Mục lục Trang Lời nói đầu 1 Lời tựa, Ronald j Hrebenar 5 Chú thích về tên tiêng 9 Phần I Giới thiệu hệ thống Đảng của Nhật Bản 10 Hệ thống Đảng sau chiến tranh đang thay đổi Ronald J Hrebenar 11 Đảng[.]
Trang 1Mục lục
Trang
Phần I: Giới thiệu hệ thống Đảng của Nhật Bản 10
Hệ thống Đảng sau chiến tranh đang thay đổi Ronald
Trang 2Lời nói đầu
Một thời gian dài đã trôi qua cùng với nhiều sự kiện đã xảy ra, nhưlời của Ronald J Hrebenar trong lời tựa của ông giới thiệu cuốn sách này
kể từ khi cuốn: "Các đảng phái và các hoạt động chính trị ở Nhật Bản giaiđoạn hiện đại" của tác giả Robert Scalapino và Junosuke Masumi đượcxuất bản lần đầu tiên vào năm 1962 Vào thời điểm đó ở Tây Âu nói chung
và ở Mỹ nói riêng người ta đã quan tâm sâu sắc hơn bao giờ hết về các hoạtđộng chính Đó là nhờ vào cuộc khủng hoảng hiệp ước bảo an năm 1960 vàmối quan hệ liên minh Nhật Bản - Mỹ lúc đó mới được 10 năm, chưa baogiờ bị lung lay đến tận gốc rễ như thế Tuy nhiên đó cũng là lúc mà nhữngbài báo về Nhật Bản bắt đầu xuất hiện trên các phương tiện truyền thôngđại chúng các nước phương Tây và trình độ nhận thức chung của quầnchúng và những hiểu biết về nền kinh tế chính trị, lịch sử, văn hóa hoặc vềbất cứ điều gì khác về đất nước này còn quá thấp
Trước cuốn sách của Scalayrino và Masumix ra đời, đã có một sốbài nghiên cứu chi tiết về chính trị Nhật Bản hiện đại, ngoài tiếng Nhật racòn được in ấn rộng rãi bằng nhiều thứ tiếng khác Những cuốn sách giáokhoa in bằng tiếng Anh dành cho những người có trình độ từ đại học trởlên, chủ yếu gồm các tác phẩm như: "Nhật Bản ngày nay: Nhà nước vàchính trị" (1956) "Chính trị và con người Nhật Bản (1956), "Chính trị NhậtBản: Một cuộc điều tra ban đầu" (1957) "Nông thôn Nhật Bản" (1960),
"Chính quyền ở Nhật Bản" (1961) Ngay từ khi vừa được xuất bản, cuốnsách của Salapino và Masumi đã là một đóng góp có giá trị đối với nền vănhọc
Trong suốt 1/4 thế kỷ qua, tình hình này đã thay đổi một cách đáng
kể Các phương tiện truyền thông phương Tây, đặc biệt là Mỹ thườngxuyên đưa tin về nền kinh tế, chính trị hiện tại của Nhật Bản cũng như vềvăn hóa, nghệ thuật và lịch sử của đất nước này Danh sách các bài báo vàsách vở in bằng tiếng Anh về chính trị Nhật Bản ngày nay dài hơn nhiều so
Trang 3với những năm đầu của thập kỷ 60 Hơn thế nữa việc phân tích và các sốliệu trong các tác phẩm gần đây cho thấy tiến bộ hơn hẳn so với những bàinghiên cứu đầu tiên vào năm năm 1950 và 1960 Điều đó thật rõ ràng cho
dù chỉ cần xem một phần danh sách các tác phẩm gần đây nhất về chính trịNhật Bản hiện đại như là: Địa vị chính trị và các hoạt động chính trị trongnước ở Nhật Bản (1980) do Kurt Stciner, Ellis S.Kraurs an Sott C.Flanagan biên tập Envioonmental Protestand Citizen Politics in Japan(1981) của Margarét A.M.Ckean Phụ nữ hoạt động chính trị ở Nhật Bản(1891) tác giả: susan J.Pharr MiTi và kỳ công của Nhật Bản Sự phát triểncủa các chính sách công nghiệp 1925 - 1975 (1982) của chalmers Johnson.Nhật Bản sự phân chia trong nền kinh tế phát triển (1982) của J.AAstockwin; xung đột ở Nhật Bản (1984) của Ellis S.Kvauss, ThomasP.Roblen và Patriciu G.Steinhoff; chính trị ở Nhật Bản (1984) của BradbyM.Richardson và Scott C.Flanagan Nhờ đó mà ngày nay tiếp cận được vớicác nguồn thông tin và nâng sự hiểu biết sâu sắc, sâu rộng hơn, gồm nhiềuloại hình và đáng tin cậy hơn, vì hầu hết các khía cạnh của chính trị và xãhội Nhật Bản mà trước đây ta chưa bao giờ làm được như thế
Tuy nhiên, về nhiều phương diện thì sự phong phú thông tin vềNhật Bản ngày nay nói chung và về chính trị Nhật Bản nói riêng là rõ rànghơn so với thực tế Sự thực là ngoài những đóng góp vô cùng to lớn củanhững tác phẩm gần đây như đã nêu ở trên những đều có sẵn ở một số tổchức chính trị chính của nước này, trong đó có cả các Đảng phái chính trị
và các nhóm có quyền lợi khác Trong lời tựa cho cuốn sách này, Tiến sĩHrebenav hoàn toàn đúng khi chỉ ra rằng cho đến nay người ta viết quá ít
về bất cứ một đảng phái nào mới nổi lên trong 1/4 thế kỷ qua Như vậy rõràng là có những lỗ hổng lớn trong các tài liệu về nền chính trị Nhật Bảnhiện đại
Như nhan đề cuốn sách này đã nói, cuốn sách này của Hrebenar và
4 đồng tác giả khác đã được viết nhằm xóa bỏ những lỗ hổng này Đặc biệt
là những lỗ hổng về các Đảng phái hiện nay ở Nhật Bản và hệ thống Đảng.Tóm lại, mục đích của cuốn sách này là cố gắng đạt được 2 mục tiêu:
Trang 4Thứ nhất: Đưa ra các số liệu tổng hợp và toàn diện về mỗi Đảng
phái đang tồn tại ở Nhật Bản
Thứ hai: Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc
nghiên cứu về các hệ thống Đảng trong phạm vi toàn quốc Sau khi đọc kỹbản thảo Tôi đã đi đến kết luận rằng tác giả đã thành công một cách đángthán phục vì đã đạt được cả 2 mục tiêu đã đề ra
Cuốn sách bắt đầu bằng 3 chương giới thiệu chủ yếu do tác giảchính Ronald J Hrebenar viết Cả 3 chương, đặc biệt là chương 2 vàchương 3 đi sâu vào chi tiết và được diễn tả hết sức lôgic
Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng thể đầy đủ về hệ thống Đảng NhậtBản và hướng thay đổi chính của hệ thống này theo thời gian Chương 2 và
1 trong những chương phân tích chi tiết và ít có tính hệ thống về sự tácđộng của luật bầu cử Gồm luật bầu cử các đơn vị hành chính và luật kiểmsoát ngân sách chính trị, đối với các Đảng phái và hệ thống Đảng NhậtBản Đặc biệt thú vị và hữu ích ở mối liên hệ này là cuộc thảo luận về vấn
đề phân chia và những quyết định đúng đắn của tòa án Chương 3 đưa ramột vấn đề thảo luận chi tiết và duy nhất về vai trò tài chính trong hoạtđộng chính trị ở Nhật Bản
Sau đó, từng Đảng Nhật Bản hiện nay được lần lượt nói đến trong 6chương tiếp theo Chương 4 đề cập đến những hoạt động bước đầu của JSP
được một trong những sinh viên nghiêm túc không phải người Nhật Bản
mô tả mở rộng kèm theo các số liệu mới nhất, J.A.A.Stockwin Chương 5của Peter Berton là bản tóm tắt tương tự về thành công bước đầu của tác giả
về JCP Cả 2 chương này đều được những người kỳ cựu và chuyên nghiệpviết ra
Ba chương tiếp theo 6-7-8 của Hrebenar đề cập đến nhiều Đảngphái mới hơn: Đảng Komeito (hay đảng trong sạch chính phủ), Đảng xã hộidân chủ, câu lạc bộ mới, liên đoàn dân chủ xã hội và các đảng phái nhỏkhác mà ít khi được nghiên cứu đến một cách chi tiết trong những cuốnsách in bằng tiếng Anh chuẩn Về mặt thông tin thuần túy, thì những
Trang 5chương này thật sự hữu ích vì nó đã lắp được chỗ trống xưa nay trong tàiliệu in bằng tiếng Anh viết về các đảng phái Nhật Bản hiện nay.
Qua so sánh ta thấy chương 9 của LDP của 2 tác giả Nhật Bản:Nobuo Tomita và Akira Nakamura, ngoài tác giả Hrebenar ra đề cập đếnmột lĩnh vực quen thuộc hơn một chút, nếu chỉ vì đảng cầm quyền NhậtBản được viết nhiều hơn so với những vấn đề khác Ngoài ra chương nàycòn chứa đựng một khối lượng thông tin và những hiểu biết mới về cáckhía cạnh của Đảng này và hoạt động của nó mà các chương khác không
có Giống như các chương nói về JSP và JCP đây là một chương dày đặccác ý kiến chuyên môn và những chú thích phức tạp hơn
Chương cuối cùng và là chương kết thúc của Hrebenar thảo luậntriển vọng trong tương lai của chính phủ liên hiệp mà trung tâm là LDP.Mặc dù nó không đưa ra một sự hình thành cụ thể hay một kết cấu nào mới
lạ hay đáng ngạc nhiên, nhưng cuộc thảo luận hoàn toàn có lý và có sứcthuyết phục Đó là một kế luận thích hợp nhất cho cuốn sách này
Đây là một cuốn sách về cái sáng và hạt than nhỏ (theo thuật ngữthích hợp nhất) Với các con số và đề mục chứa đựng nhiều thông tin, nóhết sức có ích cho cả giáo viên và sinh viên khoa chính trị Nhật Bản hiệnđại Vì lý do này, là một trong những người được hưởng lợi đầu tiên, tôichân thành cảm ơn các tác giả của cuốn sách này Đặc biệt là Hrebenar vì
đã cung cấp một nguồn thông tin quan trọng và hữu ích về một trong nhữngtrung tâm chính trị Nhật Bản hiện đại Tôi cũng hy vọng rằng sau tác phẩmtuyệt vời này sẽ là một tác phẩm khác nữa về các nhóm lớn có liên quancủa Nhật Bản
Haruhivo Fukui
Trang 6Lời tác giả
Hơn 20 năm trôi qua kể từ khi Robert Scalapino và JunosukeMasumi xuất bản cuốn sách quan trọng của họ về các Đảng phái và cáccuộc bầu cử của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh Cuốn sách "Các đảngphái và các hoạt động chính trị ở nước Nhật hiện đại Từ năm 1962 đếnnay, nhiều sự kiện đã xảy ra đối với hệ thống Đảng Nhật Bản Một hệthống đa đảng đã bắt đầu hình thành ngay khi Sealapino và Masumi hoànthành, cuốn sách của họ vào dần những năm 1960 Cùng với sự rạn nứt củanền xã hội dân chủ từ Đảng xã hội Nhật Bản 4 năm sau Đảng Kômeitô vàĐảng Clean Government được thành lập bởi một tổ chức giáo dân SôkaGakkai Sau đó, trong suốt những năm 1970, những Đảng nhỏ riêng biệtmới xuất hiện trong bối cảnh chính trị của dân tộc Đáng chú ý nhất là 2nhóm đảng nhỏ câu lạc bộ tự do mới tách ra từ đảng dân chủ tự do và liênbang dân chủ xã hội từ đảng xã hội Vì thế, hệ thống gồm 2 đảng, thuần túytrong suốt thời kỳ cuối thập kỷ 60 đột nhiên phát triển thành một hệ thốnggồm 7 đảng được biểu thị bằng sự gần như ngang nhau trong các ghế nghịviện giữa các đảng bảo thủ và các đảng đối lập, hệ thống đảng mới này đãđạt đến đỉnh cao trong chính phủ liên minh LLP - NLO mà cuộc thành lậptrong nội các Nakasone thứ 2 sau các cuộc bầu cử của tháng 12-1983
Quyển sách này dành cho 2 đối tượng độc giả cụ thể Thứ nhất làdành cho những người quan tâm đến các hoạt động chính trị của Nhật Bản,quyển sách đưa ra một số lượng lớn các thông tin và những lời giải thíchcủa một số các chuyên viên giỏi nhất trên toàn thế giới Một số ít được viếtbằng tiếng Anh về các Đảng phái mới quan trọng mà nổi bật từ những năm
1960 Chẳng hạn như Đảng xã hội dân chủ hoàn toàn không được biết đến
ở phương Tây, mặc dù vai trò là một đối tác liên minh chủ yếu ngày càngtăng của nó trong Đảng dân chủ tự do trong suốt nửa sau của thập kỷ 1980.Khi tôi bắt đầu nghiên cứu Đảng xã hội dân chủ ở Toko năm 1977 Tôingạc nhiên rằng các quan chức của Đảng dân chủ xã hội không thể nhớ
Trang 7người học giả phương Tây cuối cùng đã đến các văn phòng của họ (mặc dù
họ cố nhớ lại các chuyện đi ầm ĩ đến tất cả các cơ quan đảng của họ) Một
số bài báo về các đảng phái khác trong hệ thống đã xuất hiện trên các tờbáo này nhằm vào các phương hướng chính sách riêng hay sự kiện về đảng
cụ thể Quyển sách này đưa ra một cách tổng hợp nhất một bộ phận dữ liệu
về mỗi đảng hiện nay đang hoạt động trong hệ thống đảng của Nhật Bản
Phù hợp với mục tiêu đó - một cuốn phụ lục gồm nhiều số liệu liênquan đến các cuộc tổng bầu cử trong năm 1983 và các hình mẫu đảng hiệnnay ở Nhật Như Roger Benjamin và Kan Ori viết năm 1981
Vấn đề thứ 2 đến việc thiếu kiến thức mô tả về hệ thống đảng củaNhật Chúg ta còn chưa biết được nhiều phương diện của hệ thống đảngNhật Bản Trong suốt thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, hệ thốngđảng đã khá ổn định trong gần 35 năm Trong suốt thời kỳ đã có nhữnggiao động mạnh Thậm chí còn gây sự lúng túng trong việc ủng hộ bỏphiếu của đảng và có nhiều sự đồng nhất giữa các đảng phái và các lậptrường chính sách đã được thực hiện và đang nằm trong kế hoạch Đã cónhiều nỗ lực lặp đi lặp lại, nhằm kiểm tra các phái, nhưng ít dữ liệu chínhxác
Do vậy quyển sách này vừa cố gắng để rút ngắn khoảng cách vềthông tin vừa lấp đầy chỗ hổng mà đã nảy sinh từ khi sách của Scalapino vàMasumi trở thành lạc hậu
Lớp bạn đọc đông đảo thứ 2 mà quyển sách này hy vọng là baogồm tất cả những học giả có sự quan tâm đến các đảng chính trị tương đối
và các sự kiện chính trị tương đối nói chung ở chương 11 cuốn sách nàycủa học giả như thế sẽ trình bày rất nhiều các dữ liệu và các cuộc thảo luậnliên quan đến vị trí của Nhật Bản trong khuôn khổ chung của các cuộc bầu
cử và các Đảng trên thế giới Chủ đề chính của chương giới thiệu cũngchính là chủ đề dàn trải trong cả cuốn sách là việc Nhật Bản đã cùng sửdụng các hình mẫu chính trị với các nền dân chủ đi trước phát triển cao trêntoàn thế giới Tất nhiên Nhật Bản cũng có nhiều nét khác Bởi vì mỗi dân
Trang 8tộc có những nét đặc trưng riêng Nhưng cũng có thể so sánh với các hệthống tương tự khác Trên thực tế thì cơ sở mô tả trong toàn cuốn sách màcác đồng tác giả và tôi nhận thấy là sự đóng góp đặc biệt nhất của chúng tôiđối với các sự kiện chính trị tương đối Trong việc thiếu những dữ liệu cơbản như thế mà lâu nay vẫn không có giá trị rộng rãi đối với hầu hết cáchọc giả so sánh, thì bất cứ các học giả so sánh nào cũng bị cản trở nghiêmtrọng.
Quyển sách này được bắt đầu bằng nghiên cứu của tôi về câu lạc bộ
tự do mới, ngay sau khi đảng này nổi lên mùa hè 1976 Sau đó tôi tiến hànhnghiên cứu về các Đảng xã hội dân chủ và Kômeitô trong các cuộc thăm vàlàm việc sau đó ở Nhật Bản năm 1977, 1979 và 1982-1983 Trong khi đó ýnghĩ cho việc mở rộng cuốn sách, đằng sau cái gọi là Đảng Trung Hòa hayĐảng Trung tâm nhằm hoàn thiện toàn bộ hệ thống đảng đã khiến tôi phảitìm kiếm sự hợp tác của một số học giả nổi tiếng nhất trên thế giới về NhậtBản: Peter Berton của trường Đại học ở miền nam California đã đóng góp
sự hiểu biết sâu sắc của ông và các dữ liệu có giá trị về Đảng cộng sản NhậtBản Và J.A.A Stokwin bất chấp khó khăn trong việc chuyển công tác từAustralia sang làm giám đốc đầu tiên phụ trách việc nghiên cứu Nhật BảnNissan của trường Tổng hợp Oxford, đã giữ lời hứa là sẽ thực hiện một cáinhìn tổng quát vào hoàn cảnh của Đảng xã hội Nhật Bản trong tập sáchnày Điều cuối cùng muốn nói đến là giáo sư Nabuo Tomita và AkiraNakamura của trường Đại học Minh Trị ở Tokyo - 2 chuyên viên nổi tiếng
và hết sức thông thạo nền chính trị Nhật Bản đã đồng ý với tôi về vai tròcủa LDP trong nền chính trị Nhật Bản Tôi thực sự đánh giá rất cao đếnnhững nhà học giả có địa vị chắc chắn trong nền chính trị Nhật Bản Quảthực nếu không có sự đóng góp quan trọng của họ thì cuốn sách này khôngthể đầy đủ được
Tôi cũng gửi lời cảm ơn một số những đóng góp quan trọng đếnviệc nghiên cứu và viết cuốn sách này Còn một số người dấu tên vì do chỗđứng của cá nhân họ trong chính quyền từng đảng Một vài cá nhân củaĐảng Trung lập, ngay sau khi rời bỏ con đường của mình đã trả lời những
Trang 9câu hỏi của tôi và đưa ra phỏng vấn các nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng
họ Tôi đặc biệt biết ơn KônoYôlui và IShikawa atsuo của Đảng Câu lạc bộ
tự do mới, những người đã giúp tôi vượt qua 8 năm cuối cùng Ngoàinhững cá nhân trên, một lần nữa tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến toàn bộĐảng viên Đảng DSP, Dômei và Komeitô, những người đã không phiềnlòng tìm kiếm "thêm một câu trả lời" cho tôi Đến tất cả các viện sĩ ở 2nước Mỹ và Nhật Bản những người đã đọc và đọc lại (hiệu đính) một vàichương của tôi Tôi cũng xin nhận một vài sai sót từ phía cá nhân tôi và xinbày tỏ lòng biết ơn những đóng góp quý báu cho bản thân tôi Tôi xin cảm
ơn tất cả đã giúp tôi đạt được kết quả này
Tôi cũng xin cám ơn những nhà biên tập Holly Arrow, Miri Gilbert
và Deboran lynes, Chrvs Arden đã bổ sung cho tôi những quan điểmphương Tây và những nhân viên đánh máy Marg Coulan, Barbana Hill,Tammy Sapp và Cincly Simpson của trường Đại học Utan
Tôi đặc biệt đánh giá cao chuyến đi của Otake Hideo với nhữngđóng góp bổ ích, khi tôi đến thăm giáo sư trường Đại học luật Tohuku1982-1983 Tôi thật sự cảm kích đối với Jap Interpreter và Asian Survcy đãcho phép tôi sử dụng những số liệu từ các bài mà tôi đã in ấn trong các báohàng ngày trước đây Cuối cùng tôi gửi lời cám ơn đến FulbrightCommissin, Ông bà Yamachika Katsumi và ông Sugita Teruju và bà SugitaReiko đã tài trợ tôi trong chuyến đi nghiên cứu dài ngày ở Nhật Bản đây lànhững chuyến đi mang lại nhiều số liệu cơ bản cho cuốn sách này
Ronald J Hrebenar
Trang 10Chú thích về tên riêng
Theo tập quán chung ở Nhật Bản, tất cả các tên của Nhật bản khiviết đều được bắt đầu bằng tên của dòng họ trước rồi mới đến tiên riêngsau Nếu các học giả Nhật Bản đang sống ở Mỹ hoặc xuất bản sách bằngtiếng Anh thì tôi viết tên của họ theo kiểu Mỹ Ví dụ: Haruhira Fukui,Nobuo Tomita và Akiva Nakamura Trong số những chữ viết tắt được sửdụng trong cuốn sách mà ta thường gặp nhất là:
Đảng dân chủ tự do : LDPĐảng xã hội Nhật Bản : JSP
Đảng xã hội dân chủ : DSPĐảng cộng sản NB : JCPCâu lạc bộ tự do mới : NLCLiên hiệp dân chủ XH : SDF
R.J.H
Trang 11Phần I
Giới thiệu hệ thống đảng
của Nhật Bản
Trang 12Ronzld J Hrebenar
Hệ thống đảng sau chiến tranh
đang thay đổi
Nhật bản có nền chính trị lấy dân chủ làm nền tảng và lập phápthông qua một nghị viện Nó có một số đảng phái và một đội ngũ cử tri màphần lớn đều có học vấn và luôn ủng hộ Điều đó được vạch rõ trong điều
lệ từ suốt 3 thập kỷ nay của Đảng dân chủ tự do Đảng chiếm phần đa sốghế trong nghị viện từ khi thành lập năm 1955 Trong chương giới thiệunày chúng tôi sẽ đưa ra khai thác những đặc điểm cơ bản trên để cung cấpcho bạn đọc một cơ sở nhằm xem xét chi tiết 7 đảng phái hiện nay ở Nhật.Trong chương này chúng tôi dựa vào nhiều số liệu, đặc biệt là những cuộctrưng cầu dư luận cử tri Nhật Bản
Từ hệ thống 1 và 1/2 Đảng đến hệ thống đa ĐảngKhi Nhật Bản quay trở lại với nền chính trị dân chủ có nghị việnnăm 1946, có một thời kỳ lộn xộn trong nền chính trị, sau những cuộc bầu
cử đầu tiên sau chiến tranh tổ chức tháng 4-1946 Những Nghị viện củanhững Đảng lớn trước chiến tranh thì phần lớn đã bị chính quyền Mỹchiếm đóng thanh trừng Trong số những Nghị viện có chức quyền củaĐảng Tiến bộ thì 260/274 bị thanh trừng; ngoài ra 30/43 Nghị viên củaĐảng Tự do, 21/23 Nghị viên của Đảng liên minh và thậm chí 10/17 Nghịviên Đảng xã hội cũng bị ngăn cản (cấm) không cho làm việc ở văn phòngcông cộng Do vậy, cuộc bầu cử đầu tiên sau chiến tranh đã giới thiệu mộtđội ngũ ứng cử viên gần như mới cho các cử tri Không chỉ các ứng cử viên
mà các Đảng cũng mới Toàn bộ 267 "Đảng" tham gia trong những lần bầu
cử này Trong đó nhiều Đảng chỉ là tổ chức cá nhân hoặc tên đặt của mộtchính trị gia nào đó, có những Đảng chỉ hoạt động ở một vùng rất hạn chế
về mặt địa lý, lại có những Đảng khác là những tổ chức được thành lập lại
từ một vài Đảng nổi tiếng trước năm 1940 ở lần bầu cử này, chỉ có 19%
Trang 13trong số các ứng cử viên trúng vào hạ nghị viện là đã từng ở trong hạ nghịviện thời trước đó Tuy nhiên, trong suốt thập kỷ sau đó, những Đảng nàydần dần mất đi, cho đến năm 1955 sự hợp nhất của những Đảng bảo thủ,mặt khác những Đảng xã hội cũng hợp nhất lại tạo thành một hệ thống 2Đảng thực tế ở cấp Quốc gia ở cuộc bầu cử Hạ nghị viện đầu tiên tổ chứcnăm 1958 sau khi đã có 2 đảng hợp nhất, Đảng dân chủ tự do và Đảng xãhội Nhật Bản (JSP) chiếm 453/455 ghế của các Đảng phái chính trị ở Hạnghị viện Trong số 2 ghế của các Đảng chính trị thì một ghế của Đảngcộng sản (JCP), một ghế của một Đảng nhỏ và có 12 ghế nữa của các thànhviên độc lập.
Hệ thống 2 Đảng này chỉ kéo dài được trong 2 năm vào tháng1/1960 Đảng xã hội Nhật Bản chi làm 2 phái, 40 Nghị viện ôn hòa tách rathành lập Đảng xã hội dân chủ (DSP) một Đảng cộng sản (JCP) đã được tổchức lại thì từ chỗ chỉ có một ghế trong lần bầu cử 1958 đã có ba ghế năm
1960, 14 ghế năm 1969 và 38 ghế năm 1972 Đồng thời ông Sòka Gakkaithuộc giáo phái Phật giáo Kichiren Shoshu đã thành lập một Đảng riêng(1964) lấy tên là Đảng Kômeito hay là Đảng chính phủ trong sạch (CGĐ)Đảng này dành được 25 chỗ ngồi năm 1967, 47 chỗ ngồi năm 1969 Dovậy, cho đến những năm 1960, dường như là hệ thống 2 đảng (theo cáchgọi của nhiều nhà bình luận chính trị Nhật Bản) bao gồm Đảng dân chủ tự
do và Đảng xã hội Nhật Bản hoặc theo cách gọi của một số người là "hệthống một Đảng và một Đảng rưỡi" (Đảng dân chủ tự do cộng với Đảngphân lập và dường như đối lập lâu dài với Đảng xã hội Nhật Bản và 1 Đảngnhỏ: Đảng xã hội dân chủ) nhanh chóng chuyển thành một hệ thống đaĐảng thực sự, vì Đảng xã hội dân chủ tuyên bố quyền tiếp tục duy trì củamình và 2 Đảng: Đảng Cộng sản Nhật và Đảng Kômeito thì chứng minhrằng họ luôn giành được từ 20-50 ghế trong hạ nghị viện Cho đến giữanăm 1970, 5 Đảng này dường như đã là những bộ phận vĩnh viễn trong hệthống chính trị quốc gia của Nhật Trong cuộc bầu của Hạ nghị viện 1972,
số % chỗ ngồi của Đảng LDP và JSP đã giảm xuống từ 99,5% (năm 1958)còn 81,5%
Trang 14Vào mùa hè năm 1976, có sự ly khai Đảng trong hàng ngũ củaĐảng dân chủ tự do (LDP) Mặc dù chỉ có một số lượng nhỏ nhưng việcđào ngũ này có một tác động to lớn đối với việc phát triển các Đảng mớiKôno Yôhei - một nghị viên trẻ của Đảng LDP đã cùng với 5 nghị viênkhác tách khỏi Đảng LDP lập ra 1 Đảng mới cấp nghị viện và lấy tên làCâu lạc bộ tự do mới (NLC) Từ bước đầu khiêm tốn mới chỉ vài chỗ ngồi.Câu lạc bộ tự do mới này đã tăng lên đến 18 ghế trong cuộc bầu cử 12/1976
và nó đã quảng cáo Kônô và NLC rùm beng trên hệ thống truyền thanhNhật Bản Sau đó, sự quảng cáo của NLC đã cổ vũ cho sự thiết lập cácĐảng mới khác vào 1977, 1979, 1980 và cuộc tổng tuyển cử 1983 Cuộcbầu cử 1983 vào thượng nghị viện, các đảng nhỏ mới đã chiếm 12 lá phiếu,chiếm hơn 15% và 5 ghế (105), Nhật Bản lúc này dường như đã hình thành
hệ thống nhiều Đảng phái hoạt động chính trị trên phạm vi toàn quốc gia
So sánh các hệ thống đảng trước và sau chiến tranh
So sánh hệ thống Đảng sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 với hệthống Đảng đã tồn tại trước chiến tranh ở Nhật Bản là một việc làm hữuích Đó là những cố gắng đáng kể đã tạo ra một triển vọng rất tốt cho cácvấn đề về hệ thống Đảng của Nhật Bản trước chiến tranh Ví dụ như các tácphẩm của các tác giả: G.Berger, Peter Duus, Robert A.Scalapino, T.J.Pemple và các tác giả khác được viết rất hay và nổi tiếng đối với các họcgiả Nhật Bản
Vì tất cả các tổ chức chính trị là kết quả lịch sử của chúng Nên cầnthiết phải đưa ra một số điểm khái quát về hệ thống Đảng trước chiến tranh.Pemple đã lưu ý rằng mặc dù có sự gia tăng các nhóm xã hội mới, nhưng
hệ thống Đảng trước chiến tranh đã không linh hoạt trong việc giữ nguyêncác mối quan hệ của nó đối với các cơ sở thương mại thành thị và các cơ sởnông nghiệp nông thôn Hậu quả là các Đảng Nhật Bản những năm 1930 đã
"hoàn toàn không thích hợp, không phải vì những phương tiện truyền báhay vì sự phản ánh những thay đổi của xã hội" Pemple cho rằng: Các ĐảngNhật Bản hiện nay cũng gặp phải những vấn đề khó khăn như vậy vì đang
Trang 15bị "mắc kẹt trong những khu vực bầu cử trước đây" Những "khu vực bầu
cử trước đây" lẽ ra là các khu vực thành thị ủng hộ LDP và các liên đoànlao động công nghiệp cho những người xã hội chủ nghĩa
Trong thực tế, thì các Đảng đã không có được lịch sử ảnh hưởngđáng kể, lâu dài đối với các hoạt động chính trị ở Nhật Bản Sau một thời
kỳ nổi lên khá dài, bắt đầu từ thập kỷ sau công cuộc khôi phục đất nướcthời Meiji Restcration của 1960, mãi đến sau chiến tranh thế giới lần 1 cácnội các mới được thành lập trên cơ sở kết quả của các cuộc bầu cử Tuynhiên, vào những năm 1930, các Đảng đã bị loại trừ thực sự ra khỏi quyền lựcchính trị Việc kiểm soát Đảng được giữ vững của chính phủ Nhật Bản có thểđược xem là đã bắt đầu từ những năm sau chiến tranh thế giới lần II kếtthúc
Song song với hệ thống Đảng trước và sau chiến tranh là sự phụthuộc của các Đảng bảo thủ vào "phi vụ kinh doanh lớn" Bởi vì các nhómJiyulo và Seiyukai là "con đẻ tài chính" của các tập đoàn zaibatsu (Mitoui,Mitsubishi, Sumitomo và các công ty khác) Các Đảng sau chiến tranhLDP, NLC và DSP phụ thuộc vào tập đoàn Keidenran và các tổ chức kinhdoanh khác của Nhật Bản hiện đại
ở cả 2 hệ thống Đảng (trước và sau chiến tranh) các Đảng nêu trênluôn luôn giành được thắng lợi Trước và sau thời kỳ chiến tranh các Đảngnày chưa bao giờ bị mất quyền lực và thất bại trong bâù cử Hơn thế nữa,
cả 2 hệ thống Đảng này đều chưa bao giờ thất bại trong một cuộc bầu cửnào Như Pemple đã nêu rõ, chính quyền thay đổi, nhưng điều đó thườngxảy ra trước khi bầu cử Thêm vào đó, các Đảng bảo thủ trong cả 2 hệthống dần dần bị tính quan liêu xâm nhập vào Sự ủng hộ như thế buộc cácĐảng phải giải quyết tốt nhất trên cơ sở từng ngày một hơn là khuyến khích
sự phát triển, sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng hay các nhóm ủng hộ khác
để đương đầu với nó (tính quan liêu)
Sau khi quan sát những điểm tương đồng giữa 2 hệ thống Đảng, bâygiờ chúng ta có thể xem xét những điểm khác nhau của chúng Ví dụ, hệ
Trang 16thống Đảng trước chiến tranh được mô tả như là thiếu một Đảng nổi trội.Chỉ có 18% các cuộc bầu cử trước chiến tranh là có được một Đảng đa số.Trái lại, thời kỳ sau 1955 tất cả các cuộc bầu cử (sau khi những ngườikhông Đảng phái bị loại ra) đã tạo ra một đa số % là của LDP Hơn thếnữa, trong suốt thời kỳ trước chiến tranh chỉ có 18% của các nội các chínhphủ thực sự là những nội các do Đảng lãnh đạo Từ khi chiến tranh tất cảcác nội các chính phủ đều được cấu thành từ những nhà lãnh đạo Đảng.
So với hệ thống Đảng trước chiến tranh, hệ thống Đảng sau chiếntranh rộng rãi hơn nhiều về ý thức hệ Bất chấp sự tồn tại của các Đảngcánh tả Hệ thống Đảng trước chiến tranh chiếm đa số, áp đảo là các Đảngbảo thủ Các Đảng cánh tả ít khi được tham gia một cách công bằng vàocác cuộc bầu cử Trái lại, trong thực tế hệ thống Đảng trước chiến tranh làmột cơ chế nhằm hợp pháp hóa bè lũ cai trị, còn hệ thống Đảng sau chiếntranh, bất chấp những sự bóp méo có ý nghĩa nào đó, như là sự phân chiathành từng nhóm, thì vẫn là một sự thể hiện trong sáng hơn nhiều thái độchính trị của toàn thể cử tri Nhật Bản
Khó mà mô tả một cách sinh động hệ thống Đảng Nhật Bản sauchiến tranh trên một nền tảng tự do - bảo thủ Mặc dù, đa số có thể nhất trívới sự thay thế của Đảng LDP và NLC trên cơ sở chấm dứt Đảng bảo thủ
và JSP và JCP trên cơ sở chấm dứt hoạt động của cánh tả Nhưng các Đảnggọi là Đảng Trung lập (ở giữa) có thể gặp nhiều khó khăn hơn trong việcxác định vị trí của mình một cách đúng đắn Phải chăng DSP, CGP và SDP
là những tập thể đại diện cho phái Trung tả hay Trung - hữu? Hay liệuchúng có thực sự thuộc về phái trung lập hay không? một số cho rằng DSP
và CGP thực chất là các Đảng bảo thủ Mặc dù họ biện hộ rằng họ là nhữngngười xã hội chủ nghĩa Những người khác lại muốn biết rằng Đảng thâncận với cánh tả ở Nhật Bản là JCP hay JSP
Một hệ thống đơn đảng chiếm ưu thế
Hệ thống Đảng Nhật Bản được mô tả bằng nhiều cách khác nhau
Đó là: Một hệ thống đơn Đảng, một và 1/2 Đảng, 2 Đảng và đa đảng Thực
Trang 17ra, một phần lời giải thích cho những cái tên gọi khác nhau này phần nhiềudựa vào bản chất "tức thời" của nó (ví dụ: chức năng mô tả của nó ở mộtthời điểm cụ thể thích hợp) nhiều hơn là dựa vào những sự thể hiện khácnhau về căn bản của hệ thống, khi Robert Scalapino và Junosuke Masumitiến hành nghiên cứu tình hình chính trị Nhật Bản vào những năm 1960, họ
đã quan sát hệ thống 2 Đảng của Đảng cầm quyền LDP, một phái đối lậpmạnh trong Đảng JSP và 2 Đảng rất nhỏ (ví dụ: JSP và Đảng mới LSP) Do
đó họ mô tả tình hình chính trị Nhật Bản như là hệ thống (1 và 1/2) trongbối cảnh hoạt động thực sự của nó bởi vì "1" Đảng thì luôn luôn nắm quyềnlực còn một nửa thì luôn mất quyền Nobutaka Yke đã nhận thức đúng đắnrằng vào đầu những năm 1970, hệ thống Đảng Nhật Bản đã thay đổi mộtcách cơ bản Lúc bấy giờ nó là một hệ thống gồm 5 Đảng chiếm tỷ lệ phiếuđáng kể
Tuy nhiên Yke đã không gọi đó là một hệ thống đa đảng bởi vì cácĐảng đối lập chưa bao giờ chia rẽ quyền lực với Đảng LDP Do đó ôngquyết định đặt tên cho nó là "hệ thống 1 Đảng chiếm ưu thế" Yke cho rằngmột hệ thống như thế không phải chỉ có duy nhất ở Nhật Bản mà cũng tìmthấy ở Mêhicô và ấn Độ
Có lẽ tác phẩm xuất sắc nhất viết về vấn đề phân loại hệ thốngĐảng là tác phẩm "các Đảng và các hệ thống Đảng của Gicvanni Sartori,một bảng phân loại các hệ thống Đảng theo số lượng các Đảng và tầm quantrọng của nó trong hệ thống 8 Hãy tập trung vào nhóm mà Sartori áp dụngđối với Nhật Bản - Hệ thống Đảng chiếm đa số Sartori cho rằng một hệthống Đảng chiếm đa số khác hẳn với hệ thống Đảng có thế lực đượcMaurice Durerger và Gabricl Almond 9 miêu tả Sử dụng các định nghĩarộng rãi hơn của họ, Sartori chia 21 hệ thống (đứng đầu là Pháp 1968 cuốicùng là Uruguay 1966) vào nhóm sau: nhóm có thế lực Hệ thống Đảng cóthế lực nhìn chung được xem là một hệ thống mà trong đó một Đảng mạnhtrội lên so với các Đảng khác Tuy nhiên Sartori cho rằng hệ thống Đảngchiếm đa số gồm cả (1) sự kiêm nhiều chức vị Đảng (trong đó các Đảngkhác đều hợp pháp và chính Đảng) (2) Một đảng chiếm ưu thế về quyền
Trang 18lực (trong đó Đảng tự dành được đa số ghế trong quốc hội theo thời gian).Nhật Bản phù hợp với kiểu hệ thống Đảng chiếm ưu thế hơn Vì 7 Đảnghợp lại với Đảng chiếm ưu thế LDP không bị tan vỡ kể từ khi thành lập hệthống này vào năm 1955 Thực tế, thì người ta cho rằng Nhật Bản "MộtĐảng chiếm ưu thế là cơ bản" Vì tất cả Đảng dân chủ công nghiệp hóa, màchỉ có Nhật Bản có đã không phá vỡ được quyền cai trị một Đảng trênphạm vi toàn quốc kể từ những năm 1950 Nếu Đảng nào nắm bắt đượckhái niệm kiên định mô tả tốt nhất bản chất hệ thống Đảng Nhật Bản thìchắc là sẽ nắm được quyền lực một Đảng từ 1955 Vì vậy, người ta đưa ramột vấn đề gay gắt là liệu có ai hiểu được hệ thống Đảng Nhật Bản sauchiến tranh không? Tại sao các Đảng đối lập không thể thay thế LDP làmlãnh đạo trong hoạt động chính trị Nhật Bản trên phạm vi toàn quốc.
Sự đối lập thường xuyênĐối với phe đối lập thì vấn đề khó khăn từ trước tới nay là việc tậphợp các Đảng phái đối lập khác nhau thành một liên minh có khả nănggiành quyền lực từ tay LDP Bản chất của chính phủ liên minh - chính phủ
mà có khả năng thay thế quyền thống trị đơn đảng của LDP, là một chủ đềchính của cuộc tranh luận trong giới chính trị Nhật Bản cuối những năm
1970, đầu những năm 1980, và cuộc thảo luận về việc làm thế nào để tạođược một liên minh như thế đã cản trở các nhà chính trị phe đối lập vì dùsao họ cũng đã cố gắng liên kết với nhau để có được đủ số ghế để thay thếLDP Vì sự thay thế như vậy dường như là không thể được nên đầu thập kỷ
1980 cuộc thảo luận chuyển sang vấn đề khác là những Đảng đối lập nào
có thể liên kết với LDP và giúp đỡ những người bảo thủ thống trị NhậtBản
Công chúng Nhật Bản cũng tham gia vào những nỗ lực để tạo raliên minh này Họ đã tham gia bầu cử và bày tỏ những quan điểm của mình
về những hình thức liên minh qua những cuộc trưng cầu trên báo chí Vàođầu năm 1980, trước cuộc "bầu cử kép" sẽ diễn ra bào tháng 6 /cùng năm,một "sự bùng nổ liên minh" đã xuất hiện trên các phương tiện thông tin và
Trang 19trong giới lãnh đạo Đảng đối lập Một cuộc trưng cầu lớn đã cho thấy mộtnửa số dân chúng muốn chấm dứt việc tiếp tục cầm quyền đơn Đảng củaLDP, 30% muốn tiếp tục, 20% không có ý kiến hoặc từ chối trả lời Nhữngsuy nghĩ của quần chúng về bản chất của liên minh thay thế cho LDP thì ít
rõ ràng hơn Một số ủng hộ Đảng Bảo thủ và cái gọi là các Đảng phái trunggian, đó là LDP, NLC, DSP và CGP (18%) Nhóm thứ 2 là "một liên minhlớn" của tất cả các Đảng trừ JCS (15%) Nhóm thứ 3 (15%) ủng hộ liênminh bảo thủ của Đảng LDP và NLC Một liên minh cánh tả tập trung vàoJSP kết hợp với Kômeitô nhận được 8% sự ủng hộ và liên minh cực tả củaJSP và JCP nhận được 5% ủng hộ Cuối cùng, chỉ riêng chính phủ thiểu sốLDP chiếm được gần 11% sự đồng tình của những người tham gia cuộctrưng cầu
Gần 3 năm sau, 1 liên minh giữa LDP và NLC được thành lập dựatrên một cơ sở có giới hạn Khi LDP liên kết với NLC vào 12/1983 để dựnglên 1 chính phủ liên minh thì nó đã mở ra một kỷ nguyên mới trong hoạtđộng chính trị Nhật Bản mà nhiều người đã dự đoán trước từ 1976 Người
ta cho rằng thành lập liên minh là do có lợi nhiều hơn là do cần thiết, mặc
dù LDP chỉ dành được 250 ghế trên tổng số 511 ghế thiếu 6 ghế so với một
đa số hơn hẳn Nó bắt đầu kiểm soát 259 ghế khi 9 Đảng độc lập bảo thủlập tức liên kết thành 1 Đảng sau cuộc bầu cử Ngay sau đó, LDP đã chấpnhận cho NLC tham gia vào chính phủ nhằm cố gắng giành thêm một sốphiếu mà nó cần đến trong quốc hội để điều khiển nghị viện có hiệu quả
Trước 1983, các Đảng phái đối lập hầu hết đều hy vọng tham giavào một chính phủ quốc gia với tư cách là một liên minh của chính phủ vìthực tế là trong LDP xảy ra sự chia rẽ và một chính phủ mới sẽ được thànhlập với sự tham gia của nhiều phe phái LDP chia rẽ ra liên kết với nhiềuĐảng phái đối lập lâu năm Mỗi lần LDP chịu thất bại trong bầu cử (nhưhồi 1979 và 1983) hoặc các vụ tai tiếng khác (vụ kết án Tanaka là mộttrong những vụ bê bối gần đây nhất), thì các phương tiện truyền thông lạiđưa ra các tin đồn rằng các phe phái sắp sửa chia rẽ và liên kết với DSP,
Trang 20CGP hoặc các Đảng phải khác để thay đổi bộ mặt hoạt động chính trị NhậtBản Tuy nhiên mỗi lần như thế, những ưu thế vốn có rõ ràng vẫn trội hơnhẳn so với việc ly khai Đảng để liên minh với phe phái đối lập từ lâu.
Đằng sau việc LDP tiếp tục cầm quyền, lý lẽ được cho là hay nhấtbắt nguồn từ lời khuyên chính trị, quân sự cổ điển "chia và trị" và nhưMichael Tay lo và V.M.Herman đã viết "Phe đối lập càng bị chia rẽ thìcàng dễ trị" Nói cách khác, một phe đối lập bị chia nhỏ thì có xu hướng,kém ôn hòa và do đó sẽ làm tăng khả năng bất ổn định trong toàn hệ thống,nhưng nó cũng kém hiệu quả hơn trong việc ổn định để thay thế Đảng cầmquyền Vì vậy, mà tăng thêm độ ổn định cho Đảng cầm quyền
Có lẽ khái niệm khó nhất đã có thể in sâu vào một tổ chức nhà nước
là khái niệm đối lập Tuy nhiên thật mỉa mai, ý tưởng này rõ ràng đượcNhật Bản đi theo một cách chắc chắn, đến nỗi nó trở thành một đặc điểmthường xuyên của ít nhất là JSP và JCP, những Đảng đối lập cơ bản trong
hệ thống Đảng 1955 Một khía cạnh trung tâm của sự đối lập là nó phảiluôn luôn sẵn sàng chiếm lấy vị trí thống trị theo định kỳ Tuy vậy, như đãlưu ý với các bạn, Nhật Bản là nước duy nhất trong số các nước dân chủ đãphát triển, chưa trải qua sự thay thế quyền lực trong suốt 3 thập kỷ qua.Hơn nữa, theo như Raymond Aron đã nhận xét trong một thuyết trình ởtrường Kinh tế và khoa học chính trị Luân Đôn ngày 27/10/1981
Trong 30 năm qua, chỉ vẫn một Đảng cầm quyền ở Nhật Bản,những Đảng đối lập mà thỉnh thoảng có thắng cử ở các cuộc bầu cử địaphương thì vẫn tồn tại, những tờ báo tự do chỉ trích giới cầm quyền cũngvẫn tồn tại Nhờ sự cầm quyền này, Nhật Bản đã trở thành một trong nhữngquốc gia đi đầu, chính Nhật Bản là nước chịu đựng giỏi nhất những cú sốccủa khủng hoảng dầu lửa, thành công nhất trong việc đạt được sự hợp tácchặt chẽ giữa các bộ công nghiệp và các doanh nghiệp tư nhân, thành côngnhất trong việc kết hợp những hoạt động tự do và có kế hoạch trung hạn(thậm chí dài hạn) của thị trường Sẽ chẳng thể có được điều này nếu từngày này sang ngày khác những kế hoạch, những đánh giá và ưu tiên của
Trang 21chính phủ có nguy cơ bị những kết quả bầu cử làm đảo lộn ở những nước
tự hào về sự đổi thay trong chính phủ, ngoài những hiểm họa do xu thếkinh tế thế giới mang lại, cứ 2, 4 hoặc 7 năm một lần, họ phải chịu thêmnhững hiểm họa do sự thay đổi dư luận quần chúng, dư luận cử tri manglại
Sau khi suy nghĩ kỹ Tôi loại bỏ lập luận phần nào dễ dàng này.Phải chăng sự thịnh vượng của Nhật Bản nhờ phần lớn vào việc chính phủkhông thay thế hay ngược lại Vẫn một Đảng thắng cử bởi vì phần lớn số
cử tri chấp nhận chính sách của Đảng đó đưa ra và thừa nhận rằng nó đãđược thực hiện một cách thành công Phải chăng sự thay thế các chính phủ
ở châu Âu và châu Mỹ đã không thể hiện sự bất mãn đối với sự thống trị?
và phải chăng sự thay thế một cách hòa bình lại không tốt hơn sự bạo độngbằng vũ lực?
Một nhất xét thứ 2 đã ngăn cản tôi đi đến kết luận những kinhnghiệm của Nhật Bản Như chúng ta đã biết không một nước nào có thể làmột Nhật Bản lặp lại Nhật Bản vẫn duy trì sự sùng kính đối với một chínhthể thống nhất mà biểu tượng là vì Hoàng đế tôn kính, một sự sùng kính màcác tập quán dân chủ hằng dấu giếm mà không phá hủy Chẳng có dân tộcnào lại có vẻ thuần nhất như vậy, chẳng có bước nào mà xã hội lại đượcthống trị, có hiệu quả như vậy, kiên quyết mà mềm mỏng ở khắp mọi nơi.Một vài quan sát viên có thể nhận xét rằng sự liên tục cầm quyền của Đảngdựa trên cơ sở rèn luyện k ỷ luật với một lối sống mà người phương Tây sẽcoi là không thích hợp với triết lý mang tính cá nhân chủ nghĩa của họ.Nước Nhật Bản dân chủ hóa đã không trở nên cá nhân Do vậy, chúng tahãy tạm gạt Nhật Bản sang một bên, và chỉ lưu ý rằng Có một đất nước -
có lẽ chỉ có một duy nhất - là biểu tình chống lại trào lưu tư tưởng hiệnhành rằng một Đảng chính trị có thể chịu đựng việc một chính phủ đượcdựng lên rồi lại phế bỏ và một chế độ dân chủ không có sự thay thế chínhphủ không thường xuyên thoái hóa 11
Trang 22ở những quốc gia mà không có nhiều Đảng thay nhau cầm quyền,tình trạng chung là có những cuộc bạo động của chính phủ chống lại nhữnglực lượng đối lập, những cuộc bạo động đó ngăn những lực lượng nàytrong việc thông tin tiếp xúc với các cử tri, quản lý danh sách ứng cử viên,hay thậm chí còn ngăn việc thành lập một tổ chức Đảng hợp pháp Nhữngkiểu áp bức của Chính phủ này không được áp dụng ở Nhật Bản Bầu cử ởNhật Bản được công khai, và các Đảng đối lập thì hợp pháp và họ có nhiềukênh thông tin công khai với các đội ngũ cử tri Nhật Bản Một vài quốc giachâu Âu (chẳng hạn như Thụy Điển) đã trải qua kiểu một Đảng cầm quyềnphần nào giống Nhật Bản Dĩ nhiên có nhiều lý do để giải thích cho việcliên tục cầm quyền của Đảng Dân chủ xã hội Thụy Điển và sự tương tựgiữa Nhật Bản và Thụy Điển là những Đảng đối lập với Đảng dân chủ xãhội Thụy Điển đều rời rạc Những Đảng này thiếu những nguồn cần thiết
để có thể đương đầu với Đảng cầm quyền và không có đặc điểm của riêngmình để khác biệt với các Đảng khác hoặc Đảng cầm quyền Sự đối lập nàychỉ làm cản trở Đảng cầm quyền bằng cách làm nó yếu đi
Như Thủ tướng Thụy Điển Tage Erlander nói vào năm 1951 "Lựclượng đối lập này đại diện cho gần một nửa số dân nhưng nó không bao giờ
có cơ hội thử sức thống trị của mình và cũng không bao giờ được gánh vácnhững trách nhiệm liên quan "12
Sự mô tả của Erlander có thể dễ dàng phù hợp với hệ thống ĐảngNhật Bản Tại sao cử tri Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì quyền lực của LDP
từ kỳ bầu cử này sang kỳ bầu cử khác trong suốt 3 thập kỷ qua Vấn đề này
có thể được xem xét theo nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta hãy bắtđầu với những câu trả lời trong cuộc thăm dò dư luận do tờ báo YmiuriShimbum tổ chức Chủ đề nói về những lý do tại sao người ta ủng hộ nộicác Zanko Suzuki Câu trả lời phổ biến nhất là "Vì đó là một nội các củaLDP 40% những câu trả lời khác thì đề cập đến "Sự ổn định" của nội các(16%), đến sự trung thực của tổng thống (9%), và sự đánh giá cao đối vớihoạt động của nội các, cả hoạt động trong và ngoài nước (15%) 13 cho đến
Trang 23mùa hè 1985, sự ủng hộ của quần chúng đối với nội các Nakasone tăng lêntới 59,2% trong dân số, và 46% trong số 59,2% này trả lời rằng họ tintưởng vào Nakasone cảm thấy an toàn với chính phủ của ông, và ủng hộLDP 23% khác bày tỏ lý do ủng hộ của mình bằng cách trích dẫn nhữngchính sách đối ngoại và quốc phòng của chính phủ14.
Đảng LDP rõ ràng đã trở thành một Đảng có trách nhiệm trong cả
sự phồn thịnh rực rỡ mà Nhật Bản đã có và cả những chính sách an ninh vàngoại giao mà nhờ đó Nhật Bản đã có được sự kính nể trên khắp thế giới từnhững ngày đen tối sau chiến tranh thái bình dương Ngược lại, sau Đảngđối lập với nó đã không thể đảm đương vai trò cầm quyền thay thế LDP.Tháng 9/1985, khi tờ Ymauri Shimbun tham khảo ý kiến các độc giả vềviệc tại sao LDP nắm quyền lực lâu đến vậy, có 3 câu trả lời phổ biến nhấtlà: "Bởi vì, không có một Đảng chính trị khác" (48,4%) "Bởi vì, người tanhất trí với các chính sách của LDP" (38,2%) và "Những Đảng khác khôngthể hợp tác với nhau để chống lại LDP" (34,3%) 15
Trong một bài phát biểu của mình năm 1982, Cựu thủ tướng NhậtBản Takeo Miki nói về vấn đề các Đảng đối lập ở Nhật Bản "Nền chính trị
có Đảng mà không có sự thay đổi chính phủ là sự trệch quy tắc Và nếumột Đảng nắm quyền hành quá lâu, nó sẽ bị tha hóa Do vậy tôi muốn đềnghị các thành viên của Đảng đối lập rằng họ nên thành lập một Đảng nói
có khả năng nắm quyền thống trị Nhật Bản Những gì mà Nhật Bản ngàynay đang cần là sự thành lập và trưởng thành vững chắc của một Đảng màĐảng này sẽ không làm đất nước bị lộn xộn hoặc gây ra bạo động trong nhândân" (16)
Đối với một số người việc một nhà lãnh đạo và của thủ tướng LDPkhuyến khích sự cải tổ của các Đảng đối lập nhằm đánh bại Đảng của mìnhdường như lạ lùng Vậy mà Miki đã luôn là vị lãnh đạo trong Đảng LDP,hơn nữa đặc điểm nhiệm kỳ của ông là những nhà lãnh đạo các bè pháikhác nhất là của phe Tanaka và Fuđaka luôn công kích ông và các chínhsách của ông một cách có hệ thống Thực tế mà nói thì có lẽ chỉ có hai cách
Trang 24giúp Nhật Bản thoát khỏi thế bí (1) Theo như gợi ý của Miki, thì hãy xâydựng một Đảng mới để thay thế và phá bỏ những Đảng rời rạc hiện hành,hoặc (2) là phá bỏ LDP, rút bỏ một hoặc nhiều bè phái chính, liên kếtnhững phần tử ôn hòa của những Đảng đối lập đang tồn tại.
Một trong những vấn đề khủng hoảng mà các Đảng đối lập với LDPphải đương đầu liên quan đến xung quanh khái niệm Đảng "bị loại bỏ" hay
"những Đảng không chính thống" Chẳng hạn như Đảng cộng sản ý Mặc
dù là Đảng lớn thứ 2 ở ý, trong nhiều cuộc bầu cử nhưng nó không bao giờđược tính vào liên minh nội các vẫn thường được nhắc tới Đảng cộng sảnNhật Bản (JCP) cũng vấp phải một vấn đề phần nào giống như thế Đặcbiệt nó cũng bị loại ra khỏi tất cả các cuộc bàn luận liên minh của LDP,Kômeitô, DSP, NLC và SDF Duy JSP là có mặt dự với tư cách là thànhviên liên minh dự bị Bởi vì, không thể thành lập một chính phủ liên minhkhông có LDP mà không có 30 ghế hoặc hơn thế nữa của JOP cho nên liênminh duy nhất phải do LDP lãnh đạo JSP cũng là một Đảng "bị loại trừ"nhưng nó hơi khác với kiểu "bị loại" của ý Trong chính phủ Katayama nổitiếng năm 1947 JSP nắm vai trò lãnh đạo trong việc thành lập chính phủcánh tả duy nhất trong lịch sử Nhật Bản Nhưng nó cũng bị loại bỏ nhanhchóng và bị thất bại gần như hoàn toàn Những Đảng viên Đảng xã hộicũng bị mất uy tín do thất bại này, do sự chia rẽ tất yếu của họ, và do sựtranh cãi tư tưởng rằng trong 3 thập kỷ tới JSP sẽ trở thành một Đảng
"không chính thống" (ở chỗ rất ít người coi JSP là thành viên trong chínhphủ tương lai của Nhật Bản Đảng viên Đảng xã hội đã trở thành "Nhómngười không thể bắn thẳng" và rất ít người có niềm tin tưởng vào khả nănglãnh đạo chính phủ QGNB vào thời điểm khó khăn này
Trang 25Ronald J Hrebenar
Đảng xã hội dân chủ điều bí ẩn của trung tâm
Trong số các đảng phái hiện tại đang hoạt động trong khuôn khổ hệthống chính trị Nhật Bản thì Đảng xã hội dân chủ (DSP) có là khó đề cập,
mô tả tỉ mỷ hơn cả Nếu như có Đảng nào ở Nhật Bản trong tình trạngkhủng hoảng thì chắc hẳn phải là Đảng xã hội dân chủ Người ta đã tìmthấy lý do lộn xộn trong sự tồn tại của nó Liệu nó có thật sự là Đảng xã hộikhông? Hay là Đảng xã hội dân chủ? Liệu Đảng này thật sự có muốn làmcho Nhật Bản đổi thay theo kiểu dân chủ xã hội của châu Âu? Bắt đầu vàonhững năm 1980, Tsuneo Fuiji là đảng viên của DSP đồng thời cũng làthành viên của hội đồng thượng viện, là chủ tịch ủy ban ra chính sách bầu
cử của Đảng đã nhận xét: "Tôi không cho rằng đây là ý định, quan niệm cóhại nếu như chúng ta thay đổi tên gọi của Đảng" 1 Lời bình luận của Fuji
đã vạch mối quan hệ cơ bản cho những vấn đề trong Đảng được côngchúng Nhật Bản đón chào từ khi Đảng mới ra đời năm 1960 Xa hơn nữaFuju trong bài phân tích của mình cũng lưu ý là có nhiều người Nhật chorằng DSP phải tán thành chủ nghĩa xã hội hoặc chủ nghĩa cộng sản:
"Không liên kết với Đảng khác, chấm dứt bỏ phiếu cho Đảng LDP bởi vì
họ không muốn thay đổi các hệ thống kinh tế xã hội của những người bảothủ" Trong số những ý kiến đề nghị Fuji đã đưa ra tên gọi mới cho ĐảngDSP đó là "Đảng lao động" hoặc "Đảng dân chủ" 2
Hơi châm biếm một chút là trên thế giới có nhiều nước công nghiệpphát triển lại do các đảng xã hội dân chủ lãnh đạo, DSP chưa bao giờ cókhả năng tự xác định mình với tư cách là phương sách, cách thức hợp lýcho việc giữ gìn, bảo toàn quyền thống trị của LDP Có rất nhiều nguyênnhân có thể góp phần giải thích sự thất bại của Đảng xã hội dân chủ trongviệc hợp pháp hóa dân chủ xã hội ở Nhật Bản, nhưng lý do cơ bản nhất làĐảng không có năng lực thuyết phục các cử tri Nhật Bản và điều là, sống
Trang 26giữa sự phát triển thịnh vượng họ thấy hài lòng dưới sự lãnh đạo của LDP
từ năm 1955, họ cũng từ bỏ và thao túng cả hệ thống chính trị đang tồn tại
và quay lại với những phương sách mập mờ, mơ hồ Khái niệm về dân chủ
xã hội rất đơn giản không được cân nhắc, xem xét cùng với hệ thống kinh
tế sống động đang phát triển và hệ thống chính trị xã hội Nhật Bản sauchiến tranh Khi đó Đảng xã hội dân chủ bị thất bại, người ta rêu rao rùmbeng tư tưởng chủ đạo của Đảng này là liệu chính sách, đường lối củaĐảng tương lai sẽ ra sao? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta trước hết phảinghiên cứu Đảng xã hội Dân chủ thời gian trước đó Do vậy, sách này sẽbắt đầu cùng với những hoàn cảnh, tình hình lúc đó xung quanh việc ra đờiĐảng xã hội dân chủ (DSP) qua những sự kiện chấn thương kinh khủng vềchính trị mà Nhật Bản đã trải qua trong thời kỳ sau chiến tranh
Từ bè phái này sang bè phái khác:
sự ra đời đảng xã hội dân chủCũng như Câu lạc bộ tự do mới (New Liberal ) và liên đoàn
xã hội dân chủ, Đảng xã hội dân chủ là một mảng vỡ tách ra từ một trong
số hai Đảng lớn nhất đang hoạt động ở Nhật Bản sau chiến tranh năm 1945
"Đảng mẹ" của nó là Đảng xã hội Nhật Bản đã bị xé xác ra do cuộc xungđột trong nội bộ Đảng về định hướng hệ tư tưởng trong cả quá trình lịch sửlâu dài Trong những năm trước chiến tranh phe hữu (The Right) có xuhướng nắm toàn bộ tổ chức phong trào xã hội, nhưng sau chiến tranh phecánh tả (the left) dần dần đã xác định được địa vị thống trị của mình Saukhi liên minh nội cách của Katayama sụp đổ vào tháng 3 năm 1948, Đảng
xã hội Nhật Bản vẫn tiếp tục tồn tại các mô hình, kiểu cách đấu tranh về hệ
tư tưởng trong Đảng Đảng đã tan, hợp vài lần trong suốt những năm 1950.Đầu tiên là phe cánh tả - cánh hữu chia rẽ tách hẳn ra, điều này xảy ra vàotháng giêng năm 1950, nhưng Đảng lại tái hợp nhất lại sau 75 ngày Sựchia rẽ rạn nứt nghiêm trọng trong Đảng bắt nguồn từ hiệp ước Hòa BìnhSan Francisco giữa Nhật và Mỹ Hiệp ước an ninh bắt đầu có hiệu lực từtháng 10 năm 1951 Hai phe cánh của Đảng xã hội đã phân chia nhau danh
Trang 27sách các ứng cử viên trong suốt ba cuộc bầu cử toàn quốc gần đây Phecánh hữu đã thắng phe cánh tả trong cuộc bầu cử vào tháng 10 năm 1952,chiếm 57 ghế Nhưng cũng trong lần bầu cử này những người theo phecánh tả cũng đạt được thắng lợi ở độ tuổi sung sức của mình Phe cánh tảchiếm 50 ghế Trong lần bầu cử vào tháng 4/1954 phe cánh hữu tăng số ghếcủa mình lên, tổng số là 66, nhưng phe cánh tả lại được những 72 Cuốicùng, trong cuộc bầu cử vào tháng 2/1955 phe cánh hữu được 67 ghế, cònphe cánh tả được 89 Ngay sau cuộc bầu cử này hai phe cánh lại đi đến táihợp nhất Đảng xã hội dân chủ Sự tái hợp nhất được bắt đầu bằng tên gọi phecánh hữu ôn hòa.
Mặc dù cánh hữu, rốt cuộc cũng quyết tâm liên kết lại Đảng xã hội,nhưng những vấn đề cơ bản về hệ tư tưởng vẫn chưa được xác lập rõ ràng.Những dấu hiệu lục đục trong nội bộ phần nào bị lu mờ trong chiến dịchbầu cử toàn quốc vào tháng 5/1958 Cuộc tranh luận liên quan tới bản chấtcủa Đảng xã hội và tương lai của Đảng này nay lại tiếp tục Người lãnh đạonổi hơn cả của cánh hữu là Kishio Suchiro, sau này ông ta là người hướng
sự chú ý của Đảng vào vấn đề đàm phán xem xét lại hiệp ước an ninh Nhật
- Mỹ Những khác biệt giữa hai phái vượt ra ngoài khuôn khổ một bài báo,tuy thế vẫn được xem là biểu tượng của một cuộc xung đột gay gắt hơn.Nishico chủ trương cho rằng Đảng xã hội Nhật Bản nên chấp nhận giảipháp thực tế đối với các hiệp ước an ninh hơn là theo đuổi giải pháp toàndiện và hoàn toàn đối lập với bản hiệp định đang tồn tại, như vậy sẽ có ítnhững thay đổi đặc biệt Ông ta cũng cho rằng Đảng nên tập trung vàonhững vấn đề như khoảng thời gian tồn tại hiệp ước mới và thực chấtnhững thủ tục bãi bỏ nó 3 Tuy vậy, cánh tả cũng chẳng đưa ra được điều gìmới ngoài cách chờ cho bản hiệp ước hết thời hạn Việc này đã ảnh hưởngtới địa vị của Nishio người ta xem đó như lời đe dọa sự thống nhất củaĐảng và đã quyết định trừng phạt ông ta Trong cuộc hội nghị Đảng xã hộiNhật Bản họp vào tháng 9/1959 những người thuộc cánh tả đã kiểm soátĐảng, bỏ phiếu khiển trách Nishio vì làm phá vỡ sự thống nhất Đảng.Nishio và những người ủng hộ ông ta, tiêu biểu cho bè phái đảng xã hội
Trang 28Nhật Bản đã tách ra từ cánh hữu ôn hòa thuộc phong trào xã hội trướcchiến tranh (Shanin hay là Đảng xã hội nhân dân), đã ly khai Đảng Mộtnăm sau, một bộ phận thuộc bè phái Nichiro trước kia (từ Đảng lao độngnông dân Nhật Bản) giữ lập trường trung gian trong Đảng xã hội thời kỳtrước chiến tranh) đã sát nhập vào Đảng xã hội Nhật Bản (JSP) và cũnghợp nhất lại cùng Nishio Hai nhóm này đã thành lập ra Đảng xã hội dânchủ (Hinshu - Shakaito) Nishio được bầu làm chủ tịch của Đảng mới này
có tổng số 40 nghệ sĩ trong quốc hội vào thời điểm mới thành lập Tuy thế,đến lần bầu cử sau Đảng bị thất bại chỉ giành được 17 ghế và từ đó Đảngchẳng còn bao giờ giành được đến 40 ghế trong Hạ viện
Cánh tay chính trị của DômeiNhiều người Nhật cho rằng Đảng xã hội dân chủ như là cánh taychính trị của Dômei, liên đoàn lao động toàn Nhật Bản (Zen Nihon RôdoSôdômei) Do vậy, trước khi quay lại thảo luận về mối quan hệ giữa Đảng
xã hội dân chủ (DSP) và Dômei, ngắn gọn phải tìm hiểu qua về tình trạnghiện tại tổ chức lao động thời gian sau chiến tranh là điều cần thiết Quaylại quá khứ một chút, Domei là một tổ chức lao động Yuaikai, bắt đầu từnăm 1912, nhưng bị giải thể trong thời gian chiến tranh thế giới thứ II Sauchiến tranh đó bị phân chia ra thành (tổng liên đoàn những hiệp hội buônbán Nhật Bản) và Kaiiu Kumiai (Hiệp hội thủy thủ toàn Nhật Bản) Năm
1950 Sôhyô (general Council của các công đoàn thương nghiệp Nhật Bản)cùng được hình thành và trong vòng hai năm những người cánh tả của tổchức này bắt đầu có những mối quan hệ với những người theo đường lối ônhòa Sôđômei rời bỏ Sôhyô năm 1954 cùng với ba công đoàn theo đườnglối dung hòa (công đoàn ngành dệt, thủy thủ và công đoàn của công nhânngành điện ảnh) để tổ chức ra liên hiệp công đoàn thương nghiệp cạnhtranh lại đó là Zenrô (Hiệp hội công đoàn thương nghiệp Nhật Bản) Những
tổ chức khác sát nhập vào Znr và thành viên của nó phát triển từ 800.000lên tới 1,4 triệu Phát triển tương tự như vậy có Zenkankô (hội đồng tư vấnquốc gia của chính phủ và liên hiệp các công đoàn công nhân) cũng đượclập ra năm 1959 Sau ba năm, vào tháng 1/1962, Zennô, Sodòmei và
Trang 29Zenkankô đạt tới sự thỏa thuận hợp nhất về đường lối chính sách và đếntháng 4/1962 Dòmeikaigi được hình thành như là một nhóm quá độ chuyểntiếp Vào ngày 12/11/1964 việc chính thức thành lập Zen Nihon RôdôSôdômei được phê chuẩn 4.
Phần lớn lao động có tổ chức ở Nhật Bản được hình thành xungquanh bốn tổ chức nòng cốt còn được gọi là các trung tâm quốc gia có ảnhhưởng lớn đến 308 các tổ chức liên đoàn lao động khắp trong nước Bốn tổchức đó là Sôhyô, Dômei, Shinsanbetsu (Liên đoàn quốc gia các tổ chứccông nghiệp) và Chùritsuròren (Liên đoàn các công đoàn độc lập) Theo sốliệu bảng 7.1 thì Sòhyò là tổ chức lớn nhất, sau đó đứng thứ hai là ba tổchức kia Sòkyò là một liên minh gồm 50 tổ chức khắp trong nước bao gồm
cả các công đoàn dân tộc, các liên đoàn công nghiệp và các liên hội đồngcủa các tổ chức này Sòhyò theo cánh tả về định hướng chính trị và ủng hộmạnh mẽ JSP từ những năm 1950 Chùritsuròren và Shinsanbetsu là những
tổ chức nhỏ hơn nhiều, có mười và bốn các tổ chức liên kết lại
Biểu 7.1
Liên đoàn lao động Nhật Bản
Những Đảng phái của phái giữa
phái trung tâm
Các tổ chức Số lượng công đoàn Thành viên
Tư nhân 5,737 2.042.000 (16,4%) Nhà nước 114 168.000 (1,4%)
Tư nhân 2.730 1.563.000 (12,6%) Nhà nước 3.456 2.994.000 (24,1%) Churitsuroren 911 1.330.000 (10,7%)
Các Đảng khác 21,212 4.660.000 (37,5%) Tổng cộng 33.987 12.437.000 (100%)
Trang 30Mỹ Các công đoàn lao động Nhật Bản nói chung rất là bé nhỏ về mặt sốlượng các thành viên bởi vì chúng được thành lập trên cơ sở các công ty.
Dòmei là tổng liên đoàn các công đoàn thương nghiệp Nhật Bản dovậy về mặt nguyên tắc nó đại diện cho khu vực tư nhân Như theo số liệunăm 1981, nó bao gồm 31 công đoàn và liên đoàn với số thành viên là 2,1triệu công nhân 5 Phần tử cấu thành lớn nhất của các công đoàn thươngnghiệp Dòmei là: Zensen Dòmei (494,896 thành viên ngành dệt), ZenkinDômei (313.612 thành viên - công nhân ngành luyện kim) và ZosenjukiRoren (220.697 thành viên công nhân ngành đóng tầu và ngành côngnghiệp chế tạo máy cái) Về mặt địa lý mà nói thì phần lớn số thành viêncủa Dòmei tập trung ở các tỉnh công nghiệp đô thị Tokyo (231.885 thànhviên của Dòmei), Managawa (169.212 thành viên), Osaka (238.013 thànhviên) Hyogo (141.169 thành viên) và Aichi (148.450 thành viên) là nhữngtỉnh tiêu biểu mà Dòmei thực sự chiếm được ưu thế, còn những tỉnh khácnhư Tohori (8.371 thành viên), Kochi (9.786 thành viên) Yamanashi (5.368thành viên ) và Nara (6.095 thành viên) đại diện cho những khu vực nôngthôn thì ảnh hưởng của Dômei không đảng kể 6
Đúng ra, phe cánh hữu của Sôhyô rốt cuộc cũng bị chiếm đoạt đểtạo thành Dômei, cũng tương tự như vậy đối với phe cánh hữu của Đảng xãhội Nhật Bản trong suốt những năm 1959 - 1960 và hình thành Đảng xã hộiDân chủ Vết rạn nứt trong Đảng xã hội Nhật Bản vào năm 1960 liên quanchặt chẽ với sự cổ vũ động viên của những kẻ phản bội lại Sohyô Thực ra,
có nhiều người cho rằng thiếu sự ủng hộ của Dòmei thì Đảng xã hội dânchủ sẽ không hình thành được vào năm 1960 Nhanh chóng, ngay sau khi
Trang 31thành lập, Đảng xã hội dân chủ đã thiết lập những mối quan hệ vững bềnvới Dômei và cả hai trở thành những người bạn đồng hành về mặt chính trị
từ đây
Sự tin cậy, tín nhiệm của Đảng xã hội dân chủ đối với Dòmei với tưcách như là tổ chức ủng hộ chính (cũng tương tự đói với Chùritsuròren)cũng đồng thời vừa là trở ngại đối với Đảng xã hội dân chủ Dòmei kiểmsoát các thành viên của mình rất lỏng lẻo Thật vậy, Đảng chỉ động viênkhuyến khích được 1,3% tổng số thành viên (38.000 người) chính thức xin
ra nhập Đảng Trong số 31 tổ chức công đoàn của Dòmei thì 15 đã đăng kýdanh sách là những người chính thức ủng hộ Đảng xã hội dân chủ, trongkhi đó 16 tổ chức công đoàn còn lại mức độ chính thức ủng hộ Đảng cókém hơn Các quan chức của Dòmei đánh giá, khoảng gần 30% số liênđoàn lao động ủng hộ các ứng cử viên Đảng xã hội dân chủ trong các cuộc
bỏ phiếu Trong số những công đoàn cấu thành Dòmei thì những công nhânngành chế tạo ô tô đã giành cho Đảng xã hội dân chủ 70% số phiếu và ởcông nhân ngành dệt, con số này là gần 50% 7
Theo một công trình nghiên cứu, do việc nghiên cứu lao động(Rodo Chosa Kekyu - jo) tiến hành vào tháng 5/1977 trong số 14.510 côngđoàn viên của 14 công đoàn lao động ở vùng Kansai, thì chỉ có 11,3% ủng
hộ Đảng xã hội dân chủ 27,8% số thành viên ủng hộ Đảng xã hội NhậtBản, số còn lại 5,6% ủng hộ LDP, 3,1% ủng hộ NLC, 2,9% ủng hộKômeitô và 2,5% ủng hộ JCP (45,1% biểu lộ không ưa thích các Đảng pháichính trị) 8 Những thành viên công đoàn lao động sau này ngày càng xalánh, chán ghét và thiếu sự tin cậy về vai trò chính trị của đất nước Theo
sự nghiên cứu 4.500 thuộc sáu công đoàn lao động vào năm 1979, trungtâm giáo dục của Sôhyô đã báo cáo chỉ có 1 đến 1,8% tín nhiệm các nhàchính trị bảo thủ hoặc theo cải cách Các nhà chính trị gia bảo thủ đi đếnchỗ diệt vong trong cuộc bỏ phiếu gần đây, theo như một số người tiênđoán 9
Những năm gần đây, thái độ chính trị của công nhân Nhật Bản thayđổi khá rõ Theo những cuộc thăm dò dư luận xã hội do cơ quan trực thuộc
Trang 32thủ tướng chính phủ tiến hành 89% công nhân Nhật Bản cho mình thuộcthành viên của tầng lớp trung lưu Cùng với sự tăng trưởng mức độ giàu có,thịnh vượng ở Nhật Bản là sự giảm đi nhiều số lượng các công đoàn tánđồng, lựa chọn chủ nghĩa xã hội như là hệ thống chính trị mong muốn ởNhật Bản, kèm theo sự tăng trưởng rất nhanh số người lựa chọn các hìnhthức phúc lợi nhà nước 10 Tất cả những thay đổi thái độ này đã báo trướcđiều không hay cho cái "chủ nghĩa xã hội" mà Đảng đang rao bán trong nềnkinh tế chính trị tư bản, trong đó giai cấp trung lưu chiếm tuyệt đại đa số.
Hàng năm Dòmei, như một tổ chức đóng góp gần 100 triệu yên choĐảng xã hội dân chủ (DSP) Thêm vào đó, mỗi thành viên Dòmei phải cóbổn phận đóng góp 200-300 yên vào quỹ bầu cử làm cho quỹ này đạt con
số khá lớn lên đến 500-600 triệu yên Suốt trong các chiến dịch bầu cử, cáctrụ sở Dòmei địa phương cũng đều được huy động phối hợp ủng hộ chiếndịch Nhiều công nhân do công đoàn vận động đã làm việc trong các ngàynghỉ lấy tiền ủng hộ các ứng cử viên Đảng xã hội dân chủ Một số công tycũng khuyến khích công nhân của mình tham gia vào các chiến dịch bầu cử
và ủng hộ về mặt tài chính, đặc biệt trong trường hợp khi các ứng cử viên
là người của công ty Từng công đoàn Dòmei cũng quyên góp tiền choĐảng Một số công đoàn đóng góp thường kỳ cho Đảng xã hội dân chủbằng cách làm sinh sôi, tăng số lượng thành viên ủng hộ, bằng cách cungcấp số lượng tiền hàng tháng Công nhân công đoàn ngành điện có 100.000người ủng hộ Đảng xã hội dân chủ, mỗi người đóng góp 5 yên hàng tháng,làm cho tổng số tiền đóng góp hàng tháng cho Đảng xã hội dân chủ lên đến500.000 yên11 Dômei ước tính trong các cuộc tổng bầu cử thì sự đóng gópgiúp đỡ trực tiếp về mặt tài chính của công đoàn cho Đảng xã hội dân chủkhoảng 500 đến 600 triệu yên
Quan hệ giữa Đảng xã hội dân chủ - Dômei là một vấn đề lý thú
Rõ ràng, là Đảng xã hội dân chủ không thể tồn tại được nếu như thiếu ủng
hộ về mặt tổ chức cũng như về mặt tài chính của Dòmei Mặt khác, lời kêugọi của Đảng xã hội dân chủ đối với các tầng lớp nhân dân ủng hộ mìnhcũng bị giới hạn bởi vì dường như họ đã phát hiện ra Đảng như là một
Trang 33Đảng chính trị của Dômei Về phương diện này nó chia sẻ nhiều vấn đềtương tự như đối với Đảng xã hội Nhật Bản (Sônyò) và Kômeito (SòkkiGakkai) Hạn chế về mặt tổ chức của Đảng xã hội dân chủ đối với nhóm ônhòa trong Dômei và các công đoàn lao động thuộc các khu vực tư nhân báotrước điều không hay đối với sự phát triển của Đảng sau này Năm 1980theo bản báo cáo của Bộ lao động về tình trạng lao động có tổ chức ở NhậtBản cũng đã vạch ra một trong những điểm yếu kém của Dômei Năm 1979
so với năm 1978, số phần trăm công nhân thuộc các công đoàn lao động đãgiảm sút 1% Đây là mô hình thích hợp cho sự suy giảm tỷ số phần trămcông nhân thuộc các công đoàn lao động ở Nhật Bản Nhưng tình hình cònnghiêm trọng hơn trong tương lai cho Đảng xã hội dân chủ là phần lớn sựsuy sụp lại bắt nguồn từ các khu vực kinh tế tư nhân nói chung và ở những
cơ sở kinh doanh lớn nói riêng Đó là những khu vực, những nơi tạo sứcmạnh cho Dômei Hiện nay, những người làm thuê thuộc khu vực nhànước, chiếm gần 11% lực lượng lao động thường xuyên ở Nhật Bản Trong
số 3,4 triệu công nhân khu vực kinh tế nhà nước, thì 87% là thành viên củaSohyo Thực ra, những công nhân thuộc khu vực kinh tế nhà nước chỉchiếm gần 2/3 tổng số thành viên của Sòhyò Sự thất bại của Dòmei địnhthâm nhập vào nhóm công nhân quan trọng này đã hạn chế rất lớn khả năngcủa Đảng xã hội dân chủ mở rộng sức cạnh tranh tiến hành các chiến dịchbầu cử ra khắp toàn quốc Trong phần nói về chiến lược vận động bầu cử,chúng tôi sẽ xem xét các mối quan hệ liên quan tới sự thất bại này tỷ mỉhơn
Dù sao chăng nữa, trong khi chờ đợi cũng thấy rõ điều là người tađang tìm cách tái hợp nhất lại phong trào lao động Sự cố gắng này có lẽtác dụng quan trọng cho phong trào lao động của Nhật Bản cũng như chocác mối quan hệ giữa những liên đoàn lao động kình địch, đối thủ và haiĐảng xã hội chủ chốt Vào ngày 23/9/1980 Domei và Sòhò cùng vớiChùritsuròren và Shinsanbetsu đã đồng ý "là lập trường của chúng ta là sẽ
cố gắng hợp nhất tất cả các tổ chức lao động, trước tiên là những công nhântiêu biểu và tiên tiến trong các Sector tư nhân và cả những công nhân như
Trang 34vậy trong các Sector nhà nước" Cũng trong tháng đó "hội đồng tư vấn đểxúc tiến mặt trận thống nhất lao động" cũng được thành lập Hội đồng gồm
6 thành viên bao gồm những người ủng hộ chủ chốt của cả Dòmei lẫnSòhyò và các Đảng của họ Tamura Yuzo giải thích tiến trình hợp nhất haiĐảng do Sòhyò có khả năng chấp nhận những vị trí chính trị ôn hòa củaĐảng dân chủ xã hội và Dòmei và cũng có lẽ là do mở đầu cải tổ lại mộtcách triệt để không những đối với các công đoàn lao động mà cả các Đảng
xã hội ở Nhật Bản nói chung 12 Năm 1985 Zenmin Kokyo (hội đồng tư vấncác công đoàn lao động tư nhân toàn quốc) cũng được thành lập có tácđộng tới việc tổ chức lại công đoàn lao động khu vực tư nhân này
Việc thành lập đảng trung tâmNhững công trình nghiên cứu của Alen Cole, Kobert Scalayino vàKarphiro Fukui đã phát hiện ra một số thông tin liên quan tới thực chất cơcấu tổ chức của Đảng xã hội Nhật Bản với Đảng JCP và IOP Tuy vậy, cácnhà nghiên cứu phương Tây của các Đảng phái chính trị Nhật Bản cũng íttiếp cận gần với thông tin về tổ chức bên trong của các Đảng mới thành lập
ôn hòa như Đảng xã hội dân chủ 13
Cũng như phần lớn các đảng xã hội dân chủ khắp nơi trên thế giới,đơn vị chủ chốt là chi nhánh Mỗi một chi nhánh có thể được hình thành dovài thành viên (chẳng hạn do năm Đảng viên) hoạt động như một mắt xíchthông tin, liên lạc giữa các giới lãnh đạo và các Đảng viên Cuối năm 1979Đảng xã hội dân chủ có khoảng 1,200 chi nhánh như vậy Hai chi nhánh cómột văn phòng, hoạt động như một trụ sở hành chính để ủng hộ Đảng Cácchi nhánh cũng có thể được thành lập theo vùng địa lý hoặc theo nghề nghiệp
Năm 1981 Đảng xã hội dân chủ có 5 vạn Đảng viên Mặc dù sốlượng Đảng viên thường lao động, lên xuống trong suốt hai thập kỷ qua,nhưng khoảng 3 vạn Đảng viên hợp thành "hạt nhân" cơ sở Đảng Nhữngngười lãnh đạo Đảng cho rằng 300.000 Đảng viên với số nòng cốt chiếmkhoảng 30% đã là rất lý tưởng rồi Nhưng nguyện vọng như vậy không dễ
gì đạt được trong thời gian trước mắt
Trang 35Các nhà lãnh đạo Đảng đã giải thích về sự tăng trưởng số lượngĐảng viên của Đảng xã hội dân chủ bằng bốn nguyên nhân sau Thứ nhất,
họ nhận thấy rằng sự ganh đua của họ với các Đảng đối lập đang giảm đidưới con mắt của quần chúng nhân dân và Đảng xã hội Dân chủ đã giànhđược thắng lợi trong các cuộc bầu cử, đó là những lợi thế do có những thayđổi như vậy Thứ hai, họ cho rằng tình trạng khủng hoảng dầu lửa đã làmtăng nhận thức chính trị của những người công nhân và khuyến khích họ ranhập vào các phái ôn hòa, có ảnh hưởng lớn Thứ ba, Đảng xã hội dân chủ
là người đỡ đầu, người ủng hộ chính, do vậy Dòmei những năm gần đâyphát triển các ý định động viên, khuyến khích các Đảng viên Đảng xã hộidân chủ Cuối cùng, Đảng xã hội dân chủ đã tăng cường, phát triển cácchương trình giáo dục trong nội bộ Đảng cũng như cố gắng tuyển lựa đảngviên nhằm vào những nhóm đã định sẵn, chẳng hạn như tầng lớp thanh niên
Theo sự phân bố đảng viên của Đảng xã hội dân chủ về mặt địa lýthì Đảng là tấm gương lớn phản chiếu các mô hình số lượng thành viên củaDòmei ở đâu có sự tồn tại, tập trung đông Dòmei - liên hiệp với các côngđoàn lao động, thì ở đó sẽ có sự cố gắng, hoạt động tích cực của Đảng xãhội dân chủ về mặt tổ chức Cuối cùng, là những tỉnh số lượng đảng viênĐảng xã hội dân chủ rất mạnh ở Tokyo, Osaka, Aichi, Kanagawa vàHyogo Trái lại, Đảng rất là yếu ở vùng nông thôn như các tỉnh Tohoku,Shikoku, Sanin (Shamine và Tottori) và Hokuriku Những cố gắng đã làmnhằm xâm nhập vào các vùng nông nghiệp trên và cả những vùng nôngthôn khác nhưng ít có hiệu quả Hiện tượng lạ là hiện nay gần 80% nôngdân là "những người làm công ở hai nơi" (ở các trang trại và trong các nhàmáy, xí nghiệp) thì cổ vũ động viên giới lãnh đạo Đảng xã hội dân chủ,nhưng những cử tri vùng nông nghiệp vì các mối quan hệ nông thôn mà xét
về mặt lịch sử gắn bó với Đảng LDP khăng khít hơn so với những ngườiđược coi là công nhân trong nông nghiệp
Ngoài sự ủng hộ của Dòmei Đảng xã hội dân chủ còn có sự ủng hộ
to lớn từ phía các tổ chức tôn giáo 14 Như nhóm Sekai-Kyusei-Kyo (WorldSalvation - hội truyền giáo cơ đốc) tuyên bố có gần 80.000 con chiên, ủng
Trang 36hộ các ứng cử viên của Đảng xã hội dân chủ Năm tổ chức tôn giáo kháctổng cộng có gần 14 triệu tín đồ thường xuyên ủng hộ các ứng cử viên củahai Đảng xã hội dân chủ và Đảng LDP Những tổ chức khác ủng hộ Đảng
xã hội dân chủ gồm có công đoàn công nhân luyện thép của Sôkyò, côngđoàn công nhân độc lập ngành điện, công đoàn các điền trang nhỏ, cả 5.000thành viên của tổ chức phụ nữ xã hội dân chủ (DS) và các đảng viên xã hộidân chủ trung lập (DS Medium) và hiệp hội các công ty nhỏ với 35.000thành viên
Đảng xã hội dân chủ có những tổ chức chính thức trong 80 trong số
130 quận huyện bầu cử ủng hộ các ứng cử viên vào hạ viện và điều hànhcác tổ chức Đảng ở cấp độ thấp các chi nhánh trong các thành phố Trong
47 tỉnh cũng có các liên đoàn thường ủng hộ các chiến dịch bầu cử vàonghị viện, tìm kiếm những ứng cử viên tương lai và các cuộc bầu cử vàocác hội đồng địa phương Các trụ sở, văn phòng các tỉnh đồng thời cũng làcác trụ sở, văn phòng của những người đang giữ những chức vụ của Đảng
xã hội dân chủ - và là thành viên của nghị viện
Mỗi năm Đảng tiến hành hội nghị toàn quốc 1 lần Các đại biểuđược lựa chọn theo tiêu chuẩn 1%, tổng số đảng viên gần 460 đại biểu năm
1980 Những tiêu chí để trở thành đại biểu rất đơn giản: Đóng đảng phítrung bình hàng tháng 1.000 yên (300 yên cho các cơ quan trung ương màĐảng và 700 yên cho các cấp thấp hơn) Các đại biểu này do các ủy banđiều hành từng tỉnh lựa chọn Các hội nghị toàn quốc thường được triệu tậpvào tháng hai, việc tính toán thời gian có thể còn phụ thuộc vào tình hìnhchính trị Ví dụ, Đại hội Đảng năm 1980 được triệu tập vào tháng tư vì phảivạch ra dự án cho việc bầu Thượng nghị viện vào tháng sáu Những quyếtđịnh đã được hội nghị toàn thể thông qua về từng vấn đề như: đường lốihành động của Đảng, ngân sách, danh sách ứng cử viên bầu vào nghị viện.Những hội nghị của Đảng xã hội dân chủ thường là tốt đẹp, trong đó nhữngquyết định của giới lãnh đạo được nhất trí thông qua
Cơ cấu tổ chức của Đảng xã hội dân chủ không phức tạp, rắc rối.Bốn nhân vật chóp bu của Đảng do hội nghị toàn Đảng bầu ra đó là: Chủ
Trang 37tịch, hai phó chủ tịch và tổng thư ký ủy ban chấp hành gồm 27 thành viên(không tính bốn nhân vật trên) được bầu thời hạn 2 năm Tổng thư ký điềuhành cả hai: ban thư ký và trụ sở của Đảng ở Tokyo gồm khoảng 25 người.
Đảng xã hội dân chủ có 1 tờ tuần báo Shukan Kinsha, và 1 tờ tạp chí ra hàng tháng Kakushin (có nghĩa là "tiến bộ") với tổng số phát hành 130.000
và 20.000 mỗi loại
ủy ban chấp hành hàng tháng họp lại với nhau, quyết định nhữngcông việc quan trọng của Đảng Đó cũng là trách nhiệm phải thực hiệnnhững quyết định đã được hội nghị toàn Đảng thông qua và đưa ra những
kế hoạch hành động Một nấc thấp hơn ủy ban chấp hành là ủy ban Trungương gần 170 thành viên, thường trực hiện chức năng cố vấn và khôngquan trọng bằng ủy ban chấp hành
Điều lý thú nhận thấy là giới lãnh đạo Đảng xã hội dân chủ đã côngnhân không có bằng chứng gì về bất đồng trong nội bộ Đảng trước năm
1965 hoặc giống như bè phái kiểu Đảng LDP trong Đảng Một quan chứccủa Đảng xã hội Dân chủ nhận xét mỉa mai "Chúng ta là một Đảng quánhỏ lại có quá nhiều phe phái" Nhưng Đảng xã hội dân chủ đạt tới mức độtối đa có 1 ứng cử viên cho một hội đồng cấp quận, huyện, ít có cơ hội choloại hình của chủ nghĩa bè phái trong nội bộ Đảng nảy sinh như trong ĐảngLDP Trước năm 1985, dù sao chăng nữa chủ nghĩa bè phái cũng chỉ xoayquanh vấn đề lựa chọn đường lối chính sách của hai phe phái, cơ sở ủng hộchủ chốt của Đảng đó là Dòmei và các nhà kinh doanh nhỏ đều có xuhướng ủng hộ những người lãnh đạo Đảng hoặc của phe này, hoặc của phekia Vào đầu những năm 1980, cựu chủ tịch Đảng xã hội dân chủ SasakiRyosaku được xem như người thiên về ủng hộ các công đoàn, trong khi đóthì bậc tiền bối của ông ta trước đó cũng từng là chủ tịch Đảng xã hội dânchủ la Kasuga Ikko lại là người của phe phái những nhà doanh nghiệp bảothủ Các thành viên nghị viện thuộc Đảng xã hội dân chủ đều là hoặc cácthành viên công đoàn lao động hoặc là các nhà chính trị gia chuyên nghiệp,tất cả họ đều có quan hệ với các nhà doanh nghiệp bảo thủ và các hiệp đoàntôn giáo Một trong kết quả của những định hướng khác nhau này có thể
Trang 38thấy rõ trong việc thực hiện các đường lối chính sách suốt những năm qua.Những đảng viên của Đảng ở thượng nghị viện ủng hộ các công đoàn trongcác chính sách của mình thiên về khuynh hướng dân chủ xã hội nhiều hơn,trong khi đó các nhà chính trị gia chuyên nghiệp lại thiên về khuynh hướngrất bảo thủ.
Giới lãnh đạo Đảng xã hội dân chủ chỉ thâu tóm được nhóm nhỏtrong suốt hơn hai mươi năm trời kể từ khi thành lập, chủ tịch Đảng đầutiên Nishio Suehiro là biểu tượng của Đảng suốt bảy năm trời với tư cách lànhà lãnh đạo Đảng từ năm 1960 đến năm 1967, ông ta đến với Đảng với tưcách là người lãnh đạo công đoàn thương nghiệp và là thượng nghị sĩ giaiđoạn trước chiến tranh và cũng đã từng là tổng thư ký của nội cácKatayama, là phó thủ tướng của nội các Ashida cuối những năm 1940.Được xem như kẻ thù của những người mác-xít trong Đảng xã hội NhậtBản, ông ta đã trở thành mục tiêu số một trong cuộc đấu tranh với phe cánhhữu, là người đáng tin cậy quyết định những vấn đề dẫn đến việc thành lậpĐảng xã hội dân chủ Nishio đã mang lại cho Đảng mới nền tảng cơ sở sứcmạnh quyền lực tập trung ở thành phố Osaka 15 Sau khi ông ta về hưu, rờikhỏi chiến trường nghị viện, tháng 12/1972 Đảng xã hội dân chủ đã mất đisáu ghế ở Hội đồng chính quyền tỉnh Osaka trong cuộc bầu cử toàn quốc
Người kế tục của Kishio, là Nishimura Eichi, nguyên là người điềuhành công ty bảo hiểm, chỉ đảm đương chức vụ được 4 năm và chết năm
1971 Kasuga Ikko,là nhà văn, là người lãnh đạo Đảng là chủ tịch Đảngthời gian dài, được bầu vào chức vụ này năm 1971 cho đến khi ông ta độtngột xin từ chức vào tháng 11/1977 Khi đó, Đảng phải triệu tập hội nghịbất thường vào ngày 28/11/1977 tổng thư ký của Đảng là Sasaki Ryosakuđược bầu làm chủ tịch Sasaki vốn là tổng thư ký, là người của công đoàncông nhân ngành điện, đã từng giữ nhiều chức vụ cao trong giới lãnh đạoĐảng xã hội dân chủ Kasuga được trao tặng chức "cố vấn thường trực",qua vị trí này ông ta tiếp tục sử dụng quyền lực rất lớn thông qua người đạidiện của mình là Sasaki
Trang 39Kasuga thờng được báo chí Nhật Bản đề cập đến như là người cónhững mối quan hệ chặt chẽ với một số bè phái chính của Đảng LDP, đặcbiệt với những nhân vật Tanaka Kakuei và Fukuda Takeo, cả hai đều là cựuthủ tướng chính phủ trước đây Ông ta cũng còn được xem là người có cácmối quan hệ gắn bó với giới lãnh đạo Kêmeito Đặc biệt có quan điểm đốilập, cứng rắn với Đảng xã hội Nhật Bản và giới lãnh đạo Đảng này Kasuga
là thành viên nghị viện, đã làm nguôi đi câu chuyện về sự tàn bạo thời kỳtrước chiến tranh của chủ tịch Đảng xã hội Nhật Bản Miyamoto Kenji.Nhiều điểm chống chủ nghĩa cộng sản của Kasuga có thể nhận biết đượcqua một số các nhà lãnh đạo khác của Đảng Trong suốt quá trình kiểmphiếu vào năm 1980 của "cuộc bầu cử hai vòng", báo chí đã đăng bìnhluận, nhận xét rằng những người lãnh đạo Đảng xã hội dân chủ thườngquan tâm nhiều đến sự thất bại của các ứng cử viên Đảng xã hội Nhật Bảnhơn là số phận các ứng cử viên của Đảng mình 16
Khi đến nhiệm kỳ thứ tư (tám năm), chủ tịch Đảng xã hội dân chủSasaki đã quyết định từ chức vào đầu năm 1985 thì các thành viên nghịviện đứng trung gian đã gây sức ép phải cải tổ giới lãnh đạo Đảng Sasakibiểu lộ ý định là ông ta lại muốn ra lãnh đạo Đảng ở nhiệm kỳ thứ nămtrong cuộc họp Đảng ở một khách sạn Tokyo ngày 25 tháng 1, nhưng lờituyên bố của ông ta gặp phải sự phản đối của phái đối lập, trái lại chỉ muốnnghe mục đích, ý nghĩa dẫn đến việc từ chức của ông ta
Một trong số các nguyên nhân chủ yếu để tấn công Sasaki là mộtphần không thành công trong cái goị là "việc làm táo bạo của Kikaido" vàomùa thu năm 1984 Những thành viên nghị viện của Đảng xã hội dân chủcũng cảm thấy rằng ông ta có thể tư vấn cho họ về kế hoạch có lẽ "đã bịTakeiri chủ tịch Kômeito lợi dụng" Sasaki, hiển nhiên có tham vọng lãnhđạo Đảng xã hội dân chủ trong chính phủ liên hiệp và ý định của ông tamuốn nắm chắc lấy giới lãnh đạo Đảng, làm cho phù hợp hoài bão mà ông
ta chưa thực hiện được Cũng có những lời đồn đại, là cuộc tổng bầu cửtiếp theo sẽ là chiến dịch vận động bầu cử cuối cùng của Sasaki Nếu đúngnhư vậy, thì giai đoạn 1985-1986 phải được xem như "tiếng hoan hô cuối
Trang 40cùng" của ông ta Một sự việc rắc rối cho Sasaki là khu vực bầu cử cho ông
ta, Hyogo Fifth đã được đánh dấu bằng sự giảm sút số ghế vào nghị viện từ
3 xuống 2 nếu như Đảng LDP phục hồi kế hoạch "Cộng 6-trừ 6) có kết quả.Mặc dầu có sự việc, là Sasaki có khả năng đứng đầu trong khu vực cử trivào cuộc bầu cử năm 1983, nhưng tổng số phiếu cho ông ta cũng đã giảm11,3% Và vị trí thứ hai và thứ 3 đều thuộc về ứng cử viên của Đảng LDP,đều ít hơn ông ta 7.000 phiếu Những quan sát viên có kinh nghiệm đềucho rằng nếu như Sasaki quyết định lại một lần nữa chạy đua trong khu vựcbầu cử nếu như ông ta không có chức chủ tịch Đảng đầy quyền lực, thì ông
ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn để giữ vững lấy cái ghế của ông ta Kasugachuyển sang bắt ép Sasaki phải rời khỏi chức chủ tịch Đảng như là sự trảgiá phần nào cho sự thất bại của Sasaki đã cố vấn cho Kasuga về lời camkết của ông ta thay mặt Đảng xã hội Dân chủ đối với kế hoạch Kikaido
Sau khi điều ngày càng rõ là Sasai không thể giữ vững được chức
vụ của mình, ông ta nhanh chóng xếp đặt hai trong số người tạm thay thếvào hai chức vụ chủ chốt của Đảng Để tỏ lòng biết ơn "ông chủ" của Đảng
xã hội dân chủ, vốn là cựu chủ tịch Đảng và hiện là cố vấn thường trựcKasuga và Sasaki đều tán thành đề cử danh sánh ứng cử chủ tịch làTsukamoto Saburo, phó chủ tịch Nagasue Kichi và tổng thư ký OuchiKeigo Nagasure, mặc dù ở độ tuổi quá 67 trở thành người phát ngôn củanhững thành viên nghị viện chống đối đã đứng tuổi trong cuộc chiến vớicái gọi là nhóm người già Nhóm những người nhiều tuổi bao gồm cảKasuga, Sasaki và hai phó chủ tịch Đảng là Kodaira Ladasm và KanamuraMaseo Lsumanaco là phụ tá thân cận của Kasuga trong Đảng xã hội dânchủ vì Ouchi cũng liên minh chặt chẽ với Kasuga Những lời phê bình, chỉtrích của Kasuga tạo cơ hội cho ông ta được bầu làm nguời lãnh đạo đảng
và những người lãnh đạo khác của đảng rõ ràng dưới quyền ông ta và có ýđịnh là nếu như cơ may liên minh lại với nhau xuất hiện trong hai năm tớithì Kasuga sẽ chuyển
hướng của ông ta và điều kiện lãnh đạo nó trong chínhphủ