Chương 1 Lý luận về Quyền con người đối tượng và phương pháp nghiên cứu Tư tưởng về quyền con người xuất hiện rất sớm và có sức sống mãnh liệt trong lịch sử nhân loại cũng như lịch sử dân tộc và lịch[.]
Trang 1Chương 1
Lý luận về Quyền con người - đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tư tưởng về quyền con người xuất hiện rất sớm và có sức sống mãnhliệt trong lịch sử nhân loại cũng như lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạngViệt Nam Ngày nay, quyền con người đã trở thành một khái niệm pháp lýphổ quát trong các văn kiện về luật quốc tế và pháp luật quốc gia; đồng thời
là một khái niệm triết học và chính trị học, đó là một trong những kháiniệm được sử dụng rộng rãi trên các diễn đàn quốc tế
Ngày 12-7-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
đã ra Chỉ thị, xác định, chúng ta cần phải nghiên cứu khoa học về quyềncon người, "đặc biệt cần phát triển các tư tưởng nhân đạo, giải phóng conngười của Chủ nghĩa Mác - Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta,làm rõ sự khác nhau giữa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng tavới quan điểm tư sản về quyền con người Trên cơ sở đó, xây dựng hệthống các quan điểm của Đảng ta về quyền con người làm cơ sở cho côngtác tư tưởng và cho việc hoàn thiện pháp luật và các chính sách về quyềncon người, tạo thế chủ động chính trị trong cuộc đấu tranh về quyền conngười trên trường quốc tế"
I Quyền con người - một vấn đề lý luận cơ bản và bức xúc
Trong điều kiện xã hội đã phân chia thành giai cấp, những vấn đề lýluận xã hội bao giờ cũng gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp dướinhững hình thức khác nhau Các giai cấp bóc lột luôn luôn dùng ngọn cờnhân quyền để tập hợp lực lượng, tranh giành quyền lực và củng cố địa vịcủa mình Đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị ápbức, các lực lượng xã hội tiến bộ, quyền con người là một mục tiêu, lýtưởng đấu tranh của mình
Trang 2Từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến tiến hành cách mạng giảiphóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước theo conđường xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản, dân tộc ta đã làm nên nhiều
kỳ tích trong thế kỷ XX Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã giànhlại độc lập dân tộc, khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hòa và nhà nước củadân, do dân, vì dân Với cuộc tổng tuyển cử và bản Hiến pháp năm 1946,lần đầu tiên nhân dân Việt Nam được hưởng các quyền công dân và quyềncon người cơ bản
Dân tộc ta vốn có truyền thống tôn trọng nhân phẩm, nhân đạo,đoàn kết Dưới chế độ thực dân, phong kiến, quyền con người của nhân dân
ta bị tước đoạt một cách thô bạo và có hệ thống
Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945) và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (1946) đã trân trọng ghi nhận những quyền conngười cơ bản cho nhân dân ta Mặc dù, chưa phải là thành viên của LiênHợp Quốc, nhưng Hiến chương Liên Hợp Quốc và những chuẩn mực quốc
tế về quyền con người đã được Chính phủ và nhân dân Việt Nam tôn trọng
Sau khi nước Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc(1977), nhiều văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người đã được
Chính phủ Việt Nam thừa nhận, tham gia, trong đó có Tuyên ngôn thế giới
về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
(1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966).
Với tư cách một quốc gia độc lập có chủ quyền, Nhà nước ta đã cam kếttôn trọng và thực hiện các Công ước mà mình tham gia hoặc ký kết
Với công cuộc đổi mới toàn diện mở ra từ Đại hội VI, các quyềncông dân và quyền con người ngày càng được củng cố và mở rộng, phùhợp với quy luật phát triển của xã hội Việt Nam, trong quá trình hội nhậpquốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã xuất hiện không ítnhững vấn đề về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa cần phải được giảiquyết, trong đó có nhiệm vụ bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện các quyềncon người Đó là việc bảo đảm đầy đủ hơn các quyền dân sự, chính trị, là
Trang 3việc bảo đảm quyền bình đẳng trong sự hưởng thụ các thành quả kinh tế, xãhội và văn hóa; khắc phục tình trạng phân cực giàu nghèo giữa các vùng,các nhóm xã hội, sự vi phạm các quyền kinh tế, quyền tự do sản xuất kinhdoanh; bảo đảm quyền làm việc, tiền lương và bảo trợ xã hội Những vấn
đề trên cần được nghiên cứu thấu đáo nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoahọc cho việc hoạch định chính sách và thể chế hóa bằng pháp luật, hướngtới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trong điều kiện toàn cầu hóa nhiều mặt của đời sống nhân loại,trước hết trên lĩnh vực kinh tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoahọc - công nghệ, nhất là khoa học và công nghệ thông tin, quá trình toàncầu hóa làm cho các quốc gia, dân tộc gần gũi nhau hơn Sự giao lưu vềchính trị, kinh tế, văn hóa ngày càng mở rộng Với đường lối đối ngoạirộng mở, "muốn là bạn với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủquyền", các hoạt động đối ngoại nói chung và hợp tác kinh tế nói riêng củanước ta đã thu hút ngày càng nhiều người nước ngoài đến làm ăn ở ViệtNam, đồng thời công dân Việt Nam cũng ra nước ngoài sản xuất, kinhdoanh, học tập ngày càng đông hơn Nhiều vấn đề pháp lý mới đã vượt rangoài khuôn khổ pháp luật quốc gia, đòi hỏi chúng ta phải vận dụng, xử lýdựa trên luật quốc tế, trong đó có pháp luật về quyền con người Do đó,nghiên cứu, giáo dục về quyền con người đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết
Trên phương diện tư tưởng, ngay từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩađầu tiên ra đời, các thế lực đế quốc đã lợi dụng ngọn cờ dân chủ, nhânquyền để bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, từ khi các nước xã hộichủ nghĩa tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới, chủ nghĩa đế quốc đã dùngngọn cờ dân chủ, nhân quyền làm công cụ chủ yếu để tiến hành chiến lược
"diễn biến hòa bình", phá hoại sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trongĐảng và xã hội Đồng thời họ còn dùng vấn đề nhân quyền để kích độngquần chúng, bảo vệ các phần tử chống đối, tạo dựng "ngọn cờ" xây dựngcác tổ chức phản cách mạng hòng can thiệp vào chủ quyền quốc gia, mưutoan chia cắt đất nước, lật đổ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa Bởi vậy,
Trang 4nghiên cứu, học tập, tuyên truyền, giáo dục các quan niệm đúng đắn vềquyền con người dựa trên theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh, giành lại thế chủ động trong cuộc đấu tranh tưtưởng hiện nay, đã trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu củachúng ta
Về phương diện lý luận, quyền con người được giương cao trongthời kỳ vận động cách mạng tư sản và đã được ghi nhận trong hiến pháp,pháp luật của nhiều quốc gia sau khi chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa đượcxác lập Tất nhiên, mục đích, phương pháp nghiên cứu, nhất là phươngpháp luận có những điểm khác với quan niệm mácxít, như quan hệ giữaquyền kinh tế, xã hội với quyền dân sự, chính trị; quyền và trách nhiệm của
cá nhân với cộng đồng Tuy nhiên, vì có cùng một đối tượng nghiên cứu,
và vì đó là thành quả lâu dài của nhân loại, quyền con người là một giá trịnhân loại cần phải được nghiên cứu, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng xãhội xã hội chủ nghĩa, giải phóng hoàn toàn và triệt để cho con người
ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác trước đây,quyền con người chưa được nghiên cứu và giảng dạy với tư cách là mộtmôn lý luận độc lập Song, một phần quan trọng của bộ môn đã được đưavào chuyên ngành lý luận nhà nước và pháp luật, gắn liền với khái niệmquyền công dân Với những điều kiện mới, lý luận về quyền con ngườingày nay đã trở thành một chuyên ngành trong hệ thống các chuyên ngànhkhoa học xã hội và nhân văn
Mác, Ăngghen, Lênin đã nghiên cứu về con người và quyền conngười một cách sâu sắc Các ông đã chỉ ra rằng, phải nghiên cứu con người
và quyền con người trong các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể Theocác ông, phải thay thế các học thuyết sùng bái con người trừu tượng bằngmột khoa học nghiên cứu con người hiện thực, "trong chừng mực họ là
Trang 5hiện thân của những phạm trù kinh tế, là những đại biểu cho những quan hệgiai cấp và những lợi ích của một giai cấp nhất định"(1)(1).
Những khái niệm cơ bản trong lý luận về quyền con người như Tự
do, Dân chủ, Bình đẳng, Sở hữu đã được các nhà kinh điển mácxit nghiêncứu thấu đáo, xác định tiêu chí, nội dung, giới hạn các quyền đó trongtính hiện thực lịch sử của nó, gắn với khái niệm hình thái kinh tế - xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm một cuộc cách mạng trong khoa học
xã hội và nhân văn nói chung Do đó, cũng có thể nói, các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác đã thật sự làm một cuộc cách mạng trong lý luận về conngười và quyền con người Với C.Mác, "bản chất con người trong tính hiệnthực của nó là tổng hòa các quan hệ xã hội" Quyền con người là sản phẩmcủa lịch sử gắn với nhà nước Quyền con người phát triển theo con đườngnhân đạo, xóa bỏ mọi sự tha hóa đối với con người, tiến đến một xã hội,trong đó, "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người"
Cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại (1917) mở racon đường hiện thực hóa một bước lý tưởng giải phóng con người, đem lạicác quyền tự do, dân chủ, công bằng, bình đẳng thật sự cho tuyệt đại đa sốnhân dân, đồng thời góp phần to lớn thúc đẩy cuộc đấu tranh giành độc lậpdân tộc, mở rộng các điều kiện thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và vănhóa, đồng thời bảo đảm quyền phát triển của các dân tộc Chính vì vậy, có
thể nói những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con người,
cùng với thực tiễn xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa mở đầu từ Cách mạng tháng Mười tạo ra bước phát triển nhảy vọt về chất, lý luận về quyền con người.
Dân tộc Việt Nam ra đời sớm, đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử.Nhân dân ta đã tạo ra những giá trị tinh thần vô giá Đó là những truyềnthống quý báu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trong việc tổ
(1)(1) C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập 1 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970, tr 544.
Trang 6chức đời sống xã hội, trong việc xử lý các quan hệ quốc tế khi hòa bìnhcũng như chiến tranh Đặc biệt, dân tộc ta có truyền thống quý trọng conngười, truyền thống nhân đạo cao cả Những giá trị đó đã trở thành một disản phong phú và vững chắc làm nền tảng để chúng ta phát triển các quanđiểm về quyền con người trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc.Người đã chọn lọc, tiếp nhận tinh hoa văn hóa phương Đông và phươngTây, đặc biệt đã vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ nghĩaMác - Lênin về quyền con người vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dântộc, xây dựng đất nước và tổ chức xã hội Trong những văn kiện đầu tiên củaĐảng Cộng sản Việt Nam, cũng như của Nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hòa, nội dung cơ bản của các quyền con người, quyền công dân đãđược ghi nhận dưới những hình thức ngôn từ khác nhau trong mục tiêu, lýtưởng của cách mạng Hiến pháp năm 1992 đã chính thức sử dụng thuậtngữ quyền con người Điều 50 viết: "ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xãhội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trongHiến pháp và luật"(1)(1) Báo cáo chính trị Đại hội IX đã ghi: "Chăm lo chocon người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng vàthực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kếthoặc tham gia"(2)(2)
Bộ môn lý luận về quyền con người, quyền công dân cần phải hệthống hóa những di sản tinh thần vô giá đó, xây dựng các luận cứ khoa họcphục vụ cho việc hoạch định đường lối chính sách, hoàn thiện pháp luật hướng vào mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dângiàu, "nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh"
II đối tượng nghiên cứu
(1)(1) Hiến pháp 1945 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, Nxb CTQG,
H 1998, tr 506.
(2)(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG,
H 2001, tr 134.
Trang 7Chương này đề cập tới những nội dung sau:
- Hệ thống phạm trù, khái niệm cơ bản về quyền con người
- Tính quy luật của sự hình thành và phát triển của quyền conngười
- Phương pháp nghiên cứu
Quyền con người là giá trị chung của nhân loại Tất cả các quốc gia,dân tộc đều có những đóng góp vào những giá trị đó Quyền con ngườiđược hình thành và phát triển trong các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranhgiành độc lập dân tộc, đấu tranh chống thảm họa tự nhiên và đấu tranh để
tự hoàn thiện nhân cách làm người
Lịch sử nhân loại cho thấy, mỗi một bước tiến của xã hội, nhất làtrong mỗi bước phát triển từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình tháikinh tế - xã hội cao hơn, đều được đánh dấu bởi việc mở rộng chủ thểquyền hoặc bổ sung thêm các quyền mới, tiến bộ hơn
A Nguồn gốc, bản chất, nội dung của quyền con người
Sự trưởng thành của một chuyên ngành khoa học, xét trên phương
diện lý luận, đòi hỏi phải được xác định rõ đối tượng và phương pháp
nghiên cứu riêng của mình, nói cách khác, đòi hỏi phải có một hệ thống trithức tương đối độc lập đối với các chuyên ngành khác, kế cận với nó Vớinhững tiêu chí như trên, cho đến nay, lý luận về quyền con người đã trởthành một chuyên ngành trong hệ thống khoa học xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu quy luật phát triển chung nhấtcủa xã hội Lý luận đó xác định nguyên nhân, động lực phát triển của xã hội
ở đây, con người được đề cập đến với tính cách là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử Những quan niệm triết học về lịch sử và con người là những tri thức cơ
bản, làm sáng tỏ nguồn gốc, điều kiện và sự phát triển của quyền con
người
Trang 8Lý luận về nhà nước và pháp luật là chuyên ngành gần gũi nhấtvới lý luận về quyền con người, quyền công dân Về mặt lôgic, có thểxem mối quan hệ giữa hai chuyên ngành này như mối quan hệ giữa khái
niệm giống và khái niệm loài Lý luận về nhà nước và pháp luật nghiên cứu
những vấn đề chung nhất về nhà nước và pháp luật: sự hình thành, chứcnăng, hình thức của nhà nước và pháp luật, quan hệ nhà nước và côngdân Như vậy, lý luận về nhà nước và pháp luật có quan hệ mật thiết với
lý luận về quyền con người Khi chưa có nhà nước thì sự điều chỉnh cácquan hệ xã hội chủ yếu bằng tập quán Khi đã có nhà nước thì sự điềuchỉnh các quan hệ xã hội bên cạnh tập quán là pháp luật do nhà nước quyđịnh Khi quan hệ giữa các quốc gia đã phát triển đến một mức nào đó, cầnthiết phải có cơ sở pháp lý để xử lý các quan hệ quốc tế Một trong những
cơ sở pháp lý đó là luật quốc tế về quyền con người Quyền con người, làmột dạng quy phạm xã hội đặc biệt, nó bao quát một cách rộng rãi các quan
hệ xã hội, dựa trên sự thừa nhận nhân phẩm, tự do, bình đẳng như là nhữnggiá trị vốn có của con người
Khái niệm quyền con người có từ rất sớm trong pháp luật của nhiềuquốc gia, song với tư cách là cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người, kháiniệm này gắn với sự ra đời của tổ chức Liên Hợp Quốc (1945), bao gồmnhiều hệ thống xã hội: các nước tư bản chủ nghĩa, các nước xã hội chủnghĩa và các nước đi theo con đường độc lập dân tộc Cùng với sự ra đờicủa Liên Hợp Quốc, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đã hìnhthành Đó là Hội đồng kinh tế - xã hội, các ủy ban Công ước, từ năm 1993,
có Cao ủy Liên Hiệp Quốc về nhân quyền và hệ thống văn kiện, bao gồm
Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và
các Công ước quốc tế về quyền con người
Trong quan hệ nội bộ của mỗi quốc gia, pháp luật về quyền conngười điều chỉnh quan hệ giữa các thành viên của xã hội với nhà nước (với
tổ chức và công chức của nhà nước) Trong quan hệ quốc tế, pháp luật vềquyền con người điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên tham
Trang 9gia công ước với Liên Hợp Quốc, đặc biệt là với ủy ban nhân quyền và các
ủy ban công ước chuyên biệt
1 Sự ra đời quyền con người trong lịch sử
Quyền con người gắn liền với lịch sử loài người, đó là sản phẩmcủa những kết cấu kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự chi phối của cơ sởkinh tế - xã hội Tuy nhiên, do tính độc lập tương đối của tư tưởng, quanniệm về quyền con người phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triểncủa tư duy về xã hội nói chung, đặc biệt là tư duy triết học, chính trị củamỗi thời đại
Trong thời đại nguyên thủy quyền con người mới có những tiền đề
tư tưởng Đó là sự xác định mối quan hệ giữa con người với tự nhiên uyn là người đầu tiên phát hiện sự tiến hóa từ động vật cấp cao thành người
Đác-và Ph Ăngghen đã chỉ ra tiêu chí để phân biệt giữa con người với động vật
là ở chỗ, con người biết chế tạo ra công cụ lao động Từ đây, con ngườikhông chỉ trông vào sự ban phát của tự nhiên để tồn tại, mà đã bước đầu cảitạo tự nhiên, đi từng bước trên con đường thoát khỏi sự lệ thuộc hoàn toànvào tự nhiên, một mặt thích ứng với tự nhiên, mặt khác bắt tự nhiên phảiphục vụ cho mình Trong thời đại này mới hình thành những tiền đề tự nhiêncủa quyền con người Đó là năng lực và nhu cầu cơ bản của con ngườitrước thế giới tự nhiên trong quá trình tồn tại và phát triển nòi giống Đồngthời, với tư cách là một quyền tự nhiên, ở giai đoạn này, tập quán xã hộithừa nhận sự bình đẳng tự nhiên về nhiều phương diện của mọi thành viêntrong cộng đồng
Nói tới quyền con người, chủ yếu là nói tới quan hệ giữa cá nhânvới nhà nước trong quy phạm pháp luật Trong thời đại nguyên thủy, donhững hạn chế về năng lực sản xuất, mỗi con người phải dựa vào cộngđồng như gắn vào "cuống nhau" của thị tộc để tồn tại, chưa đủ sức táchmình thành những cá thể với đầy đủ tính cách riêng biệt, tổ chức quản lý xãhội còn đơn sơ, cho nên ý thức về cá nhân trong quan hệ với tổ chức cộngđồng chưa có điều kiện phát triển thành "quyền"
Trang 10Quyền con người xét về mặt lịch sử, ra đời từ xã hội nô lệ, khi xuất
hiện nhà nước đầu tiên trong lịch sử Bởi vậy, có thể nói, quyền con người
chỉ tồn tại, phát triển qua các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản và chế độ xãhội xã hội chủ nghĩa
Xét về mặt pháp lý, kết cấu của quyền, bao gồm hai yếu tố: thứ nhất, một nhu cầu và năng lực nhất định của chủ thể quyền đã hình thành; thứ hai, một quy chế pháp lý thừa nhận năng lực đó Nói cách khác, năng
lực đó đã được nhà nước thể chế hóa bằng pháp luật, nghĩa là được nhànước bảo vệ Với hai yếu tố đó thì "quyền" mới trở thành công cụ điềuchỉnh các quan hệ xã hội Khi bàn về quyền uy, Ph.Ăngghen đã viết: Mộtmặt, một quyền uy nhất định, không kể quyền uy đó đã được tạo ra bằngcách nào, và mặt khác, một sự phục tùng nhất định, đó là cơ cấu của quyền
uy nói chung "Không có pháp luật thì không có quyền"(1)(1) Chỉ có nhữngkhả năng hành động hoặc nhu cầu nào của con người được pháp luật thừanhận mới trở thành quyền
Với tư cách là các quan hệ pháp luật, từ hình thái kinh tế - xã hội nô
lệ đến hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, quyền con người đã trảiqua các nấc thang từ thấp đến cao Sự bất bình đẳng về mặt pháp lý giữacác chủ thể quyền, là đặc trưng chung của quyền con người trong hình thái nô
lệ và phong kiến Đặc trưng của quyền con người trong xã hội tư bản chủnghĩa là sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chủ thể quyền dưới hình thứcchế định quyền công dân Tuy nhiên, quan niệm bình đẳng về pháp lý củacông dân vẫn còn nhiều hạn chế, như giới tính, sắc tộc nhất là về mặtkinh tế
Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp (1789) là đỉnh cao và đồng thời là tiêu
biểu cho tư tưởng nhân quyền của nhân loại ở giai đoạn tư bản chủ nghĩa.Những văn kiện này đã xác định những quyền cơ bản của con người, đó là
quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền sở hữu Giai cấp tư sản
(1) (1) Jacques Mour geon: "Các quyền của con người", trích theo "Quyền con người -
trong thế giới hiện đại- Viện Thông tin KHXH, Hà Nội 1995, tr 20.
Trang 11đã tuyên bố các quyền con người, xem đó là các quyền tự nhiên, vốn có.Giá trị lớn lao của Tuyên ngôn nhân quyền của cách mạng dân chủ tư sản,
đó là sự phủ nhận vương quyền, các quyền của chủ nô, quý tộc và lãnhchúa phong kiến và thần quyền, quyền của nhà thờ Mặc dù, còn những hạnchế lớn, sự ghi nhận những quyền đó là một bước tiến của nhân loại, nó đãđáp ứng những đòi hỏi khách quan sự phát triển của lịch sử Đó là những tưtưởng cách mạng vĩ đại trước khi có chủ nghĩa Mác
Xét về bản chất, học thuyết Mác - Lênin là lý luận về con đường giảiphóng con người, giải phóng loài người thoát khỏi sự tha hóa bởi mọi thứquyền lực, bảo vệ và phát triển toàn diện con người Các nhà kinh điểnmácxít cũng chỉ ra rằng loài người phải biết sống hòa hợp với thiên nhiên.Nói cách khác, là biết bảo vệ môi trường sống của hành tinh chúng ta
Có thể nói, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa những tư tưởngnhân quyền tiến bộ và phát triển những tư tưởng đó lên một tầm cao mới
Sự bền vững của tư tưởng Mác - Lênin về quyền con người không chỉ bắtnguồn từ lý tưởng nhân đạo cao cả mà điều quan trọng là ở chỗ học thuyết
đó chủ trương làm cho những quyền của con người từ chỗ còn mang nặngtính hình thức trở thành những quyền cụ thể, hiện thực, thực chất
Trên cơ sở phân tích mối tương quan giữa con người với quy luậtkhách quan C Mác đã từng chỉ ra rằng: Con người sáng tạo ra lịch sử củamình, sự sáng tạo đó dựa trên những tiền đề và những điều kiện nhất định -
"nhân tố quyết định, xét đến cùng là những điều kiện kinh tế"(1)(1) Cácquyền Tự do, Bình đẳng thật sự của con người không phải tự nhiên mà
có, cũng không phải là sự ban phát của một "đấng bề trên" nào Các quyền
đó chỉ có thể có được bằng các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội,đồng thời tự cải tạo chính mình
Các nhà kinh điển mácxít đánh giá cao thành quả về sự giải phóngcon người của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản so với chế độ nô lệ,
(1)(1) C.Mác và Ph.Ăngghen, Một số thư về chủ nghĩa duy vật lịch sử, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1976, tr 128.
Trang 12phong kiến, song các ông đã chỉ ra rằng các quyền con người trong xã hội
tư bản còn mang nặng tính hình thức Bởi vì, trong xã hội tư bản, người tamặc nhiên thừa nhận sự bất bình đẳng về năng lực của con người, còn nhànước thì thừa nhận sự bất bình đẳng về sở hữu, xem tư hữu là quyền thiêngliêng Chính sự bất bình đẳng này lại trở thành cơ sở để đánh giá quyềnbình đẳng của con người Ph Ăngghen viết: "Bình đẳng là một sản phẩmlịch sử, không có quyền bình đẳng trừu tượng, muốn có bình đẳng thật sựthì việc "xóa bỏ đặc quyền giai cấp" là chưa đủ, mà phải "xóa bỏ bản thângiai cấp""(2)(2), phải xóa bỏ sự bất bình đẳng của con người đối với sở hữu
Tự do cá nhân là một chủ đề lớn trong các cuộc tranh luận về quyềncon người, C Mác đã chỉ ra phương hướng giải quyết cơ bản Ông viết: "Sựphát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả mọi
người" Chính vì vậy có thể nói, từ khi Chủ nghĩa Mác ra đời, tiếp đó là chủ
nghĩa Lênin- hình thành Chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử về quyền con người nói riêng đã phát triển lên một tầm cao mới.
Với Cách mạng tháng Mười, đặc biệt là sau chiến thắng của cáclực lượng đồng minh do Liên Xô làm trụ cột, đánh bại chủ nghĩa phát xít,
hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời, tương quan của cuộc đấu tranh giai cấp
và quan hệ giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế đã có những thayđổi to lớn theo hướng tiến bộ Tình hình đó đã phản ánh trong nội dung
các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc (1945), trong Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người (1948) và nhiều Công ước Sự phát triển của
quyền con người từ đây, một mặt tiếp tục các tư tưởng nhân quyền tiến
bộ, nhất là các quyền dân sự, chính trị, mặt khác, mở rộng sang các quyềnkinh tế, xã hội và văn hóa ; đặc biệt là sự thừa nhận quyền độc lập dântộc, quyền bình đẳng giữa các quốc gia (không phân biệt lớn hay nhỏ) Từnhững năm 60 xuất hiện các quyền tập thể, quyền mang tính tổng hợp, đó
(2)(2) C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1994, tr 542.
Trang 13là quyền phát triển, bao gồm quyền cá nhân và quyền cộng đồng, quyềnsống trong hòa bình và môi trường trong sạch.
Các nhà kinh điển mácxít đã sớm chỉ ra rằng, khi các quan hệ quốc
tế phát triển đến một mức độ nào đó, các tổ chức chính trị quốc tế ra đời thìcác quyền cá nhân không chỉ được thừa nhận trong phạm vi mỗi nước màcòn đòi hỏi được thừa nhận trên phạm vi quốc tế Ph.Ăngghen đã viết: "Vìngười ta không còn sống trong một đế quốc thế giới như đế quốc Rô-ma trướckia nữa, mà trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhautrên một cơ sở bình đẳng cho nên, lẽ dĩ nhiên yêu sách về bình đẳng phảimang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia riêngbiệt là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những quyền của conngười"(1)(1)
2 Bản chất quyền con người
Quyền con người là một phạm trù chính trị, pháp lý đa nghĩa, phụthuộc vào phương pháp tiếp cận và lập trường chính trị của người nghiêncứu
Từ xưa đến nay, khái niệm này nằm trong quan niệm triết học,chính trị, đạo đức và pháp luật Tuy nhiên, có hai bình diện cơ bản để xácđịnh nội dung khái niệm quyền con người, đó là bình diện đạo đức và bìnhdiện pháp luật
a) Khái niệm quyền con người
Với tư cách là một phạm trù đạo đức, quyền con người được xem
như một giá trị xã hội cơ bản vốn có của con người, làm cơ sở cho những
quy phạm xã hội Hạt nhân của quan niệm nhân quyền là tinh thần nhân
đạo và sự tôn trọng nhân phẩm của con người, đồng thời xem đó là giá trị
vốn có và bình đẳng đối với tất cả mọi người Khái niệm quyền con ngườitheo nghĩa rộng đòi hỏi người ta phải đối xử với nhau trên tinh thần đồngloại, phải giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn, phải chia sẻ, cảm thông đối với
(1)(1) C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập V Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr 153.
Trang 14những số phận không may mắn, hoặc những nhóm xã hội dễ bị tổn thương,phải ngăn ngừa kẻ mạnh ức hiếp người yếu, phải khoan dung độ lượng đốivới những người lầm lỡ, phạm tội.
Sự tôn trọng phẩm giá của con người, được quan niệm rằng, ở mỗingười đều có quyền được bảo đảm những điều kiện vật chất tối thiểu đểsống như một con người, cùng với tự do như là những cái vốn có của mỗicon người ngay từ khi sinh ra cho đến khi qua đời Quan niệm này là di sảnchung của tất cả các dân tộc, không phân biệt sự khác biệt về chế độ chínhtrị và văn hóa
Ngày nay, những giá trị xã hội vốn có của quyền con người đangđứng trước những thách thức mới, đó là sự tha hóa đối với con người trênnhiều phương diện, trong đó có sự tha hóa về đạo đức, lối sống và nguy cơlàm xói mòn, hủy hoại một cách không tự giác cơ sở tự nhiên của đạo đức,lối sống và chính sự tồn tại của con người trong các nghiên cứu và ứng dụngkhoa học, cấy ghép các bộ phận cơ thể và nhân bản vô tính đối với conngười
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với những cơ hội và thách thức mới,những giá trị nhân bản của quyền con người chẳng những cần phải được bảo
vệ mà còn phải không ngừng mở rộng và nâng cao Chính giá trị nhân đạonày là cơ sở tư tưởng quan trọng nhất cho luật quốc tế về quyền con người,
vì đó là nguyện vọng và ý chí chung của tất cả các dân tộc
Với tư cách là một phạm trù pháp lý, quyền con người được xác
định trên hai đặc trưng cơ bản của con người, đó là đặc trưng tự nhiên, tức
là sự khác biệt giữa con người với phần còn lại của giới tự nhiên và đặctrưng xã hội, tức là các quan hệ giữa con người với con người Đặc trưng tựnhiên, giá trị vốn có, tinh thần nhân đạo giữa một vai trò đặc biệt quantrọng, là một trong những cơ sở tư tưởng về quyền con người Chính đặctrưng này, phân biệt pháp luật về quyền con người với các hình thức phápluật khác Quyền con người thường đề cập tới những chuẩn mực tối thiểu
Trang 15và bảo vệ quyền tự do như là điều kiện cho sự phát triển nhân cách của tất
cả mọi người
Cũng như các ngành luật khác, quyền con người là sự thừa nhậnchính thức của cộng đồng quốc tế cũng như của quốc gia đối với những giátrị của con người
Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm có quan hệmật thiết với nhau, song không phải là đồng nhất Khái niệm quyền conngười tồn tại sớm hơn và rộng hơn khái niệm quyền công dân Quyền conngười ra đời từ chế độ nô lệ và được chế định trong các quan hệ xã hội.Trong khi đó quyền công dân chỉ gắn với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản,gắn với chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, gắn với lịch
sử lập hiến, lập pháp Mặt khác, quyền công dân chỉ được xác định trongkhuôn khổ quốc gia Quyền con người là những chế định không chỉ xácđịnh trong khuôn khổ quốc gia mà còn trong khuôn khổ quốc tế
Trong đời sống hiện thực, để tồn tại và phát triển, mỗi người tronghoạt động của mình không chỉ đóng khung trong các quyền công dân, màcòn đòi hỏi có những quyền rộng rãi hơn - như là những lợi ích của sự pháttriển của con người, đó là các quyền tự nhiên, vốn có ở con người, tức làcác quyền không bị giới hạn bởi các điều kiện về sinh học (như tuổi tác,sức khỏe ), cũng như các điều kiện về xã hội (như địa vị chính trị, kinhtế ) của mỗi người
Trong hiến pháp và pháp luật quốc gia, khái niệm quyền công dânnằm trong khái niệm quyền con người Quyền công dân là bộ phận quantrọng nhất của quyền con người song không bao quát hết quyền con người
Trong luật quốc tế, xét về mặt hình thức, quyền con người được chếđịnh trong các văn kiện của Liên Hợp Quốc Trong đó bao gồm các nguyêntắc, chuẩn mực các quyền thực định và các mục tiêu trên lĩnh vực nhânquyền Các Tuyên ngôn, Tuyên bố thường đề cập tới tính bức thiết, các
Trang 16nguyên tắc và định hướng chính trị của quyền con người Các công ước,thường là các chế định cụ thể về quyền Tuy nhiên, đối với các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa, các văn kiện chỉ có thể nêu lên mục tiêu cần đạt đượctrên các lĩnh vực đời sống của con người
Chủ thể của luật quốc tế về quyền con người ở đây là các nhà nước
và các tổ chức liên chính phủ Bởi vậy, các chính phủ là đối tượng điềuchỉnh chủ yếu của luật quốc tế về quyền con người
Hình thức tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người là kýkết, phê chuẩn và gia nhập của mỗi nhà nước
Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế về quyền con người là nhữngquan hệ pháp lý giữa các chính phủ với tổ chức quốc tế về quyền con ngườigiữa công dân với nhà nước dựa trên các cam kết quốc tế của các chínhphủ
Trách nhiệm pháp lý của mỗi quốc gia đối với cộng đồng quốc tế,trước hết là Liên Hợp Quốc, được xác định bởi sự ràng buộc trong nhữngđiều ước mà chính phủ đã tham gia Nói một cách khác, chỉ có những điềuước quốc tế nào mà một quốc gia đã ký kết, phê chuẩn và gia nhập, và khiđiều ước đó đã có hiệu lực mới được coi là phải chịu sự ràng buộc về mặtpháp lý
Trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay, quan điểm của các quốcgia về việc tham gia vào các điều ước quốc tế về quyền con người rất khácnhau, tùy thuộc vào các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa củamỗi nước
Quyền con người là thống nhất, không thể chia cắt Với tư cách lànhững quyền tự nhiên, vốn có, quyền con người là giá trị chung, phổ biếnđối với mọi xã hội, quốc gia, dân tộc Với tư cách là những quyền xã hội,quyền con người mang tính đặc thù, do thể chế chính trị, đặc trưng văn hóa,đặc biệt là trình độ phát triển của kinh tế, của mỗi quốc gia quy định
Trang 17Đối với những quốc gia, dân tộc bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, bóclột thì độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ vừa là tiền đề,vừa là điều kiện cơ bản để bảo vệ quyền cá nhân của mỗi người.
Căn cứ vào cơ sở pháp lý quốc tế và quốc gia, dựa vào hai đặctrưng cơ bản của con người - đặc trưng tự nhiên và đặc trưng xã hội, có thể
định nghĩa quyền con người như sau: Quyền con người là phẩm giá, nhu
cầu, lợi ích và năng lực vốn có và chỉ có ở con người - với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
b) Bản chất của quyền con người
Quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân laođộng trong lịch sử nhân loại là giá trị chung của các quốc gia dân tộc Bởivậy, quyền con người trước hết mang bản chất nhân loại Quyền con ngườitrong mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều đánh dấu một bước phát triển vềnhu cầu, năng lực và khát vọng giải phóng của mình Lịch sử hình thành vàphát triển của quyền con người không gián đoạn, ngày càng mở rộng vànâng cao, hướng tới tôn trọng nhân phẩm của mỗi con người, không phânbiệt về giới tính, dân tộc, địa vị chính trị, kinh tế và xã hội của mỗi người.Đồng thời, quyền con người phát triển theo xu hướng nhân đạo, khoandung trong việc áp dụng các quy phạm xã hội, đặc biệt là đối với các nhóm
xã hội dễ bị tổn thương, dễ bị thiệt thòi, đối với những người phạm tội Cóthể nói rằng, sự phát triển của quyền con người là một quá trình loài người
tự hoàn thiện phẩm chất đạo đức, lối sống của mình
Quyền con người, với tư cách quyền tập thể, đó là quyền độc lậpdân tộc, chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc; đó là quyềncủa cộng đồng dân cư có chung đặc điểm, đó là quyền được sống trong hòabình, an ninh và môi trường trong sạch
Trên đây là những khía cạnh mang bản chất nhân loại của quyềncon người
Trang 18Tuy nhiên, trong điều kiện xã hội còn phân chia giai cấp, còn tồn tạinhà nước với các chế độ chính trị, các hệ thống xã hội khác nhau, quyềncon người do đó còn mang bản chất giai cấp.
ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp thống trị thực thi nhân quyềntrước hết nhằm ổn định xã hội, duy trì địa vị thống trị của mình Các giai cấp
bị áp bức, bóc lột dùng nhân quyền để đấu tranh, bảo vệ lợi ích của mình
Trong quan hệ quốc tế, đối với các nước xã hội chủ nghĩa và cácquốc gia đi theo con đường độc lập dân tộc, chủ nghĩa đế quốc sử dụng vấn
đề dân chủ, nhân quyền làm công cụ quan trọng để tiến hành chiến lược
"diễn biến hòa bình" can thiệp vào công việc nội bộ các nước, thậm chínhằm lật đổ chế độ xã hội mà chúng cho là"vi phạm nhân quyền"
Về bản chất, chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội tôn trọng vàbảo vệ quyền con người Bởi vậy, đối với chúng ta, thực thi nhân quyền lànhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi người, bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa, chống lại các thế lực lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta
Vì nhân quyền vừa mang bản chất nhân loại, vừa mang bản chấtdân tộc và giai cấp, cho nên thực thi nhân quyền, hợp tác quốc tế trên lĩnhvực này cần phải xem xét một cách khách quan khoa học, phải đặt trongbối cảnh chính trị thực tiễn Một mặt, chúng ta tôn trọng các chuẩn mựcnhân quyền, thực hiện nghiêm những cam kết quốc tế, một mặt phải biếtbảo vệ lợi ích quốc gia, đề cao cảnh giác, kiên quyết chống lại âm mưu, thủđoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền đểchống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam
c) Nội dung quyền con người
Quyền con người có thể phân ra làm nhiều nhóm, dựa trên nhữngtiêu chí nhất định
Trang 19Xét về chủ thể quyền, người ta có thể chia quyền con người thành
quyền cá nhân, quyền tập thể (quyền quốc gia dân tộc, quyền của nhóm,quyền phát triển, quyền được sống trong hòa bình và môi trường trong sạch)
Xét về nội dung của quyền, người ta có thể chia quyền con người
thành các nhóm quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.Trong những nhóm quyền này, người ta lại có thể chia thành những quyềnnhất định Tuy nhiên, quyền cá nhân luôn luôn được xem là cơ sở, là cốt lõicủa khái niệm quyền con người
Sau đây là nội dung của những quyền cơ bản của con người
- Quyền sống, là một quyền quan trọng và cơ bản nhất trong những
quyền của con người mà pháp luật phải bảo vệ Các văn kiện pháp lý quốc
tế lớn đều ghi nhận quyền này Theo quan niệm truyền thống, quyền sốngbao gồm các khía cạnh: quyền được bảo vệ tính mạng và sự tôn trọng nhânphẩm của mỗi người Đó là quyền có một điều kiện và mức sống (về vậtchất và tinh thần) tối thiểu, tương ứng với điều kiện lịch sử Theo quanniệm hiện đại, quyền sống liên quan đến khái niệm sống, chết, vấn đề
"quyền được chết" và những vấn đề liên quan đến duy trì nòi giống nhưthụ tinh trong ống nghiệm và nhân bản vô tính đối với con người Từnhững năm 70, của thế kỷ XX, quyền sống được mở rộng, quyền đượcsống trong độc lập dân tộc; trong hòa bình, an ninh và môi trường trongsạch (cả về tự nhiên và xã hội)
- Nói đến quyền con người, phải nói đến quyền tự do.
Tự do thuộc loại "quyền tích cực" Bảo đảm quyền tự do là bảo đảm
điều kiện cho sự phát triển đầy đủ nhân cách của con người Tôn trọng và bảo
vệ các quyền tự do chân chính của con người là tiêu chuẩn đánh giá sự pháttriển của một xã hội Nhân phẩm của con người được tôn trọng, trước hết ở
sự tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do Tự do không phải là một quyềntuyệt đối Tuy nhiên, mọi sự hạn chế quyền tự do phải do luật định và phảithực sự cần thiết vì lợi ích của người khác, an ninh quốc gia, trật tự công cộng
Trang 20Có nhiều cách hiểu khái niệm tự do Trên phương diện triết học,Hêghen cho rằng: tự do là sự nhận thức cái tất yếu Quan điểm này được
Mác và Ăngghen đánh giá cao Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
Pháp (1789) viết: "Tự do có nghĩa là có thể làm mọi điều không gây hạicho người khác" Cho đến nay, quan điểm tự do nói trên là cơ sở cho hai
khuynh hướng về quyền tự do, một là, quyền tự do cá nhân cực đoan, nói
cách khác là chủ nghĩa cá nhân, đặt tự do cá nhân lên trên lợi ích xã hội;
hai là, quyền tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội.
Đứng trên lập trường giai cấp công nhân, Lênin đã viết: "Tự do làmột danh từ lớn, nhưng chính dưới lá cờ tự do công nghiệp mà các cuộcchiến tranh cướp bóc ghê tởm nhất đã được tiến hành; chính dưới lá cờ tự
do lao động mà người ta đã cướp bóc những người lao động"(1)(1)
Tự do là quyền của con người được hành động nhằm đáp ứng cácnhu cầu vật chất và tinh thần của mình song không làm tổn hại đến lợi íchcủa cộng đồng và không được vi phạm pháp luật Nội dung và tính chất củaquyền tự do phụ thuộc vào chế độ xã hội, nói cách khác vào giai cấp thốngtrị xã hội Đối với chúng ta, quyền tự do cá nhân luôn luôn gắn liền vớiviệc bảo vệ trật tự xã hội, gắn với trách nhiệm công dân
- Bình đẳng là một quyền đặc biệt của con người Quyền bình đẳng
trước hết là sự bảo đảm về mặt pháp luật đối với các chủ thể quyền và trêntất cả các lĩnh vực quyền, bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xãhội và văn hóa
Tuyên ngôn Độc lập Mỹ viết: "Tất cả mọi người(2)(2) sinh ra đềubình đẳng, rằng tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạmđược Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc" Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp viết:
"Mọi công dân đều có quyền tham gia trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu
của mình vào việc xây dựng pháp luật; pháp luật phải là như nhau đối với
(1)(1) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, M., 1978, tr 11.
(2)(2) Tuyên ngôn độc lập của Mỹ viết: "Tất cả mọi người với nội dung là đàn ông
("men")".
Trang 21tất cả mọi người Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc viết: "Việc thừa nhận
phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tước bỏ của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở của tự do, công bằng và hòa bình trên
thế giới"
Như vậy, tính chất đặc biệt của quyền bình đẳng là ở chỗ, quyền đó
là quyền kép - quyền ngang nhau ở mọi quyền và đối với các chủ thể quyền.
Tuy nhiên, trong các xã hội còn tồn tại giai cấp bóc lột và trong giaiđoạn đầu của xã hội cộng sản, quyền bình đẳng, nhất là trong lĩnh vực kinh
tế, xã hội và văn hóa là một quyền bị hạn chế
Trong tác phẩm "Chống Đuy-rinh", Ph.Ăngghen đã chỉ ra quanniệm về quyền bình đẳng của giai cấp vô sản, ông viết: "Quyền bình đẳngkhông được chỉ có tính chất bề ngoài, chỉ được áp dụng trong lĩnh vực nhànước, nó phải có tính chất thật sự, nó phải được áp dụng cả trong lĩnh vực
kinh tế và xã hội nữa" "Nội dung thật sự của yêu sách bình đẳng vô sản
là yêu cầu xóa bỏ giai cấp"(1)(1)
Quyền dân chủ là quyền của người dân trong một chế độ xã hội
nhất định ở đây dân chủ là quyền làm chủ của công dân, trước hết đó làcác quyền con người trên lĩnh vực chính trị, dân sự
- Chế độ dân chủ và quyền dân chủ là những khái niệm khác nhau.
Sự thống nhất giữa hai khái niệm đó là ở chỗ, đó là những sản phẩm của lịch
sử và chỉ tồn tại trong chế độ xã hội còn phân chia giai cấp Lênin viết: "Chế
độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái nhà nước"
Trong xã hội thần dân, không tồn tại khái niệm công dân thì tấtnhiên không thể có quyền dân chủ theo đúng nghĩa của khái niệm này.Khái niệm quyền dân chủ bắt đầu xuất hiện trong xã hội công dân, tứctrong xã hội tư bản chủ nghĩa Cách mạng dân chủ tư sản thắng lợi là mộtbước tiến dài trong lịch sử loài người Từ đây, con người bắt đầu một quá
(1)(1) C.Mác - Ph.Ăngghen: Sđd, tập 2, tr 153, 154
Trang 22trình tìm kiếm cơ chế xã hội để bảo đảm các quyền con người và quyềncông dân Tất nhiên, quyền con người và quyền công dân dưới chế độ tưbản là những quyền mang nặng tính hình thức.
Theo V.I Lênin, dân chủ vô sản trước hết là quyền tham gia các
hoạt động chính trị, quyền bầu cử, ứng cử - hai là, mọi thủ tục và những hạn chế có tính chất quan liêu đều bị xóa bỏ; - ba là, làm cho toàn thể nhân
dân có thể tham gia công tác quản lý nhà nước và xã hội
- Xét về nội dung quyền, nhóm dân sự, chính trị, bao gồm các quyền
bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền tự do cánhân; quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và cácquyền nhân thân như quyền có quốc tịch, quyền có khai sinh, quyền đượcbảo vệ tính mạng và nhân phẩm
- Nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, bao gồm các quyền sở
hữu; quyền lao động; quyền được bảo vệ sức khỏe, được học tập, được bảohiểm xã hội; quyền được sáng tạo và hưởng thụ văn hóa
Xét về chủ thể quyền, quyền của nhóm, là quyền con người của
những người có chung một số đặc điểm chung nào đó Những nhóm xã hộinày thường là những đối tượng "dễ bị tổn thương" hoặc bị thiệt thòi - Ví dụnhư phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người thiểu số, người tị nạn, người laođộng nhập cư
- Quyền phát triển được quan niệm là quyền của các quốc gia, dântộc trong việc lựa chọn con đường phát triển, quyền của các nhóm dân cư
có chung một số đặc điểm, quyền được sống trong môi trường xã hội và tựnhiên lành mạnh Quyền phát triển đồng thời thừa nhận các quyền pháttriển của cá nhân
Với tư cách là một bộ phận hợp thành luật quốc tế, cơ chế bảo vệquyền con người bao gồm hệ thống tổ chức quốc tế và quốc gia cùng với hệthống pháp luật quốc tế, trước hết là các công ước, nghị định thư và phápluật quốc gia tương ứng
Trang 23Cơ chế bảo vệ quyền con người của các quốc gia tuy có khác nhau
về hình thức tổ chức thực hiện, song đều thống nhất với nhau ở chỗ, đềunằm trong khuôn khổ pháp luật quốc gia
Hệ thống tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người là LiênHợp Quốc(1)(1), các tổ chức thành viên
Việc giám sát, bảo đảm thực hiện quyền con người theo cơ chếquốc tế có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Trước hết, xét về chủ thể của luật quốc tế về quyền con người,
ngoài một số công ước đề cập tới hình phạt cá nhân như công ước quốc tế
về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, công ước quốc tế về loại trừ cáchình thức phân biệt chủng tộc; công ước quốc tế về không áp dụng nhữnghạn chế luật định đối với tội phạm chiến tranh và tội chống nhân loại; công
ước về ngăn ngừa, trừng trị tội ác A-pác-thai; chủ thể của các công ước
quốc tế về quyền con người là các nhà nước, các tổ chức liên chính phủ.
Đối tượng điều chỉnh của quyền con người là quan hệ pháp lý giữaquốc gia với quốc gia, giữa các quốc gia với các tổ chức liên chính phủ cóliên quan trên lĩnh vực quyền con người
Thứ hai, phương thức cơ bản của việc bảo đảm và thúc đẩy việc
thực hiện quyền con người của Liên Hợp Quốc là giám sát, đánh giá, điềutra việc thực hiện nghĩa vụ tuân thủ những điều ước quốc tế của các quốcgia thanh viên công ước
Thứ ba, phi cưỡng chế là phương thức xử lý đối với các quốc gia
thành viên "vi phạm" các điều ước quốc tế Khác với chế tài trong luật quốcgia, luật quốc tế về quyền con người tác động đến các quốc gia bằng nhữnghình thức chủ yếu sau: Khuyến nghị, hòa giải và ra nghị quyết phê phán
Liên Hợp Quốc có 189 quốc gia thành viên Việt Nam tham gia Liên Hợp Quốc năm 1977
Trang 24Hình thức nặng nhất là Đại hội đồng đề nghị Hội đồng bảo an ápdụng các biện pháp cưỡng chế từ thấp đến cao, có thể là cấm vận về kinh
tế, cô lập về ngoại giao, thậm chí có thể sử dụng vũ lực để can thiệp
B Tính quy luật và xu hướng phát triển của quyền con người, quyền công dân trong lịch sử nhân loại
- Nhìn một cách bao quát, bản chất và xu hướng phát triển chung
của quyền con người trong lịch sử nhân loại, chúng ta thấy nổi lên chủ
nghĩa nhân đạo cao cả và trí tuệ sáng suốt của con người trong cuộc đấu
tranh để duy trì và phát triển xã hội Nói như một nhà khoa học ấn Độ - ôngNami Palkhivala: "Thế giới của chúng ta dù vẫn là thế giới của sự đàn áp,bạo tàn, nhưng ý niệm chung về nhân quyền vẫn trở thành một trong nhữngđộng lực phát triển của thời đại, trở thành "Kinh Phúc Âm mới" của thờiđại chúng ta"(1)(1)
Có thể nói, mỗi bước tiến của quyền con người, dù dưới các chế độ
xã hội khác nhau đều là kết quả của các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranhgiải phóng dân tộc, đấu tranh chống thần quyền, đấu tranh chinh phục tựnhiên và đấu tranh bản thân, tự nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, tinhthần nhân ái, sự khoan dung đối với đồng loại Vì vậy, trong khi khẳngđịnh sự bình đẳng về quyền, cộng đồng quốc tế quan tâm nhiều hơn đếnquyền của nhóm dễ bị tổn thương và bị thiệt thòi, như trẻ em, phụ nữ,người tàn tật, người mắc bệnh hiểm nghèo dân tộc thiểu số, người tị nạn.Tinh thần nhân đạo của quyền con người còn thể hiện trong việc bảo vệnhân phẩm của người phạm tội trong thực thi pháp luật
- Sự phát triển của quyền con người gắn liền với sự phát triển của
kinh tế, văn hóa và xã hội.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng: Con ngườisáng tạo ra lịch sử của mình, nhưng sự sáng tạo đó bao giờ cũng dựa trênnhững tiền đề nhất định, trong những tiền đề đó kinh tế giữ vai trò quyết
(1) (1) Xem "Human Rights in the Twenty - first Century: A Global Challenge" (Quyền
con người trong thế kỷ XXI: Một thách đố toàn cầu), tr 439.
Trang 25định cuối cùng Không phải chỉ có chế độ chính trị mà trình độ kinh tế cùngvới các điều kiện sinh hoạt vật chất hay nói một cách rộng hơn, trình độvăn minh nói chung của xã hội giữ vai trò quan trọng đối với sự tồn tại vàphát triển của quyền con người.
Theo C.Mác: "Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độkinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định" (1)(1) Máccũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa quyền bình đẳng của con người với trình
độ phát triển về kinh tế, ông viết: Trong chế độ tư bản "quyền con ngườisản xuất và tỷ lệ với lao động mà người ấy đã cung cấp; sự ngang nhau là ởchỗ người ta đo bằng thước đo như nhau, tức là bằng lao động" (2) nhưngnăng lực của mỗi người luôn luôn không bằng nhau nên "quyền ngangnhau ấy là quyền không ngang nhau đối với một lao động không ngangnhau" (3)
- Quan hệ giữa quyền con người và chế độ dân chủ là quan hệ biện
chứng
Dưới các chế độ độc tài, quyền con người khó có thể phát triểnđược Chỉ dưới các chế độ dân chủ quyền con người mới có điều kiện pháttriển Tuy nhiên, quyền con người được thực hiện ở mức độ nào tùy thuộcvào tính chất của nền dân chủ VI.Lênin đã chỉ ra rằng, chế độ dân chủ tưsản "là bước tiến khổng lồ từ chế độ thống trị dựa trên đẳng cấp thời trungcổ"(4)(4) sang xã hội tư bản chủ nghĩa Nhưng mọi quyền dân chủ tư sản đềumang nặng tính hình thức và bị hạn chế bởi các chế độ kinh tế dựa trên chế
độ sở hữu tư bản chủ nghĩa Bởi vậy, các quyền con người ở đây, nhất làcác quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa khó có thể thực hiện được đẩy đủ.Theo V.I Lênin: tư tưởng thống trị của đa số, tư tưởng về quyền bình đẳng
xã hội không thể thực hiện được đầy đủ trong một xã hội dựa trên cơ sở bấtbình đẳng về kinh tế Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền dân chủ nhấtthiết phải được mở rộng sang lĩnh vực kinh tế V.I Lênin nhấn mạnh rằng:
(1)(1), (2), (3) C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập 4 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, tr 480,
478, 479.
(4)(4) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30 Nxb Tiến bộ, tr 165.
Trang 26"Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàntoàn"(5)(5), nghĩa là dân chủ cả trên lĩnh vực kinh tế Thực tế lịch sử cho thấymọi chế độ dân chủ không thể tự phát triển Muốn bảo vệ và phát triển chế
độ dân chủ phải bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân.Không bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân thì sớmmuộn chế độ dân chủ sẽ trở thành chế độ độc tài và quan liêu
Những quyền con người có tính chất hình thức như trên vẫn tồn tạitrong giai đoạn đầu của chủ nghĩa Cộng sản, mặc dù, những quyền đó đã cónhững thay đổi lớn sau cuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp côngnhân lãnh đạo Chỉ đến giai đoạn cao của chủ nghĩa Cộng sản, khi khôngcòn chế độ người bóc lột người, khi "của cải tuôn ra dào dạt" - "chỉ khi đó
người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của cái quyền tư
sản"(1)(1) Thực tế cũng cho thấy, cùng một chế độ chính trị nhưng cácquyền con người ở mỗi quốc gia khác nhau cũng khác nhau, do trình độphát triển kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau và do phẩm chất, trình độ,năng lực của đội ngũ viên chức quy định
ở nước ta, việc bảo đảm quyền con người trong thời kỳ còn quản lýkinh tế bằng kế hoạch hóa tập trung cao, tuyệt đối hóa hình thức kinh tếnhà nước và tập thể khi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất cònthấp đã dẫn đến những hạn chế nhất định Tất nhiên, ở đây không thể phủnhận những mặt tích cực, cũng như những điều kiện lịch sử của các chínhsách kinh tế thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Xét trên giác độ quyền conngười, quyền công dân, thì việc thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước trong những năm đổi mới đã tạo
ra những điều kiện thuận lợi to lớn cho việc hiện thực hóa các quyền dân sự,chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Đến lượt nó, những quyền conngười khi được bảo đảm đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của kinh tế,văn hóa, xã hội
(5)(5) V.I.Lênin: Sđd, tập 27, tr 323.
(1)(1) C.Mác - Ph.Ăngghen, Sđd, Tập 4, tr 480.
Trang 27Mối quan hệ giữa quyền con người với văn hóa vừa mang tính chấttrực tiếp, vừa mang tính chất gián tiếp Các nhà kinh điển mácxít đã chỉ rarằng, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tư tưởng, văn hóa trong thời đạiPhục hưng với những con người khổng lồ về tài năng, nghị lực, nhân cách
là màn giáo đầu, là sự chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản Điều đó cũng
có nghĩa là sự chuẩn bị nội dung tư tưởng cho Tuyên ngôn về nhân quyềncủa cách mạng tư sản Quyền con người ở đây, nói như các nhà kinh điểnmácxít không chỉ mang những yêu sách tư sản, mà còn mang những yêusách vô sản, hay nói đầy đủ hơn, đó là thành quả sự phát triển lâu dài củaquyền con người qua các chế độ xã hội Chính vì vậy, nhiều tư tưởng nhânquyền của cách mạng tư sản về khách quan đã vượt ra ngoài khuôn khổ ýthức hệ tư sản, mang giá trị nhân loại
- Sự phát triển quyền con người trong thế giới ngày nay gắn với hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Các văn kiện về quyền con người, đặc biệt từ sau chiến tranh thếgiới thứ hai đến nay đã đi từ các quyền cá nhân sang quyền tập thể, quyềndân sự chính trị sang quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quyền độc lập dântộc, quyền được phát triển, quyền được sống trong hòa bình và môi trườngtrong sạch Đây là thành quả to lớn của nhân loại, trong đó sự đóng góp chủyếu thuộc về phong trào giải phóng dân tộc và hệ thống xã hội chủ nghĩa
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, loài người đã tạo ra những điều kiện to lớn cho việc bảo đảmcác quyền con người Đặc biệt nhờ sự phát triển nhanh chóng của khoa học
-và công nghệ thông tin, các dân tộc càng có cơ hội tiếp xúc, hiểu biết lẫnnhau, điều đó đòi hỏi phải phát triển luật quốc tế trên nhiều lĩnh vực, nhất
là lĩnh vực quyền con người Mặt khác, sự phát triển của khoa học và côngnghệ cũng là một thách thức đối với nhân loại, trước hết trên lĩnh vực môitrường và sinh học Điều này đòi hỏi pháp luật về nhân quyền phải pháttriển tương ứng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của cuộc sống vànhân cách con người
Trang 28III Phương pháp nghiên cứu
Nói chung phương pháp nghiên cứu của một chuyên ngành khoahọc xã hội bao gồm hai bộ phận
- Thứ nhất, đó là phương pháp luận triết học Mác - Lênin, với tư
cách là phương pháp luận phổ biến
- Thứ hai, đó là phương pháp chuyên ngành, bao gồm một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể được rút ra từ lịch sử và lý luận phát triểncủa chuyên ngành đó
1 Phương pháp luận triết học Mác - Lênin
Phương pháp luận triết học Mác - Lênin được vận dụng ở đây làphương pháp duy vật biện chứng Phương pháp đó đòi hỏi xem xét quyền
con người, theo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể, nhất là sự
tác động qua lại giữa quyền con người với nhà nước, với xã hội, và cơ sở kinh tế
Học thuyết mácxít về hình thái kinh tế - xã hội, về nhà nước vàpháp luật là cơ sở phương pháp luận quan trọng nhất khi nghiên cứu về sự
ra đời và phát triển của quyền con người
Nghiên cứu quyền con người phải đứng trên quan điểm nhân loạiđồng thời phải đứng trên quan điểm giai cấp trong việc xác định nguồngốc, tính chất, đặc biệt là việc thể chế hóa, thực thi quyền con người Đốivới Đảng và Nhà nước ta, bảo vệ quyền con người không chỉ là thực hiệncam kết quốc tế mà còn vì lợi ích của chính dân tộc Việt Nam
V.I Lênin đã nói: "Trong vấn đề thuộc về khoa học xã hội, phươngpháp chắc chắn nhất và cần thiết nhất để thực sự có được một thói quenxem xét vấn đề một cách đúng đắn và không để lạc hướng trong rất nhiềuchi tiết, hoặc trong rất nhiều ý kiến đối lập, điều quan trọng nhất của một
sự nghiên cứu khoa học là không nên quên mối liên hệ lịch sử căn bản; là
xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã
Trang 29xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giaiđoạn phát triển chủ yếu nào và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó đểxem xét hiện nay nó đã trở thành cái gì"(1)(1) Vận dụng quan điểm trên, đểnắm vững nội dung, tính chất khái niệm quyền con người, quyền công dâncần phải xem xét khái niệm đó gắn với sự vận động, phát triển của lịch sử.Quyền con người không phải là một khái niệm "nhất thành bất biến" mà làmột khái niệm mang tính lịch sử, luôn luôn vận động và phát triển Điều đócũng có nghĩa hiện nay khái niệm quyền con người là ý thức về quyền làmchủ xã hội và nhà nước của mỗi người trên mọi lĩnh vực đời sống xã hộicủa nhà nước nhất là của các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương vàđịa phương, đó là trách nhiệm của những người lãnh đạo, quản lý quốc gia
và đội ngũ viên chức
Với tư cách một quốc gia trong cộng đồng quốc tế, một thành viêncủa Liên Hợp Quốc, Nhà nước ta có đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ củamình trong việc bảo vệ và phát triển quyền con người phù hợp với những
điều kiện mới trong quan hệ quốc tế Tuy nhiên, luật quốc tế về quyền con
người là một ngành luật đặc biệt, chủ thể và đối tượng điều chỉnh khác vớiluật quốc gia, chúng ta cần nắm vững trong công tác nghiên cứu
Quan điểm triết học mácxít đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượngmột cách khách quan Theo quan điểm đó, chúng ta phải phân tích, đánh giáquyền con người, quyền công dân một cách, toàn diện, tránh lối tư duy tưbiện, áp đặt, giản đơn Người nghiên cứu phải làm rõ những mặt tích cực,tiến bộ cũng như mặt hạn chế của quyền con người, quyền công dân trong
xã hội tư bản, cũng như phải thấy rõ những mặt tốt đẹp và những điểm cònhạn chế cần tiếp tục khắc phục của quyền con người, quyền công dân trong xãhội ta
Vận dụng quan điểm biện chứng trong quá trình phát triển của quyềncon người, chúng ta cần đánh giá đúng bước chuyển từ quan niệm nhân
(1)(1) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30 Nxb Tiến bộ, 1977, tr 78.
Trang 30quyền tư sản tới quan niệm nhân quyền của chủ nghĩa Mác - Lênin, xem đó
là bước tiến nhảy vọt (thay đổi về chất) của tư duy về nhân quyền Tấtnhiên, bước phát triển đó bao hàm sự kế thừa những nhân tố hợp lý củaquan điểm nhân quyền tư sản, đồng thời phủ định những nhân tố lỗi thờicủa quan niệm đó
Lý luận về quyền con người của chúng ta đặc biệt phải dựa trên tưtưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Những kết quả nghiên cứu banđầu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là:
- Quyền con người gắn liền với độc lập dân tộc, chủ quyền quốcgia Độc lập dân tộc vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của có quyền cá nhâncủa con người
- Khi mất nước, để có quyền con người, nhân dân phải đứng lên đấutranh mà giành lại Ngày nay, quyền đó phải được đảm bảo bằng pháp luật,đồng thời phải thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực thi các quyền,nhất là từ phía nhân dân
- Bảo vệ và phát triển các quyền cá nhân phải gắn liền với bảo vệđộc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa
- Bảo vệ và phát triển quyền không chỉ bằng việc soạn thảo và công
bố pháp luật, mà còn phải bằng công tác tổ chức thực tiễn, xây dựng vàphát triển mọi mặt đời sống xã hội từ chính trị đến kinh tế xã hội và vănhóa
Những quan điểm trên cần phải được vận dụng trong việc nghiêncứu quyền con người, quyền công dân ở nước ta
2 Phương pháp đặc thù của lý luận quyền con người
Phương pháp đặc thù của lý luận quyền con người dựa trên sự vận
dụng phương pháp triết học mácxít và những tri thức cơ bản đã được tổng
kết qua sự phát triển về mặt lịch sử và lý luận của quyền con người Nói
Trang 31cách khác, phương pháp chuyên ngành lý luận về quyền con người làphương pháp nghiên cứu sử dụng khái niệm, quy luật (hoặc tính quy luật)
về sự hình thành và phát triển của quyền con người đã được tổng kết làmcông cụ của tư duy; phải dựa trên những hệ thống chuẩn mực, chỉ số vềquyền con người được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế ghitrong những văn kiện cơ bản và các công ước quốc tế về quyền con người
để phân tích, đánh giá, khái quát lý luận
Trong nghiên cứu, cần áp dụng các phương pháp khác như phântích, so sánh, thống kê, khảo sát thực tế
Phương pháp nghiên cứu về quyền con người cần phải vận dụngcác phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhất là phương pháp nghiên cứu
lý luận về nhà nước và pháp luật, phương pháp của xã hội học Bởi vì chỉ
có dựa trên những số liệu cụ thể chúng ta mới có thể thấy rõ được thựctrạng của "quyền" Và chỉ có trên cơ sở nắm được thực trạng chúng ta mới
có thể đưa ra các nhận định đúng đắn và kiến nghị giải pháp thích hợp đểbảo vệ và thúc đẩy thực hiện quyền con người
*
Quyền con người đang là một vấn đề lý luận và thực tiễn bức xúc.Bảo vệ và phát triển quyền con người thuộc bản chất của chế độ xã hội chủnghĩa, là lý tưởng phấn đấu của tất cả những người cộng sản cũng như củanhân dân tiến bộ trên toàn thế giới Trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lậpdân tộc và công cuộc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa,chúng ta, một mặt phải chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của tất cả mọi người, đồng thời phải nâng cao tinh thần cảnh giácchống lại các thế lực thù địch mưu toan dùng ngọn cờ dân chủ, nhân quyền
để chống phá sự nghiệp cách mạng, can thiệp vào công việc nội bộ củachúng ta, hạ thấp, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, đưa đất nước ta vào con đường tư bản chủ nghĩa Việc nghiên cứu,
Trang 32học tập nắm vững lý luận về quyền con người, vận dụng vào thực tiễn làmột nhiệm vụ quan trọng của tất cả cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lýcủa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị trong giai đoạn cách mạnghiện nay.
Trang 33Chương 2
quyền con người trong lịch sử nhân loại
I nguồn gốc hình thành và các quan niệm về quyền con người
1 Nguồn gốc hình thành quyền con người
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, con người tự phânhóa với con vật nhờ lao động, tiếng nói và các quan hệ xã hội Đó là mộtbước tiến tách khỏi tự nhiên mà điều kiện là cái tổ chức cơ thể con người.Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác đã thể hiện tư tưởng này như sau:
"Có thể phân biệt con người với con vật bằng ý thức, bằng tôn giáo haybằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người tự phân biệt với con vậtngay từ khi bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, một bướctiến mà tiền đề là cái tổ chức cơ thể con người"(1)(1) Thế giới tự nhiên đãkhông thỏa mãn nhu cầu của con người, nên con người quyết định bằnghành động của mình chinh phục và sáng tạo ra tự nhiên thứ hai như một tácphẩm nghệ thuật của mình, do đó con người tạo ra lịch sử và văn hóa, hình
thành quyền và nghĩa vụ trong đời sống xã hội cùng các giá trị Chân
-Thiện - Mỹ được thể hiện trong khoa học, triết học, nghệ thuật và phát triểnqua các chế độ xã hội khác nhau, từ xã hội cộng sản nguyên thủy qua các
xã hội có giai cấp đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản văn minh
Đó là cơ sở để khẳng định quyền con người là một giá trị nhân loại, mangtính phổ biến và là tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển củamột chế độ xã hội Trong hình thái ban đầu, quyền có mối liên hệ chặt chẽvới những giá trị đạo đức xã hội và phản ánh năng lực bản chất con ngườitrong cải tạo tự nhiên và sáng tạo ra lịch sử Nó không phải là một thứ quàtặng, một sự ban phát nào của thượng đế hay của một lực lượng tự nhiên
Quyền con người không phải xuất phát từ con người trừu tượng,thoát ly khỏi mọi điều kiện về lịch sử, dân tộc, chính trị, kinh tế mà là sản
phẩm của sự phát triển lịch sử, phát sinh từ mối quan hệ hiện thực của con
(1)(1) C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H 1995, tr 24.
Trang 34người trong đời sống xã hội C.Mác đã khẳng định: con người quyết không
phải là cái trừu tượng bám đậu bên ngoài thế giới Con người chính là thếgiới của con người, chính là quốc gia, xã hội Và "nhân quyền không làmcho người ta thoát khỏi tôn giáo mà chỉ làm cho người ta có tự do tínngưỡng tôn giáo; nhân quyền không làm cho người ta thoát khỏi tài sản màchỉ làm cho người ta có tự do chiếm hữu tài sản; nhân quyền không làmcho người ta vứt bỏ hành động xấu xa là chạy theo của cải, mà chỉ làm chongười ta có tự do kinh doanh"(1)(1)
Quyền con người là một hiện tượng chính trị - xã hội, quá trìnhhình thành của nó luôn gắn liền với những bước tiến khác nhau về tổ chức
xã hội và những hành động tập thể của các nhóm xã hội, giai cấp và đảngphái Trong các thị tộc của cộng đồng nguyên thủy thời xa xưa, con ngườisống trong những quan hệ xã hội sơ khai và đơn nhất, chưa biết đến nhữngkhái niệm về cá nhân, quyền lực, về áp bức bóc lột, vì vậy vấn đề quyềncon người theo nhận xét của Ăngghen: "Trong những cộng đồng xưa nhất,những cộng đồng nguyên thủy, nhiều lắm cũng chỉ có thể nói về quyềnbình đẳng giữa những thành viên của cộng đồng, lẽ dĩ nhiên phụ nữ, nô lệ,người ngoại lai đều không có quyền đó"(2)(2)
Từ xã hội nguyên thủy phát triển lên xã hội đặc thù có sự phân hóagiai cấp Trong lịch sử nhân loại, bước chuyển biến này diễn ra từ thời đồ
đá cũ giữa cách đây khoảng 8000 năm, khi mà lực lượng sản xuất vượt rakhỏi khuôn khổ quan hệ xã hội cộng sản nguyên thủy, chiến tranh thườngxuyên đã biến một bộ phận con người thành tù binh và trở thành thân phận
nô lệ Bước tiến văn minh đầu tiên về tổ chức xã hội được đánh dấu bằng
sự ra đời của nhà nước và cùng với quá trình này là khẳng định quyền củagiai cấp chủ nô thống trị và tước đoạt quyền của người nô lệ Thời kỳ này
đã mở đầu sự tha hóa toàn diện con người về quyền và nghĩa vụ, và để
chống lại sự tha hóa đó những ý tưởng về quyền con người đã tìm được lý
do tồn tại cho mình trong những hành động tập thể vượt qua trở ngại của sự
Trang 35tha hóa và phụ thuộc, đó là quyền làm người, quyền chống lại áp bức, bóclột và mọi sự bất công, nhằm hướng đến một cuộc sống tốt đẹp, xứng đángvới danh dự và phẩm giá con người.
Như vậy, quyền con người, một mặt nó bắt nguồn từ bản chất xãhội của con người, mặt khác nó bắt đầu lịch sử của mình từ những cuộc đấutranh của chính con người cho danh dự và phẩm giá của mình, chống lại ápbức, bóc lột và bất công; phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xãhội
Trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, khai sinh nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Dân tộc nàocũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Đó là lẽ phảikhông ai chối cãi được"(1)(1) và "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ củaPháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minhchống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phảiđược độc lập"(2)
Với sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật, các quyền con ngườiđược thể hiện dưới một hình thức văn minh, phản ánh mối quan hệ của con
người với quyền lực chính trị của nhà nước Nhân quyền chính là sự thừa
nhận xã hội dưới hình thức pháp luật các quyền được hình thành trong quá
trình con người tổ chức xã hội và phát triển năng lực của mình Với tư cáchnhư vậy, quyền con người gắn liền với sự ra đời của nhà nước và đượcphản ánh trong pháp luật ở các thời đại khác nhau Ngày nay, trong bất cứ
hệ thống pháp luật tiến bộ nào đều chứa đựng những quan niệm chung vềquyền con người cùng các nghĩa vụ tương ứng với nó Hiến pháp năm 1992của Việt Nam đã ghi rõ: "ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất
cả các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội đượctôn trọng, thể hiện ở quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp vàLuật"
Ngày nay, trong thế giới hiện đại, phẩm giá con người cùng các
(1)(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr 1-4.
Trang 36quyền bình đẳng, tự do của mọi thành viên trong gia đình nhân loại đượccộng đồng quốc tế thừa nhận là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trênthế giới Và các quyền này bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của con người, nókhông thể bị chối bỏ hay bị khước từ Trách nhiệm hàng đầu của các quốcgia là thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền cơ bản của conngười trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội màkhông có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôngiáo, chính kiến và các điều kiện xã hội khác.
2 Một số quan niệm khác nhau về quyền con người
Trong lịch sử đã xuất hiện một số quan niệm phiến diện và thiếukhách quan về nhân quyền, tiêu biểu là:
a Thuyết nhân quyền tự nhiên: Tư tưởng về quyền tự nhiên đã
xuất hiện từ thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại, trong tư tưởng của các nhàtriết học ngụy biện và tiếp tục ảnh hưởng thông qua những nhà triết họcthiên chúa giáo thời trung cổ Đến thế kỷ XVII - XVIII ở Tây Âu, tư tưởng
này phát triển thành học thuyết về quyền tự nhiên của con người Theo học
thuyết này, các quyền con người bắt nguồn từ những quy luật tự nhiên, phùhợp với bản tính và ý chí con người, đó là "tiếng gọi của lẽ phải, là sự thiếtyếu của đạo đức" Vì vậy, trong trạng thái tự nhiên, con người có các quyền
tự do, bình đẳng và tư hữu Để đảm bảo các quyền này, con người thỏathuận với nhau thông qua khế ước xã hội để hình thành nhà nước Vì vậy,nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quyền tự nhiên cho công dân của họ Họcthuyết về quyền tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn trong lĩnh vực nhận thức vàđấu tranh vì các quyền tự do cơ bản của con người Nó góp phần xây dựng
những nội dung cơ bản của nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, như Tuyên
ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776), Tuyên ngôn Dân quyền
và Nhân quyền của Pháp (1789); và là cơ sở tư tưởng cho các cuộc cách
mạng nhân danh phẩm giá con người trong thế kỷ XVII và XVIII Tuynhiên, trong quan niệm của học thuyết này chứa đựng nhiều yếu tố duy tâm
về lịch sử; con người được xem xét là những cá nhân đơn lẻ, tách khỏi
Trang 37những điều kiện về giai cấp, về lịch sử và các quan hệ quốc gia, dân tộc.Ngày nay, nếu khuếch đại khuynh hướng này dễ dẫn đến những nhận thứcsai lầm phi lịch sử, và đặc biệt là không nhận thức đầy đủ mối quan hệ củanhân quyền với chế độ chính trị, chủ quyền quốc gia, cũng như những điềukiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác.
b Thuyết nhân quyền quan niệm: Thuyết nhân quyền quan niệm
bắt nguồn từ chủ nghĩa duy tâm triết học và được phát triển hoàn chỉnh ởHê-ghen (1770 - 1831), nhà triết học lớn người Đức theo chủ nghĩa duytâm khách quan Học thuyết này có ảnh hưởng sâu rộng trong những thậpniên đầu thế kỷ XIX với những đại biểu như Stiếc-nơ (1806 - 1856) vàB.Bau-ơ (1820 - 1886) Theo quan niệm của học thuyết này, nguồn gốcquyền con người không phải bắt nguồn từ các quy luật tự nhiên, không phải
là bẩm sinh mà là kết quả của sự phát triển lịch sử "Về nhân quyền, sự phê
phán không thể nói ra điều gì đó có tính phê phán hơn điều mà Hê-ghen đã
nói nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh ra trong lịch sử"(1)(1)
Phương pháp luận biện chứng về nhân quyền theo Angghen, phảitiến hành phân tích mối quan hệ giữa tất yếu và tự do(2)(2) và chính Hê-ghen
là người đầu tiên trình bày đúng đắn mối quan hệ này(3) Nếu trước đó trong
thời kỳ khai sáng, quan niệm bình đẳng đã nhờ Rút-xô mà có được vai trò
lý luận, thì Hê-ghen đã đem đến cho khái niệm tự do một quan niệm biện
chứng "Đối với ông, tự do là nhận thức được cái tất yếu"(4) C.Mác vàPh.Ănghen đánh giá cao phép biện chứng của Hê-ghen, đồng thời tiến hànhphê phán một cách sâu sắc những hạn chế của học thuyết này trên lĩnh vựcnhân quyền Như Hê-ghen đã khẳng định nhân quyền là sản phẩm của lịch
sử Nhưng "lịch sử" ở đây là "lịch sử trong ý niệm" và nhân quyền, cũngchỉ thuộc lĩnh vực ý niệm, một trạng thái của tính chủ quan trừu tượng "Hê-ghen coi tư pháp là quyền của con người trừu tượng hay quyền trừutượng là quyền hư ảo của con người; giống như đạo đức theo cách lý giải
(2)(2) (3) (4) Xem C.Mác - Ph.Ăngghen Toàn tập, tr 20, Nxb CTQG, H.1994, các trang: 149 -
162 và 163.
Trang 38của Hê-ghen là sự tồn tại hư ảo của tính chủ quan trừu tượng"(5)(5) Quanđiểm duy vật lịch sử khẳng định, quyền con người có nội dung khách quan
từ nhu cầu và lợi ích con người trong các quan hệ xã hội Nhưng đối với lýthuyết nhân quyền quan niệm thì "quyền phát sinh không phải từ nhữngquan hệ vật chất giữa người với người và từ sự đấu tranh giữa họ do nhữngquan hệ đó gây ra, mà phát sinh từ cuộc đấu tranh giữa con người với kháiniệm của mình, cái khái niệm mà con người phải xua đuổi khỏi đầu óc củamình"(1)(1) Việc tuyệt đối hóa ý niệm thành "tinh thần tuyệt đối", thành "chủthế độc lập" của lý thuyết nhân quyền quan niệm đã làm cho con người,nhà nước, xã hội công dân biến thành những cái khác không phải là bảnthân chúng Chủ thể quyền con người không còn là con người hiện thực,
mà là chủ thể ý niệm, cái chủ thể này có thể tùy tiện tách nhân quyền rakhỏi nội dung vận động thực sự của những yếu tố vật chất và tinh thầnđang tạo nên nội dung sinh sống của con người, và ngày nay, một số thếlực có thể lạm dụng khái niệm nhân quyền để tùy tiện phê phán, áp đặtnhững tiêu chuẩn nhân quyền nhân danh "tinh thần thời đại" đối với cácquốc gia và các dân tộc khác
c Chủ nghĩa thực chứng pháp luật: Trong lịch sử nhân loại,
những nghiên cứu pháp lý về quyền con người đã được các luật gia La Mãthời cổ đại đề cập "trên cơ sở sự bình đẳng này pháp luật La Mã đã pháttriển - đây là một hình thức pháp luật được xây dựng hoàn bị nhất trong sốpháp luật dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân mà chúng ta biết được"(2)(2) Tuynhiên, phải đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực chứng pháp luật mới xuất hiệnnổi bật và đóng vai trò chủ đạo trong thế kỷ XX Khác với học thuyết vềcác quyền tự nhiên, chủ nghĩa thực chứng cổ điển đã bác bỏ nguồn gốc tựnhiên, siêu hình và nguồn gốc đạo đức của các quyền con người Trongcách xem xét của trường phái này thì "không có pháp luật thì không cóquyền", ngoài quyền pháp lý ra không tồn tại cái gọi là quyền tự nhiên hay
Trang 39quyền đạo đức; và phải đi tìm nguồn gốc quyền con người trong các điềuluật hay một hệ thống pháp luật nhất định Việc đề cao vai trò của pháp luậtthực định trong tổ chức xã hội, nhiều nhà thực chứng pháp luật đã có đónggóp rất lớn vào việc pháp điển hóa các quyền con người, tạo ra ưu thế pháp
lý trong việc tôn trọng và thực thi các quyền cơ bản trong đời sống thựctiễn Đặc biệt, chủ nghĩa thực chứng đã khẳng định rõ quyền lực tối cao củachủ quyền quốc gia trong việc thực hiện pháp luật, đảm bảo các quyền conngười và quyền công dân Trong thế kỷ XX, với sự xuất hiện của nhiều Tổchức quốc tế quan trọng, như tổ chức Lao động quốc tế, Hội Quốc Liên và
sự ra đời của Liên Hợp Quốc, thì sự bảo vệ pháp lý đối với các quyền conngười đã đạt được nhiều thành tích nổi bật
Tuy nhiên, chủ nghĩa thực chứng chứa đựng nhiều hạn chế trongquan niệm triết học và pháp luật về quyền con người Với việc đề cao cáihiện có, cái thực định, chủ nghĩa thực chứng đã tạo nên khuynh hướngkhông thừa nhận nhiều giá trị đạo đức và văn hóa làm nên nguồn gốc củanhân quyền Ăngghen đã viết rõ trong tác phẩm chống Đuy Rinh: "Người
ta không thể bàn đến đạo đức, và pháp quyền mà lại không nói đến vấn đềgọi là tự do ý chí, lương tri con người, quan hệ giữa tất yếu và tự do" Hơnnữa, bản thân pháp luật từ khi ra đời cho đến nay vẫn thường xuyên gắnliền với quyền lực nhà nước, và tất cả các nhà nước của giai cấp bóc lột vàthống trị về bản chất đều có xu hướng đối lập với các quyền cơ bản của con
người Trong bài Tình cảnh nước Anh Hiến pháp Anh Ph.Ăngghen đã
khẳng định: "Giai cấp tư sản và sở hữu đang thống trị, người nghèo không
có quyền, người ta đàn áp và làm nhục họ; hiến pháp không thừa nhận họ,luật pháp áp chế họ"(1)(1)
Những xu hướng gần đây vẫn nhấn mạnh việc thực hiện quyền conngười chỉ giới hạn ở một số điều khoản pháp luật nhất định đang ảnhhưởng tiêu cực đến việc tôn trọng và thúc đẩy các quyền con người ở nhiềuquốc gia, nhất là các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, các quyền tập thể
Trang 40Bản thân các điều khoản pháp lý cho đến nay vẫn không thể phản ánh hếtnhiều nội dung đa dạng, phong phú của tình hình kinh tế, xã hội, văn hóacủa một dân tộc, quốc gia, đặc biệt là sự vận động nhanh chóng của xã hộitrong xu hướng hội nhập kinh tế của bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Quátrình thực thi và thúc đẩy các quyền con người, bên cạnh vai trò của phápluật quốc tế và pháp luật trong nước, cần nhấn mạnh tầm quan trọng to lớncủa hệ thống các chính sách, các chương trình quốc gia về phát triển kinh tế
- xã hội, cùng những nỗ lực tập thể, trách nhiệm đạo đức và sự đoàn kết trongcuộc đấu tranh cho một trật tự kinh tế - xã hội bình đẳng trên phạm vi toànthế giới
II Những giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng về quyền con người
1 Giai đoạn hình thành tư tưởng về quyền con người
Với sự hình thành các nhà nước của xã hội nô lệ cổ đại ở phươngĐông và phương Tây, mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ và nhữngmâu thuẫn khác trong xã hội là cơ sở để hình thành những tư tưởng và yêusách về quyền con người; nhằm khẳng định vị trí, địa vị người lao động,quyền bình đẳng tự nhiên, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia vàocông việc nhà nước Những tư tưởng ban đầu về quyền con người mangtính chất phê phán đối với tình trạng bất công xã hội, phản ánh những nấcthang ban đầu trong tư duy nhân loại về danh dự, phẩm giá con người.Những tư tưởng này được thể hiện trong triết học, tôn giáo, pháp luật vàchính trị
Cùng với sự xuất hiện những nền văn minh rực rỡ của nhân loạithời kỳ cổ đại đã xuất hiện sự nghiên cứu về các quy luật tự nhiên làm cơ
sở cho việc đề xuất quyền tự nhiên của con người Những nghiên cứu này
có cơ sở trong tư tưởng của nhà triết học Arixtôt (384 - 322 TCN) và đượcphân tích chi tiết trong quan niệm của các nhà triết học khắc kỷ Hy Lạp và
La Mã Họ đã góp phần quan trọng trong việc chứng minh sự tồn tại vĩnhviễn của các quy luật tự nhiên và mọi sự phù hợp với các quy luật này là