Lời giới thiệu Năm 1994, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người (nay là Viện Nghiên cứu Quyền con người) được thành lập, trực thuộc Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Năm 1998, giáo trình Lý luận về quyền con người do Viện Nghiên cứu Quyền con người biên soạn, GS. TS. Hoàng Văn Hảo và TS. Cao Đức Thái (đồng chủ biên) được đưa vào giảng dạy trong hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ( ). Sau 8 năm sử dụng tập giáo trình này, Viện Nghiên cứu Quyền con người nhận thấy công trình cần được sửa chữa, bổ sung dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước và những đòi hỏi của tình hình thực tiễn. So với giáo trình cũ, giáo trình sửa chữa lần này về cơ bản vẫn giữ nội dung và số lượng các chương trong giáo trình cũ. Nội dung sửa chữa, bổ sung cho các chương chủ yếu trên các mặt sau: Làm rõ hơn hệ thống khái niệm; khắc phục sự trùng lặp; bổ sung thêm những kiến thức cơ bản chưa được đề cập trong giáo trình cũ (như luật quốc tế về quyền con người) và cập nhật chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người trong hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây (Đại hội IX và Đại hội X) vào giáo trình. Mặc dù đây chỉ là sửa chữa, nhưng giáo trình lần này đã được nâng cao đáng kể về nội dung và kết cấu. Quyền con người là một lĩnh vực khoa học mới ở nước ta, nên dù đã có nhiều cố gắng, tập giáo trình sửa chữa lần này vẫn khó tránh khỏi những hạn chế và sai sót. Viện Nghiên cứu Quyền con người mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc và học viên để tiếp tục nâng cao, hoàn thiện trong các lần xuất bản sau. Viện Nghiên cứu Quyền con người Chương I Lý luận về khái quát quyền con người Tư tưởng về quyền con người xuất hiện rất sớm và có sức sống mãnh liệt trong lịch sử nhân loại, cũng như lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngày này, quyền con người đã trở thành một chủ đề lớn, quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế, đồng thời khái niệm quyền con người đã trở thành nội dung cơ bản, phổ quát trong các văn kiện luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Bảo đảm quyền con người không chỉ là công việc nội bộ của mỗi quốc gia mà đã trở thành một mục tiêu quan trọng của Liên hợp quốc. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc (bao gồm nhiều quốc gia với những hệ tư tưởng và chế độ chính trị khác nhau), một cơ chế quốc tế được hình thành nhằm ngăn ngừa chiến tranh, khuyến khích sự tiến bộ xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc, một cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người (bao gồm một hệ thống các cơ quan và các điều ước quốc tế) đã ra đời. Cho dù còn rất nhiều khác biệt về chế độ xã hội, văn hóa và trình độ phát triển, tất cả các quốc gia, dân tộc đều xem quyền con người là một giá trị cơ bản cần phải tôn trọng và bảo vệ. Bảo đảm quyền con người đã trở thành một vấn đề chính trị thực tiễn quan trọng trong nội bộ mỗi quốc gia cũng như trong quan hệ quốc tế hiện nay. Với tư cách là một mục tiêu và động lực, quyền con người ngày càng giữ vị trí trong đời sống của mỗi dân tộc cũng như của cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, ngày 1271992, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị, xác định chúng ta cần phải nghiên cứu quyền con người, đặc biệt cần phát triển các tư tưởng nhân đạo, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, làm rõ sự khác nhau giữa quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và Đảng ta với quan điểm tư sản về quyền con người. Trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống các quan điểm của Đảng ta về quyền con người làm cơ sở cho công tác tư tưởng và cho việc hoàn thiện pháp luật và các chính sách về quyền con người, tạo thế chủ động chính trị trong cuộc đấu tranh về quyền con người trên trường quốc tế. I. Quyền con người một vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn quan trọng 1. Quyền con người một chủ đề lý luận quan trọng Quyền con người xuất phát từ sự thừa nhận nhân phẩm, các quyền và lợi ích về vật chất và tinh thần của tất cả mọi người, được pháp luật bảo vệ. Tôn trọng, bảo đảm quyền con người là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của mọi chế độ xã hội và cả cộng đồng nhân loại. Quyền con người với tư cách là một giá trị xã hội, là thành quả của sự phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tài sản chung của các dân tộc. Ngày nay quyền con người được xem là một thước đo sự tiến bộ xã hội không phân biệt chế độ xã hội, bản sắc văn hóa. Quyền con người với tư cách là một khái niệm khoa học, là một chủ đề cơ bản trong thế giới quan và nhân sinh quan đã từng tồn tại trong những học thuyết độc lập hoặc tồn tại như một bộ phận quan trọng trong nhiều học thuyết, hệ tư tưởng từ thời cổ đại cho đến nay. Khái niệm quyền con người gắn liền với khái niệm con người, với nhà nước và quy phạm pháp luật. Trong xã hội nô lệ, bên cạnh các quan niệm duy tâm của tôn giáo, nhiều nhà tư tưởng, nhà khoa học lớn như Pitago, Aristote đã đề cập tới khái niệm con người, khẳng định và đề cao bản thân con người cùng với những nhu cầu về tự do, bình đẳng. ở phương Đông, giá trị triết lý của Khổng Tử đối với chủ đề quyền con người là đề cao chữ nhân mà cốt lõi của nó là lòng thương người. Mặc Tử thì đề cao quyền bình đẳng tự nhiên của con người... Đóng góp của nền văn minh ấn Độ là triết lý của đạo Phật, mà một trong những nội dung của nó là thuyết nhân duyên: con người là nguyên nhân của chính mình, đạo Phật khuyên người ta làm điều thiện, mong muốn giải thoát con người khỏi mọi nỗi khổ hạnh. Ở Việt Nam, cơ sở của những tư tưởng nhân quyền, sự tôn trọng, bảo vệ con người là ý thức về sự gắn kết cá nhân với cộng đồng, là tinh thần đoàn kết, là ý thức về độc lập dân tộc, sự bình đẳng giữa các dân tộc. Trong thời kỳ cận đại, nhiều học thuyết về nhân quyền ra đời, tiêu biểu là học thuyết nhân quyền tự nhiên, nhân quyền quan niệm, nhân quyền thực chứng. Giá trị hơn cả là học thuyết nhân quyền tự nhiên. Những học giả của học thuyết nhân quyền tự nhiên là T. Hoble, J. Locke, B. Spinoza, S. Mongtesquieu, J.J. Rousseau. Học thuyết nhân quyền tự nhiên cho rằng, con người là một phần của tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên. Quyền tự nhiên xuất phát từ nhu cầu tự nhiên, vốn có của con người, bao gồm các quyền như quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản. Những quyền này phải được xem là những quyền vốn có và bình đẳng của con người. Những quyền này do đó phải được xếp cao hơn pháp luật của nhà nước. Quan hệ giữa con người với nhà nước là quan hệ khé ước, trong đó các cá nhân thỏa thuận với nhau và với xã hội, nhằm bảo đảm các quyền và tự do của công dân. Ngăn ngừa sự lạm quyền và tiếm quyền của các cơ quan nhà nước và công chức là mục đích quan trọng của cơ chế tam quyền phân lập. Phân quyền, chế ước lẫn nhau và giám sát giữa ba loại quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp là nội dung cơ bản của học thuyết Tam quyền phân lập. Chủ nghĩa Mác Lênin kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ về con người và xã hội, phát triển học thuyết về quyền con người, khẳng định bản chất tự nhiên và bản chất xã hội của con người, làm sáng tỏ các điều kiện tồn tại và phát triển của quyền con người bằng việc làm rõ tính lịch sử, tính giai cấp của quyền con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận quyền con người từ quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và từ lợi ích của các dân tộc thuộc địa, phát triển, làm rõ mối quan hệ giữa quyền con người của cá nhân với quyền của dân tộc hình thành quyền tập thể của quyền con người. Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác trước đây, trong bối cảnh cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng quyết liệt, quyền con người chưa được
Trang 1Lời giới thiệu
Năm 1994, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người (nay là ViệnNghiên cứu Quyền con người) được thành lập, trực thuộc Giám đốc Học việnChính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Năm 1998, giáo trình "Lý luận về quyềncon người" do Viện Nghiên cứu Quyền con người biên soạn, GS TS HoàngVăn Hảo và TS Cao Đức Thái (đồng chủ biên) được đưa vào giảng dạy trong
hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1)
Sau 8 năm sử dụng tập giáo trình này, Viện Nghiên cứu Quyền conngười nhận thấy công trình cần được sửa chữa, bổ sung dựa trên những kếtquả nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước và những đòi hỏi của tình hìnhthực tiễn
So với giáo trình cũ, giáo trình sửa chữa lần này về cơ bản vẫn giữ nộidung và số lượng các chương trong giáo trình cũ
Nội dung sửa chữa, bổ sung cho các chương chủ yếu trên các mặt sau:Làm rõ hơn hệ thống khái niệm; khắc phục sự trùng lặp; bổ sung thêm nhữngkiến thức cơ bản chưa được đề cập trong giáo trình cũ (như luật quốc tế vềquyền con người) và cập nhật chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta về quyền con người trong hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây (Đại hội IX
và Đại hội X) vào giáo trình
Mặc dù đây chỉ là sửa chữa, nhưng giáo trình lần này đã được nâng caođáng kể về nội dung và kết cấu
Quyền con người là một lĩnh vực khoa học mới ở nước ta, nên dù đã cónhiều cố gắng, tập giáo trình sửa chữa lần này vẫn khó tránh khỏi những hạnchế và sai sót Viện Nghiên cứu Quyền con người mong nhận được ý kiếnđóng góp của bạn đọc và học viên để tiếp tục nâng cao, hoàn thiện trong cáclần xuất bản sau
Viện Nghiên cứu Quyền con người
1 () Nhóm tác giả: Chủ biên: GS TS Hoàng Văn Hảo, TS Cao Đức Thái Tập thể tác giả:
GS TS Hoàng Văn Hảo, TS Cao Đức Thái, TS Vũ Hùng, TS Đặng Dũng Chí, ThS.
Nguyễn Duy Sơn, Giáo trình lý luận về quyền con người, H 2002, tr 2.
Trang 2Chương I
Lý luận về khái quát quyền con người
Tư tưởng về quyền con người xuất hiện rất sớm và có sức sống mãnh liệttrong lịch sử nhân loại, cũng như lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng ViệtNam Ngày này, quyền con người đã trở thành một chủ đề lớn, quan trọngtrong đời sống chính trị quốc tế, đồng thời khái niệm quyền con người đã trởthành nội dung cơ bản, phổ quát trong các văn kiện luật quốc tế và pháp luậtquốc gia Bảo đảm quyền con người không chỉ là công việc nội bộ của mỗiquốc gia mà đã trở thành một mục tiêu quan trọng của Liên hợp quốc
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc(bao gồm nhiều quốc gia với những hệ tư tưởng và chế độ chính trị khácnhau), một cơ chế quốc tế được hình thành nhằm ngăn ngừa chiến tranh,khuyến khích sự tiến bộ xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc, một cơ chế quốc tế bảo vệquyền con người (bao gồm một hệ thống các cơ quan và các điều ước quốc tế)
đã ra đời Cho dù còn rất nhiều khác biệt về chế độ xã hội, văn hóa và trình độphát triển, tất cả các quốc gia, dân tộc đều xem quyền con người là một giá trị
cơ bản cần phải tôn trọng và bảo vệ Bảo đảm quyền con người đã trở thànhmột vấn đề chính trị - thực tiễn quan trọng trong nội bộ mỗi quốc gia cũngnhư trong quan hệ quốc tế hiện nay
Với tư cách là một mục tiêu và động lực, quyền con người ngày càng giữ
vị trí trong đời sống của mỗi dân tộc cũng như của cộng đồng quốc tế
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, ngày 12-7-1992, Ban Bí thưTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị, xác định chúng ta cầnphải nghiên cứu quyền con người, "đặc biệt cần phát triển các tư tưởng nhânđạo, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng ta, làm rõ sự khác nhau giữa quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin và Đảng ta với quan điểm tư sản về quyền con người Trên cơ sở đó,
Trang 3xây dựng hệ thống các quan điểm của Đảng ta về quyền con người làm cơ sởcho công tác tư tưởng và cho việc hoàn thiện pháp luật và các chính sách vềquyền con người, tạo thế chủ động chính trị trong cuộc đấu tranh về quyềncon người trên trường quốc tế".
I Quyền con người - một vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn quan trọng
1 Quyền con người - một chủ đề lý luận quan trọng
Quyền con người xuất phát từ sự thừa nhận nhân phẩm, các quyền và lợiích về vật chất và tinh thần của tất cả mọi người, được pháp luật bảo vệ Tôntrọng, bảo đảm quyền con người là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển củamọi chế độ xã hội và cả cộng đồng nhân loại
Quyền con người với tư cách là một giá trị xã hội, là thành quả của sựphát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tài sản chung của các dân tộc Ngàynay quyền con người được xem là một thước đo sự tiến bộ xã hội không phânbiệt chế độ xã hội, bản sắc văn hóa Quyền con người với tư cách là một kháiniệm khoa học, là một chủ đề cơ bản trong thế giới quan và nhân sinh quan đãtừng tồn tại trong những học thuyết độc lập hoặc tồn tại như một bộ phậnquan trọng trong nhiều học thuyết, hệ tư tưởng từ thời cổ đại cho đến nay.Khái niệm quyền con người gắn liền với khái niệm con người, với nhà nước
và quy phạm pháp luật
Trong xã hội nô lệ, bên cạnh các quan niệm duy tâm của tôn giáo, nhiềunhà tư tưởng, nhà khoa học lớn như Pitago, Aristote đã đề cập tới khái niệmcon người, khẳng định và đề cao bản thân con người cùng với những nhu cầu
về tự do, bình đẳng ở phương Đông, giá trị triết lý của Khổng Tử đối với chủ
đề quyền con người là đề cao chữ "nhân" - mà cốt lõi của nó là lòng thươngngười Mặc Tử thì đề cao quyền bình đẳng tự nhiên của con người
Đóng góp của nền văn minh ấn Độ là triết lý của đạo Phật, mà một trongnhững nội dung của nó là thuyết nhân duyên: con người là nguyên nhân củachính mình, đạo Phật khuyên người ta làm điều thiện, mong muốn giải thoátcon người khỏi mọi nỗi khổ hạnh
Trang 4Ở Việt Nam, cơ sở của những tư tưởng nhân quyền, sự tôn trọng, bảo vệcon người là ý thức về sự gắn kết cá nhân với cộng đồng, là tinh thần đoànkết, là ý thức về độc lập dân tộc, sự bình đẳng giữa các dân tộc.
Trong thời kỳ cận đại, nhiều học thuyết về nhân quyền ra đời, tiêu biểu
là học thuyết nhân quyền tự nhiên, nhân quyền quan niệm, nhân quyền thựcchứng Giá trị hơn cả là học thuyết nhân quyền tự nhiên Những học giả củahọc thuyết nhân quyền tự nhiên là T Hoble, J Locke, B Spinoza, S.Mongtesquieu, J.J Rousseau Học thuyết nhân quyền tự nhiên cho rằng, conngười là một phần của tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên Quyền tự nhiênxuất phát từ nhu cầu tự nhiên, vốn có của con người, bao gồm các quyền nhưquyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản Những quyền này phảiđược xem là những quyền vốn có và bình đẳng của con người Những quyềnnày do đó phải được xếp cao hơn pháp luật của nhà nước Quan hệ giữa conngười với nhà nước là quan hệ khé ước, trong đó các cá nhân thỏa thuận vớinhau và với xã hội, nhằm bảo đảm các quyền và tự do của công dân Ngănngừa sự lạm quyền và tiếm quyền của các cơ quan nhà nước và công chức làmục đích quan trọng của cơ chế tam quyền phân lập Phân quyền, chế ước lẫnnhau và giám sát giữa ba loại quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp là nộidung cơ bản của học thuyết Tam quyền phân lập
Chủ nghĩa Mác - Lênin kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ vềcon người và xã hội, phát triển học thuyết về quyền con người, khẳng địnhbản chất tự nhiên và bản chất xã hội của con người, làm sáng tỏ các điều kiệntồn tại và phát triển của quyền con người bằng việc làm rõ tính lịch sử, tínhgiai cấp của quyền con người
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận quyền con người từ quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin và từ lợi ích của các dân tộc thuộc địa, phát triển, làm
rõ mối quan hệ giữa quyền con người của cá nhân với quyền của dân tộc hìnhthành quyền tập thể của quyền con người
Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác trước đây, trong bốicảnh cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng quyết liệt, quyền con người chưa được
Trang 5nghiên cứu sâu và giảng dạy với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập.Một phần của bộ môn này đã được đưa vào chuyên ngành khoa học nhà nước
và pháp luật Trong điều kiện mới, phù hợp với sự đi sâucủa các ngành khoa học bộ môn lý luận về quyền con người đã được xâydựng và đưa vào giảng dạy tại Việt Nam
Quyền con người ngày nay không chỉ là một ngành luật mà đã trở thànhmột phương thức tiếp cận mới - phương pháp "tiếp cận dựa trên quyền" Nóicách khác là dựa trên các nguyên tắc và chuẩn mực về quyền con người đểphân tích, xem xét xây dựng và thực hiện chính sách, chiến lược, kế hoạchkinh tế - xã hội
Nghiên cứu, xây dựng, phát triển lý luận về quyền con người với tư cách
là một bộ phận hữu cơ của chủ nghĩa xã hội khoa học cần dựa trên tư tưởngnhân đạo, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh đang là một nhiệm vụ cơ bản của công tác nghiên cứu khoa học xã hội
và nhân văn
2 Quyền con người - một vấn đề chính trị - thực tiễn quan trọng
Trong điều kiện xã hội đã phân chia thành giai cấp, những vấn đề lý luận
xã hội bao giờ cũng gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp dưới những hìnhthức khác nhau Các giai cấp bóc lột luôn luôn dùng ngọn cờ nhận quyền đểtập hợp lực lượng, tranh giành quyền lực và củng cố địa vị của họ Đối vớigiai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức, các lực lượngtiến bộ xã hội, quyền con người là một mục tiêu, lý tưởng đấu tranh của mình.Ngay từ khi nhà nước công nông đầu tiên ra đời, các thế lực đế quốc đãlợi dụng ngọn cờ dân chủ, nhân quyền để bôi nhọ chế độ xã hội mới, đồngthời sử dụng nhiều thủ đoạn, kể cả cơ chế quốc tế về quyền con người để ápđặt quan điểm của mình cho các nước xã hội chủ nghĩa và những nước đi theocon đường độc lập, tự chủ
ở Việt Nam, quyền con người được đặt trong bối cảnh chính trị và lịch
sử đặc biệt
Trang 6Từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến tiến hành cách mạng giải phóngdân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước theo con đường xãhội chủ nghĩa, dân tộc ta đã làm nên nhiều kỳ tích Cuộc Cách mạng thángTám năm 1945 giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra chế độ dân chủ cộnghòa và nhà nước của dân, do dân, vì dân Với cuộc tổng tuyển cử và bản Hiếnpháp năm 1946, lần đầu tiên nhân dân Việt Nam được hưởng các quyền côngdân và quyền con người cơ bản.
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống nhân đạo, tôn trọng nhân phẩm,khoan dung và đoàn kết Dưới chế độ thực dân - phong kiến, quyền con ngườicủa nhân dân ta bị tước đoạt một cách thô bạo và có hệ thống
Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa (1946) đã trân trọng ghi nhận những quyền con người
cơ bản của nhân dân ta Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiềuthập kỷ, dựa trên đường lối của Đảng, các Hiến pháp và pháp luật Việt Nam
đã quy định một cách toàn diện các quyền công dân, quyền con người, đồngthời xem việc bảo đảm và tổ chức thực hiện những quyền đó như là một độnglực cơ bản của cách mạng Dù chưa phải là thành viên của Liên hợp quốc,nhưng Hiến chương Liên hợp quốc và những chuẩn mực quốc tế về quyềncon người đã được Chính phủ và nhân dân Việt Nam tôn trọng
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc (1977), nhiềuvăn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người đã được Chính phủ Việt
Nam thừa nhận, tham gia, trong đó có Tuyên ngôn thế giới về quyền con
người (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) Với tư cách
một quốc gia độc lập có chủ quyền, Nhà nước ta đã cam kết tôn trọng và thựchiện các Công ước mà mình tham gia hoặc ký kết
Với công cuộc đổi mới toàn diện mở ra từ Đại hội VI (1986), các quyềncông dân và quyền con người ngày càng được củng cố và mở rộng, phù hợpvới quy luật phát triển của xã hội Việt Nam, trong quá trình hội nhập quốc tế.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã xuất hiện không ít những vấn
Trang 7đề về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa cần phải được giải quyết,trong đó có nhiệm vụ bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện các quyền conngười Đó là việc bảo đảm đầy đủ hơn các quyền dân sự, chính trị, là việc bảođảm quyền bình đẳng trong sự hưởng thụ các thành quả kinh tế, xã hội và vănhóa; khắc phục tình trạng phân cực giàu, nghèo giữa các vùng, miền, giữa cácnhóm xã hội, cũng như việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các thành phầnkinh tế, quyền tự do sản xuất kinh doanh; bảo đảm quyền làm việc, tiền lương
và bảo trợ xã hội Những vấn đề trên cần được nghiên cứu thấu đáo nhằm gópphần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và thể chế hóabằng pháp luật, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh
Trong điều kiện toàn cầu hóa nhiều mặt của đời sống nhân loại, trước hếttrên lĩnh vực kinh tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - côngnghệ, nhất là khoa học và công nghệ thông tin, quá trình toàn cầu hóa làm chocác quốc gia, dân tộc gần gũi nhau hơn Sự giao lưu về chính trị, kinh tế, vănhóa ngày càng mở rộng Với đường lối đối ngoại rộng mở, muốn làm bạn,làm đối tác tin cậy với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền,các hoạt động đối ngoại nói chung và hợp tác kinh tế nói riêng nước ta đã thuhút ngày càng nhiều người nước ngoài đến làm ăn ở Việt Nam, đồng thờicông dân Việt Nam cũng ra nước ngoài sản xuất, kinh doanh, học tập ngàycàng đông Nhiều vấn đề mới về an ninh quốc gia liên quan đến quyền conngười như tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán người, khủng bố quốc tế đãvượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật quốc gia, đòi hỏi chúng ta phải có sự hợptác quốc tế, vận dụng, xử lý dựa trên luật quốc tế, trong đó có pháp luật vềquyền con người
Vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đặc biệt từ khi các nước xã hội chủ nghĩatiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới, chủ nghĩa đế quốc đã dùng ngọn cờ dânchủ, nhân quyền làm công cụ chủ yếu để tiến hành chiến lược "diễn hiến hòabình", phá hoại sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong Đảng và xã hội.Đồng thời họ còn dùng vấn đề nhân quyền bôi nhọ chế độ xã hội, Đảng Cộngsản Việt Nam, bảo vệ các phần tử chống đối, tạo dựng "ngọn cờ", xây dựng
Trang 8các tổ chức phản cách mạng can thiệp vào chủ quyền quốc gia, kích độngquần chúng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, gây bạo loạnhòng chia cắt đất nước, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh nhiềumặt đời sống của nhân loại đã và đang được quốc tế hóa, đồng thời cuộc đấutranh ý thức hệ và đấu tranh dân tộc vẫn diễn ra quyết liệt, quyền con người
đã trở thành một vấn đề chính trị quan trọng, phức tạp và nhạy cảm
Tính phức tạp của vấn đề quyền con người là ở chỗ, trong khi chúng ta
thực hiện các cam kết quốc tế, nỗ lực bảo đảm các quyền con người như mộtgiá trị của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa thì đồng thời phải đấu tranh với cácthế lực đế quốc lợi dụng cơ chế quốc tế về quyền con người để can thiệp vào
công việc của quốc gia Tính nhạy cảm của vấn đề quyền con người ngày nay
là ở chỗ, việc giải quyết vấn đề nhân quyền nào đó có thể trở thành những vấn
đề chính trị phức tạp liên quan đến sự ổn định chính trị của quốc gia, căngthẳng trong quan hệ quốc tế, thậm chí có thể dẫn đến những khó khăn tổn thất
về chính trị, kinh tế nhất định Bởi vậy, nghiên cứu, học tập, tuyên truyền,giáo dục các quan niệm đúng đắn về quyền con người dựa trên quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước ta, giành lại thế chủ động trong cuộc đấu tranh tư tưởng
hiện nay, đã trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta Tầm
quan trọng của vấn đề quyền con người là ở chỗ, việc giải quyết vấn đề này
có tác động trực tiếp đến sự phát triển của xã hội hoặc gây ra sự trì trệ, làmsuy yếu chế độ xã hội, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, khối đại đoàn kết dântộc, tổn thương đến các quan hệ quốc tế, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển củađất nước
II đối tượng nghiên cứu bộ môn lý luận quyền con người
Đối tượng nghiên cứu của lý luận về quyền con người bao gồm:
- Hệ thống khái niệm, phạm trù và lĩnh vực xã hội thực tiễn liên quanđến quyền con người
- Quy luật của sự hình thành và phát triển của quyền con người
- Phương pháp nghiên cứu của bộ môn
Trang 91 Khái niệm và tính chất cơ bản của quyền con người
Quann chung của cộng đồng quốc tế về khái niệm quyền con người được
xác định trên hai bình diện giá trị, đó là giá trị đạo đức và giá trị pháp lý.
Với tư cách là một giá trị đạo đức, quyền con người được xem là một giá
trị xã hội cơ bản, vốn có của con người Nội hàm của khái niệm này trước hết
dựa trên quan niệm về nhân phẩm Nhân phẩm là một giá trị phân định giữa
con người với phần còn lại của thế giới Nhân phẩm được hiểu là sự bảo đảmnhững điều kiện tối thiểu về vật chất và tinh thần để mỗi người được sống
như một con người Thứ hai, đó là quan niệm về bình đẳng xã hội Mỗi người
sinh ra cho dù họ có thể khác nhau về năng lực, về giới tính, về chủng tộc,màu da, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế nhưng họ đều là con người đềuthuộc về loài người bởi vậy họ đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa
vụ Thứ ba, đó là quan niệm về tự do Khác với sinh vật, nhu cầu tự nhiên
quan trọng bậc nhất đối với sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như sự pháttriển của xã hội, đó là mỗi người đều có thể làm tất cả những gì miễn là không
phương hại đến người khác nhằm theo đuổi những lợi ích của mình Thứ tư,
đó là tinh thần nhân đạo, khoan dung trong ứng xử giữa con người với con
người, nói một cách đơn giản là lòng thương người Điều này đòi hỏi mọingười phải đối xử với nhau như tình anh em, giúp đỡ, cảm thông đối vớinhững người gặp hoạn nạn, quan tâm đến những người thuộc các nhóm xã hộithiệt thòi, dễ bị tổn thương; ngăn ngừa kẻ mạnh ức hiếp người yếu, khoandung, độ lượng đối với những người lầm lỡ, phạm tội
Với tư cách là một giá trị pháp lý, quyền con người là những chế định quyền trong luật quốc tế và trong pháp luật quốc gia.
Chế định quyền con người dựa trên hai đặc trưng của con người, đó là
những đặc trưng tự nhiên, vốn có và chỉ có của con người, của loài người;
-và những đặc trưng xã hội của con người, nghĩa là những mối quan hệ giữa
con người với nhà nước và con người với con người được hình thành và pháttriển trong lịch sử và hiện tại
Trang 10Chế định quyền con người và quyền công dân tuy thống nhất nhưngkhông đồng nhất.
Trong pháp luật quốc gia quyền con người rộng hơn quyền công dân.
Quyền công dân là bộ phận quan trọng nhất của quyền con người Xét về chủ
thể, quyền con người là quyền của tất cả mọi người, không phân biệt quốc
tịch, năng lực hành vi dân sự cũng như năng lực pháp luật Trong khi quyềncông dân trước hết được quy định bởi chế định quốc tịch và bị hạn chế bởinhững quy định pháp luật khác, như tình trạng pháp lý, tuổi đời, sức khỏe ởmỗi người
Xét về phạm vi và đối tượng điều chỉnh, trong khi quyền công dân được
quy định trong khuôn khổ mối quan hệ pháp lý giữa công dân với nhà nướcthì quyền con người được quy định rộng rãi hơn, một mặt đó là những quyđịnh mối quan hệ pháp lý giữa mỗi người với nhà nước, mặt khác đó còn là
"khung" pháp lý rộng rãi xác định mối quan hệ giữa mỗi người với xã hội,nghĩa là không chỉ với nhà nước, không chỉ nằm trong những quy định củapháp luật hiện hành Quyền con người và quyền của mọi người được chophép người ta làm mọi cái mà pháp luật không cấm Những điều mà pháp luậtcấm chỉ có thể "Vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, đểbảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do củangười khác" (1)
Trong luật quốc tế, chế định quyền con người được ghi trong các văn
kiện của Liên hợp quốc, bao gồm các Công ước, Nghị định thư và một số Vănkiện khác như Nghị quyết, Thủ tục Các Tuyên ngôn, Tuyên bố là những vănkiện không có tính ràng buộc về pháp lý nhưng có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định các nguyên tắc và định hướng đạo lý, chính trị của quyền conngười Công ước và Nghị định thư là những văn kiện có tính ràng buộc về
mặt pháp lý, là các chế định cụ thể về quyền Đối với các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa, những quy định này chủ yếu xác định mục tiêu cần đạt được
và những chuẩn mực tối thiểu của quyền con người
1 () Điều 18, khoản 3 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị.
Trang 11Quyền con người với tư cách là quyền cá nhân đó là quyền của tất cả mọi người, là những giá trị không thể Quyền con người
xuất phát từ nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con ngườiđược thể chế hóa bằng các chế định pháp luật trong luật quốc tế và luật quốcgia
Chủ thể luật quốc tế về quyền con người là chủ thể kép Trong quan hệ quốc tế, đó là nhà nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức liên chính phủ.
Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, cá nhân cũng được xem là chủthể của luật quốc tế về quyền con người Đó là những trường hợp cá nhânphạm tội ác diệt chủng, tội ác chiến tranh, và tội ác chống nhân loại ở cácquốc gia đã ký kết, phê chuẩn Nghị định thư không bắt buộc thứ Nhất Côngước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị thì những người dân ở các quốc gianày trong những trường hợp nhất định cũng được xem là chủ thể của luật
quốc tế về quyền con người Trong quan hệ nội bộ của mỗi quốc gia, chủ thể
quyền con người là tất cả mọi người.
Đối tượng của quyền là các quyền bao gồm các quyền dân sự, chính trị,
kinh tế, xã hội và văn hóa và những tự do cơ bản Cơ quan bảo đảm quyền
chủ yếu là nhà nước.
Trách nhiệm pháp lý của quốc gia đối với cộng đồng quốc tế về quyền
con người ngoài các tập quán quốc tế còn được xác định bởi sự ràng buộctrong những điều ước mà chính phủ đó đã tham gia Nói một cách cụ thể, chỉ
có những điều ước quốc tế nào mà một quốc gia đã ký kết, phê chuẩn hoặcgia nhập, và khi điều ước đó đã có hiệu lực thì mới được xem là phải chịu sựràng buộc về mặt pháp lý
Tuy nhiên trách nhiệm của các quốc gia trên lĩnh vực quyền con người,ngoài nghĩa vụ chủ yếu được ghi trong các Công ước, Nghị định thư, còn phải
kể tới trách nhiệm chính trị, đạo đức đối với những công ước chưa tham gia
và những Văn kiện không có tính ràng buộc về mặt pháp lý, như các Tuyên
ngôn, Tuyên bố Trong những trường hợp nhất định, các nhà nước còn phải
Trang 12chịu trách nhiệm đương nhiên theo quy định của một số thủ tục giám sát mà
Liên hợp quốc đã có nghị quyết (1).
Quyền con người có thể phân ra làm nhiều nhóm, dựa trên những tiêuchí nhất định
Dựa trên chủ thể quyền, người ta có thể chia quyền con người thành
quyền cá nhân, quyền của nhóm như quyền phụ nữ, quyền trẻ em và quyềntập thể, bao gồm quyền dân tộc tự quyết, quyền của các dân tộc thiểu số vàquyền phát triển
Dựa trên nội dung quyền, người ta có thể chia quyền con người thành
các nhóm quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Trongnhững nhóm quyền này, người ta lại có thể chia thành những quyền nhất định
Tuy nhiên, quyền cá nhân luôn luôn được xem là cơ sở, là cốt lõi của khái
niệm quyền con người.
Các quyền dân sự, chính trị bao gồm các quyền bầu cử, ứng cử, quyềntham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền tự do cá nhân; quyền tự do tưtưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo và các quyền nhân thânnhư quyền có quốc tịch, nhiều có khai sinh, quyền được bảo vệ tính mạng vànhân phẩm
Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, bao gồm quyền sở hữu; quyền làmviệc; quyền có một mức sống thỏa đáng; quyền được bảo vệ sức khỏe, đượchọc tập, được bảo hiểm xã hội; quyền được sáng tạo và hưởng thụ văn hóa,quyền được sống trong hòa bình và môi trường trong sạch; quyền được hưởngthụ các thành quả của sự tiến bộ khoa học, kỹ thuật
Quyền của nhóm là quyền cá nhân được quy về một nhóm xã hội dựa
trên một số đặc điểm chung nào đó - Những nhóm xã hội này thường lànhững đối tượng "dễ bị tổn thương" hoặc bị thiệt thòi - Ví dụ như phụ nữ, trẻ
em, người khuyết tật, người tị nạn, người lao động nhập cư, người bị tướcquyền tự do, người nhiễm HIV/AIDS
1 () Ví dụ như thủ tục giám sát theo nghị quyết 1503.
Trang 13Quyền phát triển được quan niệm là quyền của các quốc gia, dân tộc
đồng thời cũng là quyền của cá nhân Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia,
toàn vẹn lãnh thổ vừa là quyền tập thể đồng thời là tiền đề, và điều kiện cơ bản để bảo đảm các quyền cá nhân.
Quyền tập thể, là quyền của cộng đồng trước hết là lợi ích của quốc gia.
Quyền này được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Trong những
điều ước quốc tế về quyền con người, quyền tập thể được xác định là quyền
dân tộc tự quyết và một số quyền của các dân tộc thiểu số Quyền dân tộc tự
quyết là quyền của các nhà nước được quyết định thể chế chính trị; con
đường phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền định đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình.
Cần lưu ý rằng, hiện nay các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc thườngquan tâm hơn tới quyền của những nhóm xã hội dễ bị tổn thương
Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, quyền con người có những tínhchất sau:
Tính phổ biến hoặc còn gọi là tính toàn cầu và tính đặc thù tức là những
đặc trưng được quy định bởi những đặc điểm về lịch sử, truyền thống văn hóa
ở các khu vực hoặc quốc gia
Tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người là những thuộc tính quan trọng Quyền con người mang tính phổ biến bởi vì đó là nhu cầu bẩm
sinh, gắn với bản chất con người, là di sản chung của các dân tộc "Khôngmột nhóm nước nào, một nước nào có thể tự nhận là người duy nhất nắm giữmột di sản toàn cầu" (1) (quyền con người - BT) Quyền con người mang tínhphổ biến là vì "tuy mỗi người là duy nhất, song chỉ có một loài người" (2).Các quyền con người mang tính phổ biến còn vì cốt lõi của nó là tinhthần nhân đạo, sự khoan dung, là điều vốn có ở mỗi nền văn hóa, không phân
1(), (2) Federico Mayor, Các quyền mang tính toàn cầu, "Người đưa tin UNESCO" H
1993, số 9, tr 7.
(3) Federico - Mayor - Tài liệu đã dẫn, tr 7.
(4) Các Văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr
93.
Trang 14biệt chế độ chính trị, hệ tư tưởng, của phương Đông hay phương Tây, ở quốcgia phát triển hay đang phát triển.
Về mặt thực tiễn, tính phổ biến, tính toàn cầu của quyền con người đượcthể hiện ở sự nhất trí cao của cộng đồng quốc tế đối với Hiến chương củaLiên hợp quốc, trong đó quyền con người chẳng những được xem như mộtmục tiêu quan trọng của Liên hợp quốc mà còn được xem như là nền tảng củahòa bình Ngày nay, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 91948) và nhiềuVăn kiện quan trọng khác về quyền con người đã mặc nhiên được ghi nhậnxem như một sự cam kết chính trị - đạo đức chung của cộng đồng quốc tế.Hai Công ước quốc tế cơ bản, bao quát hầu hết các nguyên tắc và chuẩn mực
về quyền con người - Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966,Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, năm 1966 đã đượchầu hết các quốc gia tham gia Quyền con người được xem như "là nền tảngđạo đức của một nền văn minh thế giới đang hình thành" (3) Nhân quyền làngôn ngữ chung của nhân loại
"Tuyên bố Viên và chương trình động", 1993 khẳng định: "Bản chất phổcập của các quyền và tự do không có gì phải tranh cãi" (4)
Sự khẳng định tính phổ biến, tính toàn cầu của quyền con người, không
có nghĩa phủ nhận tính đặc thù của nó được xác định bởi sự khác biệt về dân tộc, khu vực, về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, về trình độ phát triển của kinh
tế, xã hội trong việc thực hiện, trong mức độ đảm bảo những quyền và tự do của con người.
Thừa nhận tính đặc thù của quyền con người có nghĩa là các quốc gia cóquyền đưa ra những quy định pháp luật cụ thể, không trái với những nguyêntắc và chuẩn mực chung về quyền con người được ghi trong các điều ướcquốc tế, như sự hạn chế nào đó đối với một số quyền dân sự, chính trị hoặcmức độ khác nhau trong việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.Chính tính đặc thù đã dẫn đến sự ra đời của các Văn kiện của các tổ chứcnhân quyền khu vực
Trang 15Cần phân biệt việc bảo lưu, tức là không cam kết về mặt pháp lý trong việc đảm bảo một hoặc nhiều điều nào đó trong điều ước quốc tế với những
quy định hạn chế của pháp luật quốc gia trong việc thực hiện các điều ước
quốc tế
Tính nhân loại và tính giai cấp vừa là vấn đề quan điểm vừa là bản chất của quyền con người.
Thuật ngữ quyền con người bản thân nó đã nói lên tính nhân loại Các
quyền và tự do trong các điều ước quốc tế về quyền con người bắt nguồn từ
sự nhận thức về nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích, năng lực vốn có và chỉ có ở loàingười Mỗi một bước tiến của lịch sử đều đem lại cho quyền con người phạm
vi rộng rãi hơn, mức độ bảo đảm cao hơn Các quyền và tự do cơ bản của conngười tồn tại trong tất cả các quốc gia, dân tộc, các cộng đồng tôn giáo vàtrong các chế độ xã hội với những hệ tư tưởng và quan niệm giá trị nhất định,
có điểm giống nhau, có điểm khác nhau
ý nghĩa của việc khẳng định tính nhân loại của quyền con người là ở chỗtrong đường lối và chính sách đối nội và đối ngoại của chúng ta, việc bảo đảmquyền con người được xem như một mục tiêu, lý tưởng nhất quán của Đảng,
nó thuộc bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa; là một động lực của sựphát triển Trên thực tế, đến nay quyền con người đã trở thành một nguyên tắcHiến định Trong đường lối, chính sách đối ngoại cần khai thác mặt thốngnhất, hạn chế mặt khác biệt trong việc xem xét các điều ước quốc tế, tranh thủ
sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của chúng ta.Mặt khác cần nỗ lực thực hiện các nghĩa vụ pháp lý đối với các điều ước vềquyền con người mà nhà nước ta đã tham gia, chủ động và tích cực tham giavào các tổ chức và diễn đàn nhân quyền quốc tế và khu vực
Quyền con người với tư cách là một chế định pháp luật không thể khônggắn liền với nhà nước, với chế độ xã hội, với tính giai cấp của Nhà nước.Tuy nhiên, tính giai cấp của quyền con người không phải nằm trong khái
niệm quyền, mà tồn tại trong việc thực hiện quyền.
Trang 16Trong các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, giai cấp tư sản đã giương caongọn cờ tự do, bình đẳng, bác ái - ngọn cờ nhân quyền để tập hợp lực lượngnhằm lật đổ chế độ chuyên chế phong kiến Về khách quan điều này đã đemlại một bước tiến lớn cho lịch sử loài người Nhưng giai cấp tư sản chưa baogiờ thật sự mong muốn bảo đảm đầy đủ các quyền con người cho nhân dânlao động, cũng như nhân dân ở các nước thuộc địa.
Trong quan hệ quốc tế, các nước đế quốc đã lợi dụng vấn đề nhân quyền
để bôi nhọ, vu khống, cô lập và phá hoại về tư tưởng - chính trị các nướcXHCN cũng như các nước độc lập dân tộc
Quyền con người được hình thành và phát triển trong các cuộc đấu tranhgiai cấp, đấu tranh giành độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đấu tranhchống thảm họa tự nhiên và đấu tranh để tự hoàn thiện nhân cách làm người
2 Quy luật hình thành và phát triển của quyền con người
Sự trưởng thành của một chuyên ngành khoa học, xét trên phương diện
lý luận, đòi hỏi phải được xác định rõ đối tượng và phương pháp nghiên cứu
riêng của mình, nói cách khác, đòi hỏi phải có một hệ thống tri thức tương đốiđộc lập đối với các chuyên ngành khác, kế cận với nó Với những tiêu chí nhưtrên, cho đến nay, lý luận và luật quốc tế về quyền con người đã trở thành mộtchuyên ngành độc lập trong hệ thống khoa học xã hội trên thế giới cũng như ởViệt Nam
Chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu quy luật phát triển chung nhất của
xã hội Lý luận đó xác định nguyên nhân, động lực phát triển của xã hội ởđây con người được đề cập đến với tư cách là chủ thể sáng tạo ra lịch sử.Những quan niệm triết học về lịch sử xã hội và con người là nhiều tri thức cơ
bản, làm nền tảng cho việc nghiên cứu nguồn gốc, điều kiện sự phát triển của
quyền con người
Lý luận về nhà nước và pháp luật là chuyên ngành gần nhất với lý luận
về quyền con người Về mặt lôgic, có thể xem mối quan hệ giữa hai chuyên
ngành này như mối quan hệ giữa khái niệm giống và khái niệm loài Lý luận
về nhà nước và pháp luật nghiên cứu những vấn đề chung nhất về nhà nước
Trang 17và pháp luật: sự hình thành, chức năng, hình thức của nhà nước và pháp luật,quan hệ nhà nước và công dân Như vậy, lý luận về nhà nước và pháp luật cóquan hệ mật thiết với lý luận về quyền con người Khi chưa có nhà nước thì
sự điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu bằng tập quán, đạo đức, lối sống Khi đã có nhà nước thì sự điều chỉnh các quan hệ xã hội bên cạnh các quyphạm xã hội nói trên, pháp luật giữ vai trò quan trọng nhất Khi quan hệ giữacác quốc gia đã phát triển đến một mức nào đó, cần thiết phải có cơ sở pháp
lý chung để xử lý các quan hệ đó thì các tập quán quốc tế và luật quốc tế rađời, trong đó có luật quốc tế về quyền con người
Bộ môn lý luận về quyền con người nghiên cứu những vấn đề cơ bản vềquyền con người bao gồm quy luật hình thành và phát triển của quyền conngười; các học thuyết và quan điểm về quyền con người Đối với chúng ta,công tác nghiên cứu cần dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người.Nhằm gắn liền lý luận với thực tiễn, bộ môn lý luận quyền con người cònnghiên cứu một cách khái quát cơ chế quốc tế và luật quốc tế về quyền conngười
Nhìn một cách bao quát, bản chất và xu hướng phát triển chung của
quyền con người trong lịch sử nhân loại, chúng ta thấy tinh thần nhân đạo và
ý thức cộng đồng và sự tôn trọng nhân phẩm như là những giá trị mục tiêu
chung của tất cả các quốc gia, dân tộc, không phân biệt chế độ xã hội, trình độphát triển và bản sắc văn hóa
Có thể nói, quyền con người là một trong những thành quả quan trọng
nhất của nền văn minh nhân loại Mức độ tôn trọng và bảo đảm quyền con người là thước đo cơ bản của tiến bộ xã hội.
Có nhiều thước đo về bản chất và sự tiến bộ của một xã hội, song thước
đo quyền con người có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Thước đo nàytrước hết được xem xét ở chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước đốivới các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, yếm thế như phụ nữ, trẻ em, ngườinghèo khổ, người tàn tật
Trang 18Sự phát triển của quyền con người dựa trên sự phát triển của kinh tế,
xã hội và văn hóa.
Hình thái kinh tế - xã hội là khuôn khổ lịch sử phát triển của quyền conngười, mỗi bước tiến của lịch sử đều đem lại cho quyền con người những tiến
bộ nhất định Sự phát triển của quyền con người ngày nay không chỉ tùythuộc vào mỗi quốc gia, dân tộc mà còn tùy thuộc vào cộng đồng quốc tế.Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng: Con người sángtạo ra lịch sử của mình, nhưng sự sáng tạo đó bao giờ cũng dựa trên nhữngtiền đề nhất định, trong những tiền đề đó kinh tế giữ vai trò quyết định cuốicùng Không phải chỉ có chế độ chính trị mà trình độ kinh tế cùng với cácđiều kiện sinh hoạt vật chất hay nói một cách rộng hơn, trình độ văn minh nóichung của xã hội giữ vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củaquyền con người
Quyền con người là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng Quyền conngười chịu sự tác động của cơ sở kinh tế, đồng thời cũng chịu sự tác động củacác nhân tố khác trong kiến trúc thượng tầng như chính trị, văn hóa nghệthuật, khoa học, giáo dục Tuy nhiên, mối quan hệ giữa quyền con người vớicác điều kiện kinh tế không phải là nhiều quy định trực tiếp, máy móc Mộtnền kinh tế phát triển cao tự nó không thể bảo đảm tốt các quyền con người
Sự phát triển về kinh tế chỉ mới là điều kiện "cần: cho việc bảo đảm quyềncon người Điều kiện "đủ" còn bao gồm nhiều yếu tố khác như chế độ phânphối, các chính sách bảo trợ, phúc lợi xã hội Tuy nhiên, một nền kinh tếchậm phát triển thì không thể có điều kiện để bảo đảm cao các quyền conngười
Cần phải lưu ý rằng, trong khuôn khổ trình độ phát triển của một nềnkinh tế, người ta có thể tìm các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc bảo đảmquyền con người, nhất là đối với nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Songđược tôn trọng về nhân phẩm, không bị tra tấn, hạ nhục, đối xử vô nhân đạo
là những quyền có tính độc lập tương đối với sự phát triển của kinh tế Việcbảo đảm đến mức cao nhất - có thể các quyền con người chính là nhân tố của
Trang 19sự ổn định chính trị, xã hội, đồng thời là nhân tố thúc đẩy sự phát triển củakinh tế Một trong những kinh nghiệm lịch sử của chủ nghĩa xã hội hiện thựctrên một nửa thế kỷ qua cho thấy, trong khi lực lượng sản xuất chưa phát triển
cao, trình độ văn minh vật chất và tinh thần còn thấp thì nền kinh tế thị
trường với sự đa dạng của chế độ sở hữu có vai trò quan trọng, đặc biệt đối với việc bảo đảm và phát triển quyền con người.
Sự phát triển của quyền con người gắn liền với chế độ dân chủ và nhà nước pháp quyền
Sự phát triển của quyền con người nói chung nằm trong và phụ thuộcvào hình thái kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội,
sự phát triển của quyền con người còn phụ thuộc trực tiếp vào các thiết chế cụthể của xã hội đó Chế độ dân chủ là thiết chế chung bảo đảm các quyền conngười Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội
có những thiết chế dân chủ khác nhau, do đó cũng có những khả năng và mức
độ bảo đảm quyền con người khác nhau Trong cùng hình thái kinh tế - xã hội
tư bản chủ nghĩa, mức độ bảo đảm các quyền con người ở các nước Bắc Âukhác Tây Âu, các nước Bắc Mỹ khác với các nước Đông á Tương tự nhưvậy, trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa việc bảo đảm các quyền con ngườitrong thực tế giữa các nước cũng khác nhau Dưới các chế độ độc tài và quanliêu cho dù có tên gọi là gì thì các quyền con người cũng khó có thể phát triểnđược Chỉ dưới các chế độ dân chủ thật sự thì quyền con người mới có điềukiện phát triển V.I Lênin đã chỉ ra rằng, chế độ dân chủ tư sản là bước tiếnkhổng lồ từ chế độ thống trị dựa trên đẳng cấp thời trung cổ sang xã hội tưbản chủ nghĩa Nhưng mọi quyền dân chủ tư sản đều mang nặng tính hìnhthức và bị hạn chế bởi chế độ kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa.Bởi vậy, các quyền con người ở đây, nhất là các quyền về kinh tế, xã hội vàvăn hóa khó có thể thực hiện được đầy đủ Theo V.I Lênin: tư tưởng thống trịcủa đa số, tư tưởng về quyền bình đẳng xã hội không thể thực hiện được đầy
đủ trong một xã hội dựa trên cơ sở bất bình đẳng về kinh tế Trong chế độ xãhội chủ nghĩa, quyền dân chủ nhất thiết phải được mở rộng sang lĩnh vực kinh
tế V.I Lênin nhấn mạnh rằng: "Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải
Trang 20thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn" (1), nghĩa là dân chủ cả trên lĩnh vực kinh
tế Thực tế lịch sử cho thấy mọi chế độ dân chủ không thể tự phát triển Muốnbảo vệ và phát triển chế độ dân chủ phải bảo vệ và phát triển quyền conngười, quyền công dân thì sớm muộn chế độ dân chủ sẽ trở thành chế độ độctài, quan liêu
Sự phân tích về mặt lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng trên khu vực
chính trị, xã hội, nhà nước pháp quyền giữ vai trò quan trọng đặc biệt trong
việc bảo đảm và phát triển các quyền con người Các nguyên tắc - quyền lực
thuộc về nhân dân; - các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải đượcphân chia; - và vai trò tối thượng của pháp luật là thể chế khống chế chủ nghĩaquan liêu, độc đoán, vi phạm các quyền con người từ phía nhà nước và cáclực lượng xã hội khác Mặt khác, đó cũng là thể chế bảo đảm nhân phẩm vàcác quyền tự do, bình đẳng của tất cả mọi người
Trong chế độ dân chủ nhà nước pháp quyền, người dân có thể làm mọicái, trừ những điều pháp luật cấm, ngược lại, nhà nước bao gồm cả chínhquyền và các cơ quan công quyền, các công chức chỉ được làm những điềupháp luật cho phép
Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng, trong tất cả các chế độ xã hội còn tồntại nhà nước, nghĩa là còn tồn tại một quyền lực đứng trên xã hội, thì quyềnlựcđó luôn luôn có nguy cơ bị thoái hóa, bị lạm dụng, bị quan liêu hóa, đốilập với lợi ích chung của xã hội và quyền con người Để khắc phục nguy cơnày, lực lượng cầm quyền phải luôn luôn ý thức được việc củng cố cácnguyên tắc của nhà nước pháp quyền, phát triển các tổ chức xã hội phi chínhphủ (NGOs), bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghềnghiệp, các tổ chức cộng đồng và doanh nghiệp Có thể xem đây là cơ chế bổsung cho vai trò của nhà nước pháp quyền trong việc bảo đảm quyền conngười
Mối quan hệ giữa quyền con người với văn hóa vừa mang tính chất trựctiếp, vừa mang tính chất gián tiếp Các nhà kinh điển mácxít đã chỉ ra rằng, sự
1() V.I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tập 27, tr 323.
Trang 21phát triển của khoa học kỹ thuật, tư tưởng, văn hóa trong thời đại Phục hưngvới những con người khổng lồ về tài năng, nghị lực, nhân cách là màn giáođầu, là sự chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản Điều đó cũng có nghĩa là sựchuẩn bị nội dung tư tưởng cho Tuyên ngôn về nhân quyền của cách mạngdân chủ tư sản Quyền con người ở đây, nói như các nhà kinh điển mácxítkhông chỉ mang những yêu sách tư sản, mà còn mang những yêu sách vô sản,nói cách khác, đó là thành quả sự phát triển của quyền con người trong chủnghĩa tư bản Chính vì vậy, nhiều tư tưởng nhân quyền của cách mạng dânchủ tư sản về khách quan đã vượt ra ngoài khuôn khổ ý thức hệ tư sản, manggiá trị nhân loại mà chúng ta cần phải nghiên cứu tiếp thu, vận dụng, xem đây
là di sản chung của nền văn minh nhân loại
Sự phát triển quyền con người trong thời đại ngày nay gắn với cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người và gắn với mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, an ninh và tiến bộ xã hội
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với sự ra đời của tổ chức Liên hợpquốc (1945), cơ chế bảo đảm quyền con người đã được hình thành Hệ thốngcác cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc cùng với luật quốc tế về quyền conngười đã ra đời Cho dù cơ chế này còn nhiều khiếm khuyết, thiếu dân chủ,công bằng , song trong lịch sử nhân loại, đây là một bước ngoặt tiến bộ vượtbậc trong việc nhận thức và giải quyết những vấn đề chung của loài ngườibằng sự hợp tác về chính trị và pháp lý giữa các quốc gia, không phân biệtchế độ xã hội, bản sắc văn hóa và trình độ phát triển Sự ra đời của các tổchức nhân quyền khu vực, như châu Âu, châu Phi, châu Mỹ chứng tỏ rằng,chủ đề quyền con người đang được các quốc gia quan tâm và có thể áp dụngmột cách tích cực vào bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa khác nhau
Trong bối cảnh cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người ra đời, sự pháttriển của quyền con người ở các quốc gia, nhất là các quốc gia đã tham giacông ước quốc tế về quyền con người cần giải quyết một cách đúng đắn mốiquan hệ giữa lợi ích quốc gia, tức là quyền tự quyết dân tộc với lợi ích củacộng đồng quốc tế Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện cơ bản,tiên quyết của quyền con người Bảo đảm các quyền con người là một mục
Trang 22tiêu cơ bản sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Mặt khác, mỗi quốc giadân tộc cũng phải bảo đảm các cam kết quốc tế như là sự đóng góp để bảo vệnhững thành quả nhân quyền chung của nhân loại.
Các văn kiện và điều ước quốc tế về quyền con người từ sau chiến tranhthế giới thứ hai đến nay bao gồm hầu hết các quyền: quyền dân sự, chính trị;kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền dân tộc tự quyết; quyền phát triển; quyềnđược sống trong hòa bình, an ninh và môi trường trong sạch Có thể nói, hệthống các văn kiện quốc tế về quyền con người đã cụ thể hóa các mục tiêu củathời đại ngày nay Sự ra đời cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người là thànhquả to lớn của nhân loại, trong đó có sự đóng góp quan trọng của các quốc gia
ở trong phong trào giải phóng dân tộc và hệ thống xã hội chủ nghĩa trong thế
kỷ XX
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học - côngnghệ, loài người đã tạo ra những điều kiện to lớn cho việc bảo đảm các quyềncon người Mặt khác, sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng là mộtthách thức đối với nhân loại, trước hết trên lĩnh vực môi trường và sinh học.Điều này đòi hỏi pháp luật về nhân quyền phải phát triển tương ứng nhằm bảođảm sự phát triển bền vững của cuộc sống và nhân cách con người
3 Phương pháp nghiên cứu
Nói chung, phương pháp nghiên cứu của một chuyên ngành khoa học xãhội nhân văn bao gồm hai bộ phận:
Thứ nhất, đó là phương pháp luận triết học Mác - Lênin, với tư cách là
phương pháp luận chung
Thứ hai, đó là phương pháp chuyên ngành, bao gồm một số phương
pháp nghiên cứu cụ thể được rút ra từ lịch sử và lý luận phát triển của chuyênngành đó
a Phương pháp luận triết học Mác - Lênin
Phương pháp luận triết học Mác - Lênin được vận dụng ở đây là phươngpháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp đó đòi hỏi phải xem