Chương VII Giai cấp công nhân hiện đại, phong trào cộng sản và công nhân trào lưu xã hội dân chủ ở các nước tư bản phát triển I Giai cấp công nhân hiện đại 1 Sự hình thành đặc trưng giai cấp công nhân[.]
Trang 1Chương VII
Giai cấp công nhân hiện đại, phong trào cộng sản và công nhân trào lưu
xã hội dân chủ ở các nước tư bản phát triển
I Giai cấp công nhân hiện đại
1 Sự hình thành đặc trưng giai cấp công nhân hiện đại
Sự phân công lao động và phân hóa xã hội bắt nguồn từ sự pháttriển của lực lượng sản xuất, trong đó công cụ lao động giữ vai trò đặc biệtquan trọng Mác đã viết: "Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luônluôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệsản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội"(1) Nghiêncứu giai cấp công nhân hiện đại không thể không xem xét sự vận độngchung của lịch sử nhân loại trong thế kỷ XX, nhất là giai đoạn từ giữa thế
kỷ đến nay mà một trong những đặc trưng lớn của thời kỳ này là sự xuấthiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Chính cuộc cáchmạng này đã làm biến đổi sâu sắc và toàn diện các giai tầng, xã hội, trong
đó có giai cấp công nhân
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã làm tăng năngsuất lao động lên một cách đột biến, đồng thời đã làm thay đổi quan trọng
về phương thức lao động và vị thế của người công nhân
ở các nước tư bản phát triển (TBPT), cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại đã làm biến đổi toàn diện và sâu sắc đời sống nhân dân
lao động nói chung và giai cấp công nhân nói riêng Những thay đổi này trước hết là những biến đổi cơ cấu ngành nghề, phân công lao động và quan hệ giai, tầng xã hội Bộ phận lao động ở các ngành nghề truyền thống
(nông, lâm, ngư, công nghiệp khai thác, chế biến, xây dựng ) có xu hướnggiảm đi nhanh chóng Bộ phận lao động trong các ngành nghề mới (nhưthông tin, công nghệ cao, dịch vụ ) phát triển đột biến Trong khuôn khổ
của CNTB, đã diễn ra những điều chỉnh quan trọng về sở hữu, quản lý và
Trang 2phân phối ở các nước TBPT đã xuất hiện giai cấp công nhân hiện đại Tuy
về cơ bản họ vẫn là người làm thuê, nhưng có đời sống khá, trình độ khoa học
và nghiệp vụ cao, phần lớn có trình độ đại học và cao đẳng Bộ phận côngnhân có trình độ trên đại học, khác với tầng lớp trí thức ở chỗ, họ là nhữngngười trực tiếp gắn với quá trình sản xuất và dịch vụ, còn giới trí thức hoạtđộng chủ yếu là nghiên cứu khoa học Giai cấp công nhân hiện đại có vị trí xãhội tương đối cao so với giai cấp công nhân truyền thống Giới nghiên cứumácxít ở các nước TBPT gọi họ là công nhân "cổ trắng", có người gọi họ làtầng lớp trung lưu (vì họ chiếm đa số trong tầng lớp này)
Tuy nhiên, nếu xét trên quy mô toàn thế giới thì phần lớn các quốc
gia trên thế giới hiện tại vẫn đang ở trong quá trình công nghiệp hóa - trừ
một số nước tư bản phát triển G7 hoặc rộng hơn, các nước OECD (tổ chứchợp tác và phát triển kinh tế), là những nước đã hoặc đang chuyển sang giai
đoạn "hậu công nghiệp" Cùng với quá trình công nghiệp hóa, số lượng công nhân vẫn đang tăng lên một cách tuyệt đối.
Theo công trình: "Nghiên cứu chủ nghĩa đế quốc"(2): Sự phát triển
về số lượng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1: Sự phát triển về số lượng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới
với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, giai cấp công nhân
đang "biến mất", hoặc khi xem xét phong trào công nhân, xem xét tính chất của giai cấp công nhân nói chung chỉ dựa trên bộ phận công nhân ở các nước TBPT, bỏ qua công nhân ở các khu vực khác là một sai lầm nghiêm trọng.
Trang 3Những đặc trưng của giai cấp công nhân hiện đại được hình thànhmột mặt do những điều kiện khách quan của nền kinh tế TBCN, trong đótác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại giữ vị tríquan trọng đặc biệt, mặt khác do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và
sự điều chỉnh của giai cấp tư sản, bao gồm cả chính phủ và các đảng chínhtrị cầm quyền
ở các nước tư bản phát triển nhất, tỷ lệ lao động và tỷ lệ giá trị trongcác ngành ở nhóm I (bao gồm nông, lâm nghiệp) và nhóm II (bao gồm khaithác, chế tạo, xây dựng) theo diễn biến của thời gian suy giảm mạnh vànhóm III (lao động dịch vụ) tăng lên nhanh chóng
Như vậy, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi
cơ cấu kinh tế, đến lượt nó, sự thay đổi cơ cấu kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi cơ cấu lao động - xã hội nói chung và cơ cấu giai cấp công nhân nói riêng Sự thay đổi này đã diễn ra từ giữa thế kỷ XX, đặc biệt là từ những
năm 70 đến nay
ở các nước tư bản phát triển, trình độ văn hóa, khoa học, chuyênmôn nghề nghiệp của quảng đại quần chúng lao động nói chung và của giaicấp công nhân nói riêng đã nâng cao rõ rệt
Theo số liệu năm 1992, lực lượng lao động của Mỹ có 106,5 triệu người Lần đầu tiên ở Mỹ, năm 1992 hơn một nửa lực lượng lao động
(53,5%) hiện đang làm việc có trình độ cao đẳng và đại học trở lên Lực lượng lao động có trình độ văn hóa chưa hết trung học giảm xuống còn 11,9% tức là gần 1/8 số người đang làm việc(3)
Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và chuyên môn của lực lượnglao động nói chung và giai cấp công nhân nói riêng ở Nhật Bản và một sốnước OECD cũng gần tương đương với Mỹ Nếu Mỹ có khoảng gần 80%dân cư có trình độ văn hóa tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên thì tỷ lệnày ở nhiều nước OECD vào khoảng 75% Tỷ lệ người có trình độ caođẳng trở lên, theo số liệu năm 1989, đứng đầu là Mỹ: 35% dân cư, sau đó là
Trang 4Niu Di-lân (32%), úc (31%), Canada (30%), Thụy Sĩ (30%), Nhật, ThụyĐiển (khoảng 25%)(4) Tỷ lệ sinh viên đại học trên 1000 dân của các nướcnày năm 1987 cũng xấp xỉ như nhau: Mỹ - 29,3, Đan Mạch: 28,2, Bỉ: 25,3,CHLB Đức: 25, Pháp: 24,4, Tây Ban Nha: 23,5, Hà Lan: 23,4, Nhật: 21,4 (5) Số lượng các nhà khoa học, kỹ sư tính trên triệu dân của các nước tư bản phát triển cũng lớn hơn nhiều lần so với các nước khác ở khu vực Theo
P.Kenơdi, tỷ lệ này cao nhất là ở Nhật Bản: 3.548, sau đó là ở Mỹ: 2.685,châu Âu: 1.632, châu Mỹ la-tinh: 209, các nước ảrập: 202, các nước châu á(trừ Nhật Bản): 99, châu Phi: 53(6)
Cùng với việc nâng cao đáng kể trình độ văn hóa của đại đa số côngnhân, tỷ lệ công nhân có trình độ kỹ thuật chuyên môn lành nghề cao cũng
tăng lên mạnh mẽ ở phần lớn các nước TBPT tỷ lệ loại công nhân này chiếm khoảng 50% Đối với những công nhân kỹ thuật chuyên môn lành nghề cao,
lao động của họ chủ yếu là lao động sáng tạo, lao động trí tuệ Trình độ vănhóa, chuyên môn và tỷ lệ lao động trí óc cao là những yếu tố liên quan chặtchẽ với nhau Không phải ngẫu nhiên cả ba yếu tố này đều bằng xấp xỉ
50% ở các nước TBPT Trình độ văn hóa thấp, lao động không lành nghề, lao động giản đơn ngày càng bị thu hẹp và chiếm một tỷ lệ ngày càng nhỏ
bé trong các nước tư bản Theo P.Drucker, ở Mỹ lao động chân tay giảm từ 50% năm 1950 xuống có 20% năm 1990 và đến năm 2000 chỉ còn ít hơn 10%(7) Tỷ lệ công nhân "cổ trắng" ngày càng tăng nhanh và chiếm ưu thế về
số lượng so với tỷ lệ công nhân "cổ xanh"
Năm 1956, lần đầu tiên trên thế giới, ở Mỹ số lượng công nhân "cổ trắng" đã vượt số công nhân "cổ xanh" Năm 1980 tỷ lệ này là 50/32 Đến
1990 ở Mỹ có 35,5 triệu công nhân "cổ trắng" và 27,8 triệu công nhân "cổ xanh" Trong khoảng thời gian từ 1962 đến 1986 tỷ lệ công nhân "cổ xanh"
của Tây Đức giảm từ 67% xuống còn 47% Cùng thời kỳ này số lượngcông nhân "cổ trắng" ở Pháp cũng tăng lên 2 lần
Như vậy có thể nói: từ những năm 80 của thế kỷ XX, ở các nướcTBPT, công nhân hiện đại đã chiếm tỷ lệ vượt trội so với công nhân truyền
Trang 5thống Đây là một trong những biến đổi lớn nhất của giai cấp công nhân thếgiới trong thế kỷ XX Những biến đổi này đã đặt ra những vấn đề lý luận
và thực tiễn cho phong trào cộng sản và công nhân ở các nước TBPT nóiriêng và phong trào cộng sản và công nhân thế giới nói chung
Điều kiện sống và làm việc của giai cấp công nhân ở các nước tưbản phát triển đã được cải thiện đáng kể
Nhờ có năng suất lao động cao do sử dụng các thành tựu khoa học
công nghệ mới, nhờ bóc lột các nước đang phát triển và lạc hậu, mức sống chung của xã hội được nâng cao rõ rệt ở nhóm các nước tư bản phát triển
(G7 và những nước khác trong OECD)
Theo J.Naisbit: tổng sản phẩm xã hội của thế giới trong 20 năm từ
1970 đến năm 1990 tăng lên hai lần Nhưng thu nhập bình quân đầu người
ở các nước tư bản phát triển còn nhanh hơn nhiều
Mặc dù quan niệm về các tiêu chí phân loại giai tầng xã hội cònkhác nhau, song nhìn chung các tài liệu nghiên cứu về các giai tầng trong
các nước TBPT đều thống nhất ở nhận định đã ra đời và phát triển một bộ phận những người lao động có mức sống khá, gọi là "tầng lớp trung lưu mới" Bộ phận này hầu hết là công nhân "cổ trắng", những người làm dịch
vụ và viên chức nhà nước.
Mức sống của giai tầng trung lưu nói chung và công nhân cổ trắng
có thể nhận thấy qua các phương tiện sinh hoạt của họ bao gồm: có nhàriêng, ô tô, các phương tiện nghe nhìn và sinh hoạt khác
Tầng lớp này ở Mỹ chiếm khoảng từ 60% đến 70% lao động; ởNhật chiếm khoảng 60% ở Anh, Pháp, Đức cũng ở mức tương tự
Về chính sách kinh tế ở các nước TBPT, sau thời kỳ thực hiện
chính sách đề cao vai trò của nhà nước dựa trên học thuyết Kên-xơ, từnhững năm 70 đến nay đã dấy lên làn sóng tư nhân hóa (ở Anh gọi là "Chủnghĩa Thát chơ", ở Mỹ gọi là "Chính sách kinh tế Ri-gân") Chính sách này
Trang 6đã thúc đẩy sở hữu cổ phần và thu hút công nhân tham gia "hệ thống tham dự" rất đa dạng.
ở Anh, số công nhân có cổ phần trong 10 năm (1979 - 1989) đãtăng từ 7% lên 20% với 8 triệu người
ở Mỹ, từ 1974 đến 1989 có tới 30 triệu người mua cổ phiếu Chođến 1997 có tới 40% dân cư Mỹ bao gồm cả công nhân có sở hữu dướidạng cổ phiếu Tuy nhiên giá trị của các cổ phiếu của người lao độngkhông đáng kể Ví dụ ở Mỹ, giá trị cổ phiếu (khoảng 70% đến 80% công
nhân mua chỉ chiếm 1% tổng giá trị cổ phiếu mà thôi Như vậy, trong hệ thống tham dự về thực chất các nhà tư bản vẫn là chủ sở hữu, là giai cấp bóc lột, giai cấp công nhân vẫn là người làm thuê, người bị bóc lột Tuy nhiên, sự thay đổi về sở hữu này đã đem lại một sự chuyển biến trong nhận thức và tâm lý của người công nhân Đó là tâm lý của người đã có ít nhiều địa vị của người làm chủ chứ không phải hoàn toàn là người làm thuê.
ở tất cả các nước TBPT nói chung, tuy mỗi nước đầu tư cho chínhsách xã hội có khác nhau, nhưng nói chung đều có một hệ thống chính sáchbảo trợ xã hội khá cao trong lĩnh vực giáo dục, y tế, trợ giúp người già, cô
đơn, thất nghiệp Hầu hết các nước này đều thực hiện quyền được hưởng giáo dục miễn phí cho tất cả mọi người đến hết trung học (đó là chưa kể
một số nước Bắc Âu còn trợ giúp sách vở, phương tiện đi lại - có nơi cònphụ cấp bữa ăn trưa cho học sinh)
Từ những năm 70, đã xuất hiện khái niệm "nhà nước phúc lợi" (The Welfare State), "nhà nước thịnh vượng chung" ở các nước TBPT,nếu như vào những năm 30, ngân sách dành cho bảo trợ xã hội ở các nướcTBPT chỉ khoảng 10% tổng chi thì đến những năm 70, 80, tỷ lệ đó lên đến40%, 50% (8) Nhà nước tư bản đã thông qua nhiều đạo luật về bảo trợ xãhội, bảo trợ thất nghiệp, mức lương tối thiểu , đồng thời đưa ra nhiềuchương trình trợ cấp về lương thực, thực phẩm, nhà ở, dạy nghề, đào tạo vàđào tạo lại
Trang 7Về quản lý Thay cho phương pháp Tay-lo (Taylor) CNTB hiện đại
sử dụng phương pháp Pho (Ford) và "hậu Pho" Phương pháp này, một mặtvẫn sử dụng một phần phương pháp Tay-lo, song được mở rộng trên phạm
vi xã hội Đặc trưng của phương pháp này là: - thứ nhất tách quyền sở hữu
với quyền quản lý, ở các nước tư bản phát triển đã hình thành một tầng lớp
quản lý (giám đốc) làm thuê, trực tiếp điều hành sản xuất, kinh doanh; thứ hai, tiền lương được nâng cao (một cách tương đối) với năng suất lao động; thứ ba, thực hiện hợp đồng tập thể (là chủ yếu) giữa giới chủ với công
nhân, mà đại diện là công đoàn
Do nhiều nguyên nhân, tổ chức công đoàn và vai trò của công đoàn
ở các nước tư bản phát triển đã có sự thay đổi quan trọng Công đoànkhông còn là tổ chức chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và người lao
động, mà dường như nằm trong hệ thống chính trị của chủ nghĩa tư bản hiện đại, đóng vai trò hòa giải, cân bằng lợi ích giữa giới chủ với người lao động, nhằm ổn định sản xuất kinh doanh Điều này được thể hiện khá
rõ ở các nước tư bản phát triển như Cộng hòa Liên bang Đức (nền kinh tế
được gọi là "kinh tế thị trường xã hội"); ở Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (được gọi là "nhà nước phúc lợi") và các nước Bắc Âu (được gọi là "kinh tế thị trường thương lượng").
Các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations - TNC)giữ một vị trí quan trọng trong sự thay đổi phương thức quản lý kinh tế -nhất là về mặt kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản hiện đại, đồng thời là mộtnhân tố thúc đẩy sự biến đổi nhanh chóng giai cấp công nhân hiện đại
2 Những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân hiện đại
Những thay đổi về sở hữu, quản lý, phân phối cùng với những cảicách về chính trị ở các nước tư bản phát triển dưới tác động của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại đã dẫn tới những thay đổi sâu sắctrong cơ cấu giai cấp công nhân ở các nước TBPT ở những nước này phânhóa thành ba bộ phận: Bộ phận công nhân hiện đại; bộ phận công nhân
Trang 8nghèo khổ (Working class); bộ phận công nhân vô gia cư (Home less) Nétnổi bật trong sự phân hóa này là việc hình thành giai cấp công nhân hiện đại
Về mặt lịch sử, nếu như giai cấp công nhân truyền thống, công nhân
đứng máy, trong các xí nghiệp công nghiệp (Factory Workers) là "thànhquả" của cuộc cách mạng công nghiệp(9), thì giai cấp công nhân hiện đại làsản phẩm của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại(10) Họ ra đời
và tồn tại trong các xã hội "hậu công nghiệp", trong CNTB hiện đại
Khác với giai cấp công nhân truyền thống, ra đời từ nông dân, từtầng lớp tiểu chủ phá sản tóm lại, từ quá trình bần cùng hóa người lao
động trong xã hội phong kiến, tiền tư bản thì giai cấp công nhân hiện đại
là sản phẩm của phương thức sản xuất TBCN đã được điều chỉnh, đồng thời là "thành quả" của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, là sản phẩm trực tiếp của chính sách giáo dục, đào tạo và chính sách bảo trợ
xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa Phần lớn họ được học tập miễn phí
ở nhà trường phổ thông và được nhà nước cho vay khi học ở bậc đại họchoặc ở các trường dạy nghề
Về mặt kinh tế, xã hội, nếu như giai cấp công nhân truyền thống là
giai cấp vô sản theo đúng nghĩa đen của từ đó, là những người làm thuê,
nghèo khổ thì giai cấp công nhân hiện đại có mức sống trung lưu, đủ tiện
nghi Họ chiếm khoảng 60% trong tầng lớp trung lưu mới (Middle classes)phần lớn họ có cổ phần nhỏ hoặc sở hữu chứng khoán có giá Ngoài nhucầu vật chất, giai cấp công nhân hiện đại còn có nhu cầu văn hóa, thể dục,thể thao và các nhu cầu chính trị, tinh thần đa dạng như dân chủ, nhân quyền,hòa bình, môi trường
Tuy nhiên, giai cấp công nhân hiện đại vẫn là người làm thuê, bị bóc lột giá trị thặng dư tương đối một cách nặng nề.
Về trình độ văn hóa, nghề nghiệp, giai cấp công nhân hiện đại là
lớp người được học tập văn hóa và qua đào tạo nghề nghiệp do đòi hỏi của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, phần lớn họ là những người có
Trang 9trình độ văn hóa từ trung học trở lên và đã qua đào tạo nghề nghiệp ở bậc cao đẳng, một bộ phận có trình độ đại học và trên đại học Bộ phận có trình
độ phân biệt với tầng lớp trí thức ở phương thức lao động Trí thức hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu độc lập, công nhân hiện đại hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và các hoạt động dịch vụ trực tiếp Giai cấp công nhân
hiện đại được xã hội tôn trọng và thừa nhận như là một tầng lớp có đầy đủ
nhân cách Bản thân họ không mặc cảm, tự ty về địa vị xã hội của mình Cùng với tầng lớp trí thức, giai cấp công nhân hiện đại là một bộ phận hữu cơ cấu
thành lực lượng sản xuất tiên tiến và là lực lượng sản xuất chủ yếu ở các nước
tư bản phát triển
Về mặt chính trị, quan điểm cho rằng, với mức sống trung lưu, giai
cấp công nhân hiện đại dường như đã thỏa mãn về địa vị xã hội, không còn
ý thức chính trị nữa là không đúng Hiện nay giai cấp công nhân hiện đại vẫn là lực lượng chính trị, xã hội chủ yếu trong các cuộc đấu tranh với giai cấp thống trị ở các nước tư bản phát triển, vì các mục tiêu dân sinh, dân chủ, hòa bình, môi trường, chống toàn cầu hóa, chống tư bản bóc lột các nước lạc hậu, chống tư nhân hóa, chống phân biệt chủng tộc, chống sự phục hồi chủ nghĩa phát xít Nhưng nhìn chung, hiện nay những cuộc đấu tranh này mang tính chất kinh tế, xã hội nhiều hơn tính chất chính trị Những cuộc đấu tranh này không trực tiếp nhằm lật đổ chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa.
Nguyên nhân chủ yếu khiến cho phong trào thiếu tính cách mạng là donhững hạn chế trong sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đối với phong trào
Sự phân tầng trong giai cấp công nhân nói chung ở các nước tư bản phát triển là một đặc điểm quan trọng của phong trào công nhân hiện đại.
Tình trạng này đã dẫn đến sự phân hóa và nảy sinh tính cục bộ trong ý thứcgiai cấp, sự đa dạng trong tổ chức công đoàn, sự tản mạn về mục tiêu đấutranh của giai cấp công nhân Đây là một thách thức mới về mặt lý luận đồngthời là một nhiệm vụ chính trị thực tiễn trọng đại của phong trào cộng sản
và công nhân nói chung ở các nước tư bản phát triển nói riêng Thí dụ: ĐảngCộng sản Pháp trong một thời gian dài không coi bộ phận công nhân hiện đại
Trang 10nằm trong giai cấp công nhân nên đã buông lỏng công tác tập hợp, tuyêntruyền giáo dục giác ngộ bộ phận này Mặt khác, những người công nhânhiện đại này thì ngộ nhận mình là trí thức chứ không phải là công nhân(11).
II Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản phát triển
Gắn liền với sự phát triển của kinh tế và sự trưởng thành của giaicấp công nhân, ở các nước TBPT như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Italia đảngcộng sản ra đời sớm Trước Cách mạng Tháng Mười Nga, mặc dù có sựkhác nhau về quan điểm song nhìn chung các đảng vẫn lấy chủ nghĩa Máclàm nền tảng tư tưởng của mình
Sau Cách mạng Tháng Mười đã diễn ra sự phân hóa lớn trongphong trào cộng sản Bộ phận quan trọng tham gia Quốc tế III, lấy chủ nghĩaMác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, bộ phận còn lại ngả sang trào lưu xã hộidân chủ
Mặc dù đã này sinh những bất đồng nghiêm trọng về quan điểmgiữa một số đảng cộng sản ở các nước TBPT với Đảng Cộng sản Liên Xô,song nhìn chung phong trào cộng sản vẫn là một lực lượng có chung nềntảng tư tưởng và lý tưởng chiến đấu - lý tưởng XHCN và CSCN Phongtrào đảng cộng sản ở các nước TBPT nhìn chung gắn bó với sự nghiệp xâydựng CNXH và các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX
Những thay đổi lớn về kinh tế ở các nước tư bản phát triển dưới tácđộng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và dưới tác độngcủa "chủ nghĩa tự do mới" (thực chất là chính sách kinh tế - xã hội của chủnghĩa bảo thủ mới) cũng như đường lối "cải tổ" của một số đảng cộng sảncầm quyền, đặc biệt là ở Liên Xô, Đông Âu đã tác động xấu đến phong tràocộng sản ở các nước tư bản phát triển Tuy nhiên, tình hình đó cũng đã tạo
ra những mặt tích cực nhất định, đó là sự khuyến khích những tìm tòi, nghiên cứu về con đường mới cho phong trào cách mạng Một quá trình
phân hóa mới lại diễn ra trong phong trào cộng sản Tây Âu và trong nội bộmỗi đảng Đỉnh cao là lúc diễn ra các sự kiện bi đát ở Liên Xô và Đông Âutrong những năm 1989 - 1991
Trang 11Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Đông Âukhông chỉ tác động nghiêm trọng tới bản thân các đảng cộng sản ở cácnước này, mà còn tác động nặng nề đến toàn bộ phong trào cộng sản, cáchmạng và tiến bộ trên thế giới ảnh hưởng của sự kiện này đối với các đảngcộng sản ở các nước tư bản phát triển tuy khác nhau, song nhìn chung đó làmột đòn nặng nề giáng vào tất cả các đảng cộng sản trên thế giới, đưa cácđảng này vào một giai đoạn thoái trào nghiêm trọng.
Những năm 1989 đến 1992 là thời kỳ đen tối nhất của phong tràocộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa nói chung và ở các nước tư bản pháttriển nói riêng
Tuy nhiên, thái độ của các đảng cộng sản đối với sự kiện khủnghoảng sụp đổ của Liên Xô rất khác nhau Đảng cộng sản Nhật Bản và Đảngcộng sản Pháp không hề hối tiếc, thậm chí cho rằng sự sụp đổ đó là tất yếu
Tuyệt đại đa số các đảng cộng sản đều cho rằng sự tan rã của Liên Xô
là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Chính sựkiện này đã dẫn đến hiện tượng phân liệt, tan rã về tổ chức Một bộ phận quantrọng đã chuyển sang Trào lưu Xã hội dân chủ, xin gia nhập Quốc tế xã hội
Sau sự kiện Liên Xô tan rã không lâu, mặc dù phong trào cộng sảnvẫn chưa ra khỏi khủng hoảng, nhưng đã có dấu hiệu bắt đầu được hồiphục ở tất cả các nước có các đảng cộng sản bị tan rã hoặc tự tuyên bố giảithể đã tái lập lại đảng cộng sản, với quy mô nhỏ hơn Điều đáng chú ý là,tất cả các đảng này đều đã phân tích, đúc rút kinh nghiệm từ sự kiện cải tổ -
sự sụp đổ của Liên Xô và các nước tư bản chủ nghĩa nói chung và ở các nước
tư bản phát triển nói riêng đều mong muốn tập hợp lại phong trào cộng sảnquốc tế Sau khủng hoảng sụp đổ ở Liên Xô, đã có một số hội nghị quốc tế,trong đó có Hội nghị của 12 đảng cộng sản và công nhân ở Đông Âu; cuộcgặp gỡ ở Saopaolô (Bra-xin) của các đảng cộng sản khu vực châu Mỹ; cuộcgặp gỡ ở ấn Độ nhân Đại hội của Đảng cộng sản ấn Độ (M); cuộc hội thảo
Trang 12do tổ chức "Không gian Mác" của Đảng cộng sản Pháp chủ trì nhân kỷniệm 150 năm ra đời bản Tuyên ngôn của đảng cộng sản ở Paris (1997).
Trên đây là sơ lược về lịch sử của phong trào cộng sản quốc tế
1 Thực trạng phong trào cộng sản ở các nước tư bản phát triển
Có thể nói, quá trình phân hóa, tan rã của các đảng cộng sản ở cácnước tư bản sau khi Liên Xô sụp đổ đã dừng lại vào những năm 1991,
1992 Xét về đường lối và quan điểm có thể chia phong trào cộng sản ralàm ba xu hướng lớn sau:
- Chuyển thành các đảng xã hội dân chủ
- Kiên trì bản chất cộng sản nhưng có điều chỉnh đường lối, rút kinhnghiệm từ sự khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô
- Kiên trì đường lối mácxít - lêninnít, về cơ bản vẫn giữ đường lối
- Đảng cộng sản Italia 2.000.000
- Đảng cộng sản Tây Ban Nha 240.000 (thống kê 1995)45.000 người
- Đảng cộng sản Bồ Đào Nha 140.000 (thống kê 1992)140.000 người
- Đảng cánh tả Thụy Điển (thống kê 1996)11.000 người
- Đảng lao động Thụy Sĩ (thống kê 1996)4.000 người
- Đảng cộng sản Phần Lan 9.000 người (thốngkê 1994)
Trang 13Uy tín xã hội của các đảng nhìn chung thấp; theo thống kê nhữngcuộc bầu cử từ năm 1995 đến nay, số cử tri bỏ phiếu cho đảng rất ít.
- Đảng cộng sản Pháp (có 15/322 nghị sĩ ở
Thượng viện, 36/577 ở Hạ viện và 3 nghị sĩ ở
Nghị viện châu Âu)
- Tình hình đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển (G7)
Trước hết, về phong trào cộng sản ở 4 nước tư bản phát triển châu Âu:
- ở Vương quốc Anh:
Hiện nay ở Anh tồn tại tới ba tổ chức cộng sản, đó là: Đảng cánh tả(Left Party), Đảng cộng sản Anh (Communist Party of Greate Britain) vàĐảng cộng sản Anh mới (New Communist Party of Britain)
Trang 14Về nhiệm vụ hiện nay của Đảng cộng sản Anh, Nghị quyết Đại hộilấy khẩu hiệu mà Mác đã từng nói: "Giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh
vì dân chủ" (Winning the battle for Democracy) làm chủ đề của văn kiện.Nghị quyết đề cập tới các vấn đề về chế độ xã hội, kinh tế của Vương quốcAnh, đặt trong quan hệ với Cộng đồng châu Âu và Mỹ
Nghị quyết đặt lại vấn đề cần phải thay đổi chế độ "vương quyền"độc tài hiện nay bằng chế độ cộng hòa; thực hiện đầy đủ hơn thể chế liênbang; quyết tâm thực hiện những công việc "tạm thời", "ngắn hạn" của "cuộccách mạng XHCN" (Resolved temporarily - short of sosialist revolution),bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước (hiện nay) để mở rộng sở hữu côngcộng và kế hoạch quốc gia"
Nói về nhiệm vụ dân chủ, Nghị quyết viết: "Cần mở ra một chiến dịchdân chủ mới", xem cuộc đấu tranh vì dân chủ là nền tảng cơ bản cho cuộc đấutranh chính trị, tương tự như đấu tranh kinh tế của phong trào lao động đầu thế
kỷ Đấu tranh cho dân chủ là đấu tranh cho các quyền cá nhân, quyền dân tộcthiểu số, quyền của phụ nữ, quyền của người tàn tật và của các tổ chức tập thể
Trong phần cuối, Nghị quyết khẳng định lại chủ nghĩa quốc tế của giaicấp công nhân, phê phán chủ nghĩa sô vanh dân tộc và nhắc lại quan điểm củaMác: "Một dân tộc đi áp bức dân tộc khác thì dân tộc đó không có tự do"
- ở Cộng hòa Pháp:
Cho đến nay, ở Pháp vẫn tồn tại ba tổ chức cộng sản, đó là: Đảngcộng sản Pháp; Liên đoàn cộng sản và tổ chức Đấu tranh công nhân Hai tổchức Liên đoàn cộng sản và Đấu tranh công nhân lực lượng nhỏ bé, ảnhhưởng xã hội rất thấp
Đảng cộng sản Pháp là đảng lớn nhất ở châu Âu, có uy tín xã hội cao.Trong suốt lịch sử của mình, Đảng cộng sản Pháp luôn có những ýtưởng mới nhằm phát triển lý luận và tìm tòi con đường đi lên CNXH ở Pháp
Trang 15Đại hội lần thứ 29 (1997) của Đảng đã phát triển quan niệm của Đại
hội 28 Đại hội tuyên bố "Một phương án XHCN theo kiểu Pháp - dân chủ
và tự quản" Về con đường tiến lên CNXH, Đại hội dùng khái niệm "vượtqua" CNTB
"Vượt qua chủ nghĩa tư bản" là luận điểm cơ bản nhất về đường lốichính trị của Đảng, "vượt qua CNTB, đòi hỏi phải vượt qua tất cả những gìcấu thành CNTB, đặc biệt là vượt qua tất cả các hình thái thống trị đứngtrên xã hội và các cá nhân"
Khái niệm vượt qua - Văn kiện giải thích, "không phải là thích ứng,không phải là thu hẹp mục tiêu chuyển sang một xã hội khác Nhưng cũngkhông phải là "xóa bỏ" (CNTB) đột ngột, bằng mệnh lệnh" Thuật ngữ vượtqua phù hợp với một quan niệm về quá trình chuyển hóa của xã hội - vớinhịp độ và thời gian tùy thuộc vào nhân dân - quá trình đó cho phép khắcphục đi đến gạt bỏ nạn bóc lột, sự tha hóa không phải bằng cách xóa bỏhoàn toàn xã hội hiện nay, mà thông qua đấu tranh vẫn dựa vào sự pháttriển của những thành tựu, nhu cầu, tiềm năng của xã hội ấy
- ở Cộng hòa Liên bang Đức:
Sau khi nước Đức thống nhất, các đảng cộng sản vẫn duy trì tổchức độc lập và khu vực hoạt động vẫn như cũ
Hiện nay ở Liên bang Đức có 3 tổ chức cộng sản: 1- Đảng cộng sản Đức (viết tắt là DKP), hoạt động ở Tây Đức (thành lập từ năm 1968).
Đây là đảng có nguồn gốc từ Đảng cộng sản Đức thành lập từ 1918, thân
Liên Xô; 2- Đảng của chủ nghĩa xã hội dân chủ (viết tắt là PDS), vốn là
đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (thành lập năm 1946), mới đổi tênsau khi CNXH ở Đông Đức sụp đổ, đảng này hoạt động ở Đông Đức; 3-
Đảng cộng sản của nước Đức (viết tắt là KPD).
Về quan điểm lý luận và đường lối chính trị hiện nay, qua cuộc traođổi giữa đồng chí Han Mô-đrốp, Chủ tịch danh dự PDS với Đảng ta chothấy, PDS đang điều chỉnh quan điểm lý luận và đường lối chính trị dựa
Trang 16trên bài học cải tổ sụp đổ vừa qua PDS khẳng định: "Các quan điểm củaMác về CNTB và CNXH vẫn giữ nguyên giá trị"(13) Đường lối cơ bản củaĐảng là "tiến hành cải cách dần dần xã hội tư bản chủ nghĩa để tiến lênCNXH".
mới lấy tên là Đảng của những người cộng sản vì đoàn kết, nhưng không
thực hiện được do đảng viên phản đối Đảng dân chủ cánh tả sau khi thànhlập đã làm đơn xin gia nhập Quốc tế xã hội và đã được chấp nhận Nay đãtrở thành một Đảng Xã hội dân chủ
Đảng cộng sản (tái lập) có khoảng 150.000 đảng viên, hoạt độngyếu, đang gặp nhiều khó khăn
Về quan điểm lý luận và đường lối chính trị, tại Đại hội III (12-1996)Đảng khẳng định lại chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất cộng sản, các truyềnthống cách mạng của đảng, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
Hiện nay, Đảng tham gia lực lượng cánh tả, nhưng không tham giachính phủ Đảng chủ trương thực hiện đoàn kết xã hội, gây ảnh hưởng vớichính phủ, chống lại chủ nghĩa tự do mới, đòi thực hiện các cuộc cải cách
xã hội
- ở Nhật Bản:
Tương tự như Đảng cộng sản Pháp, từ những năm 60, Đảng cộngsản Nhật Bản bất đồng sâu sắc với Đảng cộng sản Liên Xô, song sự kiệnkhủng hoảng, sụp đổ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu đã gây chấn động dữ dội
Trang 17đối với Đảng cộng sản Nhật Bản, uy tín của Đảng giảm sút, đồng thờiđường lối cũng bị khủng hoảng
Trong Thông báo của đoàn đại biểu Đảng cộng sản Nhật Bản dođồng chí Phu-oa Tê-chư-đô, Chủ tịch đoàn chủ tịch Ban chấp hành trungương đảng sang thăm Việt Nam (tháng 9-1999) đã nhận xét về tình hình thếgiới sau chiến tranh lạnh như sau: "Có một số người cho rằng sẽ có hòabình, nhưng Mỹ không chọn con đường hòa bình mà theo đuổi chính sáchsiêu cường duy nhất nhằm thống trị thế giới Mỹ không những không rútcác căn cứ quân sự trên thế giới mà còn tăng cường vũ trang, điên cuồngtìm cớ để can thiệp quân sự vào nước khác Mỹ và NATO đã đưa ra kháiniệm "chiến lược mới", cho phép được đánh đòn phủ đầu bất cứ nước nàonếu Mỹ không ưa Do đó, "để bảo vệ hòa bình thế giới, trong thế kỷ XXIphải là đấu tranh đánh bại chiến lược quân sự của Mỹ"
Về phong trào cộng sản thế giới, đồng chí Phu-oa nói: "Sự sụp đổcủa CNXH ở Liên Xô - Đông Âu không phải là sự sụp đổ của CNXH, màchính là sự sụp đổ các xã hội do các đảng mắc sai lầm đi chệch đường lốiXHCN Hiện nay, chưa có điều kiện chín muồi để tổ chức hội nghị củacác đảng cộng sản như những năm 60, 70 Vấn đề quan trọng hiện nay làlàm thế nào để tập hợp các lực lượng cách mạng, đấu tranh dưới hình thứcthích hợp chống bá quyền của đế quốc Mỹ"
Về đường lối chính trị cơ bản của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ
21 đề ra 4 phương pháp nhằm "thay đổi xã hội" (The way to change society)
Nhật Bản: Một là, Đảng cộng sản Nhật Bản dựa trên quan điểm - xã hội
phát triển theo trình tự "Xã hội phát triển từ trình độ thấp lên trình độ caothông qua việc giải quyết từng vấn đề" Những vấn đề đặt ra thì nhân dân
đã có những điều kiện chín muồi để thực hiện Đảng cộng sản Nhật Bản
nhận thức rằng, đặc điểm của mọi nhiệm vụ hiện nay là "chuyển hóa dân chủ trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản" (Democratic change in the from of capitalism) "chúng ta tin tưởng rằng trình độ phát triển của xã hội hiện
Trang 18nay sẽ đến lúc bị vượt qua" Nhân dân sẽ tìm ra một xã hội tiến bộ hơn,
trong đó "nhân dân làm chủ xã hội" (chúng tôi nhấn mạnh - KHXH 06.07)
Hai là, Đảng cộng sản Nhật Bản cho rằng, cách mạng có thể hoàn thành trên cơ sở một sự đồng thuận xã hội (chúng tôi nhấn mạnh) Điều đó có nghĩa
"tất cả các cải cách và chuyển hóa trong xã hội Nhật Bản đều có thể hoànthành nếu được đa số nhân dân ủng hộ" Tinh thần này được phản ánhtrong quan niệm "nhân dân làm chủ" và "Tuyên ngôn tự do và dân chủ" củaĐảng
Đảng cộng sản Nhật Bản có cảm tình và niềm tin lớn vào sự nghiệpđổi mới của Đảng ta Đồng chí Phu-oa, trong chuyến thăm Việt Nam tháng9/1999 đã nói: "Đảng cộng sản Nhật Bản tin rằng, Việt Nam đã chiến thắngtrong cuộc đấu tranh cứu nước đầy khó khăn, sẽ phát huy được tiềm năng củamình, thành công trong sự nghiệp đổi mới, đây sẽ là một cống hiến to lớn cho
quá trình phát triển của cách mạng thế giới Với ý nghĩa đó, đây là lần thứ hai chúng tôi phát hiện ra một Việt Nam" (chúng tôi nhấn mạnh - KHXH 06.07).
- ở Hoa Kỳ:
Cũng như các đảng cộng sản ở nhiều nước tư bản phát triển, sự nghiệpxây dựng CNXH ở Liên Xô - Đông Âu là một nguồn cổ vũ và động viên tolớn về tư tưởng, là chỗ dựa về chính trị vững chắc cho Đảng cộng sản Mỹ
Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu đã ảnh hưởng tiêu cực, dữ dộiđối với Đảng cộng sản Mỹ khiến cho Đảng rơi vào khủng hoảng về tổ chức
và đường lối Một số cán bộ lãnh đạo Đảng và đảng viên rời bỏ Đảng, một
số thành lập ủy ban thông tin
Tuy nhiên, tại Đại hội lần thứ 25 (12-1991), tuyệt đại đa số đại biểu
đã bỏ phiếu duy trì Đảng cộng sản và Đảng đã bước đầu vượt qua vực thẳmcủa sự tan rã Tháng 3-1996, Đảng đã tiến hành đại hội lần thứ 26
Đại hội lần thứ 26 của Đảng họp vào tháng 3-1996 đã nhận định vềtình hình thế giới, tình hình nước Mỹ và đề ra chủ trương mới như sau:
Trang 19Về tình hình thế giới, Đại hội nhận định: "Việc không còn khối các
nước XHCN hùng mạnh đang tạm thời làm thay đổi so sánh lực lượng cólợi cho CNTB"(14) Tính chất cuộc đấu tranh toàn cầu đã có sự thay đổi,nhưng bản chất kinh tế, tư tưởng và chính trị của cuộc đấu tranh đó vẫn giữnguyên Chủ nghĩa đế quốc vẫn là kẻ xâm lược trên quy mô toàn cầu Chủnghĩa đế quốc gồm cả tập đoàn tư bản tư nhân và ngày càng mang tính đaquốc gia, đứng đầu là đế quốc Mỹ Đã có dấu hiệu cho thấy cuộc đấutranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội ở các nước XHCN (cũ)thay đổi: Những hậu quả thảm hại của con đường tư bản chủ nghĩa làm chonhiều người muốn quay lại con đường XHCN Các nước vẫn giữ chế độXHCN đang xây dựng CNXH phù hợp với truyền thống lịch sử và văn hóacủa mình như Trung Quốc, Việt nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên và Mông Cổ
Về mục tiêu, lý tưởng, Đại hội chủ trương phấn đấu để xây dựng
"chủ nghĩa xã hội ở Mỹ" với những đặc trưng sau:
- Một cuộc sống không có bóc lột, một xã hội an ninh được bảođảm và không còn nghèo đói
- Một xã hội không còn nạn phân biệt chủng tộc và bình đẳng
- Một xã hội dân chủ, cởi mở, chấm dứt sự áp bức của công ty và sởhữu tư nhân đối với của cải của xã hội Thiết lập một xã hội thật sự nhânđạo, khuyến khích con người phát huy tài năng sáng tạo
Về nhiệm vụ trước mắt, Đại hội chủ trương đẩy mạnh hoạt động của
các công đoàn của nhân dân lao động Vận động xã hội đấu tranh chốngnhóm (73) nghị sĩ cộng hòa cực hữu do Newt Gingrich đứng đầu đangkhống chế Hạ nghị viện; đấu tranh chống chính sách kinh tế đánh vàongười lao động của giai cấp tư sản nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng cơcấu hiện nay
Về xây dựng đảng, Đại hội chủ trương "xây dựng đảng thành một đảng mang tính chất quần chúng"
Trang 20Về quan hệ với Đảng ta, các đồng chí lãnh đạo Đảng cộng sản Mỹ
đánh giá rất cao Việt Nam: "Việt Nam tuy là nước nhỏ và nghèo về vật chấtnhưng lớn và giàu về giá trị nhân bản và nghị lực", "Nhân dân và nhữngngười cộng sản Mỹ còn mắc nợ nhân dân Việt Nam"
- ở Canada:
Đảng cộng sản Canada đã bị chấn động dữ dội sau sự kiện Liên Xôtan rã, CNXH ở Đông Âu sụp đổ Tổng bí thư (cũ) của Đảng âm mưu chuyểnhóa đảng thành Đảng xã hội dân chủ theo quan điểm của M Goóc-ba-chốp.Tuy nhiên, đa số đảng viên vẫn kiên định lập trường mácxít - lêninnít, lập
ủy ban toàn quốc cứu đảng Các phần tử chống phá đưa vấn đề nội bộ của
Đảng ra tòa án Kết quả, Tổng bí thư cũ đào nhiệm mang theo 70% tài sảncủa Đảng (theo phán quyết của tòa án) Tổ chức đảng cộng sản do nhữngngười macxít kiên định được xây dựng lại và từng bước được củng cố
Tháng 11-1998, đoàn đại biểu Đảng cộng sản Canada do đồng chíMi-guên Phi-guê-roa (M.Figueroa), Tổng bí thư dẫn đầu đã sang thăm ViệtNam
Về tình hình thế giới, Đảng cộng sản Canada cho rằng, "sau chiến
tranh lạnh, thế giới vẫn không có hòa bình, tình hình có xu hướng bất ổnđịnh hơn Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ bộc lộ bản chất hiếu chiến,
đe dọa hoặc can thiệp vũ trang vào nhiều nơi trên thế giới"(15) Trên lĩnh vựckinh tế, chủ nghĩa tự do mới, gắn liền với toàn cầu hóa làm cho mâu thuẫngiữa nước giàu và nước nghèo ngày càng tăng Chủ quyền dân tộc ngàycàng bị vi phạm; nền dân chủ tư sản cũng ngày càng bị thu hẹp bởi vai tròngày càng tăng của các tập đoàn xuyên quốc gia
Đối với vấn đề toàn cầu hóa, quan điểm của Đảng cộng sản Canada
là cần phải tham gia quá trình này, nhằm "tạo ra một hệ thống quan hệ quốc tế mới giữa các dân tộc và các nền kinh tế, ngoài các mối quan hệ
giữa các tập đoàn xuyên quốc gia và các ngân hàng lớn" Đây là một quanđiểm tích cực, cần được nghiên cứu
Trang 21Hiện nay, Đảng cộng sản Canada đang soạn thảo cương lĩnh, chuẩn
bị đại hội Nhiều vấn đề lý luận còn bỏ ngỏ Tuy nhiên, qua những vấn đềcác đồng chí lãnh đạo Đảng cộng sản Canada đặt ra cho thấy, Đảng cộngsản Canada kiên trì lý tưởng XHCN, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, songcòn phân vân về con đường đi lên CNXH như thế nào: "Vì sao CNXH ởLiên Xô bị sụp đổ?", "Bằng cách gì có thể chấm dứt được chế độ người bóclột người?" "Kinh tế thị trường và CNXH quan hệ như thế nào?"
2 Về quy mô và tính chất các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển
Theo báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), các tổ chức côngđoàn trên thế giới đều khẳng định: Thế kỷ XX là thế kỷ của các cuộc cáchmạng, điều đó đã tạo nên những biến đổi lớn lao trong đời sống nhân loại.Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn đã lớn mạnh cả về số lượng vàchất lượng Vai trò của công đoàn ngày càng tăng Cũng theo ILO, hiện nay
có tới 800.000.000 đoàn viên công đoàn trên toàn thế giới(16)
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân không hề giảm sút về quy mô lực lượng Quan điểm cho rằng, do ảnh hưởng của Trào lưu Xã hội
dân chủ, do chủ nghĩa tư bản tự điều chỉnh nên phong trào công nhânkhông còn mạnh mẽ nữa là sai lầm Khác với phong trào cộng sản, từnhững năm 60, 70, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ramạnh mẽ, khi trào lưu xã hội dân chủ mở rộng ảnh hưởng ra ngoài châu
Âu, sang các nước tư bản đang phát triển á, Phi, Mỹ la tinh, phong trào
cộng sản ở các nước tư bản đều gặp khó khăn Tổ chức đảng cộng sản dường như không phát triển được Trong khi đó tổ chức công đoàn ngày càng phát triển rộng rãi, không chỉ ở giai cấp công nhân, ở tầng lớp những người làm công ăn lương, mà còn phát triển cả trong hàng ngũ viên chức nhà nước, trong tầng lớp trung lưu, trong đó một bộ phận lớn là giai cấp công nhân hiện đại Ngay cả khi Liên Xô tan rã, CNXH ở Đông Âu sụp đổ,
phong trào công nhân và công đoàn vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển