.

(2)(2) V.I Lênin, Tuyển tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr 703.

Trang 16

Là người trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc xây dựng xã hội xãhội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, Lênin đặc biệt quan tâm đến xây dựngnhà nước, pháp luật, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân laođộng Quyền bình đẳng nam - nữ, bình đẳng về chủng tộc đều được phápluật Xô viết bảo vệ

Đương nhiên, trong bối cảnh nhà nước công nông ra đời trong vòngvây của chủ nghĩa đế quốc, chính quyền Xô viết không thể không có nhữngbiện pháp chuyên chính với thù trong, giặc ngoài Do đó nhà nước Xô viếtkhông thể tránh khỏi phải thực hiện chính sách hạn chế ở một mức độ nào đómột số quyền của công dân, nhất là đối với các đảng phái, lực lượng của giaicấp phong kiến, tư sản mới bị cách mạng lật đổ

Về mặt xã hội, có thể nói nhà nước Xô viết dưới sự lãnh đạo của

Lênin đã đi đầu trong việc thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa.

Mặc dù một số quyền về kinh tế đã bị hạn chế (như sở hữu, tự do kinhdoanh) do quan niệm giáo điều, duy ý chí của tư duy kinh tế theo mô hình cũcủa chủ nghĩa xã hội, còn lại các quyền khác đã được thừa nhận và thực hiện

có hiệu quả cao trong xã hội xã hội chủ nghĩa

Hiến pháp Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga, năm

1918 đã đề ra các mục tiêu và các quyền của công dân mà nhà nước Xô viết

phải bảo đảm, trong đó có việc giải quyết nạn thất nghiệp; quyền được lao

động; nghỉ ngơi, học tập, nguyên tắc phân phố theo lao động; nhà nước chăm

lo đến các nhóm đối tượng người già, cô đơn, trẻ em, học tập và chữa bệnh không mất tiền v.v Chính sách và pháp luật về xã hội của Liên bang Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô cũ) về phương diện các quyền xã hội

và văn hóa đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận như là người đi tiên phong.

Quyền dân tộc tự quyết của các quốc gia - dân tộc thuộc địa là vấn đề

dân chủ và nhân quyền trong thời đại đế quốc chủ nghĩa Đây là một vấn đề lý

Trang 17

luận mới của chủ nghĩa Mác - Lênin Là một nhà mácxít, Lênin phát triển lýluận dân chủ từ thiết chế quốc gia sang quan hệ quốc tế Lênin viết: "Chủnghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải lập nên chế độ dân chủ hoàn toàn và do

đó không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình đẳng với nhau, mà còn

thực hiện quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc bị áp bức, tức là quyền tự do

phân lập về mặt chính trị"(1)(1) Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, đấu tranhgiành quyền dân tộc tự quyết chính là một nội dung của cuộc đấu tranh chốngchủ nghĩa đế quốc giành dân chủ của các dân tộc bị áp bức

Là người lãnh đạo, xây dựng nhà nước công nông đầu tiên, ra đời saucuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và chiến tranh (thế giới thứ nhất), Lênin chủtrương xây dựng một nhà nước liên bang dựa trên nguyên tắc các dân tộc cóquyền tự quyết Đồng thời Lênin cũng chủ trương các dân tộc tiên tiến cótrách nhiệm giúp đỡ các dân tộc còn lạc hậu, đó là một tưởng chính trị mangtính nhân văn sâu sắc

Có thể nói, tư tưởng của Lênin về quyền dân tộc tự quyết có ý nghĩaquan trọng đặc biệt đối với vấn đề dân chủ và quyền con người trong thời đại

đế quốc chủ nghĩa, nhất là đối với các dân tộc thuộc địa

II Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, trước hết

ở cách tiếp cận cách mạng - sáng tạo Người đứng trên quan điểm lợi ích của

nhân dân lao động, của các dân tộc tộc bị áp bức và của dân tộc ta để chọnlọc, kế thừa và phát triển các giá trị nhân quyền từ nhiều học thuyết, nhiềunền văn hóa, nhiều hệ tư tưởng hình thành hệ thống quan điểm về quyền conngười của mình, góp phần phát triển lý luận nhân quyền của nhân loại trongthời đại ngày nay nói chung, của các dân tộc thuộc địa nói riêng

1 Nguồn gốc tư tưởng nhân quyền Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bắt nguồn sâu xa từ

(1)(1) V.I Lênin, Tuyển tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr 175.

Trang 18

truyền thống nhân đạo và tinh thần yêu nước của dân tộc, kế thừa tư tưởngnhân quyền tiến bộ của phương Đông và phương Tây, đặc biệt là tư tưởngcách mạng - giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con ngườicủa chủ nghĩa Mác - Lênin Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người hìnhthành và phát triển trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại cách mạng xãhội, cách mạng giải phóng dân tộc Đồng thời đó cũng là thời đại các quan

hệ quốc tế về chính trị, kinh tế và văn hóa được quốc tế hóa; những xuhướng chính trị như hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hộingày càng phát triển

Sinh ra và được nuôi dưỡng trong một gia đình và miền quê giàutruyền thống yêu nước, thương người, Nguyễn Tất Thành ngay từ thuở ấu thơ

đã được kế thừa tư tưởng yêu nước, thương dân của thân phụ - cụ phó bảngNguyễn Sinh Sắc và qua các nhân sĩ yêu nước đương thời

Từ giữa thế kỷ thứ XIX, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có những nhân tố mới do ảnh hưởng của trào lưu cách mạng dân chủ tư sản Nếu như

trước kia "ái quốc" là "trung quân" thì nay điều đó không còn là lẽ đươngnhiên khi giai cấp phong kiến đã trở nên ươn hèn, câu kết với thực dân để ápbức, bóc lột nhân dân Trong bối cảnh đó, "ái quốc" có nghĩa là "thương dân",

là đấu tranh giành lại độc lập, xóa bỏ thân phận nô lệ cho cả dân tộc Cụ phóbảng Nguyễn Sinh Sắc, trong một buổi bình văn ở giảng đường Di Luận,trường Quốc Tử Giám (Huế) đã nói: "Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ,hưu nô lệ" - tạm dịch: "Quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ, lại càng

nô lệ hơn"(1)(1)

Những phong trào yêu nước diễn ra sôi động trong thập niên đầu thế

kỷ XX như phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh

nghĩa thục do các cụ Phan Bội châu, Phan Châu Trinh lãnh đạo Nhân tố

mới của phong trào yêu nước ở giai đoạn này là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước truyền thống với tư tưởng dân chủ tư sản Ban đầu là ảnh hưởng cuộc

vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, qua "tân thư" Đặc

(1)(1) Trích theo Hồ chí Minh thời niên thiếu, Nxb Nghệ An, 1995, tr 92.

Ngày đăng: 05/03/2023, 17:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w