1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sự phát triển quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới ở việt nam

112 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phát triển quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội (<a href='https://home.hanu.vn'>https://home.hanu.vn</a>)
Chuyên ngành Kinh tế và Xã hội
Thể loại Luận án / Luận văn / Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 124,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A Những vấn đề chung trong quá trình triển khai đề tài 1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong điều kiện xã hội đã phân chia thành giai cấp, những vấn đề lý luận xã hội bao giờ cũng gắn liền[.]

Trang 1

A Những vấn đề chung trong quá trình triển khai đề tài

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong điều kiện xã hội đã phân chia thành giai cấp, những vấn đề lýluận xã hội bao giờ cũng gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp dướinhững hình thức khác nhau Trên lĩnh vực quyền con người, các giai cấpbóc lột luôn luôn dùng ngọn cờ dân chủ, nhân quyền để tập hợp lựclượng, tranh giành quyền lực và củng cố địa vị thống trị Ngược lại, giaicấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức, các lực lượng

xã hội tiến bộ, lại coi quyền con người là một mục tiêu, lý tưởng đấutranh của mình

Ngay sau khi giành được chính quyền, mặc dù chưa sử dụng thuậtngữ "quyền con người" nhưng về nội dung của khái niệm quyền conngười đã được chính thức ghi trong những văn kiện quan trọng nhất, vănkiện lập quốc, lập pháp - Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp 1946 củanước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa XHCN ViệtNam Từ đó đến nay, các quyền con người đã được ghi nhận ngày càngrộng rãi hơn, cụ thể trong các Hiến pháp và pháp luật quốc gia Có thểnói, tôn trọng và bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của Nhà nước

và xã hội chúng ta

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc (1977),nhiều văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người đã được Nhànước ta thừa nhận, ký kết, phê chuẩn và gia nhập, trong những văn kiện

đó có Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người (1948), Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước quốc tế về cácquyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) Văn kiện Đại hội IX của ĐảngCộng sản Việt Nam đã ghi: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi

Trang 2

ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế

về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia"(1)(1)

Với công cuộc đổi mới toàn diện được mở ra từ Đại hội VI, cácquyền công dân và quyền con người ngày càng được củng cố và mở rộngtrên cả hai bình diện, lập hiến, lập pháp và tổ chức thực tiễn, phù hợp vớiquy luật phát triển của xã hội Việt Nam, đồng thời chủ động và tích cựchội nhập khu vực và quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu tolớn về nhiều mặt đã xuất hiện không ít những vấn đề chính trị, kinh tế,

xã hội và văn hóa cần phải được giải quyết, trong đó có nhiệm vụ đẩy lùi

tệ nạn quan liêu, tham nhũng, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức và các

tệ nạn xã hội, bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện các quyền con người

Đó là việc bảo đảm đầy đủ hơn các quyền dân sự, chính trị, là việc bảođảm quyền bình đẳng trong sự hưởng thụ các thành quả kinh tế, xã hội

và văn hóa; khắc phục tình trạng phân cực giàu nghèo giữa các vùng, cácnhóm xã hội, sự vi phạm các quyền kinh tế, quyền tự do sản xuất kinh

doanh; bảo đảm quyền làm việc, tiền lương và bảo trợ xã hội Những vấn

đề trên cần được nghiên cứu thấu đáo nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và thể chế hóa bằng pháp luật, nâng cao tính tích cực của mỗi người và cả cộng đồng, hiện thực hóa từng bước mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong điều kiện toàn cầu hóa nhiều mặt của đời sống nhân loại,trước hết trên lĩnh vực kinh tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoahọc - công nghệ, nhất là khoa học và công nghệ thông tin, quá trình toàncầu hóa làm cho các quốc gia, dân tộc gần gũi nhau hơn Sự giao lưu vềchính trị, kinh tế, văn hóa ngày càng mở rộng Với đường lối đối ngoạirộng mở, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế "muốn làm bạn và đối tác tin

(1)(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr

134.

Trang 3

cậy với tất cả các nước và các tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độclập, chủ quyền", các hoạt động đối ngoại nói chung và hợp tác kinh tếnói riêng của nước ta đã thu hút ngày càng nhiều người nước ngoài đếnlàm ăn ở Việt Nam, đồng thời công dân Việt Nam cũng ra nước ngoài

sản xuất, kinh doanh, học tập ngày càng đông hơn Nhiều vấn đề pháp

lý mới đã vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật quốc gia, đòi hỏi chúng ta phải vận dụng, xử lý dựa trên luật quốc tế, trong đó có pháp luật về quyền con người Do đó, nghiên cứu, tổng kết về quyền con người trong thời kỳ đổi mới đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết.

Trên phương diện tư tưởng, ngay từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa(XHCN) đầu tiên ra đời, các thế lực đế quốc đã lợi dụng ngọn cờ dânchủ, nhân quyền để bôi nhọ chế độ XHCN Đặc biệt, từ khi các nướcXHCN tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới, chủ nghĩa đế quốc đã dùngngọn cờ dân chủ, nhân quyền làm công cụ chủ yếu để tiến hành chiếnlược "diễn biến hòa bình", phá hoại sự thống nhất về chính trị, tư tưởngtrong Đảng và xã hội Đồng thời chúng còn dùng vấn đề dân chủ, nhânquyền để kích động quần chúng gây mất ổn định chính trị, bạo loạn, lật

đổ chính quyền cách mạng Thủ đoạn cơ bản của chúng là phủ nhận, bôiđen những mặt tích cực trên lĩnh vực nhân quyền của xã hội ta, xuyên tạcchủ trương đường lối chính sách pháp luật của Việt Nam Bởi vậy,

nghiên cứu, làm sáng tỏ các quan niệm đúng đắn về quyền con người dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tổng kết, hệ thống hóa thành tựu của Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người, đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại, tích cực tham gia vào cuộcđấu tranh tư tưởng hiện nay đã và đang trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công tác tư tưởng lý luận hiện nay.

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 4

Thứ nhất, để tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và phương

pháp luận nói chung về quyền con người - một chuyên ngành còn mới

mẻ, đề tài làm rõ khái niệm quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, hay nói một cách cụ thể hơn là khái niệm quyền kinh tế, xã hội, sự khác biệt giữa quyền kinh tế, xã hội với quyền dân sự, chính trị.

Để giải quyết nhiệm vụ khoa học này, đề tài sẽ đề cập tới: - Nộidung của quyền kinh tế xã hội? Vì sao giá trị xã hội này được gọi làquyền? Đặc trưng của quyền kinh tế, xã hội là gì? So với nhóm quyềndân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội có gì giống nhau và khác nhau?

Thứ hai, hệ thống hóa những thành tựu của Việt Nam trên lĩnh vực

kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2000) - đây là mục tiêu cơbản của đề tài

Trong thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,dân tộc ta đã làm nên ba sự kiện và quá trình cách mạng vĩ đại, có ýnghĩa thời đại, đó là Cách mạng tháng Tám (khai sinh ra nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam), tiếnhành các cuộc kháng chiến chống xâm lược (đặc biệt là cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước, giữ vững độc lập tự do của dân tộc) và côngcuộc đổi mới, mở ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước

15 năm đổi mới là một chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc ta,dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Cách mạng Việt Nam đãvượt qua những thách thức do tác động của cuộc khủng hoảng, sụp đổcủa chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu (1989 - 1991) gây ra, đã vượtqua cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội ở khu vực (1997 - 1998), duy trì,củng cố thành quả của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnhcông cuộc đổi mới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với nhiều nướctrong khu vực và trên thế giới Trên lĩnh vực chăm lo cho con người,bảo vệ quyền con người, thực hiện các cam kết quốc tế trên lĩnh vực này,

Trang 5

Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trên tất cả các lĩnhvực Mục tiêu của đề tài này được giới hạn ở những thành tựu cơ bảntrong việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội.

Báo cáo tổng quan sẽ đề cập tới bản chất nhân đạo, nhân quyền

được thể hiện trong Cương lĩnh, đường lối chính sách của Đảng, trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Đồng thời, báo cáo cũng sẽ làm rõ

trách nhiệm quốc gia trong việc thực hiện Công ước quốc tế về cácquyền kinh tế, xã hội mà Việt Nam đã tham gia

Hệ thống hóa những thành tựu thực tế trên lĩnh vực quyền kinh tế,

xã hội - nói cách khác là sự bảo đảm của Nhà nước ta trong việc nângcao sự hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội của nhân dân, là mục tiêu cơbản, quan trọng nhất của đề tài

Thứ ba, trên cơ sở phân tích, đánh giá những thành tựu, khiếm

khuyết trong việc bảo đảm quyền con người để kiến nghị với Đảng vàNhà nước hoàn thiện chủ trương chính sách, pháp luật và nhất là việc tổchức thực hiện quyền kinh tế, xã hội của nhân dân

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào việcnâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụcho công tác nghiên cứu, giảng dạy và tuyên truyền về quyền con ngườicủa Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người, đấu tranh phê phán nhữngquan điểm và hành động xuyên tạc tình hình quyền con người ở ViệtNam

Trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người, các quyềnkinh tế, xã hội được xếp cùng nhóm với các quyền văn hóa, tạo thànhcông ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa Trong khuônkhổ của đề tài cấp Bộ, ở đây các tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu

Trang 6

việc bảo đảm quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội; việc đề cậptổng thể các quyền (như công ước) thuộc phạm vi của đề tài khác.

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài này trước hết dựa trên sự vận

dụng phương pháp luận triết học Mác - Lênin Phương pháp đó đòi hỏiphải xem xét quyền con người nói chung, quyền kinh tế, xã hội nói riêng

theo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể ở đây các quyền

kinh tế, xã hội có quan hệ biện chứng với chế độ chính trị và điều kiệnkinh tế của đất nước

Thứ hai, với tư cách là một đề tài nghiên cứu việc thực hiện luật

quốc tế về quyền con người, đề tài sẽ dựa trên các chuẩn mực quốc tếtrong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt là Côngước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) để phân tích,đánh giá việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội Tuy nhiên, do sự phânbiệt giữa các quyền chỉ là tương đối, nên có những quyền được trình bàylồng ghép với các quyền khác

Việc phân tích về nhận thức cũng như những thành quả thực tiễn vềviệc bảo đảm quyền kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới sẽ được sosánh với giai đoạn lịch sử trước đổi mới, tuy nhiên do sự thiếu hụt về tàiliệu, đặc biệt do nhiều quyền mới vừa triển khai thực hiện nên chưa thểtổng hợp được đầy đủ số liệu, do đó tập thể tác giả chỉ có thể trình bàyđược trong một chừng mực hạn chế

4 Quá trình tổ chức triển khai đề tài

Đề tài "Sự phát triển quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hộitrong công cuộc đổi mới ở Việt Nam", được Giám đốc Học viện quyếtđịnh cho triển khai trong 12 tháng, kể từ 6/2000

Trang 7

Lực lượng tham gia đề tài chủ yếu là các cán bộ khoa học của Trungtâm, ngoài ra Ban chủ nhiệm còn mời thêm một số cộng tác viên trong

và ngoài Học viện tham gia

Tháng 8/2000 Trung tâm đã tổ chức hội nghị triển khai đề tài giớithiệu mục đích yêu cầu, tổ chức lực lượng tham gia đề tài trên cơ sở kếthợp nguyện vọng, sở trường của mỗi người với phân công

Trong quá trình triển khai, chủ nhiệm đã điều hành bộ máy, tậptrung giải quyết các yêu cầu của đề tài, nhất là về công tác tư liệu, hướngdẫn một số nghiên cứu viên viết một số báo cáo hướng vào những yêucầu quan trọng của đề tài

Cho đến nay đề tài đã hoàn thành So với thời gian trong hợp đồng,

đề tài đã muộn Khuyết điểm chủ yếu thuộc về Ban chủ nhiệm

5 Về sử dụng tài chính

Đề tài được cấp 43.000.000 đ (Bốn mươi ba triệu đồng), Ban chủnhiệm đề tài đã sử dụng đúng mục đích, theo quy định chi tiêu khoa họchiện hành

B Tổng quan kết quả nghiên cứu đề tài

Trang 8

I Những vấn đề lý luận về quyền con người trên lĩnh vực kinh tế - xã hội

1 Quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội - lịch sử và

lý luận

Quyền con người là một phạm trù chính trị, pháp lý đa nghĩa, phụthuộc vào phương pháp tiếp cận và lập trường chính trị của người nghiêncứu

Từ xưa đến nay, khái niệm này nằm trong quan niệm triết học,chính trị, đạo đức và pháp luật Tuy nhiên, hai bình diện cơ bản của kháiniệm quyền con người là đạo đức và pháp luật

Với tư cách là một phạm trù đạo đức, quyền con người được xemnhư một nhu cầu cơ bản vốn có của con người mà xã hội phải thừa nhận.Hạt nhân của quan niệm nhân quyền là tinh thần nhân đạo và sự tôntrọng phẩm giá của con người, đồng thời xem đó là giá trị vốn có và bìnhđẳng đối với tất cả mọi người

Sự tôn trọng phẩm giá của con người, được quan niệm rằng, ở mỗingười đều có quyền được bảo đảm những điều kiện vật chất tối thiểu đểsống như một con người, cùng với tự do như là những cái vốn có củamỗi con người "không phân biệt về chủng tộc, màu da, giới tính, ngônngữ, tôn giáo, chính kiến, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiệnkhác "(1)(1), ngay từ khi sinh ra cho đến khi qua đời Quan niệm này là disản chung của tất cả các dân tộc, không có sự khác biệt về chế độ chínhtrị và văn hóa

Với tư cách là một phạm trù pháp lý, quyền con người là một quyphạm pháp luật dựa trên hai đặc trưng cơ bản của con người, đó là đặctrưng tự nhiên, tức là sự khác biệt giữa con người với phần còn lại của

(1)(1) Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998, tr 205.

Trang 9

giới tự nhiên và đặc trưng xã hội, tức là các quan hệ giữa con người vớicon người.

Quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài của các dân tộc, lànhững nấc thang trưởng thành của nhân loại, là ý chí của loài ngườivươn tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, quyền con người là

sự thừa nhận chính thức dưới hình thức các cam kết quốc tế có sự ràngbuộc về mặt pháp lý của cộng đồng quốc tế cũng như của quốc gia đốivới các giá trị của con người

Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm có quan hệmật thiết với nhau, song không phải là đồng nhất Khái niệm quyền conngười tồn tại sớm hơn và rộng hơn khái niệm quyền công dân Quyềncon người ra đời từ chế độ nô lệ, trong khi đó quyền công dân chỉ gắnvới sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, chế độ dân chủ nhân dân và chế độXHCN, gắn với lịch sử lập hiến, lập pháp Mặt khác, quyền công dân chỉđược xác định trong khuôn khổ quốc gia Quyền con người là những chếđịnh không chỉ xác định trong khuôn khổ quốc gia mà còn trong khuônkhổ quốc tế

Trong pháp luật quốc gia, khái niệm quyền công dân nằm trong kháiniệm quyền con người Quyền công dân là bộ phận quan trọng nhất củaquyền con người song không bao quát hết quyền con người

Chủ thể của quyền con người là tất cả mọi người, không phân biệt

về quốc tịch, năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật của mỗi người.Chế định quyền con người trong luật quốc tế được ghi trong các vănkiện của Liên Hợp Quốc, bao gồm các tuyên ngôn, tuyên bố, các côngước và nghị định thư, (thường là các chế định cụ thể về quyền conngười) với những giá trị pháp lý khác nhau

Trang 10

Chủ thể của luật quốc tế về quyền con người là các nhà nước và các

tổ chức liên chính phủ Các nhà nước là chủ thể cơ bản của quyền conngười

Đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế về quyền con người trong

quan hệ quốc tế là những quan hệ pháp lý giữa các chính phủ với tổ chứcquốc tế Trong quan hệ nội bộ của mỗi quốc gia đó là quan hệ pháp lýgiữa người dân với nhà nước mà đại diện là các cơ quan công quyền, làcán bộ và viên chức khi thực thi pháp luật

Căn cứ vào cơ sở pháp lý quốc tế và quốc gia, dựa vào hai đặc trưng

cơ bản của con người - đặc trưng tự nhiên và đặc trưng xã hội, có thểquan niệm quyền con người là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lựcvốn có và chỉ có ở con người - với tư cách là thành viên của cộng đồng

nhân loại, được thể chế hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.

Quyền kinh tế - xã hội có vị trí quan trọng trong hệ thống quyền conngười Trong lịch sử phát triển quyền con người, do các cách tiếp cậnkhác nhau, nên đã có những quan niệm khác nhau về quyền kinh tế - xãhội: có quan điểm đề cao quyền kinh tế - xã hội, nhưng cũng có quanđiểm hạ thấp quyền kinh tế - xã hội Xét về mặt lịch sử, từ khi Liên HợpQuốc ra đời có thể nói, quyền kinh tế - xã hội xuất hiện muộn hơn quyềndân sự và chính trị Nhưng trên bình diện lịch sử nhân loại nói chung thìcác quyền kinh tế - xã hội được thừa nhận sớm hơn Từ năm 1850, ở Đức

đã xuất hiện quỹ bảo trợ cho công nhân Đó là một trong những cơ sở đểnăm 1898, cũng tại Đức đã diễn ra Hội nghị quốc tế bàn về điều kiện làmviệc cho công nhân Năm 1900, Hiệp hội quốc tế bảo vệ pháp lý chongười lao động đã được thành lập, có trụ sở đóng tại Baden (Thụy sĩ).Tiếp đó, trong các năm 1905, 1906, chính phủ Thụy sĩ đã tổ chức các hộinghị tại Bon nhằm thông qua các công ước đầu tiên trên lĩnh vực lao

Trang 11

động Phải đến năm 1919, sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc,công việc mới được nối lại, với sự ra đời của Tổ chức Lao động quốc tế(ILO) và các công ước của tổ chức này trong những năm 1920 - 1930nhằm bảo vệ con người trên lĩnh vực lao động Trên một ý nghĩa nhấtđịnh, nội dung của một số quyền kinh tế, xã hội được đề cập sớm hơnnữa, thể hiện trong các học thuyết triết học và tôn giáo (về sự giải thoátcon người khỏi đói rét, bệnh tật), cũng như pháp luật của nhiều quốc gia

cổ - trung đại (về sự bảo vệ của nhà nước và cộng đồng đối với các

nhóm cư dân yếu thế trong xã hội Phải đến Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, quyền kinh tế - xã hội mới chính thức được đề

cập một cách có hệ thống trong một văn kiện mang tính toàn cầu và trởthành một bộ phận quan trọng cấu thành quyền con người Tiếp đó năm

1966, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước quốc tế về các quyền kinh

tế, xã hội và văn hóa Trong văn kiện này, quyền kinh tế, xã hội và vănhóa đã được thừa nhận song song, cùng tồn tại với quyền dân sự, chínhtrị Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (Hội nghị toàn thế giới vềnhân quyền, tổ chức tại Viên (áo), tháng 6/1993) đã tiếp tục khẳng định

"quyền con người là phổ biến, không thể phân chia, phụ thuộc lẫn nhau

và quan hệ qua lại" Như vậy, việc "chia cắt" hoặc "đối lập" các loạiquyền cũng như quan niệm hạ thấp bất cứ loại quyền nào, dù là quyềnkinh tế - xã hội hay quyền dân sự - chính trị, đều là sai lầm, không phảnánh đúng bản chất của quyền con người Cho đến nay, hầu hết các quốcgia đã tham gia Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và vănhóa (144/202 quốc gia so với 147/202 quốc gia tham gia Công ước quốc

tế về các quyền dân sự, chính trị) Điều đó cho thấy, các quốc gia đã cónhận thức mới đối với nhóm quyền này

Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng nhân quyền thế kỷ XX, người ta đãxem các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa là thế hệ quyền thứ hai (saucác quyền dân sự, chính trị) Sự khẳng định nội dung, ý nghĩa, giá trị của

Trang 12

thế hệ quyền thứ hai trên các diễn đàn nhân quyền quốc tế là thành quảđấu tranh của các nước XHCN, đứng đầu là Liên Xô và của các nướcdân chủ nhân dân đi theo con đường XHCN.

Cũng như quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóakhông chỉ mang tính phổ biến mà còn mang tính đặc thù, chính vì vậycác quyền về kinh tế - xã hội và văn hóa cũng được ghi nhận cả trongcác văn kiện nhân quyền khu vực như: Hiến chương xã hội châu Âu;Nghị định thư bổ sung Công ước châu Mỹ về quyền con người trong lĩnhvực quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Hiến chương châu Phi về nhânquyền và quyền dân của các dân tộc

Tính đặc thù của các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trước hết bịquy định bởi sự phát triển kinh tế không đều giữa các khu vực và cácnước khác nhau Nói chung, nhiều quyền không đòi hỏi phải thực hiệnngay mà chỉ xác định như những mục tiêu và được chấp nhận thực hiện

"dần dần", từng bước

Cũng như các quyền dân sự, chính trị, các quyền kinh tế, xã hội làthành quả đấu tranh lâu dài của con người chống lại các thế lực chuyênchế để giành lại tự do cho mình Trong các chế độ xã hội trước đây, chẳnghạn chế độ nô lệ, phong kiến, những người lao động đã không thể cóđược quyền sở hữu, quyền lao động để đáp ứng nhu cầu của chính mình,thay vào đó họ bị cưỡng bức lao động, bị áp bức bóc lột, bị tước đoạt thànhquả lao động bởi những kẻ thống trị họ Những người lao động thậm chíkhông có quyền sở hữu chính thân thể họ thì chắc chắn không thể nói tớiquyền được sở hữu thành quả lao động của mình Vì lẽ đó, quyền kinh tếchỉ thực sự ra đời và được bảo đảm về mặt pháp lý khi xã hội thần dân bịthay thế bằng xã hội công dân Với ý nghĩa đó, quyền kinh tế vừa làthành quả của quá trình đấu tranh cho tự do, đồng thời cũng là một trongnhững sự biểu hiện xác thực của tự do và phẩm giá Điều đó cho thấy,quyền kinh tế gắn liền với tự do và sự giải phóng con người

Trang 13

Từ đó có thể thấy rằng, một chế độ mang lại sự giải phóng cho conngười trước hết phải mang lại cho con người những quyền kinh tế cơbản, mà không thể có bất cứ sự ràng buộc, điều kiện, chế định nào vềchính trị (chẳng hạn về sắc tộc, tôn giáo, dòng dõi,…) ngăn cản conngười được hưởng các quyền kinh tế của họ Mặc dù, về khách quan thìkhả năng đáp ứng các quyền và lợi ích kinh tế của con người đến đâu là

do trình độ của nền sản xuất xã hội quy định Nhận thức sâu sắc điềunày, ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nhấn mạnh: "Tất cả những việc Đảng và Chính phủ đề ra đều là nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân" (1)(1) Từ thực tiễn đó, có thể nhậnthấy, ngay từ khi ra đời, Nhà nước ta đã giành sự quan tâm đặc biệt đếnviệc bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội của người dân, để "aicũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong khi khẳng địnhnhững quyền kinh tế, xã hội cơ bản đó, thì do nhiều lý do khách quan vàchủ quan, giữa nhân thức và việc thực hiện trong thực tiễn ở mỗi giaiđoạn, mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau bên cạnh những điểm mạnh,những thành tựu to lớn đạt được, thì đồng thời cũng tồn tại những mặtcòn hạn chế, thậm chí có những lúc chúng ta đã mắc sai lầm nghiêmtrọng Chỉ từ sau khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, chúng tamới thực sự có được những nhận thức đầy đủ về điều kiện v để đảm bảoviệc thực hiện những quyền này một cách có hiệu quả

2 Quyền kinh tế - xã hội trong pháp luật quốc tế

Giai cấp tư sản sau khi đã giành được ưu thế kinh tế so với giai cấpphong kiến rồi mới tiến hành cách mạng nhằm giành quyền dân sự -chính trị Và khi chế độ tư bản chủ nghĩa được thiết lập, giai cấp tư sảnluôn nhấn mạnh tính "tích cực" của quyền dân sự, chính trị và xem nhẹ(1)(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.8.

Trang 14

các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, bởi lẽ đó là một gánh nặng (về mặtpháp lý) của giai cấp thống trị, của nhà nước tư bản chủ nghĩa Về mặtquan điểm, theo họ, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền tự nó là

sự bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội cho con người Về mặt lịch sử, một

số quyền kinh tế, xã hội được thực hiện ở một số nước châu Âu từ cuốithế kỷ XIX Sau Chiến tranh thế giới thứ I, nhóm quyền này được đề cậptrong các công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)

Ngày 10-12-1948, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Tuyênngôn thế giới về quyền con người Bản Tuyên ngôn này có 30 điều, trong

đó có 7 điều nói về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá: quyền sở hữu tàisản (Điều 17); quyền được bảo trợ, bảo đảm an ninh xã hội (Điều 22);quyền làm việc, tự do chọn nghề và được trả lương công bằng, xứngđáng (Điều 23); quyền được nghỉ ngơi, giải trí (Điều 24); quyền đượcbảo đảm một mức sống thích đáng, đủ cho sức khoẻ của bản thân và giađình (Điều 25); quyền được hưởng thụ một nền giáo dục tiến bộ (Điều26),

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người có giá trị lớn về tư tưởng,chính trị và đạo lý, nhưng không có giá trị ràng buộc pháp lý Vì vậy,ngay sau khi thông qua Tuyên ngôn, ủy ban nhân quyền đã được Đại hộiđồng Liên Hợp Quốc giao cho việc chuẩn bị một dự thảo văn kiện quốc

tế có tính ràng buộc pháp lý, nói cách khác là xây dựng một bộ luật vềquyền con người, bao gồm các điều khoản ghi trong Tuyên ngôn thế giới

về quyền con người Nhưng vì có những quan điểm khác nhau về hainhóm quyền nên ủy ban nhân quyền không thể xây dựng một điều ướcchung bao gồm cả các quyền dân sự - chính trị và kinh tế, xã hội, vănhoá, ủy ban đã quyết định xây dựng hai công ước 28 năm sau khi Tuyênngôn thế giới về quyền con người ra đời, qua nhiều lần dự thảo của ủyban nhân quyền và đóng góp ý kiến của các chính phủ, đến ngày 16-12-

1966, cùng với Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị (ICCPR),

Trang 15

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ICESCR) mớiđược Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết số 2200A(XXI) Và phải đến 10 năm sau, ngày 3-1-1976, ICESCR mới có hiệulực.

ICESCR gồm có Lời nói đầu, 5 phần với 31 điều Đó là nhữngquyền sau đây:

1 Quyền làm việc, điều kiện làm việc và sự hưởng thụ công bằng (Điều 6 và Điều 7) Lao động, làm việc thể hiện phẩm giá, năng lực, nhu

cầu và lợi ích của con người Đây chính là một nội dung lớn của quyềncon người ICESCR "thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyềncủa tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựachọn hoặc chấp thuận" (Điều 6) ở đây đã khẳng định quyền tự do lựachọn nghề nghiệp, việc làm, gián tiếp bảo vệ người lao động khỏi nạnthất nghiệp và chống lại lao động cưỡng bức

Quyền làm việc gắn liền với điều kiện làm việc ICESCR đã côngnhận "quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc côngbằng và thuận lợi" (Điều 7) Điều kiện làm việc công bằng và thuận lợiđược ghi nhận trong Công ước, cụ thể là: Trả lương và thù lao cho nhữngngười làm công thoả đáng và công bằng, không có sự phân biệt đối xửnào, đặc biệt là đối với phụ nữ; điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh; cơhội ngang nhau cho mọi người trong việc đề bạt; giới hạn hợp lý số giờlàm việc, bảo đảm sự nghỉ ngơi, những ngày nghỉ lễ và nghỉ thường kỳvẫn được hưởng lương

Các quy định liên quan đến quyền về lao động và việc làm đã sớmđược đề cập trong nhiều công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)

từ đầu thế kỷ XX và sau đó được Liên Hợp Quốc phát triển trong cáccông ước quốc tế về quyền con người Với mục đích giảm bớt những nỗibất công, khổ cực, thiếu thốn cho người lao động, ILO đã lần lượt thông

Trang 16

qua nhiều công ước quan trọng liên quan đến quyền và lợi ích của ngườilao động như Công ước về xoá bỏ chế độ lao động cưỡng bức (Công ước

số 105) năm 1930, Công ước về trả công bình đẳng giữa lao động nam

và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau (Công ước số100) năm 1951, Công ước về nạn phân biệt đối xử trong việc làm vànghề nghiệp (Công ước số 111) năm 1958, Công ước về chính sách việclàm (Công ước số 122) năm 1964, v.v Tất cả các công ước này đã hìnhthành nên cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền lợi cho người laođộng ở nhiều quốc gia trên thế giới

Các quyền về việc làm cũng được quy định rõ tại Điều 23 Tuyênngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Điều 5 của Công ước về xoá bỏnạn phân biệt chủng tộc, Điều 11 của Công ước quốc tế về xoá bỏ mọihình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, các Điều 6, 7, và 8 của Công ướcquốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Theo các điều khoản này thìcác quyền liên quan đến việc làm bao hàm một số nội dung cụ thể sau:

Thứ nhất, đó là quyền có việc làm và tự do lựa chọn hoặc chấp

thuận công việc Đây là quyền cơ bản và thiết yếu nhất trong nhóm cácquyền liên quan đến việc làm Để thực hiện quyền này, các quốc gia phải

có hành động, chương trình thích hợp để cung cấp các dịch vụ về việclàm và tìm kiếm việc làm đảm bảo cho người lao động không bị thấtnghiệp, không bị sa thải vô lý

Thứ hai, là quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử trong công

việc bao gồm cả quyền bình đẳng về thu nhập, và bình đẳng về cơ hội.Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền nêu rõ "Mọi người, không có sựphân biệt nào, có quyền được trả lương ngang nhau cho những công việcnhư nhau" (Điều 23(2)), Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hoácũng quy định "Trả lương thoả đáng và thù lao bằng nhau cho nhữngcông việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào" (Điều

Trang 17

7(a)(i)) Liên quan đến nhóm quyền này, pháp luật quốc tế đặc biệt quantâm đến việc đảm bảo quyền bình đẳng cho các nhóm lao động đặc biệtnhư người lao động tàn tật, lao động nữ, lao động người bản địa, ngườilao động cao tuổi v.v

Nội dung thứ ba của các quyền liên quan đến việc làm là quyền

được có môi trường làm việc thuận lợi, tức là người lao động cần đượchưởng mức lương thoả đảng đủ để nuôi sống bản thân và gia đình, đượchưởng các trợ cấp và bảo trợ xã hội cần thiết như có thời gian nghỉ ngơi

và thời gian nghỉ phép vẫn hưởng lương, được làm việc trong điều kiện

an toàn và vệ sinh

Cả ba nội dung trên đều đã được ghi nhận trong nhiều công ướcquốc tế, vì vậy, các quốc gia một khi đã trở thành thành viên của cáccông ước này thì đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện

2 Quyền được có một mức sống thoả đáng cho bản thân và gia đình (Điều 11) "Mức sống thoả đáng" ở đây là một mức sống đã được

"xoá đói giảm nghèo", như Công ước đã khẳng định "quyền cơ bản củamọi người là không bị đói" (Điều 11, khoản 2)

Quyền có mức sống thoả đáng đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế, khu vực có ý nghĩa quan trọng về quyền con người, chẳnghạn như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (Điều 25/1), Điều 6 (1) củaICCPR, Điều 14/2/g/h của CEDAW, Điều 5/e/iii của ICCERD, Điều 24,

27 của CRC, Điều 12 (1) của Nghị định thư bổ sung của Công ước châu

Mỹ về quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, Điều 4,Điều 31 của Hiến chương xã hội châu Âu (sửa đổi 1996) cùng nhiềutuyên bố và văn kiện của các cơ quan, tổ chức khác của Liên Hợp Quốc.Các văn kiện này nhìn chung đều đã thừa nhận việc hưởng thụ các nhucầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và một số các dịch vụ xã hội khác là mộtquyền cơ bản của mọi người Tuy nhiên, nội dung cơ bản của quyền này

Trang 18

được đề cập đầy đủ nhất tại Điều 11, Công ước quốc tế về quyền kinh tế,

xã hội và văn hoá (ICESCR)

Theo quy định ở Điều 11, có thể hiểu nội dung của quyền được cómức sống thoả đáng bao gồm quyền có đủ thực phẩm, quyền có nhà ở vàquyền được cải thiện không ngừng điều kiện sống của mình Việc đảm bảotốt quyền này sẽ là cơ sở cho sự tiếp cận một loạt các quyền khác nhưquyền sống, quyền về sức khoẻ, quyền không bị phân biệt đối xử v.v Mức sống thoả đáng cũng có nghĩa là "được ăn mặc đủ và có nhà ở,được cải thiện không ngừng điều kiện sống" (Điều 11) Mức sống nàyđược bảo đảm thực hiện không chỉ đối với người lao động, người làmcông mà còn đối với cả vợ con, gia đình họ Muốn vậy, vấn đề lươngthực, thực phẩm, nhà ở và các nhu yếu phẩm khác phải được sản xuất rađầy đủ bằng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến và phải được phân phốicông bằng, hợp lý

3 Quyền được bảo đảm sức khoẻ (Điều 12) Sức khoẻ ở đây gồm cả

thể chất và tinh thần và ở mức cao nhất có thể được Có rất nhiều vấn đềảnh hưởng đến sức khoẻ như đói nghèo, dịch bệnh, môi trường sống,dịch vụ y tế, vệ sinh cá nhân Vì vậy, để bảo đảm được quyền bảo vệ sứckhoẻ ở mức cao nhất có thể được thì không chỉ Nhà nước mà cả cá nhâncũng có trách nhiệm lớn và cụ thể

Quyền về sức khoẻ là một quyền nhận được nhiều sự quan tâmtrong những năm gần đây của cộng đồng quốc tế nói chung, của hệ thốngcác cơ quan, tổ chức trong hệ thống Liên Hợp Quốc nói riêng Khuyếnnghị chung mới nhất của ủy ban công ước IESCR (thông qua ngày 11tháng 5 năm 2000) được dành cho vấn đề này Tại kỳ họp thứ 49 ngày22/4/ 2002, ủy ban quyền con người Liên Hợp Quốc cũng mới thông quanghị quyết về nhiệm vụ của Báo cáo viên đặc biệt về quyền được hưởng

Trang 19

những tiêu chuẩn cao nhất về sức khoẻ thể chất và tinh thần của tất cảmọi người

Quyền được hưởng tiêu chuẩn cao nhất về sức khoẻ với nghĩa làmột quyền cơ bản của con người lần đầu tiên được đề cập đến trong vănkiện thành lập của WHO năm 1946 Hai năm sau, nó được nhắc lại trongĐiều 25 của văn kiện quốc tế đầu tiên về quyền con người, đó là Tuyênngôn nhân quyền Cũng từ đây, quyền này liên tục được ghi nhận trongnhiều văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người: Điều 12 củaCông ước IESCR, Điều 5/e/iv của công ước ICERD, Đđiều 24 của CRC,Điều 11/1/f và Điều 12 của CEDAW, cùng nhiều công ước, văn kiện củaILO và của WHO

Điều 12 của Công ước IESCR quy định: mọi người đều có quyềnđạt tới tiêu chuẩn cao nhất về sức khoẻ, trên cơ sở thực hiện các biệnpháp như: cung cấp dịch vụ y tế, giảm tỷ lệ sẩy thai, tỷ lệ tử vong ở trẻ

sơ sinh, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, vệ sinh công nghiệp,ngăn ngừa, xử lý và hạn chế dịch bệnh

Quyền được hưởng tiêu chuẩn cao nhất về sức khoẻ thường đượcbiết đến với một số tên gọi khác nhau như quyền về sức khoẻ, quyềnđược chăm sóc sức khoẻ hay quyền được bảo vệ về sức khoẻ v.v nhưng tựu trung lại, đều hướng đến việc yêu cầu các quốc gia đưa ranhững biện pháp tốt nhất có thể để mọi người được cải thiện tình trạngsức khoẻ của mình ở mức cao nhất

Khuyến nghị chung số 14 của ủy ban công ước IESCR giải thích:

"quyền về sức khoẻ không đồng nghĩa với quyền được khoẻ mạnh.Quyền về sức khoẻ bao gồm cả tự do và quyền được chăm sóc sứckhỏe"(1)(1) Tự do gồm có tự do làm chủ sức khoẻ và cơ thể của mình, tự

do không bị tra tấn, bị làm vật thí nghiệm v.v ; quyền ở đây được hiểu

institute of Human rights and Humanitarian 3 rd Edition, 2001, Lund trang 126

Trang 20

là quyền được có một hệ thống bảo vệ sức khoẻ bình đẳng về cơ hội chotất cả mọi người Bản thân nhà nước hoàn toàn không thể đảm bảo chomọi người thường xuyên khoẻ mạnh, không bị ốm đau bệnh tật mà chỉ

có thể cung cấp các phương tiện, dịch vụ và các điều kiện cần thiết khác

để cải thiện tình trạng sức khoẻ ở mức tốt nhất Cụ thể là mọi biện phápquốc gia và quốc tế để đảm bảo quyền này đều phải dựa trên những yêucầu sau:

- Chăm sóc y tế cơ bản;

- Có nguồn nước sạch và thực phẩm an toàn, dinh dưỡng, điều kiện

vệ sinh, môi trường tốt;

- Cung cấp lượng thuốc men cần thiết;

- Giáo dục và thông tin liên quan đến vấn đề sức khoẻ;

- Thực hiện các chương trình tiêm chủng đối với các bệnh truyền nhiễm;

- Thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội;

- Đào tạo đội ngũ cán bộ y tế

Tiếp cận quyền con người đối với vấn đề sức khoẻ trong điều kiệnhiện nay cần chú ý đến sự cân đối giữa việc đảm bảo sức khoẻ cộngđồng và sức khoẻ của mỗi cá nhân, trong đó đặc biệt lưu ý tới nhữngnhóm cần được nhận sự chăm sóc đặc biệt như trẻ em, phụ nữ, người già,người tàn tật, người thuộc dân tộc thiểu số, người bị nhiễm HIV/AIDS.Các biện pháp nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng cần được coi là ưu tiênhàng đầu trong chính sách về y tế của mỗi quốc gia, đồng thời vẫn phảibảo đảm được nguyên tắc không phân biệt đối xử và không vi phạm đếnquyền, tự do của mọi cá nhân trong cộng đồng So với thời điểm công ước

ra đời, bức tranh về tình hình sức khoẻ của con người cũng có nhiều thayđối lớn, chẳng hạn như sự xuất hiện của căn bệnh đại dịch thế kỷHIV/AIDS, bệnh SARS, sự gia tăng của nhiều căn bệnh hiểm nghèo như

Trang 21

ung thư, bệnh tim mạch , nên nhận thức về quyền sức khoẻ cũng cầnđược mở rộng hơn Tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền về sức khoẻkhông chỉ để bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng mà còn phải đặc biệt lưu ýđến bảo vệ quyền con người và tự do của người bệnh Do mức độ lây lan

và sự nguy hiểm của một số bệnh tật mà chiến lược hành động về sứckhoẻ không chỉ giới hạn trong từng quốc gia mà cần phải mở rộng ra ởquy mô toàn cầu Vì vậy, hợp tác quốc tế cũng là một biện pháp cầnđược chú ý để thực hiện quyền này

4 Quyền xã hội của phụ nữ và trẻ em, bao gồm quyền của bà mẹ

được bảo hộ đặc biệt khi thai nghén, sinh đẻ, và thanh thiếu niên đượcbảo vệ và chăm sóc đặc biệt (Điều 10) Quyền này đã được nói rõ trong

cả ba khoản mục của Điều 10, và hơn nữa đã được thể hiện khá đầy đủtrong Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ(CEDAW) và Công ước về quyền trẻ em (CRC)

5 Quyền được hưởng an toàn xã hội và bảo hiểm xã hội (Điều 9).

Nội dung bảo đảm an sinh xã hội bao gồm các việc: chăm sóc sức khoẻ vàtrợ cấp cho người lao động và gia đình họ khi gặp khó khăn, trợ cấp tàn tật,

và bảo đảm phúc lợi cho người lao động khi họ đã già, về hưu, họ ốmđau hoặc họ bị tai nạn khi làm việc Còn đối tượng được hưởng an sinh

xã hội và bảo hiểm xã hội là tất cả mọi người, trong đó đặc biệt chú trọng

là những người già yếu, bệnh tật, thất nghiệp, những người goá bụa vàtrẻ mồ côi

6 Quyền được giáo dục (Điều 13 và Điều 14) Quyền được giáo

dục là một phần rất quan trọng của quyền con người, là điều kiện tiênquyết để thực hiện và thúc đẩy quyền con người Vì vậy ICESCR đã ghinhận khá đầy đủ và cụ thể về quyền này Điều 13 khẳng định quyền củamọi người được hưởng nền giáo dục với một ý nghĩa sâu sắc: "Giáo dụccần được hướng vào việc phát triển đầy đủ nhân cách và ý thức về nhân

Trang 22

phẩm và phải nhằm tăng cường sự tôn trọng các quyền con người" Côngước còn qui định những mục tiêu cụ thể của từng cấp học và những hìnhthức tổ chức giáo dục thích hợp như: Giáo dục tiểu học là bắt buộc, phổcập và không mất tiền đối với tất cả mọi người; giáo dục trung học,chuyên nghiệp và kỹ thuật phải được phổ cập tới tất cả mọi người bằngmọi biện pháp thích hợp, đặc biệt là bằng cách áp dụng giáo dục khôngmất tiền; từng bước áp dụng giáo dục không mất tiền để làm cho mọi người

có cơ hội đồng đều tiến tới giáo dục bậc đại học trên cơ sở năng lực củamỗi người; xây dựng chế độ học bổng và không ngừng cải thiện các điềukiện vật chất cho đội ngũ giáo viên; và tôn trọng quyền của các bậc cha

mẹ lựa chọn cơ sở đào tạo tại các trường tư thục cho con cái mình

 Về trách nhiệm của quốc gia, Công ước quy định, tiến hành cácbiện pháp thích hợp, đặc biệt là các biện pháp kinh tế kỹ thuật, và sửdụng tối đa các nguồn lực của mình nhằm thực hiện ngày càng đầy đủcác quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cho tất cả công dân và không có sựphân biệt đối xử nào Các nước đang phát triển có thể quyết định mức độbảo đảm các quyền kinh tế cho những người không phải là công dân củamình (Điều 2) Điều này cho phép và đòi hỏi các quốc gia phải rất chủđộng, đề ra những biện pháp tích cực phù hợp với điều kiện của đất nướcmình nhằm thực hiện ICESCR

 Bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc thực hiện các quyềnkinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 3) Phụ nữ thường bị phân biệt đối xử,

bị thiệt thòi so với nam giới, nên yêu cầu bảo đảm quyền bình đẳng nam

nữ trong việc thực hiện Công ước là rất cần thiết

 Quy định việc hạn chế các quyền trong Công ước: Các quốc giathành viên chỉ được đặt ra hạn chế bằng pháp luật với mục đích thúc đẩyphúc lợi chung và không trái với bản chất các quyền nêu trong Công ước(Điều 3)

Trang 23

 Không được giải thích sai lệch, hạn chế hoặc hạ thấp giá trị cácđiều khoản trong Công ước (Điều 5) Điều này khẳng định lại sự đúngđắn đã được thừa nhận của Công ước, yêu cầu các quốc gia phải có tráchnhiệm cao trong việc thực hiện Công ước, tránh những nhận thức sai vànhững hành động phá hoại đối với các chủ thể trong việc thực hiện cácquyền kinh tế, xã hội.

Cũng như các Công ước nhân quyền khác, ICESCR có giá trị pháp

lý cao đối với các quốc gia thành viên Việc thực thi ICESCR thuộctrách nhiệm của mỗi quốc gia, theo các qui định được ghi rõ tại các Điều

2, 3 và 4 của Công ước Đó là việc các quốc gia thành viên cam kết tiếnhành các biện pháp riêng hoặc thông qua hợp tác, giúp đỡ quốc tế, đặcbiệt là biện pháp lập pháp và kinh tế, kỹ thuật, sử dụng tối đa các nguồnlực sẵn có, nhằm thực hiện ngày càng đầy đủ các quyền được thừa nhậntrong Công ước Các quốc gia phải cam kết bảo đảm rằng các quyền nêutrong Công ước được thi hành không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào;mỗi quốc gia chỉ có thể đặt ra những hạn chế bằng các quy định phápluật và trong chừng mực các hạn chế không trái với bản chất của cácquyền nêu trong Công ước và hoàn toàn vì mục đích thúc đẩy phúc lợichung trong một xã hội dân chủ

Sự ràng buộc pháp lý đối với quốc gia thành viên điều ước quốc tế

là một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, luôn được nêu trong cácCông ước nhân quyền và nhấn mạnh tại các diễn đàn quốc tế quan trọng.Hội nghị thế giới về nhân quyền lần thứ hai, tại Viên (áo, 1993) đã thúcgiục các chính phủ cần đưa các tiêu chuẩn nhân quyền vào luật phápquốc gia, củng cố các cơ cấu quốc gia, các thể chế và tổ chức xã hội hiệnđang đóng vai trò thúc đẩy và bảo vệ quyền con người

ở một phạm vi hẹp hơn, nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý đối vớiICESCR, Hội nghị Limburg (Hà Lan, 1986) đã đề ra Nguyên tắc Limburg,trong đó nhấn mạnh: Các quốc gia thành viên phải đưa ra những biện

Trang 24

pháp hiệu quả, bao gồm những biện pháp tư pháp ở những nơi cần thiết,

để thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá

Tuy nhiên, để nâng cao hiệu lực pháp luật, trên phạm vi quốc tế rấtcần có cơ chế giám sát thực thi Công ước

Có thể do nhận thức rằng, các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá khôngphải là "quyền tuyệt đối", và nó được "thực hiện dần" chứ không phải

"ngay lập tức", nên ICESCR chưa qui định việc thành lập ủy ban giámsát đặc biệt như ICCPR hay các Công ước nhân quyền khác Việc giámsát đối với Công ước được qui định ở Phần IV của ICESCR, song cơ chếnày tỏ ra lỏng lẻo hơn nhiều so với cơ chế của ICCPR Hội đồng kinh tế,

xã hội, văn hoá (ECOSOC) được uỷ quyền đảm trách vai trò này, songdường như nó không thể thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát do ICESCR đặt

ra, bởi ECOSOS còn phải thực hiện nhiều chức năng trọng yếu khác vềnhân quyền do Hiến chương qui định Hạn chế này khách quan đặt ranhu cầu tăng cường cơ chế giám sát quốc tế đối với Công ước và trênthực tế đã từng bước được khắc phục bởi việc thành lập ủy ban về cácquyền kinh tế, xã hội, văn hoá và những tìm kiếm, đề xuất tiếp theo.Theo qui định tại ICESCR (có hiệu lực từ năm 1976), ECOSOC cótrách nhiệm xem xét các báo cáo của các quốc gia thành viên gửi đếntheo định kỳ (2 năm đối với báo cáo đầu tiên và 5 năm một lần với cácbáo cáo tiếp theo) Báo cáo quốc gia phải đề cập đến những biện pháplập pháp, tư pháp, cũng như các chính sách, biện pháp khác mà quốc gia

đã thực hiện để bảo đảm thực hiện các quyền nêu trong Công ước Khácvới ICCPR, ICESCR phải được định lượng rõ việc thực hiện các quyền

Vì vậy, một trong các nội dung của báo cáo được ủy ban quan tâm lànhững chỉ số, thể hiện mức độ thực hiện các quyền, và những khó khăn

mà quốc gia vấp phải trong việc thực hiện Hội đồng kinh tế, xã hội đãlập ra ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa để giúp Hội đồngtheo dõi vấn đề này Thẩm định báo cáo quốc gia được xem là cách thức

Trang 25

tốt để giám sát ICESCR, qua đó những đường nét chủ yếu của bức tranhnhân quyền trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá của một quốc gia nổilên, nhờ đó ủy ban có thể đưa ra khuyến nghị về cách thức thực hiện tốthơn Công ước.

Như vậy, với việc ra đời và hoạt động của ủy ban về các quyền kinh

tế, xã hội, văn hoá, cơ chế giám sát ICESCR có nhiều nét tương ứng vớicác Công ước nhân quyền khác Tuy nhiên, một vấn đề đang được đặt ra

là khi các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá của một cá nhân bị vi phạm thì

họ không thể gửi khiếu nại của mình lên ủy ban, do đó làm hạn chế cơhội của nạn nhân đối với sự hỗ trợ quốc tế Trong khi đó, cơ chế quốcgia tỏ ra chưa hiệu quả, mặc dù ủy ban luôn nhấn mạnh trong các hướngdẫn lập báo cáo quốc gia (khi đặt ra câu hỏi: liệu các điều khoản của Côngước có thể được viện dẫn và được trực tiếp cưỡng chế thực hiện, bởi toà

án hay quan chức chính quyền không) Theo ủy ban, hiện đang có cáccách hiểu và thực hiện khác nhau ở các quốc gia Một số quốc gia đã ápdụng trực tiếp các điểu khoản của Công ước; một số quốc gia thừa nhận vềnguyên tắc việc sử dụng Công ước trong diễn giải luật trong nước, nhữngkết quả xử các vụ việc còn hạn chế; còn một số quốc gia, toà án từ chốibất kỳ mức độ hiệu lực pháp lý nào của Công ước, đối với các vụ việc cánhân khiếu kiện đã viện dẫn các điều khoản của Công ước Khi toà ánsao nhãng trách nhiệm (tức không tính đến các quyền qui định trong Côngước, khi điều này là cần thiết để bảo đảm rằng hành động của quốc gia làphù hợp với nghĩa vụ của quốc gia đối với Công ước) sẽ trái với nguyêntắc pháp quyền là điều luôn phải có để bảo đảm tôn trọng các nghĩa vụquốc tế về nhân quyền (xem Nhận xét chung số 9, tháng 12-1998, mục D,14)

Để khắc phục các hạn chế này, hiện có nhiều đề xuất ủng hộ việcLiên Hợp Quốc thông qua một thủ tục khiếu nại theo Công ước Các đềxuất này cho rằng, như vậy sẽ thúc đẩy sự hưởng thụ các quyền kinh tế,

Trang 26

xã hội, văn hoá; tăng cường trách nhiệm quốc tế; làm tăng thêm nhữngđiểm tương đồng giữa ICESCR so với ICCPR… ủy ban đã lưu ý đến đềxuất này và quá trình tiến tới một thủ tục khiếu nại theo Công ước đangđược thúc đẩy mạnh mẽ, thể hiện ở nhiều cuộc thảo luận chung về dựthảo nghị định thư không bắt buộc của ICESCR Đây là những nét mới,thể hiện bước nhận thức sâu sắc của cộng đồng quốc tế đối với nhómquyền kinh tế, xã hội, văn hoá.

Tuy nhiên, ủy ban cũng chỉ rõ: "Việc tồn tại và phát triển thêm cáctrình tự, thủ tục quốc tế về khiếu kiện cá nhân là quan trọng, nhưng cácthủ tục này suy cho cùng cũng chỉ là các biện pháp bổ trợ cho các biệnpháp hiệu quả của quốc gia" (xem Nhận xét chung số 9, tháng 12-1998,mục B, 4) Điều này, một lần nữa cho thấy rằng, nhân quyền là vấn đềrộng lớn và phức tạp; việc đảm bảo hiệu quả nó trước hết và chủ yếu là

từ nhận thức và hành động tự thân của mỗi quốc gia Chính điều đó tạo

cơ sở cho sự thực hiện đầy đủ và bền vững nhân quyền cho mọi thànhviên xã hội Mọi áp đặt nhân quyền đều trái với luật pháp quốc tế vàkhông thể thành công

II Sự phát triển của Quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội ở nước

ta thời kỳ đổi mới

1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người trên lĩnh vực kinh tế - xã hội

ở Việt Nam, nội dung các quyền kinh tế, xã hội sớm được khẳngđịnh trong pháp luật Ngay từ Hiến pháp 1946, bên cạnh các quyền dân

sự, chính trị, các quyền kinh tế, xã hội đã được ghi nhận như: quyền tưhữu tài sản của công dân được bảo đảm (Điều 12); quyền lợi các giới cầnlao, trí thức và chân tay được bảo đảm (Điều 13); những người công dângià cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ Trẻ con được

Trang 27

săn sóc về mặt giáo dưỡng (Điều 14); nền sơ học cưỡng bách và khônghọc phí

Trong quan hệ quốc tế, sau khi trở thành thành viên của Liên HợpQuốc (1977), Nhà nước ta đã gia nhập nhiều Công ước quốc tế về quyềncon người Điều này cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận nhiềugiá trị pháp lý quốc tế về quyền con người Tuy nhiên, sau ngày thốngnhất đất nước, do nhiều lý do, cả về chủ quan lẫn khách quan, Nhà nước

ta chưa nhận thức được đầy đủ quyền kinh tế, xã hội, điều này đã dẫn tớinhững khó khăn nhất định trong việc thực hiện đầy đủ những quyền này.Xem xét một cách khách quan và trên ý nghĩa nhất định, có thể nói, cơchế quản lý tập trung quan liêu bao cấp ấy đã có vai trò quan trọng trong

sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhờ đó công dân đã được hưởng một sốquyền về xã hội như: đi học không mất tiền, chữa bệnh không mất tiền Nhưng, do điều kiện cụ thể của đất nước, như chiến tranh kéo dài và nhất

là nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH chưa chính xác, cơchế quản lý tập trung quan liêu bao cấp tồn tại quá lâu, nên việc thựchiện quyền kinh tế, xã hội có những hạn chế nhất định

Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp khiến cho người dânkhông thể thực hiện đầy đủ các quyền kinh tế, xã hội của mình; không tựphát huy khả năng sáng tạo, trái lại đã tạo ra tâm lý ỷ lại, trông chờ vàonhà nước Hiệu quả, năng suất, chất lượng cũng như số lượng công việchầu như bị áp đặt từ trên xuống, phân phối thì bình quân cào bằng.Người lao động với tư cách cá nhân, mất quyền làm chủ trên thực tế đốivới tư liệu sản xuất, và họ cũng mất luôn quyền tổ chức - quản lý sảnxuất, kinh doanh, do đó quyền phân phối, quyền được hưởng thụ cácthành quả lao động chẳng những không được bảo đảm mà còn bị vi phạmnghiêm trọng

Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt mang tính nhảy vọtcủa tư duy trong điều kiện mới Với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật,

Trang 28

đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", Đảng ta đã phân tích sâu sắc tìnhhình chính trị, xã hội ở trong nước, nhận rõ xu thế thời đại, Đại hội đã đề

ra đường lối đổi mới toàn diện bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế Chúng

ta đã nhận thức và chủ trương thực hiện một nền kinh tế đa sở hữu, đa thành phần, thay thế cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp bằng

việc phát triển kinh tế hàng hóa, áp dụng cơ chế thị trường Trên cơ sởtổng kết từng bước thực tiễn đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên CNXH được Đại hội VII thông qua đã xác định:

"Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân laođộng làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sảnxuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người được giải phóngkhỏi áp bức bóc lột, bất công , các dân tộc trong nước bình đẳng, đoànkết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị hợp tác vớinhân dân tất cả các nước trên thế giới" Cương lĩnh còn xác định: "phùhợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất thiết lập từng bước quan hệ

sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng

XHCN "

Trên cơ sở tư tưởng, quan điểm của Cương lĩnh, Chiến lược ổn định

và phát triển kinh tế - xã hội (đến năm 2000) đã xác định mục tiêu và

động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người; đặt con

người vào vị trí trung tâm, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗitập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiệncho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xâydựng đất nước, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Mọi ngườiđược tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thunhập hợp pháp

Trang 29

Trên cơ sở thực tiễn chính trị, xã hội và hiện thực đời sống kinh tếcủa đất nước, càng ngày chúng ta càng nhận thức một cách có hệ thống

và sâu sắc về nền kinh tế đa sở hữu, đa thành phần, đa phương thức quản

lý, đa phương thức phân phối, thực hiện cơ chế thị trường theo định hướngXHCN Nói về sở hữu là nói về quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất.Đến nay, ở nước ta đã hình thành ba hình thức sở hữu cơ bản đối với tưliệu sản xuất: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, và sở hữu tư nhân Từ cáchình thức sở hữu cơ bản đó đã hình thành nền kinh tế nhiều thành phần baogồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tưbản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài

Có thể nói, chế độ sở hữu với ba hình thức cơ bản như trên đã đemlại một cơ hội mới cho việc bảo đảm quyền con người Ngày nay ở nước

ta hễ ai có sức lao động, có tư liệu sản xuất, có tiền vốn, được giaoquyền sử dụng ruộng đất… đều có thể tham gia hoạt động kinh tế, nângcao đời sống và làm giàu Kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất dướimọi hình thức là quyền con người để tạo thu nhập, tăng trưởng kinh tế,cải thiện không ngừng đời sống cho cá nhân và cho xã hội Xây dựngnền kinh tế với các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế như hiệnnay ở nước ta là cơ sở kinh tế cho quyền con người của mọi người, phùhợp với trình độ xã hội hiện thời ở nước ta Dù là nhà tư sản, tiểu chủ,người kinh doanh cá thể, người kinh doanh tập thể, công nhân, viên chứcnhà nước, người lao động làm thuê… những con người gắn với nền kinh

tế đa sở hữu, đa thành phần do điều kiện lịch sử sản sinh ra, đều cóquyền sống và hoạt động, mưu cầu lợi ích trong chính điều kiện lịch sử

ấy và đều bình đẳng trước pháp luật, đều được nhà nước bảo hộ, khuyếnkhích và giúp đỡ phát triển phù hợp với thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa

xã hội của nước nhà Từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang

cơ chế thị trường, trong đó khâu mấu chốt là sự đổi mới nhận thức về

Trang 30

vấn đề quyền sở hữu - cơ sở nền tảng của việc xây dựng và phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là sự biến đổi sâu sắc về lýluận và thực tiễn trên lĩnh vực quyền con người ở nước ta trong thời kỳmới

Từ sự đổi mới nhận thức về vấn đề sở hữu thể hiện trong Nghịquyết Đại hội VI (1986), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên CNXH và Hiến pháp 1992 (có sửa đổi, bổ sung) đã cụ thể hóanhững sự đổi mới cơ bản về các quyền kinh tế, xã hội Những điểm đổimới cơ bản là:

- Xác định mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng Việt Nam làxây dựng một xã hội mới do nhân dân lao động làm chủ; có một nềnkinh tế phát triển cao; có nền văn hóa tiên tiến; đậm đà bản sắc dân tộc;con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công có cuộc sống

ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; cácdân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ;

có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thếgiới"(1)(1), xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân, vìdân

- Để đảm bảo các quyền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyếtxóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang thực hiện nhấtquán chính sách kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường theo địnhhướng XHCN Có thể nói những đổi mới về nhận thức trên lĩnh vực kinh

tế là một khâu đột phá quan trọng trong việc bảo đảm các quyền kinh tế

cơ bản của người dân, như quyền sở hữu, quyền làm việc, quyền tự dokinh doanh, quyền nâng cao mức sống,

(1)(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, H,

1991, tr 8, 9.

Trang 31

- Về việc bảo đảm các quyền xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã chủtrương "phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bìnhđẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xãhội"(1)(1) Nét mới trong quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước tatrên lĩnh vực xã hội là ở chỗ bảo đảm sự công bằng và quyền bình đẳng

về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi người, thay vì tư tưởng bình quântrong cơ chế cũ, đồng thời kiềm chế sự phân cực giàu nghèo, gắn tăngtrưởng với tiến bộ và công bằng xã hội

Như vậy những đổi mới cơ bản trong nhận thức về các quyền kinh

tế, xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới bao gồm hai phương diện: thứ nhất, ghi nhận quyền kinh tế, xã hội, với tư cách là một bộ phận cơ bản của quyền con người; thứ hai, là sự bảo đảm việc thực hiện các quyền đó

bằng cơ chế quốc gia và sự cam kết thực hiện một cách tích cực và cóhiệu quả trước cộng đồng quốc tế

Với việc gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội vàvăn hóa, chúng ta đã cam kết cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ và pháttriển những quyền này, với ý nghĩa là những bộ phận cấu thành quantrọng của quyền con người Bên cạnh những cách thức và nỗ lực chungnhư các quốc gia thành viên tham gia vào hệ thống các công ước quốc tế

về quyền con người, do định hướng giá trị và điều kiện kinh tế-xã hội,cũng như bối cảnh lịch sử, văn hóa riêng của mình, Nhà nước ta cũng cónhững quan điểm cụ thể trong thực tế triển khai việc đảm bảo quyền kinh

tế cho người dân Cụ thể là:

- Tăng trưởng kinh tế là cơ sở cho việc bảo đảm các quyền con người nói chung và quyền kinh tế của người dân nói riêng.

- Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội Đây là

nguyên tắc chiến lược, định hướng cho toàn bộ quá trình phát triển của(1)(1) Sách đã dẫn, tr 13.

Trang 32

đất nước ta trong công cuộc đổi mới Quan điểm đó xuất phát từ tínhchất của giai cấp, của nền chính trị định hướng XHCN, nó thể hiện bảnchất nhân đạo và tiến bộ của chế độ ta Cụ thể hơn quan điểm này, trênlĩnh vực kinh tế chúng ta đưa ra phương châm "phát triển kinh tế đi đôivới thực hiện xóa đói giảm nghèo" Với chủ trương này, Nhà nước tamột mặt khuyến khích công dân ra sức làm giàu chính đáng cho mình vàcho đất nước, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, áp dụng mọi biện pháp

để đạt được sự tăng trưởng kinh tế, mang lại mức sống ngày càng cao,song mặt khác Nhà nước cũng nhận thức rõ vai trò xã hội của mình vàtích cực phát huy vai trò đó trong việc thực thi mọi biện pháp nhằm kiềmchế sự phân hóa giàu nghèo, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội Xéttrên lĩnh vực bảo vệ quyền con người, quan điểm này chính là nhằm bảo

vệ quyền của nhóm người bị thiệt thòi, (nhóm người nghèo, khu vựcnông thôn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, những ngườikhuyết tật,…), một mặt nhằm tạo điều kiện cho họ có cơ hội bình đẳng

để tham gia vào đời sống kinh tế, xã hội của đất nước; mặt khác, huyđộng các nguồn lực trợ giúp trực tiếp cho họ bằng nhiều hình thức khácnhau

- Phát huy nội lực, kết hợp với tranh thủ tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài Quan điểm này nhằm đáp ứng yêu cầu

đặt ra từ thực tế nước ta vốn có xuất phát điểm kinh tế thấp, còn đangtrong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thựchiện được các mục tiêu kinh tế, xã hội, với ý nghĩa những điều kiện cănbản, có ý nghĩa quan trọng trực tiếp trong việc đảm bảo và phát triểnquyền con người, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát huy nội lực làchính, kết hợp với tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài và sử dụng

có hiệu quả vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây

có thể xem là phương châm hành động của chúng ta trong quá trình hộinhập quốc tế, tích cực tăng cường các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế,

Trang 33

tranh thủ tối đa mọi nguồn lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, song phải luôn giữ được thế chủ động, dựa vàosức mạnh nội tại của mình là chính mà không để phụ thuộc vào bênngoài Về mặt chính trị, đây cũng là điều kiện căn bản, có ý nghĩa quantrọng trực tiếp trong việc đảm bảo các quyền con người ở nước ta Xétđến cùng, đối với bất cứ quốc gia, dân tộc nào, độc lập tự chủ là điềukiện tiên quyết cho việc bảo đảm quyền con người

- Kết hợp các nguồn lực từ nhà nước và cộng đồng - Nhà nước và nhân dân cùng làm theo phương châm người nghèo, xã nghèo vươn lên

là chính và Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ; thực hiện xã hội hóa các hoạtđộng xóa đói giảm nghèo

2 Những thành tựu về quyền con người trên lĩnh vực kinh tế

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, phát triểnkinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm nhằm từngbước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phầnthực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Đây là quan điểm cơ bản trongviệc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Chỉ 6 năm sau khi trở thành thành viên Liên Hợp Quốc, Việt Nam

đã gia nhập hai Công ước cơ bản nhất về quyền con người: Công ướcquốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyềnkinh tế, xã hội và văn hóa (đều vào ngày 24-9-1982) Sự kiện này chứngminh nhận thức, quan điểm nhất quán và sáng rõ của Nhà nước ViệtNam đối với vấn đề nhân quyền nói chung, các quyền kinh tế, xã hội,văn hoá nói riêng Cần lưu ý rằng, năm 1982, là thời điểm trước khi ViệtNam thực hiện đường lối đổi mới

Là thành viên ICESCR, Việt Nam có nghĩa vụ tuân thủ các qui địnhcủa Công ước về việc chuyển hoá Công ước vào pháp luật quốc gia, tổchức thực hiện và nộp báo cáo quốc gia theo nghĩa vụ ghi trong Công

Trang 34

Quá trình chuyển hoá ICESCR là quá trình Việt Nam rà soát luậtpháp trong nước, cụ thể hóa bằng những chính sách, pháp luật nhữngđiều có liên quan đến các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá; đồng thời bổsung thêm những qui định mới trong hệ thống pháp luật quốc gia Quátrình chuyển hoá ICESCR diễn ra đồng thời với quá trình Nhà nước ViệtNam hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN Vì vậy, nội dung của ICESCR đã được thể hiện khá đầy

đủ trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam

Trước đổi mới, cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đãbộc lộ những mặt hạn chế lớn: phủ nhận trên thực tế sở hữu tư nhân tưbản chủ nghĩa, phủ nhận kinh tế thị trường, phân phối bình quân v.v Điều này chẳng những chưa đảm bảo những quyền cơ bản của ngườidân, như quyền sở hữu, quyền được tự do lựa chọn việclàm, tự do kinhdoanh mà còn dẫn tới thông tin và xử lý thông tin sai lệch, phân bổ cácnguồn lực kém hiệu quả, làm suy yếu động lực đối với người lao động.Kết quả là nền kinh tế thiếu năng động, cơ hội lựa chọn việc làm, tạo thunhập chính đáng của người dân bị bó hẹp; tính sáng tạo và tự chủ cánhân không được phát huy, thậm chí còn bị hạn chế Tình trạng thiếu hụtkinh niên từ lương thực cho đến các hàng tiêu dùng khác đã làm gia tăngcác căng thẳng trong đời sống xã hội

Đại hội Đảng VI diễn ra vào tháng 12/1986 đã quyết định đường lốiđổi mới toàn diện đất nước, trong đó nội dung cơ bản là chuyển từ nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN và thực hiện chính sách mở cửa, chủ động từng bước hộinhập kinh tế quốc tế Công cuộc đổi mới ở nước ta đã tạo ra một bướcngoặt về chất trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển con người bằngcách mở rộng cơ hội phát triển cho các cá nhân và cộng đồng xã hội

Trang 35

Quan điểm chủ đạo của Đảng ta về "mục tiêu và động lực chính của

sự phát triển là vì con người, do con người; đặt con người vào vị trí trung tâm…" đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật và chính

sách của nhà nước Kế thừa và phát triển những nội dung về quyền conngười được ghi nhận trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, Hiến pháp

1992 khẳng định: "ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa được tôn trọng" Cụ thể hóa quan điểm bảo vệ và phát triển quyền con người

được ghi nhận trong Hiến pháp, trên những lĩnh vực cụ thể, các luật củanhà nước ta đều ghi nhận và khẳng định những quyền kinh tế cơ bản củacông dân

2.1 Bảo đảm quyền sở hữu

Quyền sở hữu là một quyền cơ bản của con người Việc thừa nhận

về mặt pháp luật quyền sở hữu là đặc biệt quan trọng, vì quyền sở hữu là

cơ sở của các hoạt động kinh tế và là động lực của sự phát triển xã hội.Chính nhờ có quyền sở hữu mà mỗi người có thể thực hiện các quyềnđược làm việc, lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền được phân phốicông bằng còn là cơ sở bảo đảm quyền có mức sống thỏa đáng

Quyền sở hữu bao gồm: quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, quyền sởhữu về tư liệu tiêu dùng, quyền sở hữu về của cải thừa kế ở mỗi xã hộikhác nhau, quan niệm và thái độ đối với vấn đề sở hữu cũng khác nhau

ở Việt Nam, ngay sau khi ra đời, Nhà nước ta đã ban hành Hiếnpháp 1946, trong đó quy định: "Quyền tư hữu tài sản của công dân ViệtNam được bảo đảm" (Hiến pháp 1946, Đ12) Hiến pháp sửa đổi năm

1959 tiếp tục khẳng định: "ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời

kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là:hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu củahợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình

Trang 36

thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tưsản dân tộc" (Điều 11) Theo đó, Nhà nước "bảo hộ quyền sở hữu vềruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân, tư liệu sản xuất củanhững người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác",

" quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dântộc"; Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải hợp pháp,của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác; "Nhà nước chiếutheo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân" (Hiếnpháp 1959, Điều 14, 15, 16, Điều 18, 19)

Như vậy, xuất phát từ thực tế đất nước ở thời điểm cần đoàn kếtmọi giai cấp, tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thốngnhất đất nước, Nhà nước ta đã thừa nhận đa hình thức sở hữu trong nềnkinh tế, đặc biệt thừa nhận quyền sở hữu của người lao động riêng lẻ vàquyền sở hữu của nhà tư sản dân tộc Thực tế lịch sử đã chứng minh tínhđúng đắn của chính sách pháp luật này Đây là một trong những nguyênnhân khiến cho nhân dân cả nước ta đã hăng hái, dũng cảm tham gia cáccuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,đặc biệt sau khi cả nước thống nhất, do ảnh hưởng của xu thế chung củaphong trào XHCN quốc tế và phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí,Đảng ta đã chủ trương đẩy nhanh cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay các hìnhthức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và cá thể, quy mọi hình thức sởhữu vào hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tậpthể, xem kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản chủ nghĩa là tiêu cực, là cản trở

sự nghiệp xây dựng CNXH, cần phải xóa bỏ càng nhanh càng tốt Hiếnpháp 1980 ghi: "Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất,hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN, thiếtlập và củng cố chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất nhằm thực hiệnmột nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế

Trang 37

quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xãthuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động" (Hiến pháp 1980, tr 44).Quy định này của pháp luật đã làm hạn chế sự phát triển của sản xuất.Trong điều kiện đi lên từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu thì quy định nàychẳng những trói buộc mọi nguồn lực của xã hội, mà còn làm trì trệ sựphát triển của chính hai thành phần kinh tế trên.

Mặc dù Hiến pháp 1980 đã khẳng định việc "Nhà nước bảo hộquyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà

ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trườnghợp được phép lao động riêng lẻ" (Hiến pháp 1980, tr 432), nhưng do bị

ám ảnh của tư duy giáo điều cho nên trên thực tế Nhà nước không chấpnhận sự tồn tại của các hình thức sở hữu được coi là "phi xã hội chủnghĩa" Người có vốn (dù là hợp pháp) và có khả năng tổ chức, quản lýsản xuất, kinh doanh không dám đầu tư phát triển sản xuất

Cũng cần lưu ý là, quy định về quyền sở hữu trong Hiến pháp 1980lại đặt ở chương "Chế độ chính trị" chứ không phải đặt ở chương "Quyền

và nghĩa vụ của công dân" Như thế có thể thấy, trong tư duy của nhàlàm luật Việt Nam lúc đó, trong CNXH không có chỗ cho sở hữu tưnhân Và rõ ràng, sở hữu với tư cách là một quyền của con người khôngđược khẳng định một cách rõ ràng Khi quyền sở hữu tư nhân khôngđược thừa nhận thì tất nhiên sẽ dẫn đến việc ngăn cản, đe dọa, thậm chítịch biên tài sản (gồm cả tư liệu sản xuất lẫn tư liệu sinh hoạt khi không

"giải trình" đầy đủ, chính xác nguồn gốc tài sản) diễn ra phổ biến ởnhiều địa phương, đã làm nản lòng nguời sản xuất - kinh doanh, rốt cuộcđẩy nền kinh tế làm vào suy thoái, khủng hoảng

Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ra có bước đột phá trongđổi mới tư duy, trước hết trên lĩnh vực kinh tế Thắng lợi bước đầu trên lĩnhvực sản xuất nông nghiệp đã cho thấy rằng, chỉ mới được trao một sốquyền tự chủ thôi cũng đã có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với người

Trang 38

lao động, cụ thể ở đây là người nông dân, do đó đưa đến những pháttriển đột biến trong thời gian ngắn: sản xuất lương thực tăng nhanh: năm

1975 tổng sản lượng lúa cả nước đạt khoảng 10,29 triệu tấn, năm 1985 tổngsản lượng lúa cả nước đạt khoảng 15,859 triệu tấn Từ nước luôn phải nhậpkhẩu gạo để cứu đói thì Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn củathế giới

Điều này cho thấy, khi quyền sở hữu được xác định rõ ràng đối vớitất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và xã hội chắc chắn sẽ đưa đến biếnđổi to lớn hơn nhiều

Từ việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sâu hơn về lý luận, Đảng

ta từng bước nhận thức rõ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH ởnước ta Đó là việc xác định CNXH là mục tiêu lâu dài và nước ta đangtrong thời kỳ quá độ xây dựng đất nước theo định hướng XHCN (chứchưa phải đã là CNXH hay đang xây dựng xã hội XHCN) và do nền sảnxuất ở xuất phát điểm thấp kém, lạc hậu, nên phải thừa nhận và sử dụngmọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế cho việc phát triển đất nước.Đại hội VI của Đảng (12/1986) mở đầu quá trình đổi mới toàn diệnđất nước, trong đó nhấn mạnh việc giải phóng mọi năng lực sản xuất, tạođiều kiện bung ra cho toàn bộ nền kinh tế

Cương lĩnh của Đảng (1991) khẳng định mạnh mẽ hơn việc "xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác"(1)(1) Để hình thành cơ chế thị trường, cần xâydựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng hóa, kể cả thị trường

hàng hóa sức lao động Muốn như vậy cần "xác định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có

(1)(1) (2) Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999, Nxb CTQG, Hà Nội,

2000, tr 302.

Trang 39

người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết

quả kinh doanh của mình"(2)

Trên cơ sở định hướng đã nêu, năm 1992 Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp mới - Hiến pháp

1992, trong đó ghi nhận nhiều quyền cơ bản của con người Đặc biệtHiến pháp đã ghi rõ: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo địnhhướng XHCN Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức sảnxuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tậpthể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nềntảng"(1)(1); "vốn và tài sản hợp pháp (của các cơ sở sản xuất - kinh doanh)được nhà nước bảo hộ Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp,của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, vốn và tài sản khác trong doanhnghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nướcgiao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17, Điều 18 Nhà nước bảo hộquyền sở hữu hợp pháp về quyền thừa kế của công dân" (2) Đáng chú ý

là quyền sở hữu được chuyển từ chương "Chế độ chính trị" lên chương

"Quyền và nghĩa vụ công dân" trong Hiến pháp 1992

Thể chế hóa điều khoản này, Điều 6, Bộ Luật dân sự năm 1995khẳng định nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu, và các quyềnkhác đối với tài sản của công dân: "Quyền sở hữu và các quyền khác đốivới tài sản của các chủ thể thuộc các hình thức sở hữu được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ" Ngoài ra, Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiềuluật và văn bản pháp luật trên các lĩnh vực chủ yếu liên quan đến quyền

sở hữu: Luật đất đai (có nhiều lần sửa đổi), Luật Doanh nghiệp, Luật hợptác xã…

Như vậy, sự phát triển của quyền con người nói chung, quyền conngười trên lĩnh vực kinh tế nói riêng ở nước ta trong thời kỳ đổi mới gắn(1)(1) (2) Hiến pháp 1992, tr 496, 508

Trang 40

liền với nhận thức mới của Đảng về CNXH, về con đường đi lên CNXH

ở nước ta và việc thừa nhận những giá trị chung của nhân loại trên lĩnhvực quyền con người, đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế vềquyền con người Tư duy kinh tế, tư duy chính trị phù hợp với tư duy vềquyền - ở đây là quyền con người về kinh tế, đã tạo ra những bướcchuyển nhanh chóng trong chính sách, pháp luật và đưa đến những thànhtựu quan trọng về kinh tế - xã hội

Thực hiện các chính sách, pháp luật nêu trên, trên lĩnh vực nông nghiệp, người nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất theo nguyên tắc: "Tạo điều kiện để mọi người nông dân chủ yếu sống bằng nghề nông có đất để sản xuất"(1)(1) Tuy nhiên, do thừa nhận nền kinh tếvận hành theo cơ chế thị trường, nên Nhà nước cũng phải thừa nhận

"việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tích tụ và tập trung ruộng đất làhiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp lên sản xuấthàng hóa lớn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại laođộng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"(2)

Để khắc phục những mâu thuẫn của quá trình phát triển, Đảng chủ

trương: "Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản

lý chặt chẽ của Nhà nước không để quá trình này diễn ra tự phát, làm cho người nông dân mất ruộng mà không tìm được việc làm, trở thành bần cùng hóa"(3)

Đảng ta cũng chủ trương: "Đẩy mạnh việc giao đất và cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho nông dân, giải quyết

những tranh chấp và khiếu kiện về đất đai; đảm bảo mỗi khoảnh đất, khoảnh rừng đều có chủ quản lý hợp pháp, cụ thể"(4)(4) Thực hiện chủtrương này, đã có 70% số hộ nông dân được cấp đất với hơn 1 triệu ha,

5 triệu ha đất nông nghiệp được giao cho các tổ chức xã hội quản lý (1)(1) (2) (3) Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999, Nxb CTQG, Hà Nội,

2000, tr 275.

(4)(4) Các nghị quyết , Sđd, tr 276.

Ngày đăng: 05/03/2023, 13:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w